Trên cơ sở xác định chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng của công tác vận động quần chúng nhân dân, cho nên trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước luôn c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận
văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
LÊ THỊ DÂN
Trang 31.2 Quy định của pháp luật quốc tế Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Quy định quốc tế Error! Bookmark not defined 1.2.2 Các văn kiện khu vực Error! Bookmark not defined.
1.3 Kinh nghiệm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật một số nước
trên thế giới Error! Bookmark not defined.
1.3.1 Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Error! Bookmark not defined 1.3.2 Cộng hòa Pháp Error! Bookmark not defined 1.3.3 Trung Quốc Error! Bookmark not defined 1.3.4 Một số quốc gia Hồi giáo tiêu biểu Error! Bookmark not defined.
Trang 42.1 Khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt NamError! Bookmark not defined
2.1.2 Khái quát về tình hình tín ngưỡng Error! Bookmark not defined
2.1.3 Khái quát về tình hình tôn giáo ở Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.2 Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản Luật, Nghị địnhError! Bookmark not defined.
2.3 Những thành tựu và hạn chế về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam Error! Bookmark not defined.
2.3.1 Thành tựu Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Hạn chế Error! Bookmark not defined.
Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN
NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY Error! Bookmark not defined.
3.1 Quan điểm về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Error! Bookmark not defined.
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong
pháp luật Việt Nam Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt NamError! Bookmark not defined 3.2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACHPR (The African Commission on
Human and Peoples Rights)
Hiến chương Châu Phi về quyền con người
ACHR (The American Convention on
and Political Rights)
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
ICESCR (International Convenat on
Economic, Social and Cultual Rights)
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội
ILO (International Labour Organization) Tổ chức lao động quốc tế
UDHR (Universal Declaration of Human
Rights)
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người
UNESCO (United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization)
Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử thống nhất và đoàn kết của cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế
và tâm linh của mình
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Liên hợp quốc đề cao và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 Hầu hết các quốc gia đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền này
trong hệ thống pháp luật của mình
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, số lượng người theo tôn giáo khá đông (chỉ tính riêng 6 tôn giáo lớn, số tín đồ đã chiếm khoảng ¼ dân số) và đang có xu hướng phát triển mạnh Với vị trí nằm giữa ngã ba của Đông Nam Á, giáp biển Đông, là nơi giao lưu của nhiều luồng tư tưởng văn hóa khác nhau và có vị trí thuận lợi cho việc tiếp thu hai nền văn minh của phương Đông là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ Những đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hóa đó đã tác động sâu sắc đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam làm cho chúng trở nên đa dạng và phong phú hơn Mặc dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm hành đạo không giống nhau nhưng các tôn giáo đều có giá trị nhân văn cao đẹp, đạo đời hòa hợp, đều mong muốn sống “tốt đời, đẹp đạo”, làm cho “nước vinh, đạo sáng” Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho tín đồ tôn giáo, bảo đảm cho các tôn giáo phát triển hài hòa, đồng hành cùng dân tộc Giáo hội các tôn giáo khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp quan tâm và tạo thuận lợi để hoạt động tôn giáo bình thường trong
Trang 8khuôn khổ pháp luật Cùng với đó, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc để đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng tôn giáo chính đáng của các tín đồ Đó là nhân tố quan trọng để động viên đồng bào
có tín ngưỡng, tôn giáo tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Xuất phát từ nhận thức mới về vấn đề tôn giáo, năm 1990 Bộ chính trị ra Nghị quyết 24 về công tác tôn giáo đã khẳng định “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Từ trước đến nay, đồng bào các tôn giáo luôn sống chung hòa hợp, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; kề vai sát cánh bên nhau đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và chế ngự thiên nhiên, hình thành một truyền thống tốt đẹp: “Nước vinh, đạo sáng”, “Sống phúc âm trong lòng dân tộc” Trên cơ sở xác định chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận quan trọng của công tác vận động quần chúng nhân dân, cho nên trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước luôn coi đây là kim chỉ nam cho mọi hành động của hệ thống chính trị trong ứng xử đối với các đồng bào các tôn giáo
Từ kinh nghiệm bảo đảm quyền tự do của các nước trên thế giới và từ chính sách
mở rộng đối ngoại, đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế với việc Việt Nam tham gia hầu hết các công ước quốc tế, Việt Nam cần xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cụ thể hơn nữa những biện pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Với phương châm chủ động của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều kỳ Đại hội vừa qua đã không ngừng khẳng định “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” Thực tế, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới Bên cạnh đó, quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo cũng phát triển rộng mở trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Theo đó, hoạt động đối ngoại tôn giáo đòi hỏi tương xứng và phù hợp với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta và phải phải phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có quan hệ quốc
tế của các tổ chức tôn giáo
Cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, Đảng đã từng bước đổi
Trang 9mới về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo Trong quá trình đó, tư duy lý luận của Đảng
ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được thể hiện một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới và thực hiện chính sách về tôn giáo: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một xu thế tiến bộ của nhân loại đã trở thành một chính sách lớn của nhiều nhà nước Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một nguyên tắc trong quan hệ của Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tôn giáo; là động lực quan trọng giúp đồng bào tôn giáo nhận thức rằng: Nhà nước không phân biệt đối xử, luôn bình đẳng giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; là một nhân tố quan trọng phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Chính vì vậy, Đại hội lần thứ XII của Đảng gần đây tiếp
tục chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy
những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” [18]
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ một số hạn chế, chưa phù hợp với tình hình thực tế Chính sách của Đảng về tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo chưa được cụ thể hóa kịp thời thành pháp luật; hoặc chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các địa phương, thậm chí sai chủ trương, chưa đáp ứng được nhu cầu tôn giáo ngày càng tăng của tổ chức, cá nhân tôn giáo Ở nhiều nơi, các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra phức tạp Một số quan hệ Nhà nước với các tổ chức tôn giáo, giữa một số tổ chức tôn giáo với nhau hoặc giữa các cộng đồng thù địch mang màu sắc tín ngưỡng, tôn giáo đã có lúc biến thành xung đột bạo lực, cản trở sự phát triển của xã hội
Trình độ văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật, văn hóa nhân quyền của người dân đến nay vẫn chưa cao, chưa đồng đều, ngay cả cán bộ trong bộ máy nhà nước cũng chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tín ngưỡng, tôn giáo; về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo; đặc biệt là khuôn khổ pháp luật quốc tế về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo Ngoài ra, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo ở nước ta nhằm phục vụ cho âm mưu “Diễn biến
Trang 10Hòa Bình” của chúng dẫn đến khó khăn trong việc luật pháp hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Một bộ phận tín đồ, chức sắc trong tôn giáo đã bị các thế lực xấu tìm cách lợi dụng để chống phá công cuộc xây dựng đất nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; những phần tử cực đoan ở nước ngoài cấu kết với bọn phản động trong nước lợi dụng vấn đề tôn giáo với chiêu bài “tự do, dân chủ, nhân quyền”, coi đó như là con bài gây sức ép với Việt Nam trong thảo luận về các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao để can thiệp sâu vào công việc nội bộ của ta Cùng với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đang diễn ra bình thường trong khuôn khổ pháp luật thì đã xuất hiện nhiều hiện tượng đáng lo ngại, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với xã hội Chẳng hạn như đã có tình trạng nhân danh truyền giáo để thực hiện những mục đích phi tôn giáo, gây mất ổn định xã hội, phá vỡ kết cấu xã hội truyền thống, ảnh hưởng đến bảo tồn sắc thái văn hóa cổ truyền Các hoạt động hành lễ mang tính chất mê tín, dị đoan; các hiện tượng tệ nạn xã hội ăn theo sự bùng phát lễ hội làm méo mó đời sống lễ hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mĩ tục và trật tự an toàn xã hội
Như vậy, từ những nhận thức lý luận mới về tôn giáo, về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo; từ kinh nghiệm quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo; từ thực trạng chính sách và việc thực hiện chính sách đối với tôn giáo, mặc dù có nhiều thành tựu, song chưa tạo được hành lang pháp lý vững chắc, tính khả thi và hiệu
quả chưa cao Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích góp
phần khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu khoa học về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, nhằm bổ sung, hoàn thiện và phát triển các quan điểm, chính sách đã có, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam trong tình hình hình hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm, được pháp luật quốc tế và các quốc gai tôn trọng và bảo vệ, trong đó có Việt Nam Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu lý luận về tôn giáo, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với các
Trang 11lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước như:
Tình hình và thực trạng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của PGS.TS Nguyễn Đức Lữ;
GS.TS Đặng Nghiêm Vạn với Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia; Trần Minh Thư với Tìm hiểu Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín
ngưỡng
Ngoài ra còn có Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam, Viện
Khoa học xã hội nhân văn quân sự thuộc Bộ quốc phòng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội, 2005 Ban tôn giáo Chính phủ với cuốn sách Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt
Nam đã giúp tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình tôn giáo, hiểu rõ quan điểm,
nhận thức tư duy lý luận mới của Đảng ta về vấn đề tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng,
tự do tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Bên cạnh đó, nhiều bài viết đã đề cập đến quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà
nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới, trong đó là bài viết Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự
do tôn giáo – Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước của Đặng Tài Tính (Công tác
tôn giáo, số 1/2005); PGS.TS Nguyễn Hồng Dương với cuốn sách Quan điểm, đường lối
của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc
gia
Luận văn thạc sĩ của Lê Quang Hưng về "Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo" năm 2014
Tuy nhiên, các công trình trên mới nghiên cứu, phân tích về chính sách, hoặc pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc về tình hình tôn giáo, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về vấn đề bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như cập nhật các quy định mới của pháp luật
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu tổng quát về pháp luật Việt Nam, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Đánh giá lại hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến tôn giáo và thực hiện chính
Trang 12sách tôn giáo trong thời kỳ mới, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân của những bất cập trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian là trên lãnh thổ Việt Nam; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến nay
5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Thông qua thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quan điểm