LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm về “Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI TRỌNG AN
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI TRỌNG AN
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành : Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN ĐÌNH NHÃ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm về “Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung
thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Bùi Trọng An
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7
1.1 Khái quát về tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt 7
1.2 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt 11
1.3 Những nguyên tắc, nội dung và chủ thể phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơhữu co tính chất chiếm đoạt 14
1.4 Các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2014-2018 26
2.1 Thực trạng tình hình và nhận thức về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 26
2.2 Thực trạng các cơ sơ để thiết lập hệ thống phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 27
2.3 Thực trạng và giải pháp đã được áp dụng trong phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 47
2.4 Những tồn tại, khuyết điểm trong phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu
co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và nguyên nhân 51
CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 55
3.1 Dự báo về tình hình và yêu cầu tăng cường hoạt động phòng ngừa tình hình cáctội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 55
Trang 53.2 Hoàn thiện cơ sơ pháp lý và các giải pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 58
3.3 Tăng cường nguồn lực phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 72
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 72.2
Tỷ lệ các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt so với tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014– 2018
29
2.3
Mức độ phạm tội theo các tội danh thuộc nhom các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018
30
2.4 Động thái của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất
chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 312.5 Động thái của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất
chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 322.6
Cơ cấu hình phạt do Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnhLâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018:
34
2.7 Cơ cấu về giới tính của các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất
chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 - 2018 352.8
Cơ cấu xét theo độ tuổi của người phạm các tội xâm phạm sơhữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 - 2018
36
2.9
Cơ cấu trình độ học vấn của người phạm các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giaiđoạn 2014 - 2018
Trang 8MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lâm Đồng là vùng đất phía Nam Tây nguyên, nằm ơ độ cao trung bình từ
800 – 1000m so với mặt nước biển Với diện tích tự nhiên 9.765 km2, Lâm Đồngnằm trên ba cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông, suối lớn
Gắn với khu vực kinh tế động lực phía Nam, Lâm Đồng co 12 đơn vị hànhchính: 02 thành phố (Đà Lạt, Bảo Lộc) và 10 huyện Thành phố Đà Lạt, trung tâmhành chính-kinh tế-xã hội của tỉnh, về hướng Bắc cách thủ đô Hà Nội 1.500 km, vềhướng Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 320 km và về hướng Đông cách cảngbiển Nha Trang 210 km Với tổng chiều dài 1.744 km, hiện nay hệ thống giao thôngđường bộ đã đến được tất cả các xã và cụm dân cư Các tuyến quốc lộ 20, 27, 28 nốiliền Lâm Đồng với vùng Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh thuộcvùng Tây nguyên, các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, tạo cho Lâm Đồng co mốiquan hệ kinh tế-xã hội bền chặt với các vùng, các tỉnh trong khu vực Cảng hàngkhông Liên Khương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 30 km đang được nângcấp thành sân bay quốc tế với đường băng dài 3.250 m co thể tiếp nhận các loại máybay tầm trung như A.320, A.321 hoặc tương đương
Dân số toàn tỉnh đến cuối năm 2017 là 1.258.261 người (Niên giám Thống kê năm 2017) Hiện nay trên địa bàn tỉnh co 02 trường đại học tổng hợp, 02 trường cao
đẳng sư phạm, 01 trường cao đẳng kinh tế-kỹ thuật, 01 trường trung học y tế, 02trường dạy nghề, hàng năm cung cấp hàng ngàn lao động co tay nghề cho địaphương; Nhiều trung tâm nghiên cứu của Trung ương đong trên địa bàn như: Việnnghiên cứu hạt nhân, Trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp, Trung tâm nghiên cứucây rau, Phân viện sinh học… gop phần đáng kể trong việc ứng dụng nghiên cứukhoa học kỹ thuật vào sản xuất của tỉnh
Với lợi thế khí hậu thuận lợi và địa bàn rộng lớn (thứ 7 trong cả nước) trongnhững năm qua tỉnh không ngừng phát triển mọi mặt về đời sống, kinh tế xã hội.Tuy nhiên, bên cạnh những mặt phát triển tích cực thì cũng kéo theo một số tệ nạn
8
Trang 9xã hội phát sinh; biến động về thành phần dân cư và trật tự, an toàn xã hội co nhữngdiễn biến phức tạp, trong đo phải kể đến tội phạm xâm phạm sơ hữu, đặc biệt là cáctội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt co xu hướng gia tăng trong nhữngnăm gần đây Đặc biệt, tội phạm trộm cắp tài sản, cướp, cướp giật tài sản còn chiếmtỉ lệ lớn trong cơ cấu của tình hình tội phạm Phương thức thực hiện tội phạm noichung ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thủ đoạn thực hiện ngày càng manh động, liềulĩnh Trong trong vòng 5 năm, từ năm 2014 đến năm 2018, TAND tỉnh Lâm Đồngđã xét xử 1.729 vụ án với 2.877 bị cáo về các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt, chiếm 45,2% tổng số vụ án và 45,9% tổng số bị cáo.
Trong những năm qua địa phương đã thực hiện nhiều giải pháp quyết liệttrong đảm bảo trật tự an toàn xã hội, song tình hình tội phạm noi chung, trong đo cotình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh LâmĐồng vẫn diễn ra phức tạp và nghiêm trọng Vì thế, cần phải nghiên cứu cơ bản vàchuyên sâu tình hình này theo hướng phòng ngừa, tức là việc phòng ngừa nhom tội
phạm này phải được nghiên cứu trên cơ sơ khoa học chuyên ngành tội phạm học.
Chính vì lẽ đo học viên đã chọn đề tài “Phòng ngừa tình hình các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” để nghiên cứu sâu về
thực trạng phòng ngừa và qua đo đề xuất thêm những giải pháp tăng cường hiệu quảhoạt động phòng ngừa nhom tội phạm này
2.Tình hình nghiên cứu
a Các công trình nghiên cứu về lý luận chung của tội phạm học
Để co cơ sơ lý luận cho việc thực hiện đề tài Luận văn, các công trình khoa học sau đây đã được nghiên cứu:
- “Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam” Nxb.Chính trị quốc gia, 1994;
- “Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Viện Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, năm 2000;
- Giáo trình “Tội phạm học” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, tái bản năm 2013;
Trang 10- “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” - Sách chuyên khảo củaGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Nxb Công an nhân dân, năm 2001.
- Giáo trình “Tội phạm học Việt Nam” do GS.TS Trần Đại Quang chỉ đạobiên soạn Nxb Công an nhân dân, năm 2013
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của GS.TS VõKhánh Vinh, Chương – Các tội xâm phạm sơ hữu co tính chiếm đoạt, Nxb Công annhân dân, Hà Nội 2010;
- Giáo trình “Tội phạm học” của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công annhân dân, 2004…2010;
- Giáo trình “Tội phạm học” của Học viện Cảnh sát nhân dân, Nxb Công annhân dân, 2002, 2013;
- “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ơ Việt Nam” của TS PhạmVăn Tỉnh, Nxb Công an nhân dân, 2007;
- Đấu tranh với tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ơ nước tahiện nay, một mô hình nghiên cứu tội phạm học chuyên ngành, Phạm Văn Tỉnh,Đào Bá Sơn, Nxb CAND, 2010;
- “Một số vấn đề tội phạm học Việt Nam” của Nguyễn Văn Cảnh và PhạmVăn Tỉnh, do Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an ấn hành năm 2013
- Các bài viết về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, về nhân thân ngườiphạm tội, về phòng ngừa tội phạm được đăng tải trên tạp chí Nhà nước và Phápluật, tạp chí Cảnh sát nhân dân, tạp chí Kiểm sát, tạp chí Tòa án nhân dân, Công annhân dân trong những năm gần đây
b.Tình hình nghiên cứu cụ thể
Ở mức độ cụ thể và liên quan trực tiếp đến đề tài Luận văn, các công trình sau đây đã được tham khảo:
- Lê Thị Hồng (2013) “Tình hình tội phạm ơ Thành phố Đà Nẵng hiện nay”,
Luận văn Thạc sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội;
- Nguyễn Quốc Hùng (2014) “Tội phạm trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Luận văn Thạc sỹ
Trang 11luật học, Học viện Khoa học xã hội;
- Hoàng Thị Hoa (2016), “Phòng ngừa tình hình tội trộm cắp tài sản trên địabàn tỉnh Đồng Nai”, Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội;
- Lê Hữu Nhân (2016), “Phòng ngừa các tội xâm phạm sơ hữu trên địa bàn tỉnhQuảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội;
- Tô Lan Phương (2016), “Phòng ngừa tội phạm trộm cắp trên địa bàn quận TânBình”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội
Trên cơ sơ nguồn lý luận chung đã được các tác giả nghiên cứu và thực hiệntrong những năm gần đây cũng như những luận văn, luận án nêu trên học viên xinđược kế thừa và tham khảo để thực hiện đề tài này
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là hướng đến xây dựng hệ thống giải phápphòng ngừa hữu hiệu đối với các tội xâm phạm sơ hữu co tính chiếm đoạt trên địabàn tỉnh Lâm Đồng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiêncứu sau:
- Nghiên cứu tài liệu: Bao gồm các văn bản của Đảng, chính quyền ơ Trungương và địa phương, các văn bản pháp luật và tài liệu khoa học, nhất là tài liệuchuyên ngành tội phạm học
- Nghiên cứu thực tế: Bao gồm số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết nămcủa các cơ quan tư pháp, thu thập hồ sơ, bản án cụ thể
-Nghiên cứu sáng tạo, bao gồm những việc cụ thể sau:
+ Khái quát những vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tội phạm, áp dụngcho phòng ngừa các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt;
+ Nghiên cứu làm rõ thực trạng tình hình phòng ngừa tình hình các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng từ năm 2014-
2018, từ thực trạng nhận thức về phòng ngừa tội phạm cho đến thực trạng xây dựng
Trang 12và áp dụng các giải pháp; tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếmđoạt và nguyên nhân, điều kiện của hiện tượng tiêu cực này.
+ Kiến nghị giải pháp tăng cường phòng ngừa các tội xâm phạm sơ hữu cotính chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu được xác định là tình hình các tộixâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt và các hiện tượng, quá trình kinh tế - xãhội và pháp lý khác trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng để tạo cơ sơ cho việc thiết lập cácgiải pháp phòng ngừa nhom tội phạm này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, đề tài được thực hiện dưới goc độ tội phạm học thuộc
chuyên ngành “Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm”;
- Về tội danh, đề tài luận văn đề cập đến các tội xâm phạm sơ hữu co tính
chất chiếm đoạt, được quy định từ Điều 133 đến Điều 140 Bộ luật hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), co cập nhật những Điều luật tương ứng trongBLHS hiện hành (từ Điều 168 đến Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổsung năm 2017);
- Về thời gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế từ năm 2014 đến năm 2018,
gồm số liệu thống kê của Tòa án nhân dân và 100 bản án hình sự sơ thẩm về cáctội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sơ phương pháp luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tương Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn
đề tội phạm trong xã hội, cũng như về phòng, chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Biệnchứng; lô-gich; kế thừa; hệ thống; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích
Trang 13tổng hợp; phương pháp so sánh, quy nạp, diễn dịch; phương pháp mô tả bằng bảng, biểu để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra đối với luận văn.
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn thực hiện thành công còn co thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
và nghiên cứu trong các trường Công an nhân dân
7.Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mơ đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sơ hữu co tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tínhchất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014-2018
Chương 3: Tăng cường phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu cso tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Trang 14CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
1.1 Khái quát về tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1 Về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam
Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Quyền sơ hữu bao gồm quyềnchiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sơ hữu theo quy địnhcủa luật” Bảo vệ quyền sơ hữu về tài sản là bảo vệ các quyền noi trên và hành vi gâythiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sơ hữu về tài sản được quy định trongBLHS năm 2015, hợp thành nhom các tội xâm phạm sơ hữu
Trong BLHS năm 1999 các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt đượcquy định tại chương XIV từ Điều 133 đến Điều 140 BLHS Bộ luật hình sự năm 1999(sửa đổi bổ sung năm 2009), bao hàm các dấu hiệu của tội phạm noi chung đã đượcghi nhận ơ khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 và được hiểu một cách khái quát
là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người co năng lực trách nhiệm hình sự vàđạt độ tuổi luật hình sự qui định, thực hiện một cách cố ý, xâm hại đến quan hệ sơ hữuđược BLHS qui định
Trong BLHS năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017, các tội xâm phạm sơhữu co tính chất chiếm đoạt được quy định tại các điều từ Điều 168 đến Điều 175
Nghiên cứu các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt và phòng ngừatình hình các tội phạm này, học viên chủ yếu căn cứ vào BLHS 2015(sửa đổi, bổ sungnăm 2017)
Để nhận thức rõ hơn về dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội xâm phạm sơ hữuthì trước hết cần nhận thức về dấu hiệu đặc trưng của các tội xâm phạm sơ hữu
- Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Các tội xâm phạm sơ hữu về cơ bản là xâm phạm và làm mất đi quyền
Trang 15chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản Việc làm mất đi mộtquyền, hai quyền hay vả ba quyền này còn tùy thuộc vào loại tội mà người phạm tộithực hiện.
Vì là xâm phạm sơ hữu nên đối tượng xâm phạm sơ hữu là tài sản, Điều 105
Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Khi nghiên cứu đối tượng tác động trong chương Các tội xâm phạm sơ hữu của Bộ luật Hình sự, cần chú ý:
Một là, tài sản là tài sản hiện hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp
Hai là, tài sản co thể là tài sản của cá nhân, của Nhà nước, hoặc của cơ quan,
tổ chức
- Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu
Hành vi khách quan của các tội xâm phạm sơ hữu được thể hiện ơ các dạngsau đây:
Hành vi chiếm đoạt tài sản thể hiện ơ sự cố ý chuyển tài sản của chủ thể khác
thành tài sản của mình một cách trái pháp luật
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi chiếm tài sản của chủ thể khác
được thể hiện bằng sự chuyển dịch tài dẫn đến chủ thể quản lý tài sản đã mất khả năngthực tế thực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản Ở đây, chủ thể phạm tội khẳng định
sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng việc tỏ những thái độđịnh đoạt với tài sản kể trên
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phươngtiện, thời gian, địa điểm không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ trường hợp luật định ơnhững cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ
-Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu
Đa số các tội xâm phạm sơ hữu được thực hiện do lỗi cố ý Mục đích và động
cơ phạm tội co thể là vụ lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thànhtội phạm
-Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu
Theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, các tội phạm xâm phạm sơ hữu đều
Trang 16do các chủ thể co đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, đạt độ tuổi theo luậtđịnh, cụ thể là đối với các tội phạm quy định từ Điều 168 đến Điều 180 Bộ luậtHình sự 2015.
Việc nhận thức đúng các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sơhữu và cách phân loại giúp cho việc xác định đúng tội danh, tránh được sự nhầm lẫngiữa các tội danh; đặc biệt là giúp các cơ quan co thẩm quyền trong điều tra chứngminh tội phạm được chính xác, bảo đảm xử lý đúng pháp luật, đúng người, đúng tội
Đối với các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt bên cạnh các dấuhiệu chung thì cũng co những dấu hiệu co một số đặc trưng riêng, cụ thể:
-Về khách thể của tội phạm:
Các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt co đối tượng tác động là tàisản thuộc sơ hữu của người khác (không phải là của người phạm tội) và chúng cònnằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sơ hữu hoặc người quản lý tài sản
-Về hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội đượcluật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bơi ý thức, ý chí của người phạmtội qua 02 hình thức thể hiện là hành động và không hành động
Dựa vào quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng, các tội xâm phạm sơ hữu
co tính chất chiếm đoạt co hành vi khách quan khác nhau Đo co thể là hành vi dùng
vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc co hành vi khác làm cho người bị tấncông lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội cướp tài sản); hành vibắt coc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản (đối với tội bắt coc nhằm chiếm đoạt tàisản); hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần người khác (đốivới tội cưỡng đoạt tài sản); hành vi chiếm đoạt (đối với các tội cướp giật tài sản, côngnhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Tuy nhiên,thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau
và chúng là dấu hiệu phân biệt các tội phạm co cùng hành vi chiếm đoạt với nhau
-Về dấu hiệu lỗi, mục đích thuộc mặt chủ quan của tội phạm:
Tất cả các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt đều được thực hiện với
Trang 17lỗi cố ý trực tiếp Tức người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hộinhưng vẫn mong muốn thực hiện.
1.1.2 Tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Dưới goc độ của tội phạm học, tình hình tội phạm xảy ra noi chung và đốivới các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng được nhìn nhậntrong tổng thể cái chung của định lượng, định tính co yếu tố lịch sử, địa lý gắn vớiquá trình hình thành, tồn tại của tình hình đo
Theo PGS TS Phạm Văn Tỉnh đưa ra khái niệm tình hình tội phạm thì:
“Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng các chủ thể thực hiện các tội phạm đó trong một đơn vị hành chính lãnh thổ nhất định và trong một thời gian cụ thể nhất định” [33, tr.10].
Tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt theo đo đượcxem là tổng thể các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt đã xảy ra, gồmcác vụ đã phát hiện và các vụ chưa phát hiện, trên một đơn vị hành chính và trongmột thời gian cụ thể nhất định
Tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm nằm trong tình hìnhtội phạm noi chung nên co những đặc điểm của tình hình tội phạm noi chung Ngoài
ra, tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt cũng co những đăctrưng riêng gắn với tình hình kinh tế, văn hoa, địa lý cụ thể
1.1.3 Nguyên nhân của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh khẳng định rằng, “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được hiểu là hệ thống các hiện tượng xã hội tiêu cực trong hình thái kinh tế - xã hội tương ứng quyết định sự ra đời của tình hình tội phạm như
là hậu quả của mình” và “Các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tạo thành một hệ thống gồm nhiều bộ phận cấu thành nó”.[50,tr 87-88]
GS.TS Võ Khánh Vinh gọi là ba khâu cơ bản: “Quá trình hình thành tính động cơ của tội phạm; Việc kế hoạch hóa các hoạt động phạm tội và việc trực tiếp
Trang 18thực hiện tội phạm”.[50, tr 114]
Như vậy nguyên nhân của tình hình tội phạm phải là sự tác động qua lại giữacác yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm - sinh lý - xã hội tiêucực thuộc cá nhân con người trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định đã dẫntới việc thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật hình sự đã quyđịnh là tội phạm
Đối với các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt thì nguyên nhânchính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực của môi trường sống bên ngoàivới các yếu tố tâm – sinh lý tiêu cực bên trong cá nhân ơ những tình huống, hoàncảnh nhất định đã dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Luậthình sự quy định là các tội XPSH CTCCĐ
1.2 Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.2.1 Khái niệm phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Phòng ngừa tội phạm hay phòng ngừa tình hình tội phạm dưới goc độ lý luậncủa tội phạm học bao gồm việc phòng ngừa ơ nhiều cấp độ, từ phòng ngừa tình hìnhtội phạm, loại tội phạm đến phòng ngừa các tội phạm cụ thể
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm thì: “Phòng ngừa tội phạm
là không để tội phạm xảy ra và gây hậu quả cho xã hội, không để cho con người sống trong xã hội phải đối mặt và gánh chịu những hình phạt nghiêm khắc của luật pháp Nếu con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì phải được phát hiện kịp thời, điều tra khám phá để truy tố, xét xử theo quy định, tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội”
[48, tr.147]
Theo quan điểm của GS TS Võ Khánh Vinh thì: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước- xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa
Trang 19(làm yếu; hạn chế) chúng, bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm Trong đấu tranh với tình hình tội phạm có hai phương hướng liên kết chặt chẽ với nhau, đó là phòng ngừa và phát hiện điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm, đảm bảo người phạm tội phải chịu các hình phạt thích đáng, tương xứng với hành
vi phạm tội của mình và được giáo dục, cải tạo để trở thành một công dân có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội Các biện pháp pháp lý- hình sự của cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm có vị trí, vai trò quan trọng trong những trường hợp chuẩn bị và thực hiện các tội phạm cụ thể [49, tr.154-155].
Từ quan điểm của các nhà nghiên cứu, co thể rút ra khái niệm phòng ngừa
tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt như sau: “Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục, kìm hãm các nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt và bằng cách đó làm giảm dần và kiểm soát được tình hình, từng bước loại trừ các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt ra khỏi đời sống xã hội”
1.2.2 Mục đích của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Mục đích của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chiếmđoạt là một nội dung trong mục đích PNTP noi chung và cùng hướng vào việc ngănchặn, từng bước đẩy lùi tội phạm khỏi đời sống xã hội
Xác định mục đích phòng ngừa cần tập trung hướng vào việc ngăn chặn cácnguyên nhân, điều kiện là mầm mống nảy sinh tội phạm Việc ngăn chặn bao gồm
cả việc hạn chế tới mức thấp nhất co thể các yếu tố tiêu cực tác động lẫn nhau thúcđẩy quá trình hình thành tội phạm Việc triệt tiêu hoàn toàn các tội phạm cũng nhưnguyên nhân, điều kiện hình thành tội phạm là điều không thể thực hiện trong xãhội còn giai cấp và các nhom xã hội, nhưng Nhà nước và xã hội co thể hạn chế,kiểm soát được các yếu tố đo
Mục đích của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chiếm
Trang 20đoạt cũng được quy định bơi mục đích chung của hoạt động phòng ngừa tội phạm làngăn chặn, tức là từng bước hạn chế, làm giảm dần và tiến tới loại bỏ các tội xâmphạm sơ hữu co tính chiếm đoạt khỏi đời sống xã hội [49, tr.154].
1.2.3 Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt được phân tích theo hai phương diện lý luận và thực tiễn, gồm:
- Ý nghĩa lý luận: Tình hình tội phạm xuất phát từ sự tác động qua lại củanhiều yếu tố tiêu cực trong xã hội, gắn liền với địa bàn, thời gian lịch sử cụ thể Tộiphạm học Việt Nam, thừa nhận tình hình tội phạm là hiện tượng tiêu cực tồn tạikhách quan, và do những con người bình thường, không phải bẩm sinh phạm tội,gây ra Trong đo nhân thân người pham tội cũng được coi như là một yếu tố gopphần tác động vào tình hình tội phạm noi chung và tình hình các tội xâm phạm sơhữu co tính chất chiếm đoạt Phòng ngừa tình hình tôi phạm trên cơ sơ làm rõ cácyếu tố tiêu cực trong xã hội, trong mỗi cá nhân để từ đo ngăn chặn sự tiến triển cácyếu tố đo và từ đo mà hạn chế, kiểm soát được tình hình tội phạm Như vậy trênphương diện lý luận, phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt vừa giúp hạn chế, kiểm soát được tình hình các tội chiếm đoạt tài sản,vừa giúp hạn chế, kiểm soát tình hình tội phạm noi chung
- Ý nghĩa thực tiễn: thực tiễn cho thấy tội phạm gây ra những thiệt hại to lớncho kinh tế, văn hoa, xã hội và quyền con người Phòng ngừa tình hình tội phạm noichung và tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng đemlại nhiều lợi ích cả về kinh tế lẫn văn hoa, xã hội và đảm bảo quyền con người trongcác lĩnh vực này Trước hết là việc tiết kiệm được kinh phí cho việc điều tra, xét xử,thi hành án hàng năm tiếp đến là giảm tải áp lực công việc cho các cơ quan thực thipháp luật và bên cạnh đo, phòng ngừa tốt tạo điều kiện thuận lợi cho ổn định chínhtrị, an ninh quốc gia và phát triển văn hoa, xã hội, đảm bảo tốt nhất quyền conngười trong môi trường không còn (hoặc giảm thiểu) tội phạm
Trang 211.3 Những nguyên tắc, nội dung và chủ thể phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.3.1 Những nguyên tắc phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu
1.3.1.2 Nguyên tắc pháp chế
Nguyên tắc pháp chế thể hiện ơ chỗ hoạt động phòng ngừa tình hình các tộixâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi chung và việc áp dụng các biện phápphòng ngừa noi riêng phải co cơ sơ pháp luật, đảm bảo mọi biện pháp đều hợp pháp
và hợp hiến Các chủ thể tiến hành hoạt động phòng ngừa cũng phải tuân thủnghiêm chỉnh, nhất quán các quy định của pháp luật trong quá trình tiến hành cáchoạt động phòng ngừa đo
1.3.1.3 Nguyên tắc khoa học
Nội dung của nguyên tắc khoa học và tiến bộ của hoạt động phòng ngừa tìnhhình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt thể hiện ơ chỗ các biện phápphòng ngừa, tổ chức hệ thống phòng ngừa, các chủ thể phòng ngừa phải được xâydựng co khoa học, tức là co cơ sơ lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thựctiễn đấu tranh với các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trong từng thời
Trang 22kỳ, ơ từng địa bàn nhất định.
1.3.1.4 Nguyên tắc đại chúng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì quần chúng là sức mạnh vĩđại, là người chủ của xã hội Chỉ khi co quần chúng được lôi cuốn tham gia vàohoạt động phòng ngừa tội phạm noi chung và các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt noi riêng thì mới co thể hoàn thành mục đích của phòng ngừa tội phạm
Nguyên tắc đại chúng chính là việc lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhândân lao động, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần và toàn xã hội tham gia vàohoạt động phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt.Nguyên tắc đo đòi hỏi các cơ quan chuyên môn phải phát huy tinh thần chủ động,tích cực sáng tạo của mọi chủ thể tham gia hoạt động phòng ngừa, để tạo ra mộthoạt động rộng lớn trong xã hội
1.3.1.5 Nguyên tắc quốc tế (Hợp tác quốc tế và phù hợp với quan điểm quốc
tế về phòng ngừa tội phạm)
Nguyên tắc quốc tế thể hiện ơ chỗ các hoạt động phòng ngừa tội phạm phảiphù hợp với quan điểm của quốc tế về phòng ngừa tội phạm và xu hướng hoạt độngphòng ngừa của các nước trên thế giới, các chủ thể tiến hành phòng ngừa tội phạmkhông ngừng nâng cao hợp tác quốc tế, thể hiện qua việc ký kết và thực hiện cáchiệp định hợp tác song phương và đa phương, tổ chức học tập kinh nghiệm phòngchống tội phạm của các nước bạn
1.3.2 Nội dung của phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt nằmtrong nội dung phòng ngừa tình hình tội phạm noi chung, vì vậy nội dung của hoạtđộng này đi từ lý luận chung về phòng ngừa tình hình đã được lý luận tội phạm học
đề cập Noi một cách ngắn gọn khác, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấuthành của lý luận tội phạm học, đồng thời là hoạt động của toàn xã hội trong việctìm ra các nguyên nhân phát sinh ra tội phạm khắc phục, cũng như để ngăn chặn,đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội
Trang 23Nội dung phòng ngừa được xây dựng gắn với thực trạng về tình hình các tộiliên quan và tình hình phòng ngừa thực tế trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giaiđoạn 2014 – 2018, từ thực trạng nhận thức về công tác phòng ngừa cho đến thựctrạng các biện pháp đã áp dụng , hiệu quả tới đâu, các tồn tại hạn chế và nguyênnhân của tồn tại, hạn chế đo.
1.3.3 Chủ thể phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Để công tác phòng ngừa tội phạm được thực hiện một cách co hiệu quả thìquan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng và Nhà nước là xem công tác này như lànhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và toàn dân
Trong hoạt động phòng ngừa thì chủ thể được xác định là những tổ chức và
cá nhân tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Như vậy, các tổ chức tham giahoạt động này như các tổ chức Đảng, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan chấphành của Nhà nước từ trung ương đến địa phương (các cơ quan quản lý hành chính
và quản lý kinh tế), các cơ quan bảo vệ pháp luật và các tổ chức kinh tế xã hội, cáctập thể lao động và công dân là chủ thể thực hiện phòng ngừa tội phạm
Trong các BLHS, BLTTHS, trong các luật về tổ chức các cơ quan TAND,VKSND, CAND cũng như các văn bản luật, dưới luật khác co liên quan đến côngtác đấu tranh phòng, chống tội phạm ơ nước ta đều cụ thể hoa nhiệm vụ phòng ngừatội phạm nhằm tăng cường lực lượng, sức mạnh trong thực hiện mục tiêu chung làhạn chế, đẩy lùi, kiểm soát được tình hình tội phạm
1.4 Các biện pháp phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm noi chung và các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng rất phong phú và co thể phân loại vớicác tiêu chí khác nhau Căn cứ vào mục đích phòng ngừa tình hình các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt co thể chia biện pháp phòng ngừa các tộiphạm này thành hai loại: Một là các biện pháp ngăn chặn tình hình các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt; Hai là các biện pháp đẩy lùi tình hình cáctội
Trang 24xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoat.
1.4.1 Các biện pháp ngăn chặn tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Các biện pháp ngăn chặn tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt tập trung trong 03 nội dung là ngăn chặn tình hình tội phạm tiền năng,tội phạm đang diễn ra và ngăn chặn tái phạm
1.4.1.1 Ngăn chặn tội phạm tiềm năng
Tiềm năng co thể hiểu là khả năng tiềm ẩn và co thể được bộc phát khi gặpcác điều kiện thích hợp Như vậy, khi noi về tội phạm tiềm năng co thể hiểu là cáctội phạm co thể xảy ra khi gặp các điều kiện thích hợp Trên thực tế khả năng tộiphạm xảy ra đã co nhưng để xảy ra cần co thêm những yếu tố thuộc điều kiện tácđộng Do đo, các biện pháp phòng ngừa là các biện pháp kiểm soát xã hội và quản
lý xã hội đối với điều kiện tồn tại của các hành vi phạm tội tiềm năng, người phạmtội tiềm năng và nạn nhân tiềm năng
Theo đo các biện pháp ngăn chặn tội phạm tiềm năng bao gồm:
Một là, nhom biện pháp tác động vào hành vi phạm tội tiềm năng Các biện
pháp này được xem là các biện pháp tác động vào quá trình chuẩn bị phạm tội, thựchiện hành vi phạm tội thông qua các hành vi tiềm năng như chuẩn bị công cụphương tiện, tập trung nhiều đối tượng xấu vào khu vực, thường xuyên quan sát mộtđịa điểm Các cơ quan chuyên trách, các tổ chức xã hội và toàn bộ người dân trongxã hội đều là chủ thể của quá trình tác động với nhiều biện pháp khác nhau nhưquản lý các công cụ, phương tiện co thể gây án một cách chặt chẽ, chủ động ngănchặn hoặc báo công an, chính quyền địa phương khi phát hiện co dấu hiệu tội phạm
Hai là, nhom biện pháp quản lý người phạm tội tiềm năng Cũng như việc
tác động vào hành vi phạm tội tiềm năng, nhom biện pháp này cũng đòi hỏi sự phốihợp và chung tay của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và mọi công dân để đạtđược hiệu quả tốt nhất Những người trên thực tế tuy chưa phạm tội nhưng do côngviệc, điều kiện sống, sinh hoạt co nhiều khả năng trơ thành người phạm tội nếukhông được quản lý, giáo dục thích hợp Những người này gọi là người phạm tội
Trang 25tiềm năng (tiềm tàng) Cụ thể, đo co thể là những người co các đặc điểm như nghiệnngập, hút chích, nghề nghiệp không co hoặc không ổn định, vui chơi, tiêu xài quákhả năng tài chính, dễ bị kích động, đã từng phạm tội Những người này co trơthành người phạm tội hay không cũng phụ thuộc một phần vào khả năng kiểm soát
và điều chỉnh hành vi cá nhân Tuy nhiên trên thực tế cho thấy đa phần khả năngkiểm soát hành vi của những người này thường kém do bị tác động từ sự lôi kéo, từnhu cầu lợi ích không chính đáng, tâm lý không ổn định Do đo, đây là những ngườicần được điều chỉnh, kiểm soát trong công tác phòng ngừa tội phạm noi chung vàcác tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng
Ba là, nhom biện pháp tác động vào nạn nhân tiềm năng của tội phạm.
Những người co nhiều khả năng trơ thành nạn nhân của tội phạm (người già, phụnữ, trẻ em, người co vấn đề sức khỏe, tâm lý ) được xem là nạn nhân tiềm năngcủa tội phạm Trong nhom các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt thì nạnnhân tiềm năng bên cạnh các hạn chế về thể chất, tinh thần còn co thể là nhữngngười co thoi quen phô trương tài sản, sơ hơ, chủ quan lơ là trong bảo vệ tài sản, cotrình độ văn hoa hoặc hiểu biết pháp luật hạn chế Việc tập trung áp dụng các biệnpháp phòng ngừa vào nhom người này cũng là một trong các giải pháp để hạn chếtội phạm xảy ra, một trong những nội dung của phòng ngừa tội phạm
1.4.1.2 Ngăn chặn tội phạm đang xảy ra
Ngăn chặn tội phạm là một bộ phận quan trọng của phòng ngừa tội phạm,bao gồm cả ngăn chặn tội phạm tiềm ẩn và cả tội phạm đang diễn ra Nếu như ơngăn chặn tội phạm tiềm ẩn là không để cho tội phạm co điều kiện xảy ra trên thực
tế thì ơ ngăn chặn tội phạm đang diễn ra là việc không để cho tội phạm được thựchiện đến cùng và hạn chế tối đa hậu quả, thiệt hại
Ngăn chặn tội phạm đang diễn ra được thể hiện ơ hai quá trình:
Một là, ngăn chặn hành vi phạm tội trên thực tế đang diễn ra Việc ngăn chặn
chính là chặn đứng lập tức hành vi trái pháp luật, hạn chế tối đa thiệt hại về sứckhỏe, tính mạng con người, các loại tài sản Những biện pháp ngăn chặn ơ trườnghợp này là sự phản ứng tức thì của xã hội đối với hành vi phạm tội đang diễn ra No
Trang 26phải được thực hiện bơi các chủ thể chuyên nghiệp như Công an nhân dân, lựclượng tuần tra, cơ quan, trực ban và các chủ thể không chuyên nghiệp khác, tức làmọi người dân sơ tại; trong đo lực lượng Công an nhân dân đong vai trò quan trọng.Bên cạnh đo là việc huy động được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước,
tổ chức xã hội và của toàn dân vào công tác đấu tranh là việc làm hết sức cần thiết.Nhân dân co thể tham gia hỗ trợ qua việc tố giác tội phạm qua số điện thoại đườngdây nong (113, số điện thoại công an gần nhất) và trong nhiều trường hợp ngườidân phối hợp hoặc tự mình ngăn chặn, thậm chí bắt giữ người phạm tội quả tanggiao cho cơ quan tư pháp Để nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tộiphạm cần co sự động viên khích lệ, khen thương kịp thời và vinh danh các cá nhântiêu biểu
Hai là, ngăn chặn việc lặp lại hoặc thực hiện nhiều lần của tội phạm Để làm
được điều này cần co sự phát hiện, xử lý hành vi vi phạm kịp thời Cũng như ngănchặn tội phạm tiềm ẩn và hành vi phạm tội đang diễn ra, biện pháp này đòi hỏi chủthể tham gia bên cạnh lực lượng chuyên trách là lực lượng toàn dân Cùng nhữngbiện pháp như thanh tra, kiểm tra, tuần tra, kiểm toán vốn là những biện phápchuyên trách, thì sự phát giác, tố giác, phối hợp của người dân vẫn luôn giữ vai tròquan trọng Thực hiện được việc phát hiện tội phạm bằng “tai, mắt” của nhân dânphải là mục tiêu cần thực hiện của chính sách phòng ngừa tội phạm
1.4.1.3 Ngăn chặn tái phạm
Để ngăn chặn tái phạm đối với những người đã chấp hành xong hình phạt,giúp họ trơ lại tái hòa nhập cộng đồng đòi hỏi nhiều biện pháp tác động khác nhauvới sự kết hợp lực lượng của nhiều cơ quan, ban ngành và nhân dân, nhất là nơi địaphương người phạm tội sinh sống và làm việc Các biện pháp ngăn chặn tái phạmgồm một số biện pháp cơ bản sau đây:
- Tuyên truyền, vận động, cảm hoa: Đây được xem là những biện pháp ưutiên hàng đầu trong ngăn chặn tái phạm, một biện pháp mang tính nhân văn cao.Thông qua biện pháp này nhằm giáo dục, loại bỏ, hạn chế các phẩm chất và tâm lýtiêu cực của người phạm tội, hướng đến xây dựng khả năng tự kiểm soát hành vi
Trang 27của mình Phương pháp này đặc biệt hiệu quả nếu người thực hiện đứng dưới goc
độ nạn nhân học để xem xét và giáo dục đối tượng, từng bước giúp người phạm tộihiểu và chuyển biến nhận thức, tình cảm pháp luật đúng hướng
- Giáo dục cải tạo: Việc cải tạo bao giờ cũng đi đôi với giáo dục Cải tạokhông chỉ nhằm vào trừng phạt những hành vi vi phạm của người phạm tội màthông qua các hoạt động cải tạo xây dựng được ý thức về lỗi của người vi phạm.Cán bộ thực hiện công tác cải tạo, giáo dục người phạm tội cần co cái nhìn đúngđắn về sự khác nhau giữa trừng phạt để giáo dục với trừng phạt để hủy hoại nhâncách Do đo trong cải tạo cũng phải đồng thời chú ý tới những chuyển biến tìnhcảm, tâm tư, nguyện vọng của người phạm tội
- Tái hòa nhập cộng đồng: Tái hòa nhập cộng đồng là hoạt động thực thi cácbiện pháp giúp người phạm tội trơ thành người lương thiện sau khi được trơ về vớixã hội từ cơ sơ giam giữ Giúp đỡ và tạo điều kiện cho những người đã chấp hànhxong án phạt tù xây dựng một cuộc sống bình thường đồng thời giáo dục họ trơthành những công dân co ích cho xã hội là mục đích cuối cùng của tái hòa nhậpcộng đồng Các cơ quan chức năng co trách nhiệm trong việc giúp đỡ người chấphành xong án phạt những điều kiện thuận lợi để họ co thể hoa nhập với cuộc sốnghiện tại như: nhanh chong tiếp nhận người chấp hành xong bản án của Tòa án khi
họ trơ về địa phương nơi cư trú; phân công cụ thể các cá nhân, tổ chức theo dõi,giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ được tái hòa nhập cộng đồng; co chínhsách đào tạo nghề và giới thiệu việc làm để giúp họ co công ăn việc làm ổn định đểtrơ thành người co ích cho xã hội; vận động họ tích cực tham gia phòng, chống tộiphạm trên địa bàn; tuyên truyền để quần chúng nhân dân không miệt thị, phân biệtđối xử đối với người chấp hành xong bản án, mà coi đo là những hành vi nhất thờiphạm tội, kịp thời động viên và giúp đỡ họ và gia đình họ để họ hoàn lương, sống
co ích cho xã hội
1.4.2 Các biện pháp đẩy lùi tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Nếu như nắm được hiện trạng của tình hình tội phạm là cơ sơ để xây dựng
Trang 28các biện pháp ngăn chặn tội phạm thì nắm được nguyên nhân và điều kiện của tìnhhình tội phạm là cơ sơ để xây dựng các biện pháp đẩy lùi tội phạm.
Vì vậy, trong công tác xây dựng các biện pháp đẩy lùi tội phạm phải xácđịnh rõ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trong xã hội, theo đo, đi vào giảiquyết hai vấn đề:
Một là giải quyết, tác động đến sự tương tác giữa các yếu tố được xem lànguyên nhân, điều kiện phát sinh hành vi tiêu cực với chủ thể tội phạm;
Hai là giải quyết vấn đề nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần của con ngườitheo pháp luật
Từ việc giải quyết hai vấn đề này tạo ra môi trường lành mạnh, cuộc sống ổnđịnh cho nhân dân, là cơ sơ ban đầu cho việc đẩy lùi tội phạm Trên cơ sơ đo cầnthực hiện các biện pháp cơ bản như:
-Biện pháp về chính trị:
Các biện pháp về chính trị trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạmtheo tinh thần Hiến pháp năm 2013 trước hết thể hiện ơ việc địa phương cần thựchiện co hiệu quả các Chỉ thị số 48-CT/TW, Nghị quyết 37/2012/QH13 của Quốchội, Quyết định 623/QĐ-TTg và thực hiện nghiêm túc các kế hoạch phòng chốngtội phạm Trong công tác thực hiện các chủ trương của Đảng cần phát huy cao hiệuquả việc nêu gương, nhất là những người lãnh đạo, người đứng đầu đơn vị, và mỗiđảng viên trước quần chúng nhân dân Các biện pháp chính trị về cơ bản vẫn phảitập trung vào phát huy sức mạnh của các cấp ủy Đảng, tập thể các ban, ngành, các
tổ chức đoàn thể và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
-Biện pháp về kinh tế:
Các biện pháp về kinh tế tập trung vào công tác xoa đoi, giảm nghèo, thu hẹpkhoảng cách thu nhập trong xã hội và sự chênh lệch kinh tế giữa các khu vực củađịa phương theo hướng phát triển và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhândân Kinh tế đảm bảo là cơ sơ nền tảng cho việc xây dựng và thực hiện các chínhsách về anh ninh xã hội, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Bện cạnh đo cầnchú trọng đảm bảo thực hiện quyền con người, phát huy công bằng xã hội, tạo cơ
Trang 29hội kinh doanh và việc làm cho nhân dân trên địa bàn.
Thực tế cho thấy những bất ổn về tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội conhững nguyên nhân sâu xa từ những bất ổn về kinh tế và công bằng xã hội Ởnhững nơi lợi ích kinh tế được phân bố không công bằng là những nơi tiềm ẩnnhững bất ổn về tình hình an ninh, trật tự
Tuy nhiên việc thực hiện các giải pháp về kinh tế cũng cần co những lộ trình
và kế hoạch cụ thể để đảm bảo tính đồng bộ và khoa học trong thu hẹp khoảng cáchtrong thu nhập và phát triển giữa các vùng trên địa bàn
-Biện pháp về dân sự - xã hội:
Trong lĩnh vực xã hội, Hiến pháp năm 2013 đã đề ra cơ sơ hiến định để côngdân bảo đảm co được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đoi khikhông co việc làm hoặc không co thu nhập và cũng là cơ sơ để Nhà nước xây dựng
hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý, bảo đảm cho công dân được hươngquyền về an sinh xã hội Bảo đảm an sinh xã hội là yêu cầu và điều kiện cần thiếtcủa sự ổn định, phát triển đất nước, gop phần hiện thực hoa các quyền xã hội củamọi người dân Đây là tiền đề quan trọng để từng bước đẩy lùi tình hình tội phạmnoi chung trong đo co các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt ra khỏi đờisống xã hội
-Biện pháp về văn hoa - giáo dục:
Đầu tư cho giáo dục được xem là đầu tư cho sự phát triển, cho tương lai và làquốc sách hàng đầu Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân co quyền vànghĩa vụ học tập” (Điều 39); “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nângcao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Nhà nước ưu tiên đầu tư
và thu hút nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảmgiáo dục tiểu học là bắt buộc Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáodục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực hiện chínhsách học bổng, học phí hợp lý Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi,hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng co điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt kho khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật
Trang 30và người nghèo được học văn hoa và học nghề” (Điều 61).
Về văn hoa, Hiến pháp quy định mọi người co quyền hương thụ và tiếp cậncác giá trị văn hoa, tham gia vào đời sống văn hoa, sử dụng các cơ sơ văn hoa (Ðiều41); đồng thời, Hiến pháp tiếp tục khẳng định Nhà nước và xã hội chăm lo xâydựng và phát triển nền văn hoa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thutinh hoa văn hoa nhân loại; phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầutinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tinđại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến
bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam co sức khỏe, văn hoa, giàu lòng yêunước, co tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân (Ðiều 60) Nhưvậy, nếu làm đúng và thực hiện được mục tiêu mà Hiến pháp đã đề ra thì rõ ràngtình hình tội phạm không còn điều kiện để gia tăng mà sẽ dần dần bị kìm hãm vàloại bỏ ra khỏi đời sống xã hội
-Các biện pháp về công tác quản lý:
Các biện pháp về công tác quản lý chủ yếu từ phía các cơ quan Nhà nước vànhằm phát huy quyền làm chủ, giám sát của nhân dân vào công việc nhà nước, đồngthời tăng cường vai trò và trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân thực hiện công tácquản lý Đối với các biện pháp này đòi hỏi việc kiểm tra, đôn đốc và phải tiến hànhnghiêm túc, thường xuyên; bên cạnh đo cần xử lý nghiêm các cán bộ vi phạm hoặckhông thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình trong vai trò quản lý Vai trògiám sát của nhân dân cũng giữ một vị trí rất quan trọng trong giám sát việc thựchiện chức trách của cán bộ quản lý, là một trong những co sơ để xem xét đánh giámức độ thực hiện công tác chuyên môn của cơ quan, cán bộ quản lý
-Các biện pháp về pháp lý:
+ Tập trung vào việc xây dựng cơ sơ pháp lý tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật, áp dụng pháp luật và kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật hoànthiện cơ sơ pháp lý cho việc phòng ngừa tình hình tội phạm, bảo vệ, thúc đẩy và bảođảm quyền con người, quyền công dân:
Trang 31Trong các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc từ Đại hội lần thứ VI,VII, VIII, IX, X đến nay đều xác định: Nhà nước ta định ra các đạo luật đảm bảoquyền con người, quyền công dân, trong đo bên cạnh các luật về kinh tế, Nhà nướccần ưu tiên xây dựng các luật về quyền công dân Như thế, các quyền con người,quyền công dân được quy định trong Hiến pháp là cơ sơ cốt lõi tạo thành hệ thốngcác quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
+ Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, bên cạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật về
tư pháp đòi hỏi xây dựng được một đội ngũ cán bộ tư pháp tận tâm, co trình độchuyên môn nghiệp vụ cao, co khả năng hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời hoàn thiện
cơ chế giám sát, chỉ đạo điều hành chặt chẽ từ phía Đảng, cơ quan nhà nước, đoànthể, nhân dân là rất cần thiết
Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp.Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng không phải là sự can thiệp trực tiếp vào hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử, mà bảo đảm sự lãnh đạo chỉ đạo bằng đường lối, chủ trươnglớn ơ tầm vĩ mô; về xây dựng tổ chức, bộ máy, về công tác cán bộ tư pháp đủ đức,
đủ tài để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân
Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơquan tư pháp vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của cơ quan dân cử Bêncạnh đo là tăng cường sự giám sát của đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xãhội đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của nhân dân trong lĩnhvực đấu tranh phát hiện, tố giác tội phạm và tham gia hoạt động tư pháp theo quyđịnh của pháp luật
Cuối cùng là nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp Luật
sư phải là người đại diện thực sự cho thân chủ vì quyền và lợi ích hợp pháp của thânchủ Sự tham gia của luật sư là để giúp cho cơ quan nhà nước co thẩm quyền trongquá trình tiến hành tố tụng nhanh chong làm sáng tỏ bản chất sự thật của vụ án,tránh và giảm thiểu đến mức thấp nhất oan, sai, đảm bảo yêu cầu vô tư, khách quantrong hoạt động tố tụng hình sự
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 luận văn tác giả đã khái quát và phân tích các vấn đề lý luậnchung về khái niệm, mục đích, ý nghĩa, nguyên tắc của phòng ngừa tình hình các tộixâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt Đồng thời, tác giả cũng làm rõ các vẫn
đề lý luận chung về nội dung, biện pháp phòng ngừa và chủ thể phòng ngừa tìnhhình các tội phạm này
Ngoài ra, qua phân tích các quan điểm khoa học, tác giả luận văn cũng chỉ rarằng tình hình tội phạm vốn là hiện tượng tiêu cực tồn tại khách quan do đo việcphòng ngừa tình hình tội phạm xét cho cùng là chính nguyên nhân và điều kiện thực
tế của tình hình tội phạm quy định
Nhận thức chung về phòng ngừa tình hình tội phạm noi chung và tình hìnhcác tội xâm phậm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng là cơ sơ để tác giả phântích, làm rõ thực trạng tình hình và công tác phòng ngừa tình hình ơ địa bàn nghiêncứu Qua đo mà đánh giá ưu, khuyết điểm và đưa ra những biện pháp mà hạt nhâncủa no là nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu cơ bản của con người, tức
là thực hiện quyền con người thông qua những biện pháp kinh tế, giáo dục, văn hoa,chính trị, pháp luật, quản lý và tổ chức
Qua nghiên cứu một số nội dung về lý luận của phòng ngừa tình hình các tộixâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt, phần nào co thể thấy các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm noi chung và các biện pháp phòng ngừa tình hìnhcác tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt co vai trò tiên quyết hết sức quantrọng trong đấu tranh, phòng và chống tội phạm Kết luận này sẽ được làm sáng rõhơn trong phân tích, đánh giá thực trạng phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng ơ chương 2 của luậnvăn
Trang 33CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2014-2018
2.1 Thực trạng tình hình và nhận thức về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Để đánh giá thực trạng nhận thức về phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm
sơ hữu co tính chất chiếm đoạt cần căn cứ những cơ sơ như: Ngoài văn bản phápluật thực định là các văn bản chỉ đạo của Đảng và triển khai của chính quyền;Thông qua các kế hoạch, phương án, dự án của tỉnh Lâm Đồng như: Kế hoạchthực hiện Chỉ thị số 42-CT/TU, ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư “Tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tương cách mạng, đạo đức, lối sốngvăn hoa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030", Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận
số 05-KL/TW của Ban Bí thư và Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày30/8/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số48-CT/TW của Bộ Chính trị khoa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớicông tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới", Quyết định 1902/QĐ-UBNDnăm 2016 về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm tỉnhLâm Đồng
Từ cơ sơ nhận thức của tổ chức Đảng và chính quyền về phòng ngừa tìnhhình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt được thể hiện thông qua cácvăn bản chỉ đạo điều hành như đã phân tích sau đây tác giả luận văn sẽ làm rõ hainội dung:
Một là, làm rõ thực trạng tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 thông qua số liệuthống kê của TAND và VKSND, cùng với 100 bản án hình sự sơ thẩm về các tộinày trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018;
Hai là, làm rõ thực trạng nhận thức thông qua việc xác định nguyên nhân và
Trang 34điều kiện của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018.
2.2 Thực trạng các cơ sở để thiết lập hệ thống phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
2.2.1 Về tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018
2.2.1.1 Phần hiện của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 - 2018
Theo GS.TS.Võ Khánh Vinh, Giáo trình tội phạm học, Học viện Khoa học xã hội thì “Phần hiện của tình hình tội phạm là toàn bộ những hành vi phạm tội và chủ thể của các hành vi đó đã bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự ở từng đơn vị hành chính – lãnh thổ hay trên phạm vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhất định và được ghi nhận kịp thời trong thống kê hình sự” [49, tr 138].
Phần hiện của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạtđược xác định là tổng hợp của các tội này trên thực tế đã xảy ra và được cơ quanchức năng phát hiện và xử lý hình sự Bên cạnh đo, trong thống kê chính thức của
cơ quan co thẩm quyền phải co số liệu thống kê chính thức, bao gồm cả số vụ và sốngười phạm tội liên quan Kết quả thống kê phản ánh được tính chất, mức độ, diễnbiến, cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt gắn vớitừng khoảng thời gian, không gian cụ thể
Thực tế trong quá trình nghiên cứu về tội phạm học khi xem xét số liệu ơcác cơ quan chuyên môn như cơ quan Công an, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa ánnhân dân thì các số liệu thống kê chính thức luôn co sự chênh lệch nhất định Mặc
dù vậy các số liệu luôn phản ánh được tình hình các tội noi chung và các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt noi riêng theo từng giai đoạn tố tụng hình sự.Trong luận văn của tác giả xin được sử dụng số liệu thống kê của ngành Tòa án đểlàm rõ các thông số về tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạttrên địa bàn tình Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018
Trang 35a Mức độ của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2014- 2018
Theo GS.TS.Võ Khánh Vinh (2009), trong Giáo trình tội phạm học, NXB Giáo dục, Hà Nội thì “Mức độ của tình hình tội phạm là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết toàn bộ số người phạm tội do họ thực hiện trong một đơn vị thời gian
và không gian nhất định” [44, tr 17].
a.1 Mức độ tổng quan
Đối với tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địabàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 thì khi xem xét một cách tổng quan vềmức độ tức là xem xét một cách khái quát về mặt lượng, trong đo bao gồm hìnhthức biểu hiện tuyệt đối và tương đối Thông qua số liệu thống kê của Tòa án nhândân tỉnh Lâm Đồng ơ giai đoạn nghiên cứu thì mức độ tổng quan được biểu hiệnqua các bảng số liệu cụ thể sau:
Bảng 2.1 Mức độ tổng quan tuyệt đối của tình hình các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018
Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Xét về mức độ tổng quan tuyệt đối tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tínhchất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 cho thấy co sựgiao động nhẹ giữa các năm, co xu hướng tăng về số vụ và số bị cáo Tổng số vụtrong 5 năm là 1879 vụ với số bị cáo là 2977 người Năm cao nhất là năm 2018 với
390 vụ với 637 bị cáo Tính trung bình trong 5 năm liên tiếp là 375,8 vụ với 595,4 bịcáo
Trang 36Để biết số liệu về số vụ và bị cáo nêu trên là cao hay thấp trong tổng quantuyệt đối của tình hình tội phạm noi chung trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, cần phải co
sự so sánh các chỉ số để tìm ra chỉ số khái quát Đo là so sánh mức độ tổng quantuyệt đối của tình hình tội phạm xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt thực hiện
từ năm 2014 đến 2018 với mức độ tổng quan của tình hình tội phạm noi chung ơLâm Đồng trong cùng thời điểm nghiên cứu
Bảng 2.2 Tỷ lệ các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt so với tình
hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018:
Năm
Số vụ
Tỷ lệ (%) (2)/(3)
Bị cáo
Tỷ lệ (%) (5)/(6)
Các tội XPSHCT Cchiếm đoạt
Tội phạm nói chung
Các tội XPSHCTC chiếm đoạt
Tội phạm nói chung
Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Qua số liệu Bảng 2.2 cho thấy tỉ lệ số vụ và số bị cáo về các tội xâm phạm sơhữu co tính chất chiếm đoạt trong tổng số vụ và số bị cáo của tình hình tội phạmchung trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong 5 năm qua luôn ơ mức khá cao với tỷ lệtổng là 48% về số vụ và 46,4% về số bị cáo Đây được xem như là chỉ số khái quátcủa tình hình tội phạm
a.2.Mức độ hành vi phạm tội
Mức độ hành vi cũng được xem xét như một đặc điểm định lượng cho tìnhhình tội phạm noi chung và tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm
Trang 37đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng noi chung Thông qua nghiên cứu cần làm rõ cơcấu tình hình các tội này thể hiện ơ cơ số hành vi phạm tội được thực hiện trên địabàn giai đoạn 2014 -2018, qua đo xác định các mức độ tội danh co mức độ phạm tộicao và thấp trong nhom các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt.
Bảng 2.3 Mức độ phạm tội theo các tội danh thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018:
STT Tội danh Điều luật Số vụ Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Trong 08 tội danh thuộc loại các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếmđoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 cho thấy đã xảy ra 07 loạihành vi phạm tội (tội danh) Tỷ lệ tội danh cao nhất của nhom tội là tội trộm cắp tàisản với 1236 vụ chiếm 65,7 % đã xảy ra ơ hầu hết các huyện, thị xã, thành phốthuộc tỉnh Thứ hai là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với 175 vụ, chiếm tỷ lệ 9,3 %trong nhom tội Thứ ba là tội cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ khá cao với 158 vụ chiếm
tỷ lệ 8,4 % trong nhom tội Ngoài tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không xảy ra vàtội bắt coc nhằm chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra 03 vụ thì các tội khác co tỷ lệ tươngđối đồng đều
b Động thái của tình hình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2014 - 2018
Động thái của tình hình tội phạm hay còn hiểu là diễn biến của tình hình tội
Trang 38phạm là sự vận động, biến đổi của THTP theo thời gian, trong đo sự vận động, biếnđổi này diễn ra một cách tự nhiên theo từng địa bàn và theo từng giai đoạn lịch sửcụ thể Nghiên cứu động thái của THTP nhằm làm rõ quy luật vận động, thay đổi,
sự tăng hay giảm của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt, lýgiải điều kiện, nguyên nhân của những vận động đo Để làm rõ nội dung này gắnvới địa bàn tỉnh Lâm Đồng, xin được phân tích bằng phương pháp so sánh định gốc
Bảng 2.4: Động thái của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018:
Mức độ tăng, giảmhàng năm
Nguồn: Thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Qua thống kê số liệu co thể khẳng định tình hình các tội xâm phạm sơ hữu cotính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng co xu hướng gia tăng trong giaiđoạn 2014 -2018 Sự gia tăng dù không cao nhưng qua sự vận động co thể thấy tìnhhình tội phạm thuộc nhom tội vẫn diễn ra rất phức tạp trên địa bàn Nguyên nhâncủa sự gia tăng cả về số vụ và số bị cáo co lý do liên quan đến đặc điểm địa lý vàtình hình dân cư trên địa bàn Lâm Đồng là một tỉnh co 03 tuyến quốc lộ 20, 27, 28
Trang 39đi qua với nhiều đèo dốc thuận lợi cho việc thực hiện tội cướp tài sản và tội cướpgiật tài sản Trên địa bàn co 03 trường đại học, 03 trường cao đẳng với lượng sinhviên ngoại tỉnh cao, đồng thời lượng khách du lịch, nghỉ dưỡng hằng năm trong cácdịp lễ lớn với số lượng lướn là điều kiện nảy sinh các tội phạm liên quan đến trộmcắp, cướp giật, lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
b.1 So sánh liên kế
Đây là phương pháp so sánh các năm liên tiếp liền kề, năm sau so với nămtrước để thấy được sự tăng giảm của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt trên địa bàn
Bảng 2.5: Động thái của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018:
hàng năm
Số bịcáo
Nguồn: Thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
Thông qua số liệu so sánh liên kế co thể thấy trong 5 năm tình hình các tộixâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt co tăng, co giảm Tuy nhiên xu hướng giatăng là chủ đạo cả về số vụ và số bị cáo trong tổng số vụ án và số bị cáo phạm cáctội này Sự gia tăng này cũng phù hợp với lý giải ơ phương pháp so sánh định gốctrước đo
Như vậy qua hai phương pháp so sánh về động thái của tình hình các tội xâmphạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 –
2018 cho thấy THTP nhom tội này vẫn diễn biến phức tạp theo từng năm Trong đo,năm 2014 là năm định gốc để so sánh, còn năm 2018 là năm co sự gia tăng cao nhất
cả về số vụ và số bị cáo
Trang 40c Cơ cấu của tình hình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 2014 - 2018.
Cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt đượchiểu là những nguyên tắc kết hợp và hoạt động của các bộ phận bên trong ơ mức độtổng quan cấu thành tình hình các tội thuộc nhom này
Khi nghiên cứu về cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chấtchiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là xem xét về đặc điểm định tính của tìnhhình các tội thuộc nhom tội ơ hai mặt:
Một là, cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếmđoạt phản ánh về các yếu tố tiêu cực thuộc nguyên nhân và điều kiện của tình hìnhcác tội đo
Hai là, cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếm đoạt
là một bộ phận cơ bản của tình hình nhom các tội này, đồng thời là cơ sơ để nghiêncứu và thiết lập các biện pháp ngăn chặn phù hợp với động thái của tình hình tộiphạm
c.1 Đặc điểm cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn
Phương thức, thủ đoạn thực hiện các tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếmđoạt được hiểu là cách thức, phương pháp hành động mà người thực hiện hành viphạm tội nhằm chuyển những thiệt hại của người khác thành những lơi ích chomình, ơ đây là tài sản
Qua nghiên cứu 100 bản án hình sự với 205 bị cáo thuộc nhom tội trên địabàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2014 – 2018 thì phương thức, thủ đoạn phạm tội chủyếu dựa vào sơ hơ, chủ quan của chủ tài sản để thực hiện tội phạm Một số đốitượng lại lợi dụng tâm lý hám lợi của người bị hại để thực hiện các phương thức lừađảo, lôi kéo nhằm trục lợi Trong 100 bản án nghiên cứu thì số vụ thực hiện hành viphạm tội ơ dạng đơn lẻ chiếm tỷ lệ khá cao, với 65% số vụ Các vụ thực hiện hành
vi phạm tội ơ dạng đồng phạm là 35% số vụ nhưng hình thức đồng phạm ơ mứcgiản đơn Tuy nhiên cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì trong thời gian gầnđây xu thế phạm tội co tổ chức trong nhom tội xâm phạm sơ hữu co tính chất chiếmđoạt ngày càng gia tăng, tinh vi và thể hiện sự coi thường pháp luật