Để chuyển nước ta trở thành một nước công nghiệp, Đại hội IX của Đảng xác định mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế đến năm 2010 như sau: “Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước GDP t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG T ÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHAN THANH NGHỊ
Chuy ển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công
nghi ệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Bến Tre
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS Vương Cường
Hà nội - 2004
Trang 2M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUY ỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHI ỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 9
1.1 Cơ cấu kinh tế và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 9
1.1.1 Khái niệm và nội dung, cơ cấu kinh tế 9
1.1.2 Yêu cầu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 13
1.2 Những nhân tố ảnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở nước ta 20
1.2.1 Nhóm nhân tố về địa lý, tự nhiên 20
1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội 22
1.2.3 Nhóm nhân tố chính trị 25
1.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước và một số địa phương 27
1.3.1 Khái quát quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số nước 27
1.3.2 Những kinh nghiệm có khả năng áp dụng vào điều kiện hiện nay ở nước ta 30
Chương 2 35
TH ỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 35
Ở TỈNH BẾN TRE - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bến Tre 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bến Tre 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.1.3 Điều kiện chính trị 40
Trang 32.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Bến Tre từ 1991
đến nay 44
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1986 - 1990) 44
2.2.2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Bến Tre từ 1991 - 2000 55
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Bến Tre từ năm 2001 đến nay 72
2.3 Những vấn đề đặt ra trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bến Tre 81
2.3.1 Trong lĩnh vực nông nghiệp 81
2.3.2 Trong lĩnh vực công nghiệp 83
2.3.3 Trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại 85
Chương 3 88
M ỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY 88
QUÁ TRÌNH CHUY ỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở TỈNH BẾN TRE 88 3.1 Những phương hướng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Bến Tre 88
3.1.1 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bến Tre 88 3.1.2 Phương hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 3.1.3 Phương hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu thương mại, dịch vụ tỉnh Bến Tre 96
3.2 Một số giải pháp để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Bến Tre 98
3.2.1 Giải pháp về thị trường 98
3.2.2 Xây dựng quy hoạch phát triển cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Bến Tre 102
3.2.3 Giải pháp về vốn 107
3.2.4 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng 109
3.2.5 Giải pháp về khoa học - công nghệ 110
3.2.6 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 113
Trang 4K ẾT LUẬN 116 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 119
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta hiện nay là: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp Để chuyển nước ta trở thành một nước công nghiệp, Đại hội IX của Đảng xác định mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế đến năm 2010 như sau: “Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000; chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 50%” [9, tr 90] Đồng thời Đại hội IX còn chỉ rõ mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm (2001 - 2005) là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [9, tr 216]
Trước yêu cầu phát triển kinh tế chung của cả nước và yêu cầu phát triển kinh tế địa phương, Bến Tre tất yếu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển đi lên Vì Bến Tre là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nền kinh tế của tỉnh chủ yếu là nông nghiệp, với những điều kiện thiên nhiên sẵn có như: đất đai, khí hậu, sông ngòi, nguồn lao động Bến Tre có khả năng phát triển mạnh kinh tế, trở thành một tỉnh giàu
có Nhưng thực tế, Bến Tre vẫn là tỉnh nghèo so với các tỉnh trong vùng, với GDP bình quân đầu người dưới 400USD vào năm 2000 Để định hướng phát triển, Đại hội Đảng Bộ tỉnh Bến Tre lần VII xác định cơ cấu kinh tế của tỉnh
là “nông - công nghiệp và dịch vụ” Với cơ cấu này, cùng với thực hiện những chính sách kinh tế - xã hội, những năm gần đây, kinh tế tỉnh Bến Tre có bước tăng trưởng khá Tuy vậy, Bến Tre vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, các thế mạnh của mình để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh Thực tế cho thấy, việc
Trang 6chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh còn chậm, trình độ kinh tế còn ở mức thấp, cơ bản vẫn là thuần nông, chưa tạo được những ngành kinh tế mũi nhọn
có tầm chi phối; công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch, kinh tế đối ngoại tuy có tiến bộ so với giai đoạn trước nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
và tiềm năng cho phép Trước yêu cầu trên, Đại hội VII Đảng bộ tỉnh Bến Tre chỉ rõ phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh 5 năm tới (2001 - 2005) là: “ đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế tỉnh nhà nhanh và bền vững hơn; tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước nhất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng; nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo, giải quyết lao động và việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” [13, tr 47]
Như vậy muốn kinh tế phát triển, Bến Tre phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tức là phải giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ một cách hợp lý Đây là yêu cầu tất yếu của xu hướng phát triển kinh tế; vì nền kinh tế của một nước, một tỉnh muốn đi lên giàu có không thể chỉ thuần nông mà nhất thiết phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” làm nội dung nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã có nhiều công trình, đề tài, luận văn và những bài viết được nghiên cứu, đăng tải và công bố như:
- GS.PTS Trần Ngọc Hiên: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế” - “Giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế”
Trang 7- Ngô Đình Giao: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994
- Bùi Tất Thắng: “Xu hướng thay đối cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 4/1995
- Đỗ Hoài Nam: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2000”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (218), tháng 7/1996
Song những công trình nghiên cứu khoa học ấy nghiên cứu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa hoặc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên phạm vi cả nước hoặc trên một địa phương khác không thuộc tỉnh Bến Tre Riêng đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bến Tre” chưa được nghiên cứu
Vì vậy việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Bến Tre hiện còn mới mẻ, cần được phân tích làm rõ thêm trên cả hai mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài là trên cơ sở tiếp thu lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay, từ đó mô tả và phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay của tỉnh Bến Tre; đồng thời đề xuất một
số phương hướng và giải pháp để tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bến Tre đạt kết quả cao hơn trong những năm sắp tới
- Để đạt mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích làm rõ khái niệm, nội dung và sự cần thiết phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Sưu tầm các tài liệu, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh trong những năm vừa qua
+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp để thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh Bến Tre theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm tới
Trang 84 Cơ sớ lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa vào đường lối, chính sách, chương trình quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre từ năm 2001 - 2010 Ngoài
ra, còn tham khảo, tiếp thu ý kiến một số nhà khoa học trong và ngoài nước
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng nhiều tài liệu khác nhau như:
Tác phẩm của Các Mác, Ăng ghen, V.I.Lênin, Hồ Chí minh về cơ cấu kinh tế; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII,VIII, IX; Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ IV, V,VI, VII; Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre 1999-2003; Địa trí Bến Tre và còn nhiều tài liệu khác, được chú thích ở Danh mục tài liệu tham khảo
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cụ thể là sử dụng các phương pháp tổng quát, logic, lịch sử, diễn dịch - quy nạp, thống kê, so sánh; đặc biệt là phương pháp tổng kết thực tiễn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành của tỉnh Bến Tre, không nghiên cứu tất cả các nội dung chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Luận văn đi sâu phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bến Tre từ 1991 đến nay và đề ra những phương hướng, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đến năm 2010
6 Đóng góp của luận văn
Trang 9- Khi đề tài hoàn chỉnh sẽ góp thêm cơ sở khoa học, góp phần làm rõ hơn vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
- Từ lý luận này có thể vận dụng để giải quyết những vấn đề do thực tiễn của tỉnh Bến Tre đặt ra như quy hoạch và ban hành các quyết sách để phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh, nhằm đạt hiệu quả cao và bền vững
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập những môn, những phần có liên quan đến kinh tế địa phương trong các trường Cao đẳng, Trung học Chuyên nghiệp của tỉnh
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hiện nay ở tỉnh
Bến Tre - Những vấn đề đặt ra
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bến Tre
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Cơ cấu kinh tế và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình cô ng nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Khái niệm và nội dung, cơ cấu kinh tế
- Cơ cấu kinh tế, một phạm trù kinh tế có vị trí rất quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; sự phát triển của phân công lao động xã hội; xu thế toàn cầu hóa về sản xuất và đời sống; quy luật lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, lợi thế của nước phát triển muộn
về công nghiệp Tất cả những yếu tố đó đều có ảnh hưởng, liên quan đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng quốc gia ở từng thời kỳ nhất định
Thuật ngữ “cơ cấu kinh tế”, tùy theo phạm vi xem xét rộng hay hẹp, ta
sẽ có nội dung khái niệm cơ cấu kinh tế có sự khác nhau về mức độ Dưới đây
là quan điểm chung nhất và tương đối đầy đủ, đó là: cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc dân, kinh tế của một địa phương, một cơ sở Các quan hệ này có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau tồn tại như một chỉnh thể mang tính hệ thống, thể hiện ở chất lượng, nhịp độ phát triển và tỷ trọng giá trị của từng bộ phận cấu thành tổng thể, diễn ra trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế từng thời kỳ
Trang 11- Cơ cấu kinh tế, nếu xem xét ở cấp độ nền kinh tế quốc dân hay trên một vùng lãnh thổ, thì nội dung của nó bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật - công nghệ, cơ cấu lao động Trong đó cơ cấu ngành kinh tế là cốt lõi của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế có các đặc trưng là: tính khách quan, tính thị trường, tính mục tiêu, tính kết hợp giữa số lượng và chất lượng, tính lịch sử, tính động, tính hiện đại, tính hiệu quả kinh tế - xã hội
Như vậy, về mặt nội dung cơ cấu kinh tế là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành:
+ Thứ nhất, là cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân, xác định mối
quan hệ giữa các ngành với nhau; từ đó phân biệt với các loại cơ cấu kinh tế khác Ở nước ta hiện nay, Đảng ta xác định cần tập trung xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà “bộ xương” của nó là “cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng” [6, tr 12]
+ Thứ hai, là cơ cấu vùng lãnh thổ thể hiện sự phân bố lực lượng sản
xuất, sự phân công lao động trên các vùng lãnh thổ khác nhau và mối quan hệ giữa các vùng này trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Về cơ cấu vùng, Đảng ta xác định các vùng kinh tế ở nước ta như sau:
Vùng kinh tế Bắc Bộ, trong đó có tam giác kinh tế tăng trưởng (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh)
Vùng Đông Nam Bộ, trong đó có tứ giác kinh tế tăng trưởng (Thành Phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu)
Vùng Duyên Hải miền Trung, trong đó có vùng kinh tế tăng trưởng (Đà Nẵng - Chu Lai - Dung Quất - Quãng Ngãi )
Vùng Trung Du và miền núi phía Bắc
Vùng kinh tế Tây Nguyên
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Trang 12+ Thứ ba, là cơ cấu thành phần kinh tế bao gồm tổng thể các khu vực
kinh tế Nó được xác định bởi quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối, trong đó quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định) khác nhau và mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế này trong nền kinh tế quốc dân Đại hội IX xác định nền kinh tế nước ta hiện nay có sáu thành phần kinh tế Đó là:
Kinh tế Nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế cá thể, tiểu chủ
Kinh tế tư bản, tư nhân
Kinh tế tư bản Nhà nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trong đó, kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể hợp thành nền tảng cho chế độ xã hội mới - Xã hội Chủ nghĩa
+ Thứ tư, cơ cấu kỹ thuật - công nghệ là tổng thể các loại trình độ (thế
hệ) kỹ thuật và công nghệ tồn tại trong nền kinh tế được hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa công cụ thủ công, nửa cơ khí, cơ khí, tự động hóa, Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng tương ứng với các nguồn lực, trong đó quan trọng nhất là vốn và sức lao động
Công nghệ nước ta hiện nay mang tính đa dạng, đan xen nhiều trình độ, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao Làm như vậy, ta vừa tận dụng tiềm năng lao động, vừa rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta với các nước trong khu vực, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Thứ năm, cơ cấu lao động: trên cơ sở cơ cấu kinh tế được chuyển
dịch, đẩy mạnh phân công lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông
Trang 13nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, trong đó tỷ trọng lao động dịch vụ tăng nhanh hơn tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng lao động xã hội; tỷ trọng lao động giản đơn giảm dần và tỷ trọng lao động trí tuệ tăng nhanh và ngày càng chiếm ưu thế trong cơ cấu lao động
- Trong quá trình phát triển cơ cấu kinh tế không chỉ đa dạng về nội dung, mà còn phải đạt cơ cấu tối ưu (hợp lý)
Tối ưu hóa cơ cấu kinh tế của một nước, một địa phương trên vùng lãnh thổ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Một
cơ cấu kinh tế tối ưu phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
+ Một là, phản ánh được và đúng các quy luật khách quan (bao gồm
các quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội) nhất là các quy luật kinh tế Các quy luật kinh tế sau đây được coi trọng:
Quy luật quan hệ sản xuất phải luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật này có liên quan đến cơ cấu kỹ thuật - công nghệ và cơ cấu thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế ở nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội bỏ qua chế độ Tư bản Chủ nghĩa
Các quy luật kinh tế của thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, cung - cầu, quy luật lưu thông tiền tệ
Các quy luật kinh tế của tái sản xuất như: quy luật phân phối tổng sản phẩm xã hội, quy luật tích lũy, quy luật tiến bộ khoa học - kỹ thuật, quy luật tăng năng suất lao động Các quy luật này có liên quan đến quy mô và tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đồng thời chúng có liên quan đến 4 khâu (sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng) trong quá trình tái sản xuất
Tóm lại, đảm bảo yêu cầu phản ánh được và đúng các quy luật khách quan, là cái quyết định cho cơ cấu kinh tế được hình thành mang tính chất khoa học
Trang 14+ Hai là, đảm bảo tính thị trường Yêu cầu này được thực hiện trên cơ
sở đẩy mạnh phân công lao động xã hội gắn xây dựng cơ cấu kinh tế với nhu cầu thị trường; chủ động hội nhập, hình thành cơ cấu kinh tế mở, phù hợp với
xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa; thực hiện chiến lược hướng mạnh xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả; gắn liền với sự phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng
+ Ba là, tính hiện đại, việc xây dựng cơ cấu kinh tế, cơ cấu khoa học -
công nghệ phải phù hợp với xu hướng của sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão trên thế giới Làm cho kỹ thuật và công nghệ của ta chậm lạc hậu với phát triển của thời đại
Đảm bảo được yêu cần này là điều kiện tốt để ta thực hiện hợp tác và phân công quốc tế có hiệu quả, rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới
+ Bốn là, đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội, nhờ đó cho phép cơ
cấu kinh tế khai thác tối đa mọi nguồn lực, tiềm năng của đất nước, của địa phương, của ngành, xí nghiệp cả chiều rộng lẫn chiều sâu Hiệu quả kinh tế -
xã hội là tiêu chí rất quan trọng, là kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế tối ưu (hợp lý)
Các yêu cầu nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau và đều có tác dụng chi phối sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước
1.1.2 Yêu cầu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là một quá trình, trải qua những chặng đường nhất định, và thực hiện phải thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 15- C.Mác chỉ rõ: “Cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất của một lĩnh vực công nghiệp này gây ra cuộc cách mạng trong các lĩnh vực khác Điều đó áp dụng trước hết cho những ngành công nghiệp tuy bị cô lập do sự phân công lao động xã hội, thành thử mỗi một ngành sản xuất ra một hàng hóa độc lập, nhưng vẫn quyện chặt với nhau thành những giai đoạn của một quá trình chung Ví dụ, việc kéo sợi bằng máy đã làm cho việc dệt bằng máy trở nên cần thiết, và cả hai đã đưa đến cuộc cách mạng cơ khí - hóa học trong ngành phiếu, in và nhuộm vải” [27, tr 553]
C.Mác còn viết: “Nhưng chính cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cũng đòi hỏi một cuộc cách mạng trong những điều kiện chung của quá trình sản xuất xã hội, tức là trong phương tiện giao thông và vận tải” [27, tr 554]
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa công nghiệp
và nông nghiệp, Người viết: “Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân, cung cấp đủ nguyên liệu (như bông, mía, chè cho nhà máy), cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay ) để xuất khẩu đổi lấy máy móc Công nghiệp phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu để đẩy mạnh nông nghiệp, và cung cấp dần dần máy cày, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh chóng
đi đến mục đích” [28, tr 544-545]
Qua đây cho thấy, cả C.Mác và Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh mối quan
hệ, sự tác động qua lại giữa các ngành trong quá trình phát triển, vì vậy khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tiến hành đồng
Trang 16bộ giữa các bộ phận trong nền kinh tế, tránh sự phiến diện, dẫn tới mất cân đối lớn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế ngành, vùng và thành phần kinh
tế nhằm đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu, kém hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là làm cho tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp ngày tăng, nông nghiệp ngày càng giảm; tỷ trọng giá trị sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng, tổng giá trị sản phẩm nông - công nghiệp ngày càng giảm tương ứng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là yêu cầu khách quan của nước ta hiện nay, vì mấy lý do sau đây:
- Thứ nhất, do thực trạng nền kinh tế nước ta đặt ra
Qua 10 năm (1991 - 2000) thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, nến kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn rất quan trọng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (tăng 2,07 lần) Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong 10 năm 7,5%
Cụ thể là nông nghiệp phát triển liên tục; sản lượng lương thực bình quân mỗi năm tăng 1,3 triệu tấn, đưa lương thực bình quân đầu người từ 330kg năm
1990 lên 360kg năm 1995 và 444kg năm 2000, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới
Về công nghiệp, đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao Giá trị sản lượng công nghiệp 10 năm (1991 - 2000) tăng 13,6%/ năm, cao hơn mục tiêu đề ra Trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 11,4%, công nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 17tăng 11%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5% Sản lượng một số sản phẩm quan trọng tăng nhanh
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, giá trị tăng 8,4%/ năm, trong đó
5 năm đầu tăng 10,1%, và 5 năm sau tăng 6,8%
Tích lũy nội bộ của nền kinh tế tăng đáng kể Mức tiết kiệm trong nước
so với GDP từ 2,9% năm 1990, lên 18,2% năm 1995 và 27% năm 2000
Về kinh tế đối ngoại có bước phát triển đáng kể, nước ta đã phá thế bao vây cấm vận, phát triển quan hệ kinh tế hầu hết các nước, gia nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế và khu vực, chủ động từng bước hội nhập có hiệu quả về kinh tế thế giới Cụ thể: kim ngạch xuất khẩu sau 10 năm tăng gấp 6 lần Năm 2000 xuất khẩu bình quân đầu người đạt 184USD Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được thực hiện trong 10 năm khoảng 15 tỷ USD Nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) tiếp tục tăng; chỉ tính riêng 5 năm (1996 - 2000), nguồn vốn ODA được đưa vào thực hiện trên
6 tỷ USD
Nét nổi bật là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Sau 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực Những lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã có bước khai thác, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ cao, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP đã có những thay đổi đáng kể: nông - lâm - ngư nghiệp đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn 27,2% năm 1995, 24,3% năm
2000 và 23% vào năm 2001; công nghiệp và xây dựng có mức tăng khá nhanh, từ 22,7% năm 1990 lên 28,7% năm 1995, 36,6% năm 2000 và 38% năm 2001; dịch vụ tăng từ 38,6% năm 1990 lên 44,1 năm 1995 và đến năm
2001 giảm xuống còn 39%
Trang 18Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, góp phần thức đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, những tiến bộ đạt được về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong từng ngành, tùng vùng còn chậm, chưa tạo bước đột phá về chất lượng và hiệu quả phát triển Biểu hiện ở chỗ, cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP năm 2000 là 24,3% chưa đạt chỉ tiêu đề ra là còn khoảng 19 - 20%; tỷ trọng dịch vụ là 39,1%, chỉ tiêu là 45 - 46%
Đầu tư còn phân tán, làm cho hiệu quả sử dụng vốn, nhất là vốn từ ngân sách chưa cao Trong nông nghiệp ít chú ý đầu tư cho việc nghiên cứu, ứng dụng giống mới cho năng suất cao và giá trị hàng hóa lớn Trong công nghiệp, chưa tập trung đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giảm
Từ thực trạng nêu trên, để tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, thì cần phải tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Thứ hai, xuất phát từ mục tiêu, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta và mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có
cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh, vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Từ nay đến 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [8, tr.80]
Trang 19Tiếp theo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vạch rõ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001 - 2005) là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nâng cao
rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo nhiều việc làm; cơ bản xóa đói, giảm số hộ nghèo” [9, tr.90]
Qua nghiên cứu mục tiêu và nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cho thấy: Công nghiệp hóa không chỉ đơn thuần là tăng tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và lâu bền của nền kinh tế quốc dân Đây là vấn đề lớn, cấp thiết ở nước ta trong quá trình đổi mới kinh
tế trên cả gốc độ cơ cấu kinh tế ngành cũng như cơ cấu kinh tế vùng Do đó, việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta không thể tách rời quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn quan hệ chặt chẽ với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chúng tác động lẫn nhau làm điều kiện và tiền đề cho nhau
Công nghiệp hóa là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghiệp hiện đại cho tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, biến lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc Còn hiện đại hóa có nghĩa là các kỹ thuật và công nghệ sản xuất đạt được trình độ tiên tiến, hiện đại Cho nên Nghị quyết Trung ương lần thứ VII (khóa VII) chỉ rõ: phải gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, áp dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại
Trang 20Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quan hệ biện chứng: vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, vừa là nội dung, vừa là biện pháp
Bởi vì, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nên những điều kiện vật chất
- kỹ thuật, khoa học - công nghệ và con người để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp có năng suất lao động cao và từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế mới: công - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại Trong những năm trước mắt, nước ta cần tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, ra sức phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản; công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển du lịch và dịch vụ ở thành thị và nông thôn… Kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta vốn lạc hậu, nghèo nàn không thể tự vươn lên đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ, không đủ khả năng giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 70% lao động xã hội đang sinh sống ở địa bàn này Điều đó, đòi hỏi phải có sự tác động mạnh của công nghiệp vào nông nghiệp, như đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ sinh học, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn
Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như cơ cấu nông nghiệp được chuyển dịch và phát triển xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng xã hội; nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng nhanh khối lượng nông sản xuất khẩu; giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, từ đó mở rộng thị trường cho sản phẩm và dịch vụ công nghiệp; bổ sung lực lượng lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ góp phần tích lũy vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 21Như vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan, phù hợp với lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng nhu cầu thực tiễn nền kinh tế nước ta đang đặt
ra và do giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2 Những nhân tố ảnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở nước ta
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta thực chất là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của Chủ nghĩa Xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước thiết lập quan hệ sản xuất tương ứng Quá trình này chịu chi phối bởi nhiều nhân tố, như về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị Dưới đây cần làm rõ từng nhân tố
1.2.1 Nhóm nhân tố về địa lý, tự nhiên
Nhân tố địa lý, tự nhiên bao gồm: vị trí địa hình, địa lý, đất đai, khoáng sản, khí hậu… Nhân tố địa lý, tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu kinh tế ngành Vì quá trình phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn phải dựa vào tài nguyên, thiên nhiên Nước nào có vị trí địa lý thuận lợi sẽ dễ dàng mở rộng thị trường; có nhiều khoáng sản, đất đai, … tạo ra điều kiện, tiềm năng cho phát triển
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ở phía Đông bán đảo Đông Dương, giáp biển; là trung tâm Đông Nam Á - khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới, có diện tích tự nhiên khoảng 330.363 km2đất liền, hàng triệu km2 vùng biển và thềm lục địa, hơn 3.200km
bờ biển, có khoảng 10 triệu ha đất nông nghiệp Với khí hậu nóng, ẩm cộng với tài nguyên sinh vật dồi dào (có 7.000 loài thực vật bậc cao, hơn 700 loài chim, 200 loài thú quý, khoảng 2.000 loài cá biển ) là điều kiện tốt cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp quanh năm ở nước ta
Lãnh thổ Việt Nam có thêm vùng biển rộng lớn, có khoảng 80 loại khoáng sản với hơn 3.500 điểm mỏ và quặng, tạo điều kiện để phát triển các
Trang 22ngành: khai thác, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, khai thác và chế biến dầu khí, du lịch, giao thông đường biển
Nước ta vừa ở vị trí trung tâm, vừa có chung biển Đông với nhiều nước Đông Nam Á (với Campuchia, Thái Lan, Malayxia, Philippin ) Trên đất liền cũng như biển, lãnh thổ nước ta có nhiều tuyến đường, đầu mối giao thông, sân bay, hải cảng thuận lợi để giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới bằng đường bộ, đường sông, đường biển và đường hàng không, là một trong những điều kiện thuận lợi để thực hiện kinh tế mở, chủ động hội nhập
Bên cạnh thuận lợi thì điều kiện tự nhiên nước ta cũng gây nhiều trở ngại đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Như tài nguyên đất của nước ta có hạn, diện tích đất canh tác tính theo đầu người khoảng 0,1ha/người Bão, lũ lụt, hạn hán hằng năm gây nhiều tổn thất cho nền kinh tế Diện tích rừng tiếp tục giảm Nhiều loài thú, chim, thủy sản trở nên hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng Khoáng sản phân bố phân tán, không đều về trữ lượng gây khó khăn cho việc khai thác, chế biến Về cảnh quan du lịch, nhiều nơi thiếu sự tu bổ, chưa có sức thu hút du khách, nhất là khách nước ngoài
Điều kiện địa lý, tự nhiên nước ta có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tận dụng, khai thác mặt thuận lợi của điều kiện tự nhiên; đồng thời tìm cách khắc phục, hạn chế tối đa những trở ngại do chúng gây ra
Cũng cần lưu ý, tuy điều kiện địa lý, tự nhiên có vai trò quan trọng, nhưng chúng không phải là yếu tố quyết định, vì thế chúng ta không nên tuyệt đối hóa “địa lý, tự nhiên” Vì thực tế cho thấy, nhiều nước có điều kiện tự nhiên kém ưu đãi, nhưng vẫn chuyển dịch cơ cấu kinh tế trở thành nước phát triển Như: Nhật Bản là nước gần như không có tài nguyên khoáng sản, động đất thường xuyên xảy ra mà vẫn trở thành siêu cường kinh tế; Hồng Kông,
Trang 23Singapore đất hẹp, tài nguyên nghèo nàn cũng vươn lên thành nước công nghiệp
Đối với nước ta, cần khai thác nhân tố thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực dồi dào để trước mắt ưu tiên cho công nghiệp hóa nông nghiệp, phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng dịch
vụ, thu hút đầu tư
1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
Trước hết phải nói đến trình độ của lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định nhất, lực lượng sản xuất theo nghĩa rộng bao gồm con người (sức lao động), tư liệu sản xuất và khoa học kỹ thuật, công nghệ Kế đến là dân số, lực lượng lao động với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển; có quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất, tiến bộ khoa học - công nghệ là động lực chủ yếu, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, quyết định sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều sâu
Chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm hợp lý có tác dụng thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời là động lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Về dân số và lao động cũng có tác động lớn đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Một nước có số dân vừa phải, có nguồn lao động trẻ, trình độ cao
và đồng bộ sẽ là nhân tố cơ bản, quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh
Trang 24những ưu điểm, do nhiều nguyên nhân nên nhìn chung trình độ dân trí chưa cao, lực lượng lao động qua đào tạo còn thấp chưa đạt yêu cầu, giá nhân công
rẽ, thu nhập thấp dẫn đến đời sống người lao động ở nước ta còn khó khăn
Do đó, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải ra sức nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, đào tạo nghề cho thanh niên, phân công lại lao động xã hội ở nước ta
Về cơ sở vật chất - kỹ thuật, qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng; trong đó, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước ta từng bước được tăng cường, nhiều máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại đầu tư vào các ngành trong nền kinh tế Vốn đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội trong 10 năm (1991 - 2000) khoảng 632 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 57 tỷ USD) Đầu tư phát triển so với GDP tăng từ 18% năm 1990 lên 28% năm 2000 Nhờ đó, năng lực sản xuất của hầu hết các ngành sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên cơ sở vật chất
kỹ thuật, kết cấu hạ tầng của nước ta phần lớn vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và cạnh tranh quốc tế Cho nên Đại hội Đảng lần thứ
IX đã định hướng phát triển khoa học - công nghệ như sau: “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” [9, tr.91]
Về quan hệ sản xuất, qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, quán triệt chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo ra sự phong phú, đa dạng của các hình thức tổ chức kinh tế, làm cho quan hệ sản xuất có
Trang 25bước đổi mới phù hợp hơn với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa
Với chính sách đúng đắn này đã và đang cho phép chúng ta khai thác tốt các tiềm năng về vốn, lao động, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các thành phần kinh tế, là nguồn lực to lớn để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Thực tế cho thấy, việc sử dụng cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
đã mang lại lợi ích to lớn Tính đến năm 2000, kinh tế nhà nước chiếm khoảng 39%/GDP Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại một bước, hình thành những tổng công ty lớn trên nhiều lĩnh vực then chốt, thích nghi dần với cơ chế mới Kinh tế tập thể có bước chuyển và phát triển đa dạng theo phương thức mới Kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh, đầu tư vốn lớn, đổi mới công nghệ, thu hút hàng triệu lao động, làm tăng sản phẩm hàng hóa cho người tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất của nước ta có mặt hạn chế, rõ nhất là còn nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, nợ nần chồng chéo, khó giải quyết, thực hiện cổ phần hóa ở nước ta quá chậm
Song song với tiến bộ kinh tế, thì lĩnh vực xã hội nước ta có những chuyển biến đáng kể Trước hết là giải quyết việc làm, qua 10 năm (1991 - 2000), các thành phần kinh tế đã thu hút và giải quyết việc làm hơn 10,4 triệu người Kế đến là công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả khá cao, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 30% năm 1992 xuống còn 20% năm 1995 và 11% vào năm 2000; nước ta được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước giảm đói nghèo tốt nhất Ngoài ra, nước ta còn thực hiện tốt công tác dân số -
kế hoạch hóa gia đình; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng có nhiều
Trang 26tiến bộ Đặc biệt, mức sống của cán bộ viên chức, người về hưu, gia đình có công với cách mạng đã được nâng lên rõ rết Đời sống dân cư ở nhiều vùng được cải thiện đáng kể
Tóm lại, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội nêu trên là cơ sở, điều kiện quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta trong thời gian tới
Về điểm này, chúng ta có thuận lợi rất cơ bản Khi bước vào đổi mới, đất nước ta đứng trước sự khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, tiếp đến những năm 1990 tình hình thế giới lại diễn biến phức tạp, hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, sụp đổ; các thế lực thù địch ra sức bao vây, kích động, phá hoại, hồng xóa các nước Xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam; nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chúng ta
đã chiến thắng Đảng ta luôn kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể nước ta Đảng chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng
Mác-ta còn khẳng định: quá trình đổi mới không phải xa rời mục tiêu mà làm cho
Trang 27mục tiêu về chủ nghĩa xã hội đúng đắn hơn, thực hiện có hiệu quả hơn; đồng thời phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập; mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
Với bản lĩnh và sự sáng suốt của mình, Đảng đã lãnh đạo công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu rất quan trọng, từ đó càng củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
Bên cạnh sự lãnh đạo của Đảng còn có vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước là một nhân tố góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị Tuy còn một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu, cần phải nâng lên, nhưng nhìn chung Nhà nước ta có tiến bộ đáng kể, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành những chính sách, nghị định… và thực hiện quản lý về kinh tế, xã hội,
an ninh quốc phòng, kinh tế đối ngoại đạt hiệu quả khá tốt Qua sự điều hành, quản lý trực tiếp của Nhà nước, đảm bảo tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm 7%, các mặt về văn hóa, xã hội phát triển rõ rệt Sau
15 năm đổi mới, Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện, nền hành chính được cải cách một bước; quyền làm chủ của nhân dân trên các mặt được phát huy Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung, tăng cường (từ năm 1986 đến nay, Quốc hội đã thông qua hơn 13 nghìn văn bản luật và dưới luật, trong đó có 40 bộ luật và luật quan trọng như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động )
Từ thực tế cho ta khẳng định: sự ổn định chính trị ở nước ta suốt 15 năm qua là một thành tựu rất to lớn Nó có ý nghĩa tiên quyết cho thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua và sắp tới
Trang 281.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước và một số địa phương
1.3.1 Khái quát quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số nước
Lịch sử công nghiệp hóa trên thế giới và khu vực cho thấy việc trang bị
kỹ thuật và công nghệ, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân diễn ra qua hai dạng là: công nghiệp hóa cổ điển và công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, mở cửa, chuyển giao công nghệ mới
Đặc điểm công nghiệp hóa cổ điển là tự trang bị về kỹ thuật và công nghệ, gắn liền với nền kinh tế đóng kín
Điển hình như nước Anh, là nước đầu tiên tiến hành công nghiệp hóa Việc thực hiện công nghiệp hóa ở nước này đi từ thủ công lên nửa cơ khí rồi đến cơ khí; từ nông nghiệp đến công nghiệp nhẹ và từng bước chuyển sang công nghiệp nặng
Ngày nay, nước Anh là một trong những nước có nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật công nghệ hiện đại Từ một nước nông nghiệp, nước Anh đã trở thành một nước công nghiệp, lao động trong công nghiệp chiếm tuyệt đại bộ phận trong giá trị tổng sản phẩm và tổng lao động
xã hội Đạt được thành tựu này, nước Anh phải trải qua quá trình phát triển tuần tự lâu dài hàng thế kỷ
Từ kinh nghiệm của nước Anh, các nước tư bản đi sau tuy có rút ngắn được thời gian tiến hành công nghiệp hóa nhờ giảm bớt được thời kỳ mò mẫm, nhưng vẫn chưa có điều kiện rút ngắn đáng kể thời gian và trình độ kỹ thuật công nghệ, bởi quy luật phát triển tuần tự đang còn ngự trị
- Các nước chọn con đường Xã hội Chủ nghĩa, tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình Liên Xô (cũ); mô hình này xét về thực chất vẫn là dạng công nghiệp hóa cổ điển, nhưng có cải biến nhất định
Trang 29Thực tế cho thấy, công nghiệp hóa theo kiểu Liên Xô trước đây (kể cả nước ta), tuy có mang lại một số thành tựu, nhưng nhìn chung còn nhiều hạn chế
+ Thứ nhất, lạc hậu về thế hệ công nghệ, khó đuổi kịp các nước có trình
độ về kinh tế và kỹ thuật
+ Thứ hai, không tận dụng được hết các nguồn lực, các lợi thế tuyệt đối
và lợi thế so sánh, sản phẩm làm ra khó cạnh tranh và do đó rất khó hội nhập vào thị trường thế giới Từ đó làm chậm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm cho quá trình khu vực hóa, quốc tế hóa đời sống kinh
tế trở thành xu hướng tất yếu Ngoài ra còn xuất phát từ yêu cầu của quy luật
về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước, từ sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về trình độ kinh tế - kỹ thuật giữa các nước, dẫn đến mỗi quốc gia phải tích cực quan hệ để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mình Trong điều kiện đó, các quốc gia đi sau có thể kết hợp quy luật phát triển nhảy vọt với quy luật phát triển tuần tự, để rút ngắn đáng kể về mặt thời gian tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhìn chung các quốc gia này tiến hành công nghiệp hóa theo dạng rút ngắn Tuy nhiên, sự phát triển rút ngắn cũng có nhiều dạng, nhiều mô hình
- Nhật Bản, công nghiệp hóa ở nước này bắt đầu từ thời Minh Trị (năm 1868) và hoàn thành trước đại chiến lần thứ hai
Trong quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản vai trò của nhà nước có ý nghĩa rất lớn: Chính phủ Minh Trị không chỉ có vai trò thủ tiêu quyền lực của phong kiến, đẳng cấp mà còn thực hiện cải cách kinh tế - xã hội; đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa Điều đó thể hiện ở chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp, xây dựng và phát triển thị trường
Trang 30So với các nước Anh, Pháp, Đức, công nghiệp hóa của Nhật có rút ngắn về mặt thời gian Họ đã tiếp thu có chọn lọc các tri thức khoa học, kỹ thuật và kinh nghiệm các nước đi trước, tìm ra những yếu tố phù hợp với hoàn cảnh, truyền thống văn hóa của mình Họ thường nêu khẩu hiệu: “Khoa học phương Tây và đạo đức phương Đông” Tuy nhiên quá trình công nghiệp của Nhật vẫn theo bước đi tuần tự, thời kỳ đầu hầu như dựa vào nguồn vốn trong nước Vì thế quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để trở thành một nước công nghiệp của Nhật Bản chưa nhanh như các nước công nghiệp mới (NICs) sau này
- Các nước NICs
Quá trình công nghiệp hóa ở các nước NICs, mỗi nước có sự khác nhau Song ở những nước này có điểm chung là tận dụng, khai thác tư bản nước ngoài kêu gọi đầu tư; thông qua hoạt động của các công ty xuyên quốc gia xây dựng nền kinh tế thị trường hướng ngoại, sử dụng lợi thế nước đi sau
để phát triển Bằng cách này, các nước công nghiệp hóa Châu Á tăng trưởng
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, thực hiện công nghiệp hóa theo dạng phát triển rút ngắn hiện đạị trong vòng ba thập kỷ
- Trung Quốc
Trong các nước Châu Á, Trung Quốc là nước rất giống Việt Nam cả về điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội và cả bước chuyển từ công nghiệp hóa theo cơ chế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường
Qua thất bại công nghiệp hóa theo kiểu phát triển công nghiệp nặng với phương châm “Toàn dân làm gang thép” và “Đại nhảy vọt” của những năm
1950, đến năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế theo hướng khai thác thế mạnh nền kinh tế nông nghiệp của mình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “nông nghiệp - công nghiệp nhẹ - công nghiệp nặng”, nhờ
Trang 31đó tạo bước nhảy vọt không chỉ trong nông nghiệp mà trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân
Trung Quốc còn thành công trong việc kết hợp công nghiệp hóa đô thị với nông thôn, thể hiện ở mô hình xí nghiệp hương trấn, ra đời vào những năm 1978 Các xí nghiệp hương trấn do nông dân lập nên với sự giúp đỡ của nhà nước Chỉ sau 8 năm hoạt động, số lượng xí nghiệp hương trấn đã lên tới
23 triệu xí nghiệp, giải quyết hơn 130 triệu việc làm, tạo ra 1.700 tỷ nhân dân
tệ, chiếm 60% giá trị ở nông thôn và 30% GDP cả nước
Những năn gần đây, Trung Quốc còn phát triển các xí nghiệp nhỏ có vốn nước ngoài, chủ yếu làm gia công xuất khẩu Trong những năm 1985
1992, giá trị xuất khẩu của các xí nghiệp này đã tăng từ 300 triệu USD lên 17
tỷ
Ngoài ra để chuyển giao công nghệ tiên tiến tới vùng nông thôn rộng lớn, Trung Quốc đã thực chương trình “đốm lửa” Để thực hiện chương này, chính phủ Trung Quốc đã huy động phần lớn lực lượng khoa học – kỹ thuật của trung ương và địa phương, khuyến khích các nhà khoa học, công nghệ gia
từ thành thị, từ các viện và các trường đại học về các xí nghiệp nông thôn, nhằm nghiên cứu sản xuất và đào tạo cán bộ để đổi mới, phát triển nhanh kinh
tế nông thôn
1.3.2 Những kinh nghiệm có khả năng áp dụng vào điều kiện hiện nay ở nước ta
- Nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa của các nước trên cho thấy, sự
thành công trong phát triển kinh tế - xã hội bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì công nghiệp hóa của các nước đã cung cấp cho Việt Nam những kinh nghiệm quý giá Ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:
Trang 32+ Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải bắt đầu từ nông nghiệp
Vì đặc điểm phổ biến của các nước Châu Á là tỷ trọng lao động nông nghiệp cao, năng suất lao động thấp, thị trường nông thôn, sức mua của nông dân hạn chế di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng tăng Để chống lại xu hướng
đó, hầu hết các nước đều chọn nông nghiệp làm điểm xuất phát của công nghiệp hóa Trong thời kỳ đầu, các nước lựa chọn phương án là khai thác lợi thế về đất đai và nguồn lao động dồi dào trong nông nghiệp để phát triển Với cách làm này, sẽ tạo ra được một khối lượng nông sản hàng hóa lớn, đảm bảo lương thực, thực phẩm cho xã hội, từ đó góp phần ổn định kinh tế - xã hội
+ Hai là, phải khai thác tối ưu các lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, về tài nguyên con người, về vốn, công nghệ, thị trường… Các lợi thế này được vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước, trong đó có sự kết hợp giữa lợi thế bên trong và lợi thế bên ngoài Khi khai thác tốt lợi thế so sánh sẽ rút ngắn quá trình và nâng hiệu quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Ba là, có chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với từng
thời kỳ, có sự thay đổi theo thay đổi lợi thế so sánh trong nền kinh tế đang phát triển
Khi lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên phong phú còn là ưu thế, thì nên tập trung phát triển những ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên Đến khi các ưu thế mới về vốn, công nghệ, trình độ của lao động tăng, thì cần phát triển mạnh các ngành có giá trị gia tăng cao hơn
+ Bốn là, cần kết hợp phát triển các xí nghiệp qui mô vừa và nhỏ ở
thành thị lẫn nông thôn
Đây là một trong những phương cách đưa các nước Châu Á phát triển nhanh, trong đó có Nhật Bản trước đây, Đài Loan, Hàn Quốc ngày nay trở thành những nước công nghiệp mới Con đường này phù hợp với các nước
Trang 33đang phát triển, vì nó chiếm ít vốn, dễ ứng biến, phù hợp với trình độ quản lý chưa cao, sử dụng công nghệ nhiều lao động
+ Năm là, tăng cường vai trò nhà nước
Nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một nước Thực tế cho thấy, chính phủ nào đủ năng lực đề ra được chiến lược và quyết sách đúng đắn thì sẽ đưa kinh tế phát triển mang lại hiệu quả cao Ngược lại, nếu chính phủ nào năng lực yếu kém sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển Điển hình như: Trung Quốc vào những năm 1950, chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp nặng, hay Hàn Quốc với chính sách tập trung mọi tiềm lực để xây dựng các xí nghiệp lớn ở đô thị những năm trước 1960… đều thất bại
- Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Qua 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta đã đạt được những thành tựu về kinh tế, xã hội rất quan trọng Đóng góp cho thành tựu trên là sự năng động của các ngành và các địa phương; từ hoạt động mang lại hiệu quả có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Riêng vùng đồng bằng Sông Cửu Long có hai địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả cao và cho nhiều kinh nghiệm đáng để học tập đó là An Giang và Cần Thơ
An Giang: Trước đổi mới, An Giang là một tỉnh đạt sản lượng lương thực rất cao, nhưng đời sống nhân dân vẫn còn nhiều hộ nghèo; nguyên nhân chủ yếu là do nền nông nghiệp An Giang là độc canh và thuần nông
Vào những năm 1990, An Giang từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bên cạnh thâm canh cây lúa, tỉnh phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp, dịch vụ Với cách làm này đã tạo động lực mạnh mẽ, nâng cao thu nhập cho từng hộ dân
Trang 34Bên cạnh việc đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, tỉnh An Giang còn quy hoạch lại đất đai, chuyển hướng đầu tư theo chiều sâu phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng vùng và theo nhu cầu của thị trường
Cùng với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, An Giang còn chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn, trong đó phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản và thủy sản xuất khẩu; công nghiệp cơ khí sửa chữa máy nông nghiệp
Trong quá trình phát triển, An Giang đã tập trung vào việc đa dạng hóa ngành nghề phục vụ nông nghiệp với quy mô vừa và nhỏ, phân bố khá đồng đều trên địa bàn tỉnh Về cơ sở công nghiệp, trong đó công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản xuất khẩu tập trung ở xã Hòa An (huyện Chợ Mới, cụm sản xuất bông gòn xuất khẩu (Chợ vàm, huyện Phú Tân), cụm xe tơ tằm (Thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu) hoặc sản xuất nông cụ, vật liệu xây dựng (xã Phú Mỹ, huyện Tân Phú), cụm kỹ nghệ sắt (xã Mỹ Phước, Long Xuyên), cụm sản xuất gạch ngói (xã An Châu, Châu Thành)… sự phục hồi và phát triển của các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn đã thu hút nhiều việc làm, tăng thu nhập đáng kể cho người dân An Giang
Cần Thơ: với vị trí là trung tâm của đồng bằng Sông Cửu Long, là một trong số tỉnh sản xuất lúa gạo hàng đầu của cả nước Để xóa tình trạng độc canh, bên cạnh cây lúa, tỉnh đã chú ý phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp, rau màu theo hướng sản xuất hàng hóa Ngoài ra, tỉnh còn chủ trương đẩy mạnh cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh cây ăn quả tập trung với tổng diện tích lên đến 34 ngàn ha (năm 1996)
Đi đôi với trồng trọt, tỉnh còn chú trọng phát triển chăn nuôi và thủy sản theo hình thức quy mô hộ gia đình Đặc biệt nghề nuôi tôm, cá nước ngọt phát triển mạnh, thu hút phần lớn lao động nông nhàn
Cần Thơ còn chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn, chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp với nhiều ngành nghề như: chế biến lương thực, thực phẩm, gỗ,
Trang 35đóng tàu biển, may thêu, đan lát, dệt da Từ việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn Đến nay đã
có hơn 3.200 hộ và 17.000 lao động đang làm việc trong lĩnh vực này
Qua thực tế phát triển kinh tế của hai tỉnh An Giang và Cần Thơ cho ta những kinh nghiệm quý báu:
- Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đối với lĩnh vực nông nghiệp cần phải đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, nhất là đẩy mạnh phát triển cây, con có giá trị xuất khẩu cao
- Đối với công nghiệp, cần chú trọng phát triển tiểu, thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp, đẩy mạnh chế biến nâng cao giá trị sản phẩm, phục hồi, phát triển các nghề, làng nghề truyền thống nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động
- Cần có sự quy hoạch sản xuất phù hợp, theo hướng khai thác thế mạnh của từng vùng; đồng thời từng bước đầu tư trang bị công nghệ mới đi vào sản xuất theo chiều sâu, tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh, mang lại hiệu quả cao
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
Ở TỈNH BẾN TRE - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bến Tre
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một tỉnh của đồng bằng Sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: An Hóa, Bảo và Minh do phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long (Sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỷ Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.315,01km2, phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, có ranh giới bởi sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển là 65 km
Bến Tre có đường bộ nối từ thị xã Bến Tre đến Thành phố Hồ Chí Minh dài khoảng 86km
Là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, Bến Tre địa hình bằng phẳng, rải rác
có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một
ít rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông Bốn bề đều có sông nước bao bọc, nên Bến Tre có một hệ thống đường thủy gồm những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa
Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận biên giới Campuchia và một
hệ thống sông ngòi chằng chịt như những mạch máu chảy khắp ba dãy Cù lao, rất thuận lợi cho giao thông vận tải cũng như thủy lợi Tàu bè từ Thành phố
Hồ Chí Minh đi về miền Tây và ngược lại đều qua đất Bến Tre
Bên cạnh hệ thống đường thủy lý tưởng, Bến Tre còn có hệ thống đường bộ: đoạn quốc lộ 60 chạy từ phà Rạch Miễu (bên bờ sông Tiền) qua thị
Trang 37xã Bến Tre, qua phà Hàm Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến phà Cổ Chiên sang tỉnh Trà Vinh Đoạn quốc lộ 57 từ thị trấn Mỏ Cày, qua thị trấn Chợ Lách sang tỉnh Vĩnh Long
Ngoài ra, còn có các tỉnh lộ nối liền từ thị xã với các huyện trong toàn tỉnh
Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bến Tre thể hiện rõ qua các mặt sau:
- Về đất đai:
Nhìn khái quát vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa Sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tựu phù sa của những “đảo cửa sông”, một trong những dạng thức lấn biển của đồng bằng Sông Cửu Long qua hàng nghìn năm
Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai của tỉnh được tiến hành trên một quy mô lớn Qua kết quả khảo sát do chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng Sông Cửu Long cấp nhà nước ở giai đoạn II (1984 - 1985), cho biết toàn tỉnh Bến Tre có 4 nhóm đất chính, cụ thể như sau
+ Nhóm đất cát: trong đó chủ yếu là đất giồng, chiếm khoảng 14.248ha (6,4% diện tích toàn tỉnh), phân bổ chủ yếu ở 3 huyện ven biển (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) Ngoài ra nhóm đất này còn có rải rác ở một số nơi của huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm và thị xã Bến Tre Trong thành phần hóa học của đất cát giồng, tỷ lệ sắt khá cao, ít chua, thiếu đạm, nghèo dinh dưỡng, độ mặn trong đất không cao
+ Nhóm đất phù sa: chiếm diện tích 66.471ha (26,9% diện tích toàn tỉnh), tập trung ở các huyện vùng nước ngọt phía tây Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày
Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần chủ yếu là sét (50 - 60%), đất thường hơi chua ở tầng mặt, tầng đất sâu có phản ứng trung tính Nhóm đất này có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ
Trang 38+ Nhóm đất phèn: khoảng 15.127ha (chiếm tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh), phân bổ rải rác trên toàn tỉnh Nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm hai nhóm phụ:
Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hóa chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286ha)
Đất phèn tiềm tàng trung bình, tầng sinh phèn cạn từ 50 - 100cm; do tầng phèn sâu trên 50cm, nên không ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa
+ Nhóm đất mặn: chiếm khoảng 96.739ha (43,11% diện tích toàn tỉnh), phân bổ tập trung ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú
Tóm lại, Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích
- Về khí hậu:
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26OC – 27O
C
Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc từ tháng 12 đến tháng tư năm sau và gió mùa tây nam từ tháng 5 đến tháng 11, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa gió đông bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió tây nam là thời kỳ mưa ẩm Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1250mm - 1500mm
Tuy là tỉnh nằm tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xuyên xảy ra từ vĩ độ 15
độ bắc trở lên)
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Đặc điểm kinh tế - xã hội được thể hiện qua các mặt sau đây:
Trang 39Một là, dân số và lao động tỉnh Bến Tre, theo niên giám thống kê năm
2003 của cục thống kê Bến Tre thì có 1.348.167 người Trong đó thành thị là 131.336 người và nông thôn 1.216.831 người Nếu phân theo giới tính thì nam 652.006 người, nữ 696.161 người Mật độ dân số bình quân cả tỉnh là
581 người/km2, riêng thị xã Bến Tre có tới 1.714 người/km2, còn các huyện mật độ dân số trung bình là 678 người/km2, chỉ có hai huyện Bình Đại và Thạnh Phú là 328 người/km2 Nhìn chung về mật độ dân số, Bến Tre thuộc loại cao, đứng hàng thứ ba ở Nam Bộ (sau Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tiền Giang)
Do làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình và nâng cao được nhận thức của người dân nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh đã giảm đáng kể, năm
1993 tỷ suất tăng tự nhiên là 16,27)‰ đến năm 2003 xuống còn 10,96‰
Về lao động, đến cuối năm 2003 tỉnh có 848.763 người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là 668.476 người, được phân bổ vào các thành phần kinh tế, cụ thể như sau: + Kinh tế Nhà nước 34.537 người
+ Kinh tế tập thể 9.232 người
+ Kinh tế tư nhân 10.575 người
+ Kinh tế cá thể 613.348 người
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 784 người
Phân theo ngành kinh tế thì số lao động trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp có 536.967 người, công nghiệp và xây dựng là 46.438 người và ở lĩnh vực thương mại dịch vụ có 22.561 lao động đang hoạt động
+ Về trình độ văn hóa, theo kết quả điều tra thì đến năm 1996, tỉnh Bến Tre có 93,47% dân số trong độ tuổi từ 15 đến 35 biết chữ Đến năm 1999 tỷ lệ người biết chữ được nâng lên 94,5% Năm học 1996 - 1997, Bến Tre là một trong những tỉnh đã hoàn thành sớm việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu
Trang 40học Số lượng học sinh Bến Tre vào đại học ngày càng tăng, năm học 1999 -
2000 đạt 54,7 sinh viên/1 vạn dân (mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra là
40 sinh viên/1vạn dân)
+ Về chuyên môn kỹ thuật, theo số liệu điều tra thì đến hết năm 2002,
số lao động của tỉnh qua đào tạo là 12,97%, trong đó trình độ đại học và cao đẳng là 1,93%, trung học 2,12%, công nhân kỹ thuật chiếm 1,92%; số còn lại
là những chuyên ngành khác
Hai là, kinh tế Bến Tre chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh có mức tăng trưởng ổn định bình quân 5,7%/năm Tiềm năng, lợi thế ngày càng được phát huy tốt, hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng chuyên canh, thâm canh, xen canh tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng cao Những năm gần đây, tỉnh chú trọng chuyển dịch sang lĩnh vực thủy sản - đây là mũi nhọn cho xuất khẩu và ứng dụng khoa học - công nghệ cho các ngành sản xuất, lai tạo cây, con giống có chất lượng cao Tuy vậy, trước yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp toàn diện, tỉnh vẫn còn những bất cập, như: số kỹ sư, kỹ thuật nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu của tỉnh cũng như ở các huyện
+ Về sản xuất công nghiệp tuy còn nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng bình quân 9,52%/năm (trong giai đoạn 1996 - 2000) Nhìn chung các sản phẩm công nghiệp đều có mức tăng khá Ngoài ra, còn có thêm một số mặt hàng mới như: hàng thủ công mỹ nghệ, lưới xơ dừa, cơm dừa nạo sấy… Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp được duy trì
+ Các ngành thương mại, dịch vụ của tỉnh có bước phát triển khá, tăng bình quân 7,13%/năm (1996 - 2000) Mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ tăng bình quân 12%/năm Thương mại quốc doanh vẫn nắm bán buôn và kinh