Với một số nước đang phát triển châu Á, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc cũng không nằm ngoài mục đích tìm kiếm nguyên liệu, mở rộng thị trường, xuất khẩu công nghệ… và cũng đang bộc lộ m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỖ THỊ THU HƯỜNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG
QU ỐC VÀO MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á - HÀM Ý ĐỐI VỚI
VI ỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
M ã số : 60 31 07
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thái Quốc
Hµ néi - 2013
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ MỘT NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
9
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 9
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 9
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đầu tư 12 1.2 Các nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở nước
đang phát triển
15
1.2.1 Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 15
1.2.2 Tiềm lực kinh tế, tài chính, năng lực cạnh tranh của quốc gia,
doanh nghiệp
16
1.2.4 Khung pháp lý về đầu tư ra nước ngoài 19
1.2.6 Các nhân tố từ nước tiếp nhận đầu tư 22 1.3 Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc 23
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA TRUNG
QUỐC VÀO MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY
25
2.1 Mục tiêu của Trung Quốc trong đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài
25
2.1.2 Nắm bắt công nghệ, thương hiệu, bí quyết sản xuất kinh doanh 28
2.1.3 Mở rộng thị trường cho hàng hóa và lao động Trung Quốc 29 2.1.4 Giảm thiểu rủi ro khi tích trữ quá nhiều ngoại tệ 32 2.1.5 Mở rộng thị trường cho đồng Nhân dân tệ, hỗ trợ tiến trình
quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ
2.2.2 Chính sách hỗ trợ thông qua các quỹ đặc biệt của Chính phủ 38
2.2.3 Chính sách quản lý đầu trực tiếp ra nước ngoài 39
2.3 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào một số nước đang phát
triển châu á từ năm 2002 đến nay
44
2.3.1 Khái quát đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc từ
năm 2002 đến nay
44
2.3.2 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Lào 50
2.3.3 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Campuchia 60 2.3.4 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Myanmar 67 2.4 Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
đối với các nước tiếp nhận
74
Trang 52.4.1 Tác động tích cực 74
2.4.3 Phản ứng và đối sách của nước tiếp nhận vốn Trung Quốc 78
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM
TRONG TIẾP NHẬN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ TRUNG QUỐC
82
3.1 Một số bất cập trong đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào
Việt Nam thời gian qua
3.1.3 Nguyên nhân của những bất cập trong đầu tư trực tiếp của
Trung Quốc tại Việt Nam
93
3.2 Giải pháp đối với Việt Nam trong thu hút FDI từ Trung Quốc 98
3.2.1 Giải pháp thu hút FDI từ Trung Quốc 98
3.2.2 Giải pháp khắc phục các bất cập trong thu hút FDI từ
Trang 6DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of South-East Asian
Cambodia
Hội đồng Phát triển Campuchia
CIC China Investment Corporation Tập đoàn đầu tư Trung Quốc CNOOC China National Offshore Oil
k
Export – Import bank of China Ngân hàng xuất nhập khẩu
Trung Quốc FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free Trade Agreement Hiệp định tự do thương mại GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội ICBC Industrial and Commercial Bank of
China
Ngân hàng Công thương Trung Quốc
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
KOTRA Korea Trade Promotion
Corporation
Tổ chức Xúc tiến Thương mại Hàn Quốc
M&A Merger and Acquisition Mua lại và sáp nhập
MOF Ministry of Finance Bộ Tài chính Trung Quốc MOFCO
Trang 7MOFCOM) NDRC National Development and
OFDI Outward Foreign Direct
SAFE State Administration for Foreign
TNC Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia UNCTA
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
TT Số hiệu
bảng
1 Bảng 2.1 Phân bổ OFDI của Trung Quốc theo khu vực 2003-2010 49
2 Bảng 2.2 Phân bổ OFDI của Trung Quốc theo lĩnh vực 2004-2010 50
3 Bảng 2.3 Phân bổ OFDI của Trung Quốc theo ngành 2004-2010 51
4 Bảng 2.4 FDI Trung Quốc vào Lào theo lĩnh vực (tính đến
06.12.2012)
54
5 Bảng 2.5 Dự án trồng cây công nghiệp của Trung Quốc tại
Vientiane (diện tích ≥ 100 ha, cấp phép năm 2009)
55
6 Bảng 2.6 Dự án thăm dò, khai thác khoáng sản của Trung
Quốc tại Lào năm 2007
57
7 Bảng 2.7 Dự án đầu tư thủy điện của Trung Quốc tại Lào 59
8 Bảng 2.8 Dự án khai thác khoáng sản của Trung Quốc tại Campuchia 62
9 Bảng 2.9 Các dự án thủy điện của Trung Quốc tại Campuchia 64
10 Bảng 2.10 Dự án thủy điện của Trung Quốc tại Myanmar
(công suất > 100 MW)
70
11 Bảng 3.1 15 nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt
Nam (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20.11.2012)
Trang 9DANH M ỤC CÁC HÌNH
TT Số hiệu
hình
1 Hình 2.1 Dòng vốn OFDI của Trung Quốc giai đoạn 1982-1990 45
2 Hình 2.2 Dòng vốn OFDI của Trung Quốc giai đoạn 1991-2001 46
3 Hình 2.3 Dòng vốn OFDI của Trung Quốc giai đoạn 2002-2011 49
4 Hình 2.4 10 nước đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Lào (tính đến
năm 2010)
52
5 Hình 2.5 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Lào 53
6 Hình 2.6 FDI Trung Quốc vào Campuchia giai đoạn 2003-2010 61
7 Hình 2.7 FDI của Trung Quốc vào lĩnh vực nông nghiệp Campuchia 65
8 Hình 2.8 5 nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất vào Myanmar 67
9 Hình 2.9 FDI Trung Quốc vào Myanmar giai đoạn 2004-2010 68
10 Hình 3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam năm
2012 theo quốc gia
82
11 Hình 3.2 Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam
2003-2010
83
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, cả tiếp nhận và đầu tư ra nước ngoài, là
yếu tố quan trọng trong chiến lược "đi ra ngoài", hội nhập kinh tế toàn cầu
của Trung Quốc Là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, nước xuất khẩu lớn nhất
và tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đứng thứ hai, hiện Trung Quốc còn được biết đến với tư cách là nhà cung ứng vốn FDI lớn thứ năm của thế giới và ngày càng có ảnh hưởng lớn đối với dòng vốn đầu tư toàn cầu
Khác với các nước có đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Pháp, Đức…, Trung Quốc là nền kinh tế duy nhất nằm trong danh sách các nước đang phát triển Tuy nhiên, điều này không ngăn cản Trung Quốc thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Từ mức đầu tư khiêm tốn dưới
100 triệu USD/năm trong thời kỳ đầu "cải cách mở cửa" (1979-1990), tiếp đó
trải qua giai đoạn tăng trưởng không ổn định (1991-2001), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, liên tục từ năm
2002 đến nay và hiện vào khoảng 60 tỷ USD/năm Tỷ trọng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc trong tổng đầu tư trực tiếp toàn cầu cũng tăng từ 0,45% năm 2004 lên 5,1% năm 2009 Trung Quốc cũng đặt mục tiêu đưa đầu
tư ra nước ngoài ngang bằng với mức đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc trong 3-5 năm tới (khoảng trên 100 tỷ USD/năm) Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc đã có mặt ở hầu hết các châu lục, không chỉ ở các nền kinh tế kém và đang phát triển mà ở cả các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Ca-na-đa, một số nước châu Âu Có được mức tăng trưởng này là nhờ vào các chính
sách hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc nhằm thực hiện Chiến lược "Đi ra
ngoài" hội nhập kinh tế toàn cầu và hiệu ứng tích cực từ việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hồi cuối năm 2001, nhất là sự mở rộng của quỹ dự trữ ngoại tệ (lên đến hơn 3.200 tỷ USD tính đến hết năm
Trang 112012) có được nhờ thặng dư thương mại liên tục trong những năm qua Ngoài
ra, dòng vốn đầu tư toàn cầu sụt giảm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) cũng là điều kiện thuận lợi để Trung Quốc thúc đẩy các hoạt động đầu tư ra bên ngoài nhằm tìm kiếm các nguồn nguyên liệu, công nghệ tiên tiến, mở rộng thị trường… để hỗ trợ cho quá trình tái cân bằng nền kinh
tế, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, đồng thời giúp Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng tại các khu vực có lợi ích chiến lược
Với một số nước đang phát triển châu Á, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc cũng không nằm ngoài mục đích tìm kiếm nguyên liệu, mở rộng thị trường, xuất khẩu công nghệ… và cũng đang bộc lộ một số bất cập và có tác động tiêu cực Với Việt Nam, đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc thời gian qua tuy có một số đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế đất nước, song cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế, nhất là quy mô và chất lượng chưa tương xứng với điều kiện của hai nước
Vì vậy, nghiên cứu một cách hệ thống đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, nhất là xác định rõ mục đích đầu tư, các biện pháp triển khai, chỉ rõ các bất cập, tác động tiêu cực trong tiếp nhận FDI từ Trung Quốc của các nước đang phát triển châu Á và Việt Nam là cần thiết Việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm thu hút dòng vốn đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, đồng thời hạn chế các bất cập trong thu hút FDI từ Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh hai nước đang đẩy mạnh xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện
2 Tình hình nghiên c ứu
Sự bùng nổ về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng phát triển nhanh và mạnh cả về kinh tế và tầm ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều chuyên gia và tổ chức quốc tế Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình:
Trang 12- Huang Wenbin và Andreas Wilkes (2011), Trung tâm nghiên cứu rừng quốc tế (CIFOR), với nghiên cứu "Analysis of china’s overseas investment
policies" (Phân tích chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc), đã phân chia đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc từ khi tiến hành cải cách mở cửa thành 3 giai đoạn (1979-1990, 1991-2001 và từ 2002 đến nay), đi sâu làm
rõ các chính sách hỗ trợ của Trung Quốc nhằm thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài theo từng giai đoạn đã phân chia
- Daniel Rosen và Thilo Hanemann (2009), Viện Kinh tế quốc tế Peterson,
với nghiên cứu "China’s changing outbound foreign direct investment profile:
Drivers and policy implication" (Thực trạng điều chỉnh chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc: định hướng và hàm ý chính sách) đã chỉ ra các nguyên nhân thúc đẩy Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài (gồm tái cân bằng nền kinh tế, tìm kiếm tài nguyên, thúc đẩy sản xuất ra bên ngoài…); thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc thời gian qua (số liệu cập nhật đến năm 2009); một số rào cản, trở ngại đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc và định hướng điều chỉnh một số chính sách đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc thời gian tới
- Ủy ban nghiên cứu an ninh và kinh tế Mỹ - Trung (2001) với nghiên
cứu "Going Out: An Overview of China’s Outward Foreign Direct Investment"
(Đi ra ngoài: Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc),
đã nêu một số đặc điểm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, mục đích của Trung Quốc khi đầu tư ra nước ngoài, các giai đoạn đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Trung Quốc và các chính sách hỗ trợ của Chính phủ; phân
bổ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc theo địa bàn và lĩnh vực đầu tư (số liệu cập nhật đến 2009)
- Bijun Wang và Yiping Huang (2011), Trường Đại học Quốc gia Australia
và Đại học Perking, với nghiên cứu "Is there a China model of overseas
direct investment?" (Liệu có mô hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang đặc trưng Trung Quốc?), đã tập trung nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp ra
Trang 13nước ngoài của Trung Quốc giai đoạn 2003-2009 theo địa bàn đầu tư (phân chia theo nhóm nước công nghiệp phát triển và nhóm các nước còn lại) Thông qua việc phân tích các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc, nhóm nghiên cứu đã thiết lập các mô hình mô tả mối quan hệ giữa các yếu tố này đến việc lựa chọn địa điểm và lĩnh vực đầu tư của Trung Quốc
- Dexin Yang (2003), Trường Đại học Victoria/Ô-xtrây-lia với luận án
tiến sĩ "Foreign direct investment from developing countries: a case study of
china’s outward investment" (Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ các nước đang
phát triển: nghiên cứu trường hợp đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc), giới thiệu sơ bộ về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển, phân tích nguyên nhân thúc đẩy Trung Quốc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, hoạt động đầu tư trực tiếp vào các nước nhằm khai thác tài nguyên, công nghệ tiên tiến và thị trường
- Karl P Sauvant, Wolfgang A Maschek và Geraldine McAllister (2009)
với nghiên cứu "Foreign direct investment by emerging market multination
enterprises, the impact of the financial crisis and resession and challenges ahead" (Tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế và thách thức đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia đến từ các thị trường đang nổi) đăng trên Global Forrum on International Investment, giới thiệu tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển, đi sâu vào các nước nhóm BRIC (Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), phân tích một số tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu (2008-2009) đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển, chỉ ra một số thách thức chủ yếu đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước này
Tại Việt Nam, vấn đề đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đã được quan tâm, nhưng sản phẩm nghiên cứu chưa nhiều, cụ thể:
Trang 14PGS.TS Phạm Thái Quốc với bài viết "Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của Trung Quốc", đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế
giới, số tháng 10.2011, đã tập trung làm rõ các giai đoạn phát triển đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc, tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc theo khu vực và lĩnh vực đầu tư (số liệu cập nhật đến hết năm 2009), động cơ thúc đẩy Trung Quốc gia tăng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài báo, song chủ yếu dưới dạng tin ngắn hoặc lược dịch từ các bài viết của báo chí nước ngoài như:
- "T rung Quốc đổ bộ đầu tư ra nước ngoài" đăng trên Diễn đàn doanh
nghiệp ngày 02.11.2006, tổng hợp từ các báo People Daily, Tân hoa xã, AFP
- "Đầu tư nước ngoài của Trung Quốc: Động cơ và hệ lụy" của tác giả
Châu Giang trên trang web của báo vietnamnet này 12.05.2011, lược dịch từ
tờ Asia Sentinel
- "Chiến lược đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc" của tác giả Mai
Lan, đăng trên trang web http://tamnhin.net ngày 31.03.2011, lược dịch từ bài viết trên Tạp chí Finacial Times
- "Độc nhất vô nhị cách Trung Quốc đầu tư nước ngoài" của tác giả
Hoàng Ngân, đăng trên Diễn đàn kinh tế Việt Nam (http://vef.vn) ngày
13.09.2011, lược dịch từ bài "Is there a China model of overseas direct
investment?" đăng trên Diễn đàn Đông Á ngày 12.04.2011…
Những tài liệu nghiên cứu liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc trên đã cung cấp một lượng lớn thông tin, giúp người đọc nắm được tổng quan về nguyên nhân Trung Quốc thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc kể từ khi cải cách mở cửa Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào nghiên cứu đầy đủ,
hệ thống vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, từ nguyên nhân, chính sách thúc đẩy, thực trạng đầu tư, nhất là các số liệu mới chỉ cập nhật đến hết năm 2009 Đáng chú ý, chưa có nghiên cứu nào phân tích tác
Trang 15động của FDI từ Trung Quốc đối với các nước đang phát triển châu Á trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực; những bất cập trong tiếp nhận FDI từ Trung Quốc của các nước này; đề xuất những giải pháp đối với Việt Nam trong tiếp nhận FDI từ Trung Quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, trong đó có đầu tư vào một số nước đang phát triển châu Á và Việt Nam, đánh giá tác động đối với một số nền kinh tế đang phát triển châu
Á tiếp nhận FDI từ Trung Quốc, những bất cập trong tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc của các nước này Từ những bất cập trong tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp Trung Quốc của Việt Nam, đề xuất các giải pháp khắc phục
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, nội dung luận văn trả lời các câu hỏi dưới đây:
- Nguyên nhân Trung Quốc thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là gì?
- Tác động của đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc đối với các nước đang phát triển châu Á tiếp nhận đầu tư như thế nào? Những bất cập cần khắc phục trong quá trình tiếp nhận FDI từ Trung Quốc
- Giải pháp cho Việt Nam trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc và khắc phục các tác động tiêu cực?
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
từ năm 2002 đến nay, trong đó tập trung làm rõ các chính sách thúc đẩy đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc, thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc sang một số nước đang phát triển châu Á, tác động của đầu tư Trung Quốc đối với các nước tiếp nhận
Trang 16- Chỉ ra một số bất cập trong đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, đề xuất một số giải pháp khắc phục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đầu tư trực tiếp của Trung Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc từ năm 2002 đến nay (thời điểm sau khi Trung Quốc gia nhập WTO)
- Về địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc, nội dung luận văn tập trung vào ba nước Lào, Campuchia và Myanmar
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê học để xử lý số liệu, minh chứng cho luận điểm đưa ra; phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống các vấn đề nghiên cứu; phương pháp đối chiếu, so sánh để làm nổi bật sự khác biệt trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc và một số nước phát triển
6 N hững đóng góp mới của luận văn
- Phân tích làm rõ thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc từ năm 2002 đến nay, làm rõ những bất cập trong đầu tư của Trung Quốc đối với một số nước đang phát triển châu Á và Việt Nam
Trang 17- Đưa ra một số giải pháp khả thi đối với Việt Nam để thu hút FDI từ Trung Quốc và khắc phục những bất cập
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để Trung Quốc đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài
Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào một số
nước châu Á từ năm 2002 đến nay
Chương 3: Một số vấn đề cần lưu ý đối với Việt Nam trong tiếp nhận
đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ TRUNG QUỐC ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Outward Direct Investment, outbound Direct Investment/ODI, outward Foreign Direct Investment/OFDI) là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được tiếp cận theo tiêu chí dòng vốn đi ra nước ngoài từ nước chủ đầu tư, để phân biệt với dòng vốn FDI đi vào (Inward Direct Investment/IDI, Inward Foreign Direct Investment/IFDI) đối với một nước tiếp nhận/thu hút vốn đầu tư trực tiếp [52]
Theo Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09.8.2006 quy
định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, OFDI là việc nhà đầu tư chuyển vốn
đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài
Có nhiều định nghĩa về FDI, cụ thể:
- Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa: FDI là việc đầu tư để sở hữu ít
nhất 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác [40] Các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà ĐTNN và các đối tác đầu tư địa phương FDI không bao gồm các hoạt động như cấp giấy phép, hợp đồng phụ và đầu tư chứng khoán trong đó nhà ĐTNN không giữ vai trò chi phối hoặc kiểm soát chủ yếu
- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI được định nghĩa là một khoản đầu tư được thực hiện bởi các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài nhằm đạt được các mục đích lâu dài [44]
Trang 19- Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), FDI xảy ra khi nhà đầu
tư từ 1 nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó FDI được phân biệt với các công
cụ tài chính khác bằng tiêu chí phương diện quản lý Trong phần lớn trường hợp, các nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ cơ
kinh doanh Trong trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là "công ty mẹ"
và các tài sản ở nước ngoài gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [57]
- Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa: FDI là việc đầu tư có tính chất dài hạn nhằm đem lại lợi ích lâu dài và quyền kiểm soát các doanh nghiệp tại nước sở tại cho nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ Hình thức FDI mang lại cho nhà đầu tư sự ảnh hưởng đáng kể về phương diện quản lý đối với doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư [25, tr 7]
- Theo Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), FDI là hình thức chủ đầu tư bỏ ra một lượng tài sản đủ lớn để lập cơ sở sản xuất mới hoặc mua lại các cơ sở sản xuất tại nước ngoài và trực tiếp quản lý tài sản đó Hình thức này còn được gọi là đầu tư phát triển [3, tr 29]
Tóm lại, OFDI hay FDI tiếp cận dưới góc độ dòng vốn đi ra từ nước chủ đầu tư là một hình thức của đầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn FDI chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn tư nhân, vốn của các công ty nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Đây là loại hình đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài tham gia đóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ
và cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau: (1) Chủ đầu tư có quyền điều khiển, quản lý đối với tài sản đầu tư (2) Là hình thức
Trang 20chuyển giao lớn về vốn, công nghệ, nhân lực và trình độ quản lý (3) Đưa các doanh nghiệp vươn tới các thị trường nước ngoài (4) Tiêu thụ sản phẩm trực tiếp ở nước ngoài lớn hơn xuất khẩu (5) Chủ đầu tư có thể sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản đầu tư
Nguyên nhân thúc đẩy các nước đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là: (1) Tìm kiếm các nguồn lực sản xuất như nguyên liệu thô, lao động từ các quốc gia có nguồn cung dồi dào (OFDI tìm kiếm nguồn lực) Các nước chủ đầu tư hướng đến các nước đang phát triển sở hữu các mỏ than, dầu, gỗ, cây lương thực, lao động dồi dào, giá rẻ… (2) Giành quyền tiếp cận các thị trường quan trọng (OFDI tìm kiếm thị trường) Đây là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy các quốc gia phát triển cạnh tranh lẫn nhau để vào được thị trường Trung Quốc nhằm tiếp cận trực tiếp với thị trường nội địa lớn, có lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ (3) Giảm giá thành và nâng cao hiệu quả hay năng suất (OFDI tìm kiếm hiệu quả) (4) Tìm kiếm các tài sản chiến lược (OFDI tìm kiếm tài sản chiến lược)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: đầu
tư mới (Greenfield Investment/GI) và mua lại và sáp nhập (Mergers and
Accquisitions/M&A) Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI Đầu tư theo kênh M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu
tư thông qua việc mua lại và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài
Xét theo mục đích đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân thành hai loại: đầu tư theo chiều ngang (horizontal intergration/HI) và đầu tư theo chiều dọc (vertical intergration/VI) Đầu tư theo chiều ngang là chủ đầu
tư có lợi thế cạnh tranh (công nghệ, kỹ năng quản lý…) trong sản xuất một sản phẩm nào đó tiến hành chuyển đầu tư ra nước ngoài để mở rộng và thôn tính thị trường ở nước ngoài với cùng loại sản phẩm (khai thác lợi thế độc quyền) Đầu tư theo chiều dọc là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với
Trang 21mục đích khai thác tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố sản xuất đầu vào rẻ (lao động, đất đai, thuế…)
Các hình thức phổ biến của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: (1) Hợp
đồng hợp tác kinh doanh là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư
nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà mà không thành
lập pháp nhân (2) Doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa một bên là
thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư nước ngoài để
đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà (3) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
là hình thức nhà đầu tư nước ngoài tự thành lập, quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh tại nước nhận đầu tư
1.1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với nước đầu tư
Ở góc độ nước chủ đầu tư, việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI)
có vai trò quan trọng đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường vị thế, ảnh hưởng tại khu vực, quốc gia mà nước đó thực hiện đầu tư Về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vai trò của OFDI được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, OFDI giúp cho các nước chủ đầu tư sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư, đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế Theo đó, việc mở rộng và phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực ra khỏi phạm vi của một quốc gia (đối với các nước phát triển, OFDI nhằm giải quyết áp lực dư thừa nguồn lực tài chính trong nước và gia tăng lợi nhuận) Trong môi trường đó, các nhà đầu tư
có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài thuận lợi hơn ở trong nước để có lợi nhuận cao hơn OFDI còn giúp nhà đầu tư đạt được hiệu quả kinh tế nhờ mở rộng quy mô sản xuất, khắc phục được xu hướng giảm sút lợi nhuận trong nước khi thị trường bị giới hạn, môi trường đầu tư không thuận lợi, đồng thời còn cho phép các doanh nghiệp của nước chủ đầu tư kéo
Trang 22dài chu kỳ sống của các sản phẩm được tạo ra trong nước khi các sản phẩm này bước vào giai đoạn bão hòa và suy thoái, thậm chí là chuyển giao các công nghệ đã lạc hậu sang các thị trường kém phát triển hơn để thu lợi nhuận
Thứ hai, OFDI giúp các nước chủ đầu tư tận dụng các điều kiện thuận
lợi ở nước ngoài, nhất là có thể hạ thấp chi phí sản xuất, xây dựng thị trường cung ứng đầu vào ổn định với giá thấp hơn giá khai thác trong nước hay giá nhập khẩu các đầu vào đó, khai thác nguồn lao động với giá rẻ Để thực hiện mục tiêu này, các nước thường đầu tư mới thông qua con đường cắm nhánh ở nước ngoài, tức là xây dựng các cơ sở sản xuất mới ở nước tiếp nhận đầu tư Hầu hết các quốc gia thiếu tài nguyên hay nhân lực, hoặc thiếu cả hai (điển hình là Nhật Bản), đều coi OFDI là giải pháp chiến lược nhằm bù đắp các thiếu hụt trong nước Với việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhất là vào các nước đang và kém phát triển, nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng thiếu công nghệ để khai thác, lao động dồi dào, chi phí thấp, các nước chủ đầu tư vừa phát triển được đầu tư ở nước ngoài, vừa tạo nguồn cung đầu vào ổn định cho sản xuất trong nước
Thứ ba, OFDI giúp nước chủ đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm, vượt qua các rào cản thương mại Khi hầu hết các quốc gia đều gia nhập vào một thị trường chung - thị trường thế giới - thì vấn đề thị trường cho sản phẩm lại càng trở nên bức thiết, là vấn đề mang tính sống còn Dưới tác động của toàn cầu hóa về kinh tế, thị trường trong nước ngày càng trở nên chật hẹp bởi sự cạnh tranh của chính các doanh nghiệp trong nước và sự gia tăng của các doanh nghiệp nước ngoài, hàng rào thuế quan và phi thuế quan liên tục được dựng lên Vì thế, để tiếp cận thị trường nhanh chóng và hiệu quả thì OFDI là lựa chọn hàng đầu của quốc gia và doanh nghiệp bởi có thể cung ứng sản phẩm vào nước tiếp nhận đầu tư một cách hợp pháp, thuận lợi mà không phải chịu các điều kiện ngặt nghèo khi xuất khẩu hàng hóa trực tiếp, thâm nhập sâu vào thị trường nội địa nước sở tại, mở rộng thị trường tiêu thụ, hơn nữa còn được hưởng những ưu đãi từ nước tiếp nhận đầu tư Để mở rộng
Trang 23thị trường tiêu thụ, các nước chủ đầu tư thực hiện chiến lược mở rộng phạm
vi hoạt động theo hướng M&A Với chiến lược này, các nước chủ đầu tư có được mạng lưới phân phối sẵn có ở thị trường mới, trong đó đặc biệt là dễ tiếp cận vào thị trường độc quyền và giảm đối thủ cạnh tranh
Thứ tư, OFDI sẽ giúp cho nước đầu tư tiếp cận với công nghệ mới
(thông qua M&A), học hỏi kinh nghiệm quản lý qua đó nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh Thông qua OFDI, nước chủ đầu tư, nhất là các nước đang phát triển, có thể rút ngắn quá trình nâng cấp công nghệ và phát triển kinh tế Điều này không dễ dàng có được nếu tiếp nhận đầu tư nước ngoài (IFDI) do nước chủ đầu tư thường không có xu hướng chuyển giao các công nghệ mới nhất sang nước tiếp nhận đầu tư, hoặc chỉ chuyển giao cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để đảm bảo bí mật công nghệ
Thứ năm, OFDI còn giúp nước chủ đầu tư phân tán rủi ro trước các
biến động về kinh tế, chính trị hay tự nhiên Trong thế giới đầy biến động như hiện nay, việc lựa chọn địa điểm ổn định về môi trường kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước chủ đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro, ổn định
và phát triển sản xuất, kinh doanh, gia tăng lợi nhuận Bất ổn chính trị (chiến tranh, bạo loạn, lật đổ chính quyền…) khiến lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng (sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, cơ sở sản xuất bị phá hủy, lợi nhuận giảm sút, thậm chí mất toàn bộ vốn đầu tư), từ đó làm phát sinh nhu cầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để tránh rủi ro và tăng lợi nhuận Với Nhật Bản, sau thảm họa kép động đất và sóng thần, các doanh nghiệp nước này có xu hướng đẩy mạnh dịch chuyển các cơ sở sản xuất từ trong nước ra nước ngoài thông qua OFDI để giảm thiểu rủi ro mặc dù trước đó OFDI vẫn là lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp Nhật Bản nhằm giảm chi phí sản xuất (chi phí nhân công trong nước cao, hầu hết các nguyên liệu đầu vào sản xuất phải nhập khẩu), mở rộng thị trường (thị trường trong nước
bị giới hạn), tiếp cận các nguồn nguyên liệu, nhân lực
Trang 24Về gia tăng ảnh hưởng, OFDI là giải pháp nhanh nhất để nước chủ đầu tư hiện diện và tăng cường ảnh hưởng tại nước tiếp nhận đầu tư Mỗi một nền kinh tế có một hoặc nhiều khu vực có lợi ích chiến lược và một trong những cách thức để gia tăng vị thế, ảnh hưởng là thông qua đầu tư trực tiếp Nhật Bản đầu tư lớn vào khu vực châu Á để mở rộng ảnh hưởng tại khu vực này Trung Quốc đầu tư vào ASEAN, đặc biệt là 4 nước CLVM (Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar) để cạnh tranh ảnh hưởng với các nước lớn khác
Mỹ đầu tư trực tiếp vào khu vực "sân sau" của mình là Mỹ Latin, Caribê và khu vực Trung Đông, Bắc Phi để thao túng nguồn cung dầu mỏ của thế giới…
Tóm lại, OFDI đem lại nhiều lợi ích cả về kinh tế và chính trị cho nước chủ đầu tư Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, OFDI cũng
có một số tác động tiêu cực đối với nước chủ đầu tư, biểu hiện rõ nhất ở tình trạng dư thừa lao động trong nước (điển hình trong trường hợp này là Mỹ) làm tăng chi phí an sinh xã hội, giảm thu ngân sách; sản xuất trong nước bị giảm sút; nếu OFDI không hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực tài chính
1.2 CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY TRUNG QUỐC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Nhu cầu đầu tư ra nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Ðầu tư ra nước ngoài là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển
và hội nhập của các quốc gia trên thế giới Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển cho thấy, đầu tư ra nước ngoài là một kênh quan trọng để thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế Đáng chú ý, trong trường hợp các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước bị giới hạn, kinh tế suy thoái thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hướng
đi mới để các nước duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phụ thuộc vào khả năng, điều kiện, cũng như nhu cầu
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh ra ngoài lãnh thổ để phát triển của
Trang 25từng nước Trên cơ sở đó, các nước xác định cho mình một hướng đầu tư ra nước ngoài Lựa chọn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nước phát triển thường hướng đến cả mục tiêu kinh tế và phi kinh tế (tăng cường ảnh hưởng chính trị, quân sự, văn hóa, mục đích khác…), trong khi các nước đang phát triển gần như chỉ hướng đến mục tiêu duy nhất là tăng trưởng kinh tế Cũng
do không có nhiều lợi thế về vốn, công nghệ, quản lý, nên khi Trung Quốc lựa chọn con đường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, cũng đồng nghĩa với việc phải
hy sinh một phần đầu tư trong nước Do vậy, họ chỉ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi thực sự có nhu cầu và coi đây là một động lực của tăng trưởng kinh
tế Với việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Trung Quốc có điều kiện để khai thác tối đa các lợi thế của thị trường nước ngoài để mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh ở bên ngoài lãnh thổ, xuất khẩu hàng hóa (bao gồm cả xuất khẩu từ trong nước ra, xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu sang nước thứ ba), bù đắp những thiếu hụt cho một số lĩnh vực sản xuất quan trọng của nền kinh tế trong nước, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; đồng thời giúp Trung Quốc nắm bắt công nghệ, thương hiệu, bí quyết quản lý, kinh doanh từ các nền kinh
Vốn là điều kiện tiên quyết cho hoạt động đầu tư, vì thế một nước đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài phải có tiềm lực kinh tế, ít nhất là phải có lượng ngoại tệ nhất định để tiến hành các hoạt động đầu tư Trung Quốc sau một giai đoạn dài tích lũy về tăng trưởng kinh tế mới triển khai các hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài Theo đó, Trung Quốc đạt tăng trưởng trung bình 5,9%/năm trong 10 năm 1970-1980; 10,84%/năm trong 10 năm tiếp theo
Trang 261980-1989 Quy mô nền kinh tế cũng tăng nhanh chóng, từ 91,506 tỷ USD năm 1970, đã tăng lên 263,190 tỷ USD năm 1979, năm 2002 đạt gần 1.193 tỷ USD, hiện đã vượt 8.000 tỷ USD [43] Bên cạnh quy mô kinh tế, với Trung Quốc, sự hỗ trợ từ quỹ dự trữ ngoại tệ đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
có vai trò đặc biệt quan trọng Trong giai đoạn đầu tiến hành đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài, Trung Quốc có mức dự trữ ngoại tệ khá thấp (1,6 tỷ USD năm
1979, 18,5 tỷ USD năm 1988, 29,6 tỷ USD năm 2000), năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp hạn chế, hơn nữa Chính phủ Trung Quốc rất thận trọng khi đầu tư ra nước ngoài Đây chính là nguyên nhân khiến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc bị hạn chế trong giai đoạn đầu Tuy nhiên, từ năm 2002 trở lại đây, Trung Quốc luôn đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, hơn nữa tăng trưởng xuất khẩu đã khiến dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng mạnh (286,4 tỷ USD năm 2002, đến cuối năm 2012 là hơn 3.200 tỷ USD [47]) Tương ứng, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc cũng tăng lên nhanh chóng, đến năm 2011 đạt hơn 65 tỷ USD, tăng gấp 26 lần năm 2002 (2,5 tỷ USD)
Để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các nước đang phát triển phải có các doanh nghiệp lớn, chủ yếu là các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia, có
đủ năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển ở nước ngoài Với Trung Quốc, các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Năm 2009, 67,6% đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhà nước, 0,6% từ các doanh nghiệp tư nhân
Từ 1979-2009, doanh nghiệp nhà nước chiếm 69,2% tổng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc [15, tr.4] Năm 2010, Trung Quốc có 46 công ty xuyên quốc gia (TNC) có mặt trong danh sách fortune 500 so với 22 công ty năm 2007 và 2 công ty năm 1996 [5, tr 38] Trong lĩnh vực năng lượng, Trung Quốc có các tập đoàn Nhà nước đi tiên phong trong các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như Tập đoàn dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn dầu khí Trung Quốc (Petro China), Tập đoàn xăng dầu
và hóa chất Trung Quốc (Sinnopec), Tập đoàn luyện kim Trung Quốc (China
Trang 27Metallurgical), Tập đoàn khai thác than mỏ Yanzhou (Yanzhou Coal Mining)… Trong các lĩnh vực khác, Trung Quốc cũng có nhiều tập đoàn đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài, điển hình là Tập đoàn máy tính Lenovo (mua cổ phần của IBM/Mỹ), Tập đoàn ô tô Nanjing, Greely (mua lại chi nhánh Volvo/Thụy Điển), Tập đoàn viễn thông Huawei… Các chuyên gia Trung Quốc khẳng định, một trong những yếu tố quan trọng giúp nước này thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là họ đã tạo ra một thế hệ công ty đủ sức cạnh tranh quốc tế, có thể cung cấp cho các nước đang phát triển những đoàn tàu tốc hành, trạm điện, máy móc khai mỏ và thiết bị viễn thông có chất lượng tốt và giá cả thường thấp hơn nhiều so với các nhà cung cấp khác
1.2.3 Đồng nội tệ tăng giá
Đồng nội tệ mạnh lên là xu thế tất yếu khi quy mô của nền kinh tế mở rộng, tiềm lực kinh tế tăng lên, nhất là đối với các nước có dự trữ ngoại tệ lớn
Về lý thuyết, khi đồng nội tệ tăng giá sẽ có lợi hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, do có thể tiết kiệm chi phí hơn đầu tư ở trong nước Hơn nữa, đồng nội tệ tăng giá cũng không khuyến khích xuất khẩu do hàng hóa xuất khẩu sẽ đắt hơn giá hàng hóa trên thế giới, nên đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được xem là một hướng đi mới để tăng xuất khẩu (xuất khẩu trực tiếp sang nước tiếp nhận đầu tư và xuất khẩu sang nước thứ ba), đồng thời có tác động ngược trở lại làm giảm sức ép tăng giá đồng nội tệ
Để thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Trung Quốc đã phải điều chỉnh tăng giá đồng Nhân dân tệ (RMB) Trong ba năm liên tục từ 2005-2008, Trung Quốc đã nhiều lần nới lỏng tỷ giá, mới mức tăng của đồng RMB khoảng trên 21,8% nhằm đối phó với áp lực từ Mỹ và phương Tây và để hỗ trợ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đến tháng 07.2008, do những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, Trung Quốc lại tái cố định tỷ giá đồng RMB ở mức 6,8 RMB/USD Chính sách này đã góp phần không nhỏ vào tốc
độ phục hồi kinh tế ấn tượng của Trung Quốc thời gian qua (năm 2009, tăng
Trang 28trưởng GDP cao nhất toàn cầu, đạt 8,7%; xuất khẩu tuy giảm nhưng vẫn đạt trên 1.200 tỷ USD, thặng dư thương mại 196 tỷ USD, riêng xuất siêu sang Mỹ tới 227 tỷ USD; dự trữ ngoại tệ tăng 24%, lên 2.400 tỷ USD) Sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc khiến sức ép từ Mỹ và EU với Trung Quốc phải tăng giá đồng RMB ngày càng gay gắt, các vụ kiện bán phá giá nhằm vào Trung Quốc tiếp tục gia tăng Chính vì thế, ngày 19.06.2010, Trung Quốc
đã tuyên bố khôi phục tính linh hoạt tỷ giá đồng RMB và chính thức điều chỉnh tăng tỷ giá RMB so với USD 0,3% kể từ 22.06.2010, lên mức 6,798 RMB/USD (biên độ dao động + 5%) sau hai năm thực hiện neo đồng RMB ở
tỷ lệ 6,8 RMB/USD Dự kiến, thời gian tới, Trung Quốc sẽ còn phải điều chỉnh tỷ giá RMB để tiếp tục đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm sản xuất hàng hóa rẻ hơn, đồng thời từ nước tiếp nhận đầu tư xuất khẩu vào các thị trường lớn để tránh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan
1.2.4 Khung pháp lý về đầu tư ra nước ngoài
Từ phương diện quản lý nhà nước, pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được xem là công cụ hữu hiệu của nhà nước trong việc quản lý các hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của việc chuyển vốn ra khỏi biên giới quốc gia Để thúc đẩy các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nước chủ đầu tư phải xây dựng được khung pháp lý về đầu tư ra nước ngoài Thông thường khung pháp lý chưa được hoàn thiện trong giai đoạn đầu tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, sau đó được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện dần cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng nước
Trung Quốc ngay từ giai đoạn đầu tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (1979-1982) đã nhận thấy tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ sở pháp
lý cho việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Trong 15 biện pháp cải cách kinh tế
do Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành năm 1979 thì biện pháp thứ 13 cho phép các doanh nghiệp thành lập các công ty tại nước ngoài [32, tr 5]
Trang 29Trong suốt giai đoạn 1983-1990, Chính phủ Trung Quốc ban hành nhiều biện pháp ưu đãi nhằm khuyến khích các các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Năm 1983, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã chỉ định Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế (MOFTEC), tiền thân của Bộ Thương mại Trung Quốc (MOFCOM), là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt các dự án đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài Năm 1985, để đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu thời gian chờ
đợi, MOFTEC đã ban hành "Thủ tục cấp phép và biện pháp quản lý các liên
doanh ở nước ngoài", trong đó xác định các thủ tục đăng ký và phê duyệt đầu
tư ra nước ngoài MOFCOM và các cơ quan quản lý doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Chính phủ, tỉnh, Bộ) chịu trách nhiệm cấp phép đầu tư cho doanh nghiệp dựa trên tiêu chí mức độ quan trọng và quy mô của dự án Ví
dụ, MOFCOM chịu trách nhiệm cấp phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các dự án có quy mô trên 1 triệu USD; với các dự án có quy mô nhỏ hơn
sẽ do các cơ quan quản lý doanh nghiệp chịu trách nhiệm Cục quản lý nhà nước về ngoại hối Trung Quốc (SAFE) đã ban hành chính sách "Quản lý
ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài" năm 1989 và các hướng dẫn thi hành
năm 1990 Để tăng cường đầu tư ra nước ngoài, năm 1989, Ngân hàng Nhân
dân Trung Quốc (PBoC) đã ban hành "Biện pháp quản lý tạm thời đối với các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tài chính và bảo hiểm" và Bộ Tài chính (MOF)
ban hành "Biện pháp tạm thời về quản lý tỷ giá hối đoái đối với các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài" [32, tr 7]… Những biện pháp này đã thiết
lập nền móng pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc Trong các giai đoạn tiếp theo, Trung Quốc tiếp tục có những điều chỉnh
và bổ sung các quy định về cấp phép, quản lý cũng như hỗ trợ hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài Số lượng các chính sách liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng mạnh nhất trong những giai đoạn Trung Quốc có sự điều chỉnh về chiến lược đầu tư ra nước ngoài, điển hình là giai đoạn 1998-
2000 (sau khủng hoảng tài chính Đông Á và Trung Quốc thực hiện "Chiến
Trang 30lược đi ra ngoài"), giai đoạn 2004-2006 (sau một thời gian dài Trung Quốc
đầu tư ra nước ngoài rất hạn chế và không hiệu quả)…
1.2.5 Sự hỗ trợ của Chính phủ
So với các nước phát triển khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Trung Quốc là nước đang phát triển nên có ít lợi thế cả về vốn, công nghệ, quản lý
Do vậy, sự hỗ trợ của chính phủ khi tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
là cần thiết Với Trung Quốc, sự hỗ trợ này được thể hiện trong các chính sách tài chính, tiền tệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, viện trợ ODA cho các nước tiếp nhận… Ngay từ giai đoạn sơ khai đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (1979-1990), Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức được tầm quan trọng của cơ sở pháp lý và sự hỗ trợ của Chính phủ trong thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài Về hỗ trợ tín dụng, từ năm
2003, Ủy ban đổi mới và phát triển quốc gia (NDRC) và Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (EXIM Bank) đã thiết lập một hệ thống tín dụng cho các dự
án đầu tư trọng điểm ra nước ngoài, đồng thời cung ứng các dịch vụ liên quan đến việc triển khai dự án Chính phủ Trung Quốc cũng có những chính sách
ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Về hỗ trợ thông qua các quỹ đặc biệt của Chính phủ Trung Quốc, từ năm 2007, Trung Quốc thành lập Tập đoàn đầu tư Trung Quốc (CIC - quản lý quỹ đầu tư Trung Quốc), sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc để đầu tư ra nước ngoài với mục tiêu hướng đến là các thị trường tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, kim loại quý nhằm thực thi chính sách bảo vệ tài nguyên quốc gia và tăng trưởng kinh
tế dài hạn Bên cạnh CIC, Trung Quốc còn thành lập Quỹ đầu tư tài nguyên, Quỹ đặc biệt dành cho khảo sát các dự án khai khoáng rủi ro ở nước ngoài, Quỹ đặc biệt dành cho hợp tác kinh tế quốc tế và công nghệ… để khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Về xúc tiến các hiệp định đầu tư và thương mại, đến năm 2010, Trung Quốc đã ký hiệp định song phương và đa phương với hơn 110 quốc gia, từ đó giúp tạo môi trường đầu tư
Trang 31thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài, trong đó có FTA với ASEAN (2002), Pakistan (2003), Chile (2005), New Zealand (2008) Singapore (2008), Peru (2009)… Ngoài ra, Trung Quốc còn đẩy mạnh chính sách ngoại giao viện trợ cho các nước kém phát triển hơn để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Trung Quốc triển khai các dự án ở nước ngoài
1.2.6 Các nhân tố từ nước tiếp nhận đầu tư
Thứ nhất, nước tiếp nhận phải có nhu cầu và sẵn sàng tiếp nhận FDI
từ Trung Quốc Đây là một trong những điều kiện quan trọng và là điều kiện đầu tiên để Trung Quốc xem xét triển khai các dự án đầu tư ra nước ngoài Thực tế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc thời gian qua cho thấy, nhiều nước phát triển như Mỹ, châu Âu rất e ngại trước đầu tư của Trung Quốc, thậm chí ngăn cản Trung Quốc đầu tư trực tiếp vào các nước này Đây
là lý do nhiều thương vụ M&A của Trung Quốc tại nước ngoài bị thất bại, mặc dù Trung Quốc sẵn sàng trả giá cao Những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư trực tiếp vào các nước đang và kém phát triển ở châu Á, Mỹ
La tinh, châu Phi mà một trong những nguyên nhân là các nước này có trình
độ phát triển thấp hơn Trung Quốc và sẵn sàng tiếp nhận vốn đầu tư cũng như viện trợ ODA của Trung Quốc
Thứ hai, nước tiếp nhận đầu tư phải đáp ứng được các mục tiêu của Trung Quốc khi đầu tư ra nước ngoài, đó là phải có tài nguyên thiên nhiên, hoặc có các doanh nghiệp lớn hàng đầu thế giới với công nghệ hiện đại, có bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, có thị trường đủ lớn để tiêu thụ các hàng hóa của Trung Quốc, thuận lợi cho Trung Quốc thực hiện chiến lược dịch chuyển lao động Trung Quốc và di dân… Những năm gần đây, đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc được thực hiện theo sách lược sau: (1) Đầu tư tìm kiếm tài nguyên, Trung Quốc hướng đến các nền kinh tế đang
và kém phát triển ở châu Á, Phi và Mỹ La tinh; (2) Đầu tư mở rộng thị trường, Trung Quốc hướng đến thị trường các nước đang phát triển có dân số
Trang 32đông, thị trường lớn, chủ yếu là châu Á, châu Phi; (3) Đầu tư tìm kiếm công nghệ, kỹ năng quản lý, Trung Quốc hướng đến các nền kinh tế phát triển, nhất
là Mỹ và Tây Âu Việc đa dạng hóa các thị trường đầu tư giúp Trung Quốc
hiện thực hóa các mục tiêu đặt ra khi triển khai đầu tư ra nước ngoài
Thứ ba, môi trường đầu tư của nước tiếp nhận phải tương đối ổn định, phù hợp để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư Trung Quốc, trong đó quan trọng nhất là sự ổn định về chính trị và kinh tế, đồng bộ về hệ thống pháp luật, nhất quán về chính sách Thực tế cho thấy Trung Quốc đã bị thiệt hại không nhỏ khi đầu tư tại các khu vực có bất ổn về chính trị, điển hình là đầu tư tại Lybia Ngoài ra, sự cạnh tranh của doanh nghiệp nước ngoài tại các nước tiếp nhận đầu tư cũng là nhân tố quan trọng khi Trung Quốc quyết định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đây là lý do đầu tư của Trung Quốc tại các nước đang
và kém phát triển tại châu Á, châu Phi thành công hơn những thương vụ đầu
tư vào các nước phát triển như Mỹ, châu Âu
Thứ tư, các chính sách ưu đãi của nước tiếp nhận đối với nhà đầu tư Trung Quốc Thông thường, các nước có quan hệ chính trị tốt với Trung Quốc
có xu hướng tăng ưu đãi với nhà đầu tư Trung Quốc (thông qua các Hiệp định song phương) Ngoài ra, chính sách ngoại giao viện trợ của Trung Quốc cũng
là một điều kiện để đổi lại chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư Trung Quốc Điều này lý giải cho việc các nước kém phát triển ở châu Á và châu Phi vừa
là nơi tiếp nhận ODA lớn của Trung Quốc, vừa là nơi tiếp nhận dòng vốn FDI lớn từ Trung Quốc
1.3 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA TRUNG QUỐC THỜI GIAN TỚI
Trong những năm tới, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc
sẽ được đẩy mạnh theo các hướng sau: (1) Tiếp tục đầu tư theo chiến lược
"Một vòng ba tuyến", trong đó "một vòng" là vành đai các nước cung cấp
Trang 33nguyên liệu cho Trung Quốc ở xung quanh Trung Quốc từ Mông Cổ, Nga,
Kazakstan, đến Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam, "ba tuyến" là các
tuyến ở ba châu lục Nam Mỹ, châu Đại Dương và châu Phi để vừa khai thác tài nguyên, chuyển giao công nghệ, tạo việc làm cho lao động Trung Quốc (2) Đẩy mạnh đầu tư vào các nước phát triển (M&A) để mở rộng thị trường, tiếp cận công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, dưới sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ Trung Quốc (nhất là về ngoại giao) để tránh nguy cơ các thương vụ M&A phần lớn bị thất bại như những năm qua [6, tr 47]
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển nói chung và Trung Quốc nói riêng do góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Là một nước đang phát triển, khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Trung Quốc hướng đến những mục tiêu khai thác các nguồn lực, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả và tìm kiếm các tài sản chiến lược Để có thể tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Trung Quốc phải có tiềm lực kinh
tế nhất định, có khả năng cạnh tranh ở cả cấp độ doanh nghiệp và sản phẩm, nhất là có các doanh nghiệp lớn mang tầm quốc tế, có khung pháp lý để quản
lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài… quan trọng nhất là phải được sự
hỗ trợ của Chính phủ Từ phía các nước tiếp nhận đầu tư, các nước này phải
có nhu cầu và sẵn sàng tiếp nhận đầu tư từ Trung Quốc, đáp ứng được mục tiêu của Trung Quốc khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, có môi trường đầu tư
ổn định để bảo đảm lợi ích cho nhà đầu tư Trong những năm qua, dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Trung Quốc ngày càng gia tăng và trở thành một bộ phận quan trọng của đầu
tư trực tiếp toàn cầu Thời gian tới, dự kiến Trung Quốc sẽ tiếp tục tận dụng
ưu thế (tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, dự trữ ngoại tệ lớn, các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh) để mở rộng hoạt động ra nước ngoài
Trang 342.1.1 Khai thác tài nguyên, năng lƣợng
Mặc dù chiếm khoảng 20% dân số thế giới, nhưng Trung Quốc chỉ sở hữu 4% đất trồng trọt, 7% lượng nước sạch, 3% diện tích rừng, 1,2% trữ lượng dầu mỏ, 13,9% than đá và 1,3% khí thiên nhiên của thế giới tính đến năm 2009 GDP của Trung Quốc chỉ bằng 5% tổng GDP thế giới nhưng lại tiêu hao hơn 20% gang thép, hơn 30% than đá, 25% nhôm, 40% xi măng, 15,4 nước tiêu thụ toàn cầu [17, tr 10] Theo đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc và thế giới, trong số 45 tài nguyên chiến lược, Trung Quốc chỉ có
6 loại đáp ứng được nhu cầu đến năm 2020, còn lại ít nhiều đều phụ thuộc vào nước ngoài Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự báo mức độ phụ thuộc vào nguồn năng lượng từ bên ngoài của Trung Quốc sẽ lên tới 60-70% tổng tiêu dùng vào năm 2015 [17, tr 4] Sự bùng nổ về tăng trưởng kinh tế trong suốt
ba thập niên vừa qua đã kéo theo sự bùng nổ về tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc Từ năm 2001 đến 2005, tổng tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc đã tăng tới 60% Trung Quốc cũng đã chuyển từ một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất Đông Á trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ ba thế giới (2008), chỉ đứng sau Mỹ và Nhật Bản Năm 2011, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ hai thế giới với 9,76 triệu thùng/ngày, trong đó nhập khẩu khoảng 5,7 triệu thùng/ngày, chiếm hơn 58% nhu cầu tiêu dùng dầu mỏ của Trung Quốc Là quốc gia có trữ lượng than đá lớn thứ ba trên thế giới (trữ lượng đã xác định năm 2011 là 114,5 tỷ tấn), Trung Quốc đang xuất siêu than Tuy nhiên, với mức tiêu thụ như hiện
Trang 35nay (1,84 tỷ tấn năm 2011), Trung Quốc được dự báo sẽ nhanh chóng phải
nhập siêu than trong 2 thập niên tới Theo báo cáo "Triển vọng năng lượng
thế giới 2030" của Tập đoàn dầu khí BP/Anh (01.2012), Trung Quốc sẽ trở
thành quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới vào năm 2030 [4] Bên cạnh đó, việc sử dụng không hiệu quả cũng là một nguyên nhân khiến tiêu dùng năng lượng của Trung Quốc luôn ở mức cao Số liệu về cường độ sử dụng năng lượng (Energy Intensity/EI - được sử dụng để đánh giá mức độ sử dụng năng lượng có hiệu quả hay không) năm 2010 cho thấy, để tạo ra 1 tỷ USD GDP, Trung Quốc phải tiêu hao 204 triệu tấn dầu, trong khi Ấn Độ và Brazil, hai nền kinh tế cùng có trình độ phát triển với Trung Quốc, chỉ tiêu hao hết 117 triệu tấn, còn mức trung bình của thế giới là 129 triệu tấn Điều này có nghĩa là Trung Quốc tiêu thụ năng lượng lãng phí gần gấp đôi so với hai nước trên và cao hơn 30% so với mức trung bình của thế giới So với các nền kinh tế phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), để tạo ra cùng một lượng GDP, Trung Quốc phải sử dụng năng lượng gấp 4,5 lần, điện gấp 3,8 lần [36, tr.12] Đáng chú ý, khoảng một nửa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc hiện đến từ các nước Trung Đông, khu vực vốn thường xảy ra bất ổn về chính trị do cạnh tranh địa chiến lược giữa các nước lớn Vì vậy, Trung Quốc có nhiều lý do để lo ngại về vấn đề an ninh năng lượng
Trong những năm qua, Trung Quốc đã không ngừng tìm kiếm các nguồn tài nguyên, năng lượng bên ngoài để đảm bảo cho sản xuất trong nước
và dự trữ cho tương lai Đặc biệt, từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến nay, Trung Quốc đã sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào (hiện vào khoảng trên 3.200 tỷ USD) để mua cổ phần trong các công ty năng lượng nước ngoài ở Trung Đông, Bắc Mỹ, Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á Theo dự báo, đến năm 2015, lượng dầu mỏ và khí đốt khai thác tại nước ngoài của Trung Quốc sẽ chiếm 30% tổng sản lượng khai thác so với mức 20% hiện nay Để hỗ trợ cho chiến lược khai thác tài nguyên ở nước ngoài, Chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư song phương, ký kết các
Trang 36hiệp định viện trợ, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại các nền kinh tế đang và kém phát triển nhằm tiếp cận quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên tại các nước này
Trong lĩnh vực dầu khí, với sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc, các tập đoàn dầu khí Nhà nước như Tập đoàn dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn dầu khí Trung Quốc (Petro China), Tập đoàn xăng dầu và hóa chất Trung Quốc (Sinnopec) đã đẩy mạnh hoạt động M&A trong lĩnh vực dầu khí tại nước ngoài Theo số liệu công bố của Hiệp hội Công nghiệp hóa chất và Dầu khí Trung Quốc (CPCIA), tính đến hết năm 2010, 3 tập đoàn dầu khí nói trên đã đầu tư hơn 70 tỷ USD trong các dự án dầu khí tại 50 quốc gia trên thế giới, trong đó, khoảng 30 tỷ USD được đầu tư trong năm 2010 [11, tr 7] Năm 2009, Sinopec - tập đoàn lọc dầu lớn nhất Trung Quốc - đã mua tập đoàn thăm dò và khai thác dầu Addax/Thụy Điển với giá 7,24 tỷ USD để được quyền khai thác các mỏ dầu tiềm năng ở Iraq và Tây Phi Tập đoàn đầu tư Trung Quốc (CIC - quản lý quỹ đầu tư Trung Quốc, được thành lập năm
2007, sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc) đã đầu tư vào nhiều công ty, mà đích ngắm chủ yếu là các công ty khai thác năng lượng và tài nguyên thiên nhiên CIC đã hoàn tất việc mua 45% cổ phần trong Tập đoàn dầu khí Nobel/Nga (09.2009), bỏ ra 1,58 tỷ USD để mua lại 15% cổ phần của công ty năng lượng hàng đầu thế giới AES/Mỹ (10.2009)
Trong lĩnh vực khai khoáng, năm 2007, Tập đoàn luyện kim Trung Quốc (China Metallurgical) đã mua cổ phần trị giá 3 tỷ USD từ công ty khai thác mỏ đồng Afghan/Afghanistan Năm 2008, Công ty nhôm thuộc sở hữu nhà nước Chinalco đã mua 9% cổ phiếu (14 tỷ USD) của Tập đoàn Rio Tinto/Australia nhằm đảm bảo nguồn quặng sắt ổn định Năm 2009, Tập đoàn Shanghai Baosteel đã mua 15% cổ phần (tương đương với 240,5 triệu USD) của Tập đoàn Aquila Resources/Australia để mở rộng các dự án khai thác nguyên liệu thô (bao gồm quặng sắt, than đá, mangan) Tập đoàn khai thác than mỏ lớn thứ tư Trung Quốc Yanzhou (Yanzhou Coal Mining) đã mua lại
Trang 37Tập đoàn Felix Resoures với giá 2,9 tỷ USD nhằm đảm bảo nguồn cung quặng sắt ổn định cho Trung Quốc
2.1.2 Nắm bắt công nghệ, thương hiệu, bí quyết sản xuất kinh doanh
Là một nền kinh tế lớn, ngày càng có vị thế và vai trò lớn trên bản đồ kinh tế thế giới, nhưng Trung Quốc vẫn là một nền kinh tế đang phát triển, trình độ kinh tế, khoa học công nghệ còn khoảng cách so với các nền kinh tế phát triển Hơn nữa, mô hình tăng trưởng kinh tế dựa vào đầu tư, xuất khẩu (chủ yếu là gia công dựa trên lợi thế chi phí lao động rẻ), khai thác các nguyên liệu thô mà Trung Quốc đã áp dụng trong ba thập niên vừa qua để duy trì tăng trưởng cao liên tục đã không còn thích hợp Trung Quốc phải hướng tới mô hình tăng trưởng kinh tế mới, mà một trong những động lực phát triển
là dựa vào công nghệ cao Do vậy, Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến hình thức M&A khi thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhằm nhanh chóng tiếp cận kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, quy trình sản xuất và kỹ năng quản lý của các nước tiên tiến M&A cũng giúp doanh nghiệp Trung Quốc nhanh chóng mở rộng kinh doanh sang thị trường nước ngoài, nâng cao vị thế cạnh tranh để chiếm ưu thế trên thị trường Các quốc gia Trung Quốc hướng đến trong chiến lược M&A là các nước phát triển Trong giai đoạn 2005-2010, Trung Quốc đã thực hiện 92 thương vụ M&A tại Mỹ, 51 thương vụ tại Australia, Singapore và Canada 43 vụ/nước, Anh 38 vụ, Nhật Bản 25 vụ… Giá trị của các thương vụ M&A từ các doanh nghiệp đã tăng lên nhanh chóng,
từ 4,46 tỷ USD năm 2007, tăng lên 38,99 tỷ USD năm 2008, đạt đỉnh vào năm 2010 với 70,91 tỷ USD Cơ cấu các lĩnh vực Trung Quốc thực hiện M&A trong giai đoạn 2005-2010 là 67% trong lĩnh vực năng lượng, khai mỏ, 11% trong lĩnh vực công nghiệp, 11% lĩnh vực dịch vụ tài chính, 3% lĩnh vực tiêu dùng [9, tr 2-5] Mặc dù, các nước phát triển luôn có những rào cản đối với đầu tư của Trung Quốc, song Trung Quốc đã có một số thương vụ M&A thành công Năm 1988, Tập đoàn gang thép Shougang đã mua 70% Tập đoàn
Trang 38Mesta Engineering and Design và nhờ đó mà có được khả năng thiết kế sử dụng công nghệ cao của tập đoàn này trong sản xuất các thiết bị đúc khuôn và cán thép Năm 2005, Tập đoàn Lenovo mua lại một phần tập đoàn máy tính khổng lồ, cũng là một thương hiệu nổi tiếng IBM/Mỹ, qua đó cũng có được kinh nghiệm quảng cáo và marketing quốc tế, đặc biệt tại thị trường Mỹ Cũng trong năm 2005, Tập đoàn sản xuất ô tô Nanjing đã mua lại chi nhánh sản xuất của hãng MG Rover/Anh Năm 2010, Geely, một trong những nhà sản xuất ô
tô lớn nhất Trung Quốc đã mua lại Volvo/Thụy Điển với giá 1,8 tỷ USD Năm 2011, doanh nghiệp nhà nước BlueStar đã mua lại cổ phần của công ty Elkem, nhà sản xuất silic và cácbon lớn của Na Uy Mới đây, Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC) đã hoàn tất thương vụ mua lại Ngân hàng Đông Á của Mỹ… Nhờ M&A mà Trung Quốc có thể thu hút các công nghệ
hiện đại và có thể "nhảy cóc" một vài giai đoạn trong quá trình phát triển và
cải tiến công nghệ
2.1.3 Mở rộng thị trường cho hàng hóa và lao động Trung Quốc
Vấn đề quan trọng hàng đầu đối với Trung Quốc, một nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu, là mở rộng thị trường, vượt qua các rào cản thương mại quốc tế Vì vậy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp được Trung Quốc lựa chọn để thâm nhập sâu hơn vào thị trường nội địa của nước sở tại, giúp Trung Quốc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, xuất khẩu của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng Theo đó, thặng dư thương mại từ 102 tỷ USD năm 2005 đã tăng gần gấp ba, lên mức đỉnh 298,1 tỷ USD vào năm 2008 [53, tr 54] Thặng dư thương mại của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng, cũng đồng nghĩa với việc các đối tác thương mại lớn của Trung Quốc bị thâm hụt nặng nề (cao nhất là Mỹ 266,3 tỷ USD năm 2008, tiếp đó là Liên minh châu Âu 169 tỷ EUR) Đây cũng chính là nguyên nhân khiến những rào cản đối với hàng hóa Trung Quốc gia tăng mạnh trong những năm gần đây Theo thống kê, 10 năm gia nhập
Trang 39WTO, Trung Quốc đã đối mặt với gần 700 cuộc điều tra về bán phá giá, trợ giá đối với sản xuất trong nước và vi phạm các quy định về bảo đảm và giải quyết tranh chấp thương mại Từ năm 2003-2010, số vụ kiện bán phá giá nhằm vào Trung Quốc lên tới 122 vụ [35, tr 4], đứng thứ hai thế giới, sau Ấn
Độ (217 vụ), trong đó chủ yếu đến từ Mỹ và EU Từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009), sự suy giảm nhu cầu từ các thị trường lớn (Mỹ đang nỗ lực tái cấu nền kinh tế theo hướng giảm sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, châu Âu đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng nợ công và kinh
tế phục hồi chậm nên giảm tiêu dùng), rào cản thương mại tăng lên, xu hướng
"tẩy chay" hàng Trung Quốc do chất lượng không đảm bảo… khiến Trung
Quốc gặp khó khăn trong thúc đẩy xuất khẩu và duy trì tốc độ tăng trưởng cao Theo đó, thặng dư thương mại năm 2009 đã giảm xuống còn 195,7 tỷ USD, năm 2010 còn 183,1 tỷ USD, năm 2011 xuống 155,1 tỷ USD [33] Trong khi đó, thị trường nội địa Trung Quốc cũng bị cạnh tranh gay gắt bởi chính các doanh nghiệp Trung Quốc và các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc Do vậy, để mở rộng thị trường, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Trung Quốc đã đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Chuyên gia Viện nghiên cứu Peterson của Mỹ dự báo, không lâu nữa "được
sản xuất tại Trung Quốc" (made in China) sẽ nhường chỗ cho "được sản xuất bởi Trung Quốc ở nước ngoài" (made by China - abroad) [24, tr 9]
Thương vụ Lenovo mua lại một phần IBM/Mỹ năm 2005 là một điển hình của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để nắm bắt công nghệ, thương hiệu và
mở rộng thị trường của Trung Quốc Ở góc độ thị trường, thời điểm tiến hành thương vụ này, Lenovo chiếm 27% thị phần máy tính tại Trung Quốc, nhưng cũng đang đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cung cấp máy tính giá
rẻ đang nổi lên như Haier, TLC, Hasee, cũng như nguy cơ bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn cạnh tranh về giá nếu không thay đổi chiến lược kinh doanh Mua lại IBM, Lenovo đương nhiên mở rộng được thị trường cho sản phẩm của mình thông qua hệ thống phân phối các sản phẩm đẳng cấp quốc tế của IBM
Trang 40Ngoài ra, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn giúp Trung Quốc xuất khẩu máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu sang các nước kém phát triển hơn
để vừa kéo dài vòng đời của công nghệ, tăng lợi nhuận, tiết kiệm chi phí tiêu hủy rác công nghệ… Sở dĩ các nước kém phát triển vẫn chấp nhận các công nghệ lạc hậu từ Trung Quốc là bởi các công nghệ này phù hợp với họ cả về giá cả và trình độ kinh tế Trong những năm qua, Trung Quốc đã đẩy mạnh đầu tư các dự án khai khoáng, các dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất sắt, thép, xi măng (công nghệ sản xuất xi măng lò đứng) với công nghệ rất lạc hậu so với thế giới… tại nhiều nước kém phát triển hơn Rất nhiều nước đang và kém phát triển ở châu Phi, châu Á đã và đang có nguy cơ
trở thành "bãi thải" công nghệ khi tiếp nhận đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc
Đáng chú ý, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn tạo điều kiện để Trung Quốc tạo công ăn việc làm cho số lao động Trung Quốc dư thừa, nhất là các lao động phổ thông Theo thống kê của Bộ Lao động Trung Quốc, trong 10 năm gần đây, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng, từ khoảng 3,6% năm 2001 lên mức 4,3% trong các năm 2003, 2009, hiện vào khoảng gần 900.000 người [52] Nguyên nhân chủ yếu là dân số Trung Quốc quá đông (hơn 1,3 tỷ người), số người trong độ tuổi lao động trung bình tăng 13 triệu người/năm kể từ năm
2001 Thêm vào đó, quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng khiến số lao động bị dôi dư tăng lên Giai đoạn 2001-2009, có 35 triệu lao động trong các doanh nghiệp nhà nước bị mất việc làm [6, tr 49] Ngoài ra, mỗi năm, nền kinh tế Trung Quốc đứng trước áp lực phải tạo việc làm mới cho khoảng 5 triệu lao động là các sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Đáng chú ý, số lượng lớn lao động nông thôn chuyển ra thành phố khoảng 15-20 triệu người/năm cũng khiến áp lực về việc làm ngày càng gia tăng Vì vậy, các nhà đầu tư Trung Quốc đã tận dụng triệt để việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để xuất khẩu lao động dư thừa, cũng là để giảm căng thẳng do thất nghiệp trong nước tăng cao, giảm thiểu các rủi ro do bất đồng ngôn ngữ, xung đột văn hóa nếu sử dụng các lao động bản xứ Hầu hết