ĐỖ XUÂN DIỆUHOÀN THIỆN PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng... Chính vì lẽ đó tác giả chọn đề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-ĐỖ XUÂN DIỆU
HOÀN THIỆN PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP
DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2ĐỖ XUÂN DIỆU
HOÀN THIỆN PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP
DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam” là của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng vàđáng tin cậy
Tác giả
ĐỖ XUÂN DIỆU
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU. 3
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng 4
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 5
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 5
1.1.3.1 Nhóm nguyên nhân khách quan: 6
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng vay: 6
1.1.3.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về ngân hàng cho vay: 6
1.1.4 Hậu quả và thiệt hại từ rủi ro tín dụng 7
1.1.4.1 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng 7
1.1.4.2 Đối với nến kinh tế 7
1.1.5 Đánh giá rủi ro tín dụng 7
1.1.6 Quản lý rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel 8
1.2 Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 12
1.2.1 Khái niệm phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 12
1.2.1.1 Khái niệm phân loại nợ 12
1.2.1.2 Khái niệm dự phòng rủi ro tín dụng 12
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 14
1.2.3 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế 15
Trang 6và bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm phân loại nợ, trích lập dự phòng của một số NHTM các nước trên thế giới
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của VCB giai đoạn 2011 – 2013
2.1.2.4 Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu:
2.1.2.5 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
2.2 Thực trạng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại VCB
2.2.1.1 Thực trạng rủi ro tín dụng
2.2.1.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng
2.2.2 Thực trạng phân loại nợ và trích lập dự phòng tại VCB
2.2.2.3 Thực trạng phân loại nợ tại VCB
Trang 72.2.2.4 Thực trạng trích lập dự phòng 58
2.2.2.5 Tình hình sử dụng dự phòng 60
2.2.2.6 Quản lý nợ xấu và nợ có vấn đề tại VCB 60
2.3 Đánh giá công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD tại VCB 62
2.3.1 Những kết quả đạt được 62
2.3.2 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 63
2.4 Ảnh hưởng của việc áp dụng TT 02 đến công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD tại VCB 65
2.4.1 Một số điểm mới của Thông tư 02 so với Quyết định 493 65
2.4.2 Ảnh hưởng của việc áp dụng TT 02 đến công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD 65
2.4.3 Một số điểm chưa thật phù hợp của Thông tư 02 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 70
3.1 Định hướng hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đến năm 2020 70
3.1.1 Định hướng chiến lược phát triển của VCB 70
3.1.2 Định hướng hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng 70
3.2 Giải pháp hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng RRTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 71
3.2.1 Hoàn thiện quy trình, phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng theo hướng áp dụng các chuẩn mực quốc tế 71
3.2.2 Đánh giá, rà soát và hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 73
3.2.3 Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn và quy trình nghiệp vụ 74
3.2.4 Chú trọng công tác tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ 75
3.2.5 Hiện đại hóa công nghệ trong công tác phân loại nợ 75
3.2.6 Tăng cường sự phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ liên quan 76
Trang 83.3.1 Đối với Chính Phủ và các bộ ngành liên quan 79
3.3.2 Đối với Ngân Hàng Nhà Nước 80
3.3.2.1 Ban hành hệ thống văn bản phù hợp 80
3.3.2.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
PHẦN KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng ở một số quốc gia 19
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính cơ ản của VCB từ năm 2011 -2013 25
Bảng 2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VCB từ 2011 – 2013 27
Bảng 2.3: Vốn huy động của VCB từ năm 2011 – 2013 28
Bảng 2.4: Tổng tài sản và dƣ nợ cho vay giai đoạn 2011 – 2013 29
Bảng 2.5: Dƣ nợ cho vay theo kỳ hạn và ngành kinh tế và thành phần kinh tế của VCB từ năm 2011 – 2013 30
Bảng 2.6 : Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của VCB từ 2011 – 2013 33
Bảng 2.7 : Kết quả kinh doanh ngoại tệ của VCB từ 2011 – 2013 34
Bảng 2.8 : Số lƣợng thẻ các loại phát hành của VCB từ 2011 – 2013 34
Bảng 2.9 : Dƣ nợ tín dụng và nợ xấu của VCB từ 2011 – 2013 35
Bảng 2.10 : Tình hình nợ xấu tại một số NHTM năm 2013 36
Bảng 2.11 : Kết quả phân loại nợ của VCB giai đoạn 2011 – 2013 58
Bảng 2.12: Tình hình trích lập dự phòng của VCB từ 2011 – 2013 60
Trang 10Hình 2.2: Huy động vốn và cho vay của VCB năm 2011 – 2013 32
Trang 11và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng.
Vì vậy, các NHTM cần phải nâng cao hiệu quả công tác phân loại nợ để có thểđánh giá chất lượng tín dụng một cách chính xác, từ đó trích lập dự phòng đầy đủ,nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Như chúng ta đã biết,Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là mộttrong những ngân hàng hàng đầu của hệ thống NHTM Việt nam về nhiều mặt, vàcông tác phân loại nợ, trích lập dự phòng để phòng tránh rủi ro tín dụng được thựchiện khá tốt Tuy nhiên, công tác phân loại nợ, trích lập dự phòng cũng còn nhiềuvấn đề cần quan tâm nghiên cứu để hoàn thiện hơn Chính vì lẽ đó tác giả chọn đề
tài “ Hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” làm luận văn nghiên cứu là đề tài mang
tính khoa học thực tiễn và cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòngrủi ro tín dụng, đi sâu phân tích thực trạng rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng vàthực trạng phân loại nợ - trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCPNgoại Thương Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 Trên cơ sở đó, đánhgiá một số thành tựu đạt được và chỉ ra những hạn chế tồn tại và nguyên nhân củanhững hạn chế tồn tại trong công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
Trang 12dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam thời gian qua Từ đó tác giảđưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân loại nợ và tríchlập dự phòng rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu : Quy trình thực hiện phân loại nợ và công tác tríchlập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đang áp dụng tại Ngân hàng TMCP NgoạiThương Việt Nam theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/ 2005, quyđịnh về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày
25 tháng 4 năm 2007 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định493/2005/QĐ-NHNN của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Và các quy định hiệnhành của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam về phân loại nợ và trích lập dựphòng để xứ lý rủi ro tín dụng
Luận văn cũng nêu ra những điểm mới của quy định về phân loại nợ, trích lập
dự phòng và ảnh hưởng của chúng đến công tác phân loại nợ và trích lập dự phòngrủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, cụ thể nhất là do vàongày 21 tháng 01 năm 2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư
số 02/2013/TT-NHNN, quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháptrích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng thay thếQuyết định 493 và Quyết định 18, thông tư 02 có hiệu lực vào ngày 01/06/2014
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tập trung vào hoạt động của Ngânhàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2013
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả chủ yếu sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu như: Phương pháp tổng hợp, thống kê, mô tả, phân tích,
so sánh… đồng thời vận dụng kiến thức trong quá trình học tập và kinh nghiệm thựctiễn làm việc tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam nhằm làm rõ mục tiêunghiên cứu của đề tài
Trang 13Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: số liệu thứ cấp được thu thập chọn lọcchủ yếu từ báo cáo thường niên của ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, từcác tạp chí, quy định, quy trình, báo cáo của ngân hàng …
5. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU.
Nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, bù đắp những thiệt hại, tổn thất cho ngânhàng do rủi ro tín dụng gây ra, hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi rotín dụng tại các ngân hàng thương mại là việc làm thực sự cần thiết, mang ý nghĩathực tiễn cao, nhất là trong tình hình hiện nay khi cạnh tranh giữa các ngân hàngthương mại ngày càng gay gắt Với ý nghĩa đó, tác giả đi sâu phân tích, đánh giáthực trạng công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng của Ngân hàng TMCP Ngoạithương Việt Nam Để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện phân loại nợ vàtrích lập dự phòng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương và được bố cục như sau :
Chương 1: Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại
ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, hoạt động tíndụng là hoạt động kinh doanh đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng rủi ro
mà ngân hàng phải đối mặt nhiều nhất cũng là rủi ro tín dụng
Trong tài liệu” Quản trị Ngân hàng” tác giả Trần Huy Hoàng (2010, trang167) thì :” Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho ngân hàng”.
Theo tác giả Dương Hữu Hạnh (2013, trang 196) : “Rủi ro tín dụng ngân hàng
là sự xuất hiện những biến cố không bình thường xảy ra trong quan hệ tín dụng, từ
đó tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng và có thể làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho khách hàng”.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 2 của quy định về Phân loại nợ, trích lập và sửdụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tíndụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì : ” Rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Theo quan điểm tác giả, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng có thể xảy ra,với bất kỳ lý do hay nguyên nhân gì dẫn tới việc ngân hàng không thể thu hồi, hoặc
đe dọa tới việc thu hồi đầy đủ và đúng hạn (bao gồm cả gốc và lãi) đối với cáckhoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp
Trang 151.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành
hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục :
+ Rủi ro giao dịch: là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá kháchhàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro nghiệp vụ
- Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tíndụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyếtđịnh cho vay
- Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điềukhoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thứcđảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạtđộng cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lýcác khoản cho vay có vấn đề
+ Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đượcphân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung:
- Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêngbiệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từđặc điểm hoạt động, hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
- Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiềuđối với một số khách hàng, doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành hoặc lĩnhvực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hìnhcho vay có rủi ro cao
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra do những nguyên nhân sau :
Trang 161.1.3.1 Nhóm nguyên nhân khách quan:
Là những tác động ngoài ý chí của khách hàng và ngân hàng như: thiên tai,hỏa hoạn, do sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạchvùng, ngành, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong vàngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi…khiến doanh nghiệp lâm vào tìnhtrạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được Do đó, khiến cho doanh nghiệp
dù cho có thiện chí trả nợ nhưng vẫn không thể trả được nợ ngân hàng
1.1.3.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng vay:
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay là một trong những nguyên nhân chủ yếudẫn đến rủi ro cho ngân hàng Như khả năng tự chủ tài chính kém, năng lực điềuhành yếu, hệ thống quản trị kinh doanh không hiệu quả, trình độ quản lý của kháchhàng yếu kém, khách hàng vay sử dụng vốn sai mục đích, thiếu thiện chí và khôngsẵn lòng trong việc trả nợ vay ngân hàng
1.1.3.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về ngân hàng cho vay:
- Chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp, quá đề cao mục tiêu lợinhuận dẫn đến tăng trưởng tín dụng quá nóng hoặc tập trung vốn cho vay quá nhiềuvào một khách hàng vay, một nhóm khách hàng hoặc vào một ngành kinh tế nào đó,thiếu dự báo định hướng ngành trong phát triển kinh tế từng thời kỳ Chưa xác địnhđúng quy mô và tốc độ tăng trưởng của tín dụng…
- Danh mục đầu tư không hợp lý do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin trong phân tích, đánh giá khách hàng
- Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định cho vay của cán bộ tín dụng còn yếu
- Kiểm tra giám sát khoản vay sau cho vay không chặt chẽ, không kiểm tra sửdụng vốn, nên không phát hiện kịp thời để có ứng phó đối với việc sử dụng vốn vaysai mục đích Không theo dõi nguồn thu, dòng tiền từ dự án, phương án kinh doanh
để khách hàng sử dụng vốn vào những mục đích khác
- Cán bộ làm công tác tín dụng của ngân hàng không tuân thủ quy trình thẩmđịnh cho vay, không trung thực trong quá trình xét duyệt, cán bộ yếu kém về nghiệp
Trang 17vụ thẩm định Bên cạnh đó, vẫn còn một số cán bộ vi phạm về đạo đức nghề nghiệp,
cố tình làm sai quy trình, làm sai lệch dự án, phương án kinh doanh…
1.1.4 Hậu quả và thiệt hại từ rủi ro tín dụng
1.1.4.1 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây tổn thất về tài sản và uy tín cho ngân hàng.Ngân hàng không thu hồi được số tiền đã cho vay cả gốc và lãi, trong khi ngânhàng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi đối với người gửi tiền Điềunày sẽ ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng, làm suy giảm năng lực tài chính
và sức cạnh tranh của ngân hàng, nợ xấu tăng cao, lợi nhuận của ngân hàng giảmthấp do tăng chi phí trích lập dự phòng Nghiêm trọng hơn ngân hàng có thể bị thua
lỗ hoặc phá sản
1.1.4.2 Đối với nến kinh tế
Ngân hàng là trung gian tài chính có vai trò rất quan trọng trong nên kinh tế, lànơi thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng nguồn vốn này để đầu
tư cho vay phát triển kinh tế Hoạt động ngân hàng liên quan đến nhiều khách hàng,nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tíndụng hay bị phá sản, thì người gửi tiền hoang mang lo sợ và ồ ạt kéo nhau đi rúttiền không chỉ ở ngân hàng có sự cố mà còn ở những ngân hàng khác, làm cho toàn
bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệpkhông được đáp ứng nhu cầu vốn, sản xuất đình trệ, ảnh hưởng đến thất nghiệp, xãhội mất ổn định, nền kinh tế lâm vào suy thoái
Trang 18độ rủi ro và phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
+ Hệ số rủi ro tín dụng:
Hệ số rủi ro tín dụng =
Tổng dư nợ cho vay - x 100%
Tổng tài sản có
Hệ số rủi ro tín dụng phản ánh tỷ trọng của dư nợ tín dụng cho vay trong tổngtài sản có của ngân hàng, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có này càng lớn thìlợi nhuận mang lại càng cao, nhưng rủi ro tín dụng mà ngân hàng thương mại phảiđối mặt cũng gia tăng
1.1.6 Quản lý rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là ủy ban của các cơ quan giám sát ngânhàng được các thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước thành lập vàonăm 1975 Ủy ban bao gồm các đại diện cao cấp của các cơ quan giám sát ngânhàng và các ngân hàng trung ương của : Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật,
Trang 19Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Anh, Mỹ Ủy ban thườnghọp tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế tại thành phố Basel – Thụy Sỹ, nơi mà Banthư ký thường trực đóng trụ sở.
Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của mộtquốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự ổn định về
Trang 20tài chính tại quốc gia đó và các quốc gia khác trên toàn cầu Vì vậy, nâng cao sứcmạnh của hệ thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngânhàng đặc biệt quan tâm.
Ủy ban Basel tổ chức các cuộc họp thường niên thảo luận về những vấn đềhợp tác quốc tế trong công tác giám sát ngân hàng, nâng cao chất lượng công tácgiám sát hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới
Uỷ ban Basel đã ban hành các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảmbảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Năm 2004, các thànhviên của Uỷ ban Basel đã thông qua thỏa thuận về đo lường vốn và các tiêu chuẩn
đủ vốn của ngân hàng với tên gọi là hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn haycòn gọi là hiệp ước Basel II (Basel II)
Mục tiêu của Basel II là nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngânhàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các Ngân hàng hoạtđộng trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơntrong quản lý rủi ro Hiệp ước này bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằmhoàn thiện các kỹ thuật quản trị rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột
Trụ cột thứ I: Các yêu cầu vốn tối thiểu.
Vốn ngân hàngCAR = - x100%
Tổng tài sản Có rủi roCAR (Capital Adequacy Ratio) : Tỷ lệ an toàn vốn
Theo Basel II, một ngân hàng có đủ vốn là ngân hàng có tỷ lệ về vốn (CAR)tối thiểu bằng 8% Các ngân hàng luôn phải duy trì đủ lượng vốn tối thiểu cần thiết
vì trong hoạt động của mình ngân hàng luôn phải đối mặt nhiều rủi ro, bao gồm rủi
ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường
Trụ cột thứ II: Liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng.
Basel II cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng phải đốimặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản vàrủi ro pháp lý Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:
Trang 21Thứ nhất, các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy
đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằmduy trì mức vốn đó
Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn
nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuânthủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phùhợp nếu họ không thỏa mãn với kết quả của quá trình này
Thứ ba, giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn
mức tối thiểu theo quy định
Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của
ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổingay nếu mức vốn không được duy trì hoặc phục hồi
Trụ cột thứ III: Tuân thủ kỷ luật thị trường Các ngân hàng cần phải công khai, minh bạch thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường.
Basel II đưa ra một số yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin,
từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quanđến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi rohoạt động và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này
Ba trụ cột của Basel II có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nên việc áp dụng cácqui định của Basel II về quản lý rủi ro cần được tiến hành trong mối liên hệ vớinhững trụ cột khác, nhất là yêu cầu về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi
ro, về thanh tra giám sát, tuân thủ nguyên tắc thị trường và công khai tài chính
Có nghiên cứu cho rằng : nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đókhông phải là hoạt động kinh doanh, điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại vàvấn đề nợ xấu là một thực tế ở bất cứ ngân hàng nào Ủy ban Basel đã ban hành 17nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trịrủi ro tín dụng, đây là những định hướng trong việc xây dựng mô hình quản lý rủi
ro tín dụng hiện đại Các nguyên tắc này tập trung vào những nội dung cơ bản sauđây: (Nội dung của các nguyên tắc này được trình bày tại Phụ lục 1)
Trang 22- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp : Hội đồng quản trị phải thực hiện
phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựngchiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (bao gồm mức độ rủi ro, tỷ lệ
nợ xấu ở mức độ có thể chấp nhận…) Trên cơ sở đó, ban Tổng giám đốc có tráchnhiệm thực thi các định hướng mà Hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển cácchính sách nhằm phát hiện, theo dõi và kiểm soát nợ xấu đối với từng khoản tíndụng và cả danh mục đầu tư
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các
tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (xác định thị trường mục tiêu, đối tượng kháchhàng tiềm năng, điều kiện cấp tín dụng ) Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tíndụng cho từng khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loạihình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụngnội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàngcần phải có quy trình rõ ràng trong việc thẩm định, đề xuất tín dụng, phê duyệt vàcác sửa đổi tín dụng với sự tham gia trực tiếp của các bộ phận tiếp thị, thẩm định,phê duyệt và trách nhiệm của từng bộ phận Việc cấp tín dụng cần được thực hiệntrên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng đối vớicác khoản cấp tín dụng
- Duy trì một quá trình quản lý và theo dõi tín dụng phù hợp: Các ngân hàng
tùy theo quy mô và mức độ phức tạp, cần xây dựng hệ thống quản lý phù hợp đểquản lý đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, hệ thống quản lý này phải
có khả năng kiểm soát tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, tình hình thực hiệnnghĩa vụ của khách hàng… phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, những khoảntín dụng có vấn đề Ngân hàng phải có các biện pháp xử lý khắc phục đối với cáckhoản nợ xấu, quản lý các khoản nợ có vấn đề Chính sách rủi ro tín dụng của ngânhàng cần chỉ rõ các biện pháp quản lý các khoản tín dụng có vấn đề Ủy ban Baselcũng khuyến khích các ngân hàng phát triển và hoàn thiện hệ thống xếp hạng tíndụng nội bộ để phân loại và đánh giá khách hàng trong quản lý rủi ro tín dụng
Trang 231.2 Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
1.2.1.1 Khái niệm phân loại nợ
Theo khoản 1 Điều 2 thông tư số 15/2010/TT-NHNN ngày 16/06/2010 củaNgân hàng Nhà Nước (TT 15) quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro cho vay trong hoạt động của tổ chức tài chính:” Phân loại nợ
là việc sắp xếp các khoản nợ gốc vào các nhóm nợ quy định tại khoản 1 Điều 4 thông tư này” Theo đó, khoản 1 Điều 4 TT 15, nợ được phân loại thành năm (05)
nhóm, bao gồm : Nhóm 1- nợ đủ tiêu chuẩn; nhóm 2 – Nợ cần chú ý; nhóm 3 – nợdưới tiêu chuẩn; nhóm 4 – nợ nghi ngờ; nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn
Phân loại nợ được hiểu là quá trình ngân hàng xem xét các danh mục cho vay
của mình và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau, dựa trên việc đánh giá mức
độ rủi ro của khoản nợ Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp cho ngânhàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay, và trong những trường hợpcần thiết, ngân hàng sẽ kịp thời có các biện pháp dự phòng để đối phó với tình hìnhxấu đi của các khoản nợ, đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh làm giảmchất lượng tín dụng danh mục cho vay Thông thường các ngân hàng thường sửdụng hệ thống phân loại nội bộ, các hệ thống phân loại quy định bởi cơ quan quản
lý ngân hàng chủ yếu để phục vụ mục tiêu báo cáo, giám sát và việc so sánh đượcthuận tiện hơn (Đinh Thị Thanh Vân , 2012)
1.2.1.2 Khái niệm dự phòng rủi ro tín dụng
Theo Khoản 2 Điều 2 của quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dựphòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng banhành kèm theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam: “ Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để
Trang 24dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc
và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng”.
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là phương pháp các ngân hàng sử dụng để
ghi nhận tổn thất so với giá trị ghi nhận ban đầu của khoản vay, lập quỹ dự phòng để
bù đắp cho những tổn thất đó Các nhà quản lý ngân hàng sẽ phải đánh giá được rủi
ro tín dụng trong danh mục cho vay dựa trên các thông tin sử dụng có được để phântích (Đinh Thị Thanh Vân , 2012)
Về phương diện kế toán, các khoản vay nên được ghi nhận là sẽ có thể bịgiảm giá trị và việc lập dự phòng là cần thiết nếu ngân hàng không thể thu hồi được
số tiền đã cho vay khi đến hạn bao gồm cả gốc và lãi theo những điều khoản củahợp đồng vay nợ đã ký (IAS 39)
Từ khái niệm phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, có thể nhậnthấy: Ngân hàng cần phải đánh giá được những tổn thất tín dụng đối với các khoản
nợ đã cho vay, đây là quá trình đòi hỏi phải có sự theo dõi, đánh giá chính xác vì kếtquả của phân loại nợ là rất quan trọng, một mặt sẽ làm giảm lợi nhuận của Ngânhàng vì số tiền trích lập dự phòng sẽ hạch toán vào chi phí, do đó nếu trích lập dựphòng càng nhiều thì lợi nhuận càng giảm Mặt khác nếu trích lập dự phòng thiếu,
sẽ không đủ nguồn tài chính bù đắp tổn thất một khi rủi ro xảy ra và có thể sẽ ảnhhưởng đến hoạt động của ngân hàng, hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Điều nàycho thấy kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro có thể xem là một tiêuchuẩn để đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng Hơn nữa, phân loại nợ vàtrích lập dự phòng RRTD còn là một trong những biện pháp để ngân hàng kiểm soátrủi ro tín dụng, giúp ngân hàng kiểm tra, đánh giá chất lượng danh mục cho vay củamình Phân loại nợ chính xác, giúp ngân hàng trích lập dự phòng hợp lý, do đó, cóthể khẳng định: phân loại nợ và trích lập dự phòng là biện pháp phòng ngừa hữuhiệu đối với rủi ro tín dụng, bù đắp được tổn thất khi rủi ro xảy ra, đảm bảo chohoạt động của ngân hàng được an toàn và hiệu quả
Trang 25đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của mình, cácNHTM cần thiết phải phân loại nợ chính xác, trích lập dự phòng phù hợp
Tại điều 131 Luật Các Tổ Chức Tín Dụng 2010 có quy định: Tổ chức tín dụng,phải dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng Khoản dự phòng rủi ronày được hạch toán vào chi phí hoạt động Việc phân loại tài sản có, mức trích,phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi rotrong hoạt động ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước quy định
Như vậy, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đối với các NHTMkhông chỉ là tuân thủ quy định của pháp luật, mà việc phân loại nợ chính xác, tríchlập dự phòng đầy đủ còn giúp các NHTM hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững.Hơn nữa, còn giúp các NHTM của Việt Nam hội nhập với NHTM các nước trên thếgiới theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Tóm lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là thực sự cần thiếtđối với các ngân hàng thương mại, là biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng, bằngcách lập một khoản tiền để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra, do kháchhàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết,khoản trích lập dự phòng được hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàngthương mại
Trang 261.2.3 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế
Hiện nay, ngân hàng tại một số quốc gia phát triển trên thế giới đang áp dụngchuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 39) trong tính toán trích lập dự phòng Tại châu Á,Hồng Kông áp dụng từ năm 2005, Malaisia áp dụng từ năm 2010, Nhật Bản và HànQuốc áp dụng từ năm 2011… Việc trích lập dự phòng theo chuẩn mực kế toán quốc
tế được cho là chính xác vì đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng sử dụngphương pháp chiết khấu dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng tín dụng khách hàng
1.2.3.1 Phân loại nợ theo chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống các nguyên tắc hạch toán kế toán, trìnhbày báo cáo tài chính, các quy định về kế toán được chấp nhận rộng rãi trên toànthế giới do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB – International AccountingStandards Board) ban hành
Chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 3 nhóm chính là IASs (InternationalAccounting Standards)– nhóm chuẩn mực kế toán do IASC (InternationalAccounting Standards Committee) ban hành; IFRSs (International FinalcialReporting Standards)- chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do IASB ban hành; cáchướng dẫn thực hiện chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do ủy ban hướng dẫnIFRS (International Finalcial Reporting Interpretations Committee) ban hành
Trong các chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực IAS 39 (Các công cụ tàichính) là một chuẩn mực rất quan trọng đối với các ngân hàng Đối tượng củachuẩn mực kế toán này là thành lập những nguyên tắc để nhận ra và đánh giá nhữngtài sản tài chính, các khoản vay và một số hợp đồng mua bán những tài sản phi tàichính Việc trình bày các thông tin về các công cụ tài chính (Financial Instruments)được quy định trong IAS 32 Các công cụ tài chính : Trình bày (Presentation) Việccông bố thông tin về các công cụ tài chính được quy định trong IFRS Các công cụtài chính : Công bố (Disclosures)
Dự phòng theo IAS 39 : là sự điều chỉnh giảm giá trị ghi sổ của khoản vay khi
có bằng chứng về sự giảm giá trị
Trang 27Thời điểm lập dự phòng theo IAS là vào ngày lập bảng cân đối kế toán, khi cóbằng chứng khách quan về giảm giá trị của tài sản tài chính
Về xác định khoản vay cần được trích dự phòng cụ thể: Theo IAS 39, một tài
sản tài chính hoặc một nhóm tài sản tài chính bị giảm giá trị hoặc tổn thất do giảmgiá trị phát sinh khi và chỉ khi có chứng cứ khách quan về việc giảm giá trị do kếtquả của một hay nhiều sự kiện xảy ra sau khi ghi nhận ban đầu về tài sản (sự kiệntổn thất) tạo nên một tác động có thể ước tính một cách đáng tin cậy lên các dònglưu chuyển tiền tệ dự kiến trong tương lai của tài sản tài chính hoặc nhóm tài sảntài chính Sự kiện tổn thất được giải thích tại IAS 39, bao gồm: khó khăn về tàichính đáng kể của bên có nghĩa vụ; một vi phạm hợp đồng như không trả được nợhoặc chậm trả lãi hoặc gốc, sự phá sản/tái cơ cấu về mặt tài chính của khách hàngvay, sự suy giảm của thị trường mà khách hàng đang hoạt động…
Mức dự phòng: Theo IAS 39, quy trình ước tính mức giảm giá trị được thực
hiện như sau: Trước hết, ngân hàng phải đánh giá liệu có bằng chứng khách quan
về sự giảm giá trị một cách riêng lẻ đối với từng tài sản tài chính là những tài sảntrọng yếu khi đứng riêng lẻ hoặc tập trung cho các tài sản không trọng yếu khi xemxét riêng lẻ Khi thực hiện đánh giá chung đối với một nhóm các khoản cho vaykhông có tầm quan trọng khi đứng riêng lẻ (như các khoản cho vay bán lẻ), cáckhoản cho vay này cần được xếp loại theo nhóm trên cơ sở các đặc điểm rủi rotương tự như nhau, những đặc điểm này có liên quan đến việc ước tính các dònglưu chuyển tiền tệ trong tương lai trước khi thẩm định sự giảm giá trị Việc này yêucầu phải phân tích danh mục cho vay có sử dụng các tiêu chuẩn khác như ngành,khu vực địa lý hoặc tài sản thế chấp
Nguyên tắc trích lập dự phòng: Ngân hàng cần đánh giá sự giảm giá (impairment)
của các khoản cho vay vào ngày lập báo cáo tài chính và khi có bất kỳ bằng chứngkhách quan cho thấy sự giảm giá trị của tài sản/công nợ tài chính Đánh giá sự kiện gâynên sự suy giảm tới dòng tiền ước tính trong tương lai theo phương pháp chiết khấudòng tiền Chiết khấu dòng tiền là một phương pháp xác định giá trị
Trang 28hiện tại của một lượng tiền thu được trong tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu nhấtđịnh.
Phương pháp chiết khấu dòng tiền được sử dụng để xác định giá trị hiện tạicủa các dòng tiền ước tính thu được trong tương lai của ngân hàng từ các khoảncho vay đối với khách hàng (dòng tiền bao gồm cả gốc, lãi và giá trị ước tính có thểthu hồi từ tài sản bảo đảm) với lãi suất chiết khấu chính là lãi suất thực tế của cáchợp đồng tín dụng
Chênh lệch giữa giá trị chịu rủi ro của khoản vay (tổng dư nợ vay tại thờiđiểm đánh giá) với giá trị hiện tại của dòng tiền ước tính trong tương lai được chiếtkhấu bằng lãi suất thực chính là tổn thất ước tính của khoản vay và là mức dựphòng cần phải trích lập cho các khoản cho vay đối với khách hàng đó
Công thức tính dự phòng cụ thể :
P=C–PV
Trong đó :
P : Tổn thất được ghi nhận/Dự phòng giảm
giá C : Giá trị rủi ro của khoản vay
PV : Giá trị hiện tại của dòng tiền ước tính tương lai, được xác định theocông thức sau :
1
PV = FVn
-(1+r)nTrong đó :
FVn : Dòng tiền ước tính thu được trong năm thứ n
r : Tỷ lệ chiết khấu/Lãi suất thực tế : Tỷ lệ chiết khấu là lãi suất bình quân của các hợp đồng tín dụng còn dư nợ tại thời điểm hiện tại
n : Thời gian thực hiện chiết khấu
Trang 291.2.3.2 Phân loại nợ theo áo cáo của iện tài chính quốc tế
Tại báo cáo của Viện nghiên cứu tài chính quốc tế vào tháng 6 năm 1999 đãđưa ra các tiêu chí về phân loại nợ, và được hướng dẫn để tính toán các chỉ số lànhmạnh tài chính của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Theo đó, các khoản cấp tín dụngđược phân loại thành năm nhóm :
+ Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn - standard)
có thể xảy ra đối với khoản nợ Một số quốc gia cung cấp các quy định dựa trên một
số nguyên tắc cơ bản và chỉ đưa ra hướng dẫn chung về tính toán mức dự phònghợp lý cần trích lập Cách tiếp cận này được áp dụng phổ biến tại các quốc gia châu
Âu Ngược lại, tại một số nước lại có những quy định cụ thể về phân loại nợ vàtrích lập dự phòng nhằm mục đích giám sát và so sánh giữa các ngân hàng được dễdàng, đa số các nước đang phát triển áp dụng cách thức này Úc giữ vị trí trung lập.Các ngân hàng được đưa ra các mức dự phòng dựa trên mô hình nội bộ và chấmđiểm xếp hạng khách hàng, trong khi các định chế tài chính phi ngân hàng có nhậntiền gửi được yêu cầu trích lập dự phòng theo tiêu chí do cơ quan giám sát ngânhàng quy định (Đinh Thị Thanh Vân, 2012)
Bảng 1.1 dưới đây cho thấy các tiêu chí phân loại nợ và trích lập dự phòng ởngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới:
Trang 30Bảng 1.1: Phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng ở một số quốc gia
Trang 32Nga
Tây Ban Nha
Nguồn : Trích từ số liệu của Laurin và công sự (2002)Trong nhóm các nước G10, (bao gồm Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật, Hà Lan,Anh, Mỹ, Đức, Thụy Điển, Thụy Sỹ), Mỹ và có thể cả Đức đã sử dụng cách tiếp cậnphân loại nợ rõ ràng, phân loại nợ thành bốn hoặc năm nhóm Ở các nước không có
cơ chế quản lý chi tiết, các nhà quản lý ngân hàng thường có trách nhiệm phát triểncác quy định và quy trình phân loại nợ nội bộ, vai trò của các cơ quan giám sát ngânhàng hay kiểm toán bên ngoài chỉ giới hạn ở việc đưa ra ý kiến xem các quy định
đã đầy đủ, và có thực hiện phù hợp và thống nhất hay chưa.Tại Anh, Cơ quan giámsát ngân hàng không yêu cầu các ngân hàng áp dụng một loại hình phân loại nợ cụthể nào mà họ trông đợi từng ngân hàng có quy trình quản lý RRTD, quy định chínhsách phân loại nợ và trích lập dự phòng phù hợp với mục tiêu là phân loại nợ vàtrích lập dự phòng phản ánh đúng chất lượng tín dụng và khả năng tổn thất mà ngânhàng gặp phải trên cơ sở phân tích đánh giá khách hàng Các khoản dự phòng đượctrích lập khi có bằng chứng về sự giảm sút chất lượng các khoản vay Các ngânhàng tại Mỹ trích lập dự phòng để bù đắp cho các tổn thất tín dụng dự tính phụthuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của các ngân hàng Bộ phận thanh tra giám sátngân hàng thường căn cứ vào hệ thống quản lý và phương pháp đo lường rủi ro tíndụng của các ngân hàng và thực hiện đánh giá danh mục cho vay và các yếu tố ảnhhưởng đến khả năng thu hồi nợ của danh mục các khoản nợ đó Khi đánh giá mức
dự phòng rủi ro cho các tổn thất đối với các khoản tín dụng thấp
Trang 33Hiện nay nhiều nước trong khu vực châu Á như Hồng Kông, Malaysia,Nhật Bản, Hàn Quốc … đã áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 39) để tínhtoán trích lập dự phòng Trích lập dự phòng theo chuẩn mực kế toán quốc tế cho kếtquả chính xác vì dự phòng được trích lập dựa trên các bằng chứng về sự giảm giátrị của các khoản cho vay.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại iệt Nam
Trước hết, phải thực hiện đúng các quy định của quyết định 493, quyết định
18, nay là Thông tư 02 - thay thế QĐ 493 và QĐ 18 từ ngày 01/06/2014, các quyếtđịnh này đã gần với thông lệ quốc tế, trong đó các NHTM Việt Nam phải khẩntrương xây dựng, hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ để đánh giá khách hàng vàthực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính Chú trọng công tác thu thậpthông tin, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để lưu trữ cơ sở dữ liệu đánh giákhách hàng Hướng tới trích lập dự phòng theo chuẩn mực kế toán quốc tế
Kế tiếp, nên học hỏi kinh nghiệm trích lập dự phòng ngay cả khi nợ chưa suygiảm khả năng trả nợ, đây cũng là một phương pháp hay để quản trị rủi ro theonguyên tắc thận trọng Cần vận dụng một cách linh hoạt khi xem xét đánh giá nợsuy giảm khả năng trả nợ hoặc nợ có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ, tiến hànhphân loại nợ và tính toán trích lập dự phòng kịp thời, phù hợp
Tiếp theo, thực hiện trích lập các khoản dự phòng dựa trên các bằng chứng
về sự giảm giá trị của các khoản cho vay, sớm áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế(IAS 39) trong tính toán trích lập dự phòng
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng là vấn đề
mà Ngân hàng Nhà Nước, với tư cách là cơ quan quản lý giám sát, và các NHTMViệt Nam đang rất quan tâm hiện nay Việc hoàn thiện công tác phân loại nợ và tríchlập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng và tiếp cận các thông lệ quốc tế về phân loại
và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về ngân hàng TMCP Ngoại Thương iệt Nam
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) chính thức được thành lập vàongày 01/04/1963 theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày30/10/1962 trên cơ sở tách ra từ Cục Quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàngTrung ương (nay là NHNN Việt Nam) VCB đóng vai trò là ngân hàng chuyêndoanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vựckinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đốingoại khác (vận tải, bảo hiểm…), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lývốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong cácquan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ… Ngoài ra, VCB còn tham mưu cho Ban lãnhđạo NHNN Việt Nam về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các tổchức tài chính tiền tệ quốc tế
Ngày 26/09/2007, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành quyết định số TTG về việc chuyển đổi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sang hình thức cổ phầnhóa Năm 2008 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự chuyển mình mangtính bước ngoặt đối với một NHTM Nhà nước như Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam, đó là việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, tổ chức thành công Đại hộiđồng cổ đông lần thứ nhất và hoàn tất quá trình chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế
1289/QĐ-cổ phần từ ngày 02/06/2008 với tên gọi chính thức là “Ngân hàng Thương mại Cổ phầnNgoại thương Việt Nam”, tên giao dịch tiếng Anh là “Joint Stock Commercial Bank forForeign Trade of Vietnam”, tên viết tắt VCB VCB cũng là NHTM Nhà nước đầu tiênđược Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá Ngày 30/6/2009, cổ phiếuVCB (mã chứng khoán VCB) chính thức được
Trang 36niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM Sau đây tác giả xin trình bày các hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam :
+ Huy động vốn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo các hình thức tiền gửi, giấy tờ có giá; vay NHNN Việt Nam, TCTD trong và ngoài nước, …
+ Hoạt động tín dụng: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán, thấu chi,thẻ…
+ Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: tài khoản thanh toán, phương tiện dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước…
+ Các hoạt động khác: góp vốn, mua cổ phần, dịch vụ ngoại hối, ủy thác nhận
ủy thác ngân hàng; dịch vụ tài chính; môi giới tiền tệ; kinh doanh bất động sản…Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng gópquan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai tròcủa một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trongnước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khuvực và toàn cầu
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombankngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp chokhách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốctế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng,tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ vàcác công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…
Sau nửa thế kỷ hoạt động, xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm tháng
12 năm 2013, Vietcombank hiện có gần 14.000 cán bộ nhân viên, với hơn 400 chinhánh/phòng giao dịch/văn phòng đại diện/đơn vị thành viên trong và ngoài nước,gồm 1 hội sở chính tại Hà Nội, 1 sở giao dịch, 1 trung tâm đào tạo, 79 chi nhánh vàhơn 330 phòng giao dịch trên toàn quốc, 2 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con
và 1 văn phòng đại diện tại nước ngoài, 6 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh đó,Vietcombank còn phát triển một hệ thống autobank với gần 2.000 máy ATM và gần43.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng
Trang 37còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.700 ngân hàng đại lý tại trên 120 quốc gia vàvùng lãnh thổ Hiện nay trụ sở chính VCB đóng tại số 198 Trần Quang Khải, quậnHoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của CB giai đoạn 2011 – 2013
2.1.2.1 Một số chỉ tiêu tài chính cơ ản giai đoạn 2011-2013
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản giai đoạn VCB năm 2011 – 2013.
ĐVT : tỷ đồng
Năm Chỉ tiêu
(Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB năm 2011 – 2013)
Tổng tài sản năm 2013 đạt 468.9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,2% so với cuối năm 2012, vượt kế hoạch đề ra
Huy động vốn từ nền kinh tế năm 2013 đạt hơn 334 nghìn tỷ đồng, tăng9% so với cuối năm 2012 và hoàn thành kế hoạch đề ra Nguồn vốn huyđộng tăng trưởng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn và đảm bảothanh khoản của toàn hệ thống
Dư nợ cho vay khách hàng năm 2013 đạt gần 274 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với cuối năm 2012 và vượt mức kế hoạch đề ra
Tỷ lệ nợ xấu năm 2013 là 2,73%, thấp hơn kế hoạch và quy định củaNHNN
Trang 38Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, VCB luôn duy trì là một trong
những NHTM hàng đầu ở Việt Nam về nhiều mặt, trong đó phải kể đến là hiệu quả
kinh doanh, vốn chủ sở hữu và chất lượng tài sản Hoạt động của VCB luôn có sự
tăng trưởng ổn định và đạt được hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm đã đề ra
Bảng 2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của VCB từ 2011 – 2013.
ĐVT: tỷ đồng
Chỉ tiêu
1 Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự
2 Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự
III Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
V Lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư
(Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB năm 2011 –
Bảng 2.2 cho thấy thu nhập từ lãi vay và các khoản thu tương tự
Trang 39trọng cao nhất trong tổng thu nhập của VCB chứng tỏ hoạt động tín dụng vẫn luôn
là hoạt động kinh doanh chủ yếu của VCB Thu nhập lãi và các khoản thu tương tự
Trang 40năm 2013 giảm 10,82% so với năm 2012, năm 2012 giảm 6,67% so với năm 2011,
do trong năm 2012 và năm 2013 VCB luôn điều chỉnh giảm lãi suất cho vay và ápdụng nhiều gói sản phẩm cho vay ưu đãi lãi suất để vừa giúp các doanh nghiệpphục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh vừa thu hút các khách hàng tốt và kháchhàng mới về giao dịch với ngân hàng.VCB luôn chấp hành nghiêm chỉnh trần lãisuất của NHNN Hiện nay, VCB đang đẩy mạnh hoạt động dịch vụ để nâng cao tỷtrọng nguồn thu từ các họat động dịch vụ tạo sự ổn định và phát triển phù hợp với
xu thế kinh doanh tiến bộ của các NHTM trong và ngoài nước
2.1.2.2 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn của VCB liên tục tăng trưởng qua các năm 2011 - 2013 vớitốc độ trung bình 12.25%/năm, điều này cho thấy khách hàng vẫn luôn tin tưởng vàtrung thành với thương hiệu lớn và uy tín - VCB
Bảng 2.3: Vốn huy động của VCB từ năm 2011 – 2013
(ĐVT: tỷ đồng)
Năm Chỉ tiêu
Vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng
Vốn huy động từ tổ chức kinh tế, dân cư
Tổng vốn huy động
Tốc độ tăng trưởng vốn huy động
(Nguồn: Báo cáo thường niên của VCB năm 2011 – 2013)
Tính đến cuối năm 2013, huy động vốn đạt 378,3 ngàn tỷ đồng, hoàn thành kếhoạch đề ra So với năm 2012 tăng 40,29 ngàn tỷ với tốc độ tăng trưởng là 11.92%.Năm 2013 tốc độ tăng trưởng nguồn vốn là 11.92% giảm 4.77% so với tốc độ tăngtrưởng năm 2012 Nguyên nhân nguồn vốn huy động năm 2013 tăng trưởng chậm lại
so với năm 2012 là do: Trong năm 2013, lãi suất huy động và lãi suất cho vay liên tụcđược điều chỉnh giảm theo quy định của NHNN Tại Thông tư 15/2013/TT-NHNNngày 27/06/2013, NHNN quy định trần lãi suất tiền gửi và yêu cầu các ngân hàng phảiniêm yết công khai lãi suất huy động tại các điểm điểm giao dịch, NHNN