Những lýthuyết này kết hợp mối liên hệ giữa ngang giá lãi suất không phòng ngừa UIP với giảđịnh rằng tỷ giá thực lệch khỏi mức cân bằng trong dài hạn của nó chỉ là tạm thời.Tuy nhiên, mộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM PHƯƠNG LOAN
ĐIỂM GÃY CẤU TRÚC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ THỰC VÀ LÃI SUẤT THỰC TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2002-2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM PHƯƠNG LOAN
ĐIỂM GÃY CẤU TRÚC TRONG MỐI
QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ THỰC VÀ LÃI
SUẤT THỰC TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2002-2014
Chuyên ngành: Tài Chính-Ngân Hàng
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP Hồ Chí Minh, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
PHẦN 1 GIỚI THIỆU 1
PHẦN 2 TỔNG QUAN HỌC THUẬT 4
2.1.Tổng quan lý thuyết 4
2.2.Nghiên cứu thực nghiệm trước đây 6
2.2.1.Các bài nghiên cứu trước điểm gãy cấu trúc: 7
2.2.2.Các nghiên cứu bao gồm điểm gãy cấu trúc 11
2.2.3.Mô hình lý thuyết 14
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Kiểm tra thuộc tính của chuỗi dữ liệu 17
3.1.1 Kiểm định Dicky – Fuller mở rộng (ADF) 17
3.1.2 Kiểm định Saikkonen và Lutkepohl (2002) (S&L) 18
3.2 Kiểm định mối quan hệ dài hạn 22
3.2.1 Kiểm định đồng liên kết Johansen (Johansen trace test) 22
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết theo Saikkonen và Lutkepohl (2000) 24
3.3 Phương trình đồng liên kết 26
3.4 Dữ liệu bài nghiên cứu 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 31
Trang 44.1 Kiểm định tính dừng 31
4.2 Kiểm định đồng liên kết 38
4.3 Kết quả hồi quy phương trình dài hạn 40
PHẦN 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC KHÁC 47
5.1 Kiểm định tính dừng 47
5.2 Kiểm định tính đồng liên kết 51
PHẦN 6 KẾT LUẬN 58
6.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 58
6.2 Hạn chế của nghiên cứu 59
Trang 5Bảng 3.2 Cách thức xây dựng biến
Bảng 4.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo ADF
Bảng 4.2.a Tổng hợp các điểm gãy, giá trị t-statistic và độ trễ của Việt Nam
Bảng 4.2.b Tổng hợp các điểm gãy, giá trị t-statistic và độ trễ của Mỹ Bảng
4.3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo S&L
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo Johansen Trace test
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo S&L test
Bảng 4.6 Phương trình đồng liên kết giữa Lãi suất thực, tỷ giá của Việt Nam và MỹBảng 4.7 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo Johansen Trace test
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo S&L test
Bảng 4.9 Phương trình đồng liên kết giữa Lãi suất thực, tỷ giá của Việt Nam và MỹBảng 5.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo ADF
Bảng 5.2 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị theo S&L
Bảng 5.3 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo Johansen Trace test
Bảng 5.4 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo S&L test
Bảng 5.5 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo Johansen Trace test
Bảng 5.6 Kết quả kiểm định đồng liên kết theo S&L test
Trang 6Hình 4.1 Tỷ giá hối đoái thực giai đoạn từ 4/2002 đến 4/2014
Hình 4.2 Lãi suất dài hạn của Việt Nam giai đoạn 4/2002 đến 4/2014
Trang 7lãi suất thực khi sử dụng các phương pháp kinh tế học gần đây với việc xem xét vai tròcủa điểm gãy cấu trúc trong mô hình hồi quy Nhìn chung, bài nghiên cứu đã cho thấybằng chứng thực nghiệm trong dài hạn giữa hai biên này Cụ thể hơn, bài nghiên cứutập trung vào mối quan hệ Mỹ và Việt Nam trước và đã thấy bằng chứng về mối quan
hệ đồng liên kết trong dài hạn bằng cách sử dụng phương pháp truyền thống và cả khitiếp cận điểm gãy cấu trúc được xác định bằng nội sinh từ mô hình Tuy nhiên, chúng
ta tìm thấy bằng chứng mạnh cho thấy sự chênh lệch lãi suất thực ngắn hạn là một nhân
tố quan trọng của tỷ giá hối đoái thực trong khi các phương pháp truyền thống bị thấtbại Thứ hai, để kiểm tra sự liên quan của điểm gãy cấu trúc trong một khuôn khổ rộngvới nhiều quốc gia, bài nghiên thực hiện phân tích nhiều nước Kết quả cho thấy tồn tạimối quan hệ đồng liên kết với các quốc gia ngay cả khi không xét đến điểm gãy cấutrúc, điều đó cho thấy sự hiện diện của điểm gãy cấu trúc không phải là phổ biến quanhiều quốc gia mà chỉ mang tính cá thể
Từ khóa: Tỷ giá hối đoái thực, chênh lệch lãi suất thực, không dừng, điểm gãy cấu
trúc được xác định nội sinh
Trang 8PHẦN 1 GIỚI THIỆU
Có nhiều mô hình xác định tỷ giá hối đoái được biết đến rộng rãiđã nhấn mạnh vai tròcủa chênh lệch lãi suất thực như một yếu tố quyết định chính của tỷ giá thực Những lýthuyết này kết hợp mối liên hệ giữa ngang giá lãi suất không phòng ngừa UIP với giảđịnh rằng tỷ giá thực lệch khỏi mức cân bằng trong dài hạn của nó chỉ là tạm thời.Tuy nhiên, một thực tế là các nghiên cứu trước đây đã thất bại trong việc phát hiện ramột mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực Đặcbiệt là các nghiên cứu của Campbell và Clarida (1987) và Meese và Rogoff (1988).Các tác giả này đã sử dụng phương pháp kinh tế lượng rất khác nhau nhưng cả hai đềubác bỏ giả thiết rằng có một liên kết có ý nghĩa thống kê giữa tỷ giá hối đoái thực vàchênh lệch lãi suất thực
Marianne Baxter (1994) trong bài viết “Real exchange rates and real interestdifferentials: Have we missed the business-cycle relationship?” trình bày một đồ thịminh họa và nhận xét rằng “Rất khó để nhìn vào hình 1.1 và không tin rằng có một sốmối quan hệ tồn tại giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực”, điều này vẫnthúc đẩy các nghiên cứu trong việc khắc phục các nhược điểm của các bài nghiên cứutrước đó khi xem xét tới vai trò của các điểm gãy cấu trúc dựa trên gợi ý của Perron(1989)
Hình 1.1 Mô tả tỷ giá hối đoái thực theo tỷ trọng thương mại của Dollar và các quốc già G-10 và thước đo tương ứng dài hạn, chênh lệch lãi suất thực dự báo (ex ante).
Trang 9Trích nguồn: Hali J.Edison và B.Dianme Pauls (1991)
Perron (1989), trong nghiên cứu của mình, ông đã đề cập đến khía cạnh phương phápkinh tế lượng trong quá trình nghiên cứu Việc xây dựng mô hình không phù hợp vàđặc biệt là sự xuất hiện của những cú sốc bất thường trong nền kinh tế có thể tác động
và làm sai lệch các kết quả thống kê Có nhiều bài nghiên cứu về các kiểm định nghiệmđơn vị, đồng liên kết khi có sự xuất hiện của điểm gãy cấu trúc trong chuỗi dữ liệu.Điển hình như nghiên cứu của Saikkonen và Lutkepohl (2002) và Lutkepohl, Muller &Saikkonen (2002) Việc xem xét vai trò của các điểm gãy cấu trúc trong hồi quy có thểđem lại kết quả khả quan hơn khi khắc phục các sai lệch do chúng mang lại với cáckiểm định
- Lý do lựa chọn đề tài:
Mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực tuy không phải là một vấn đềmới, nhưng mối quan hệ này vẫn là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu trong việcxác định tỷ giá Các nghiên cứu trước đây tập trung vào các đồng tiền của các quốc giaphát triển, các bằng chứng thực nghiệm tại các nước đang phát triển như Việt Nam vẫncòn hạn chế; Do đó, bài nghiên cứu lựa chọn đề tài này nhằm xác định mối quan hệgiữa hai đại lượng này để có thể đưa ra nhận định cho thị trường Việt Nam
Trang 10- Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu nhằm mục đích tìm bằng chứng về mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa
tỷ giá và lãi suất tại Việt Nam và các quốc gia khác trong mối quan hệ với đồng đô la
Mỹ thông qua việc áp dụng mô hình có xem xét đến hiện tượng điểm gãy cấu trúc được xây dựng bởi Saikkonen và Lutkepohl (2000, 2002) Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:
Có một mối quan hệ mang tính hệ thống giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thựckhông? Và, Đại diện thực nghiệm nào của mối quan hệ được hỗ trợ bởi dữ liệu?
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài viết nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực trên dữliệu của 12 quốc gia, bao gồm Việt Nam và 11 nước khác trong mối tương quan với
Mỹ với khoảng thời gian nghiên cứu là từ 04/2002 đến 04/2014
- Bố cục bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được chia theo bố cục gồm năm phần, phần hai sẽ trình bày tổng quanhọc thuật bao gồm tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đồngthời trình bày mô hình lý thuyết được sử dụng trong bài nghiên cứu Phần ba sẽ trìnhbày phương pháp nghiên cứu, trong đó bao gồm phương pháp xác định điểm gãy trong
dữ liệu nghiên cứu, kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết và dữ liệu sử dụngtrong bài nghiên cứu cũng như cách xác định các biến này.Phần bốn sẽ trình bày cáckết quả nghiên cứu ở Việt Nam và phần năm trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứucho 11 quốc gia khác trong mẫu nghiên cứu từ giai đoạn tháng 4/2002 đến tháng4/2014
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN HỌC THUẬT
2.1 Tổng quan lý thuyết
Xuất phát từ các lý thuyết về xác định tỷ giá danh nghĩa, các lý thuyết này lập luận vềmối quan hệ tỷ giá danh nghĩa và lãi suất danh nghĩa Đầu tiên là mô hình “Flexible-price monetary” của Frenkel-Bilson năm 1976, hay còn được gọi là học thuyết
“Chicago” với giả định là giá cả linh động hoàn toàn (flexible-prices) Như một hệ quả
từ giả định giá cả linh động hoàn toàn, sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa phản ánh
sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng Khi lãi suất trong nước tăng lên một cách tươngđối so với lãi suất ở nước ngoài, đó là bởi vì đồng tiền trong nước được kỳ vọng mấtgiá do lạm phát và phần chiết khấu Cầu tiền của nội tệ giảm tương đối so với ngoại tệ,
là nguyên nhân chiết khấu ngay lập tức, tức là có một sự gia tăngtrong tỷ giá nếu đượcđịnh nghĩa tỷ giá là giá của đồng ngoại tệ theo nội tệ Vì vậy, ta kỳ vọng một mốitương quan dương giữa tỷ giá và chênh lệch lãi suất danh nghĩa
Thứ hai là mô hình “Sticky-price monetary” của Dornbusch-Frankel năm 1996, đượcgọi là học thuyết “Keynesian” vì học thuyết này giả định rằng giá cả là “cứng nhắc”, ítnhất là trong ngắn hạn Và do đó, một hệ quả từ giả định này là thay đổi trong lãi suấtdanh nghĩa phản ánh sự thay đổi sự thắt chặt chính sách tiền tệ Khi lãi suất trong nướctăng tương đối so với lãi suất của nước ngoài, đó là bởi vì có sự thắt chặt trong cungtiền trong nước so với cầu tiền nội tệ và nằm ngoài việc phản ánh sự sụt giảm trong giá
cả Một mức lãi suất cao hơn ở trong nước so với nước ngoài sẽ thu hút một dòng vốnvào, đó là nguyên nhân làm cho nội tệ tăng giá tương đối ngay lập tức Vì vậy, ta lại kỳvọng một mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ giá và chênh lệch lãi suất danh nghĩa
Cũng theo Marianne Baxter (1994), hai trường phái tư tưởng Frenkel-Bilson hay môhình “Flexible-price monetary” và Dornbusch-Frankel hay mô hình “sticky-pricemonetary” thống nhất với hai điểm quan trọng:
Trang 12, là giá trị danh nghĩa của lợi tức từ thời điểm t đến khi đáo hạn trên trái phiếu
k thời kỳ định danh bằng đồng tiền trong và ngoài nước
là logarit của tỷ giá hối đoái, được định nghĩa là số lượng ngoại tệ trên đơn vị nội
tệ, và
, − là kỳ vọng thay đổi của logarit của tỷ giá giữa thời kỳ t và t+k
Gỉa định nền tảng thứ hai của cả hai lý thuyết là ngang giá sức mua tồn tại (PPP) nếu giá cả là “Fully flexible” thì:
(2) ( + + + − ∗ )= + − ∗Nếu giá cả là không linh động hoàn toàn, theo lý thuyết của Dornbusch, có thể có sựlệch tạm thời trong PPP, nhưng mối liên hệ này vẫn được giả định là tồn tại trong dàihạn khi mà mức giá cả điều chỉnh hoàn toàn
Ta có Logarit của tỷ giá thực là: ≡ + − ∗
Ký hiệu q t là log của tỷ giá thực với giả định là giá cả là “fully flexible”; khi đó ta có:
qt+k = q t
Trang 13Các nghiên cứu trước đây được chia ra thành hai nhóm Nhóm thứ nhất là các nghiêncứu trước khi xét điểm gãy trong mối quan hệ của tỷ giá thực và chênh lệch lãi suấtthực Nhóm thứ hai là các nghiên cứu đã quan tâm tới vai trò của điểm gãy trong mốiquan hệ này Cụ thể, bài nghiên cứu xem xét nhóm một bao gồm các nghiên cứu củaMeese và Rogoff (1988), Campbell-Clarida (1987) và Hali J.Edison và B.DianmePauls (1993) Các bài nghiên cứu này áp dụng các phương pháp khác nhau cũng như
xử lý dữ liệu khác nhau để khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu khác nhằm
Trang 14tìm ra bằng chứng về một mối liên hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suấtthực cả dài hạn và ngắn hạn
Nhóm thứ hai bao gồm các nghiên cứu của Nghiên cứu của Edison và Melick (1999)
và Nghiên cứu của Joseph P Byrne và Jun Nagayasu (2010) Hai bài nghiên cứu nàycùng xem xét vai trò của điểm gãy cấu trúc trong việc khắc phục sai lệch trong kết quảhồi quy do các cú sốc từ điểm gãy cấu trúc tồn tại trong chuỗi dữ liệu gây ra Tuy nhiêncác bài nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp rất khác nhau Phần này sẽ phân tích
rõ hơn cách thức nghiên cứu của các tác giả và đưa ra phương pháp áp dụng trong bàinghiên cứu này
2.2.1 Các bài nghiên cứu trước điểm gãy cấu trúc:
Nghiên cứu của Campbell và Clarida (1987), đã kiểm tra mối liên hệ giữa tỷ giá thực
và lãi suất thực Các tác giả trả lời câu hỏi rằng bao nhiêu phần trong thay đổi của tỷgiá thực có thể được truyền tải qua chênh lệch lãi suất thực như dự báo của lý thuyết
“Sticky price” và bao nhiêu phần là do các chuyển đổi (shifts) của tỷ giá thực cân bằngdài hạn Trong bài nghiên cứu này, các tác giả đã thảo luận các phương pháp truyềnthống được thực hiện bởi Frankel (1985), Shafer và Loopesko (1983) và Sachs (1985)
để xác định biến động trong tỷ giá hối đoái cân bằng dài hạn Quan điểm truyền thốngcho rằng những kỳ vọng về lý thuyết về “Term-structure holds”, và phần bù rủi ro tiền
tệ giữa các quốc gia bằng không Những giả định này có nghĩa là sự khác biệt giữalogarit của tỷ giá thực và giá trị kỳ vọng dài hạn của nó là tỷ lệ với chênh lệch lãi suấtthực dài hạn dự báo Đây là một biến không quan sát được và phải được xây dựngbằng chênh lệch lãi suất danh nghĩa dài hạn và đại diện cho chênh lệch lạm phát thựcdài hạn kỳ vọng
Các tác giả đã phát triển một khuôn mẫu kinh tế học mà có thể được sử dụng để ướclượng tác động của chênh lệch lãi suất thực ngắn hạn dự báo và mức độ thay đổi của tỷ
Trang 15giá thực phản ánh những sự chuyển dịch (shift) trong tỷ giá thực cân bằng dài hạn kỳvọng Khuôn mẫu này cũng cung cấp một phương trình mối tương quan giữa nhữngbiến động trong lãi suất thực dự báo và tỷ giá thực dài hạn kỳ vọng và bao gồm cả phần
bù rủi ro biến đổi thời gian UIP được giả định là tồn tại hoàn toàn; hoặc nếu không,
“Phần bù rủi ro” được giả định là tỷ lệ thuận với chênh lệch lãi suất thực
Tác giả đã giả định chênh lệch lãi suất thực ngắn hạn dự báo là AR(1) Điều này chothấy rằng chênh lệch giữa logarit của tỷ giả giá thực hiện tại và giá trị dài hạn kỳ vọng
là tỷ lệ với chênh lệch lãi suất thực ngắn hạn dự báo Tác giả cũng giả định rằng tỷ giáthực dài hạn tuân theo một bước đi ngẫu nhiên
Với các giả định trên, các tác giả đã ước lượng một mô hình “State-space” bao gồmhai biến có thể quan sát được là logarit của tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực ngắnhạn dự báo Campbell và Clarida sử dụng kỹ thuật lọc của Kalman để tính toán môhình của họ dưới các giả định, cùng với các giả định thêm để xác định liên quan đếnquá trình ngẫu nhiên của các thành phần không quan sát được
Với phương pháp của mình, các tác giả đã cho thấy ba điểm nổi bật Đầu tiên, sự biếnđộng của những thay đổi trong tỷ giá thực cao gấp khoảng mười lần so với sự biếnđộng của chênh lệch lãi suất thực
Thứ hai, họ tìm thấy rằng hầu hết các thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực là do nhữngthay đổi trong thành phần xu hướng (tức là tỷ giá thực dài hạn)
Thứ ba, họ tìm thấy là rất ít thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực là do thay đổi trongchênh lệch lãi suất thực
Kế đến phải kể đến nghiên cứu của Meese và Rogoff (1988), các tác giả tập trung vàomối quan hệ dài hạn bằng kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết giữa hai biến tỷ giá hốiđoái thực và chênh lệch lãi suất thực Cụ thể, tác giả hồi quy sai phân bậc một củaLogarit tỷ giá thực với biến giả mùa vụ và chênh lệch lãi suất thực dài hạn thực tế (ex
Trang 16port), sử dụng dữ liệu theo tháng từ năm 1973 và một biến công cụ GMM.1 Họ cânnhắc hồi quy có và không có ; khi có ; được đại diện bởi cán cân thương mại tích lũy(Cumulated trade balances), theo gợi ý của Hooper và Morton (1982)
Những phát hiện chính của Meese và Rogoff là:
Giá trị ước lượng của (hệ số của biến chênh lệch lãi suất thực) là dương cho ba cặptiền tệ (dollar/mark, dollar/yen, và dollar/pound) Tuy nhiên, không có giá trị nào của làlớn hơn một với giá trị tuyệt đối như dự báo của lý thuyết Sai số chuẩn của các ướclượng là rất lớn, thực tế, những thử nghiệm truyền thống không thể bác bỏ trong nhiềutrường hợp giả thuyết rằng = 0 Cuối cùng, Meese và Rogoff kiểm định với các điểmgãy cấu trúc trong mối liên hệ tại thời điểm cuộc bầu cử Reagan (tháng11/1980) và bác
bỏ mạnh mẽ giả định H0: không có điểm gãy cấu trúc Các tác giả tiến hành kiểm địnhđồng liên kết của tỷ gía thực và chênh lệch lãi suất thực dài hạn Họ trình bày bằngchứng thống kê rằng chênh lệch lãi suất thực dài hạn là không dừng (nonstationary),điều này mở ra khả năng tồn tại mối liên hệ đồng liên kết với tỷ giá thực Tuy nhiên,không một bằng chứng nào được đưa ra để cho thấy tồn tại mối liên hệ này Các tácgiả đã không thể bác bỏ giả thuyết H0 rằng không có mối liên hệ đồng liên kết giữa cácbiến khi sử dụng phương trình đơn Engle-Granger kiểm tra hiện tượng đồng liên kết
Theo ghi nhận của Mishkin (1987), sự kết hợp các kết quả Meese-Rogoff và cácnghiên cứu của Campbell-Clarida, cần có sự cân nhắc về tính đầy đủ của các lý thuyết
“Stricky prices” trong việc giải thích một liên kết giữa tỷ giá hối đoái thực và chênhlệch lãi suất thực Trong thực tế, các tác giả này kết luận rằng không có liên hệ có ý
1 Meese và Rogoff lưu ý (1988, fn.4,trang 937) là đại diện lạm phát không phù hợp cho lãi suất dài hạn
mà họ sử dụng để xây dựng “ex post real rates” Tuy nhiên, họ cho rằng đây là kết quả tốt nhất cho lãi suất dài hạn.
Trang 17nghĩa thống kê giữa các biến này Tuy nhiên, một vài nguyên nhân được đưa ra là do
dữ liệu hoặc phương pháp của các tác giả có thể gây ra kết quả này
Tương tự như Meese và Rogoff, năm 1993, Edison và Pauls cũng thực hiện phươngpháp tương tự và cũng đưa ra kết quả tương tự Cụ thể, tác giả đã không thể đưa rađược bằng chứng mạnh nào về mối liên hệ thống kê giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãisuất thực, và cũng kiểm định và bác bỏ mối liên hệ đồng liên kết giữa các biến này.Các tác giả này cũng đi nghiên cứu câu hỏi có hay không một mối liên hệ mang tính hệthống và có được hỗ trợ bởi dữ liệu hay không
Nỗ lực của các tác giả để tìm mối quan hệ thực nghiệm trong điều kiện: thời kỳ đượclựa chọn để nghiên cứu, lựa chọn lãi suất, lựa chọn cách đo lường lạm phát kỳ vọng vàlựa chọn tỷ giá Tác giả cho rằng một vài sự khác biệt trong kết quả của các nghiên cứutrước đó có thể do việc lựa chọn dữ liệu gây ra
Tác giả đã sử dụng dữ liệu theo quý từ 1974 đến 1990 Tỷ giá là tỷ giá với tỷ trọngthương mại của đồng đô la Mỹ so với G-10 quốc gia khác, ngoài ra tác giả xem xét cáccặp tỷ giá Yên Nhật, Mark Đức, Bảng Anh and đô la Canada so với đô la Mỹ Lãi suấtdanh nghĩa là lãi suất đến khi đáo hạn của trái phiếu chính phủ của Mỹ và lãi suất danhnghĩa của 10 nước là từ các trái phiếu chính phủ dẫn đầu thị trường Chỉ số giá đượcđại diện bởi chỉ số CPI
Tác giả sử dụng ba cách đo lường lạm phát mục tiêu (i) Trung bình trượt hai phía 12quý (12-quarter centered moving average) của tỷ lệ lạm phát tính theo CPI, (ii) Thayđổi hằng quý và mỗi 4 quý của chỉ số CPI
Các tác giả tập trung vào mối quan hệ trong dài hạn giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãisuất thực Bắt đầu với kiểm tra thuộc tính chuỗi thời gian của dữ liệu, các tác giả sửdụng kiểm định nghiệm đơn vị trước khi kiểm định mối liên hệ đồng liên kết
Với mỗi chuỗi thời gian bất kỳ (xt),
Trang 18= 0 + 1 + 2 −1 +
Hai giả định được kiểm tra:
- Kiểm đinh 0 : 2 = 1, dựa trên thống kê t
- Kiểm đinh 0 : ( 0 , 1 , 2 ) = ( 0 , 0,1) dựa trên thống kê F.
Các thống kê này kiểm định có nghiệm đơn vị hay không và thành phần xu hướng làquan trọng hay không Tác giả sử dụng ba kiểm định thống kê: Standard Dickey-Fuller,Augment Dickey-Fuller và Phillips test
Kết quả cho thấy, với rất ít các trường hợp ngoại lệ, các tác giả tiến hành dưới giả địnhrằng các chuỗi thời gian của kiểm định đồng liên kết cơ bản là chuỗi dừng ở bậc một(I(1)), đây là điều kiện cần thiết cho những chuỗi thời gian này có đồng liên kết
Các tác giả tiến hành kiểm định đồng liên kết dựa trên kiểm định của Engle và Granger(1987) và Engle và Yoo (1987), tuy nhiên kết quả không hỗ trợ cho mối quan hệ giữa
tỷ giá thực và lãi suát thực Các tác giả kiểm tra khả năng này cho một số phương pháphồi quy đồng liên kết khác nhau cho các cặp tỷ giá song phương khác nhau và nhậnthấy rằng thống kê Dickey-Fuller thay đổi theo thời gian, nhưng kết luận rút ra từ sốliệu thống kê vẫn không thay đổi: các tác giả không thể bác bỏ giả thiết không đồngliên kết
Tóm lại, các bài kiểm tra tính đồng liên kết không tìm thấy bất kỳ bằng chứng thuyếtphục nào liên kết tỷ giá hối đoái thực và các thành tố của chênh lệch lãi suất thực Điềunày có thể là do thiếu sót của một yếu tố quan trọng hoặc, một lý giải khác là do cácphương pháp kiểm định của tác giả
2.2.2 Các nghiên cứu bao gồm điểm gãy cấu trúc
Trong nghiên cứu của mình, Edison và Melick (1999) đã áp dụng ba phương pháp tiếpcận khác nhau cho tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng của đồng Mark Đức, Yên Nhật, đô la
Trang 19Canada so với đồng đô la Mỹ và tỷ giá bình quân có trọng số của Mỹ với các quốc giatrong nhóm G-10 từ năm 1974 đến 1997.
Phương pháp thứ nhất vận dụng các mô hình trước đây của Meese và Rogoff (1988)với giả định biến tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng trong mô hình là một hằng số Phươngpháp thứ hai thể hiện biến tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng là một hàm số của một vài biếnkhác Cách làm này được đề xuất bởi Hooper và Morton (1982) khi hai ông sử dụngbiến tài khoản vãng lai tích lũy đưa thêm vào mô hình Phương pháp thứ ba xử lý biến
tỷ giá hối đoái thực kỳ vọng bằng cách sử dụng giá trị thực tế (ex-post) và dự báo sai
số Điểm đáng lưu ý trong bài nghiên cứu này đó là Edison và Melick đã đặt vấn đềliên quan đến khả năng xảy ra điểm gãy cấu trúc trong chuỗi dữ liệu lãi suất của Mỹtrong giai đoạn lãi suất có những biến động lớn từ quý 4/1979 đến quý 4/1982 và giảiquyết bằng cách sử dụng biến giả Các tác giả nghiên cứu các cặp tỷ giá Canada-đô la
Mỹ, Mark Đức-Đô la Mỹ và Yên Nhật- Đô la Mỹ và tỷ giá với tỷ trọng thương mạicủa Mỹ với G-10 các quốc gia khác Các tác giả này sử dụng lãi suất liên ba tháng liênngân hàng đối với lãi suất nước ngoài và lãi suất tín phiếu chính phủ ba tháng đối với
Mỹ Đối với lãi suất dài hạn, lãi suất danh nghĩa là lợi suất của trái phiếu chính phủmười năm đối với lãi suất nước ngoài và lợi suất trên trái phiếu kho bạc kỳ hạn cốđịnh mười năm của Mỹ Chỉ số CPI được dùng để tính toán tỷ giá thực và đo lườnglạm phát Thay đổi trong bốn quý trước được cùng để đo lường lãi suất thực ngắn hạntrong khi trung bình trượt trung tâm của 12 quý của tỷ lệ lạm phát được dùng để tínhtoán lãi suất thực dài hạn
Để kiểm định mối liên hệ đồng liên kết, tác giả sử dụng phương pháp của Johansen(1991) và thêm vào một biến giả để đại diện cho điểm gãy cấu trúc và giả định là hệ sốchặn được bao gồm trong vector đồng liên kết
Tuy nhiên, Lütkepohl (2004) cho rằng kết quả của Edison và Melick tìm được là khôngđáng tin cậy bởi kiểm định Johansen Trace test đòi hỏi phải điều chỉnh giá trị tới hạn
Trang 20khi xem xét đến sự hiện diện của điểm vỡ cấu trúc mặc dù với nhiều hướng tiếp cậnnhư trên, Edison và Melick đã tìm được một số bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa
tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực
Nghiên cứu của Joseph P Byrne và Jun Nagayasu (2010)đã tiến hành xem xét mốiquan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực của Mỹ và Anh trong khoảng thờigian từ năm 1973 đến 2005 Sử dụng mô hình lý thuyết của Meese và Rogoff (1988)làm nền tảng, Byrne và Nagayasu đặc biệt quan tâm xem xét đến vai trò của điểm gãycấu trúc trong qúa trình nghiên cứu về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suấtthực Dựa trên bài nghiên cứu của Perron (1989) về điểm gãy cấu trúc và tác động làmsai lệch các kiểm định, do đó hai học giả này nhấn mạnh vấn đề về sự xuất hiện củađiểm gãy cấu trúc có thể gây lệch lạc cho các kết qủa kinh tế lượng Để giải quyết vấn
đề này, Byrne và Nagayasu đã đề xuất sử dụng các kiểm định và phương pháp phântích của Saikkonen và Lutkepohl (2000, 2002)
Trong khoảng đầu năm 2000, Saikkonen và Lutkepohl có nhiều bài nghiên cứu vềphương pháp xử lý điểm gãy cấu trúc trong dữ liệu chuỗi thời gian khi thực hiện cáckiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết
Cụ thể hơn, hai tác giả đã thực hiện các kiểm định với một số kiểm định phổ biến nhưkiểm định nghiệm đơn vị ADF, kiểm định đồng liên kết Johansen…bên cạnh kiểm địnhS&L (2000,2002) Byrne và Nagayasu đưa ra nhận định rằng các kỹ thuật và kiểm địnhcủa Saikkonen và Lutkepohl mạnh và bền vững hơn khi có xem xét đến điểm gãy cấutrúc và cho ra kết quả khả quan hơn về mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và chênhlệch lãi suất thực so với các kiểm định cũ Nhìn chung, với kiểm định S&L, hai học giảnày đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệchlãi suất thực trong trường hợp của Mỹ và Anh từ năm 1973 đến 2005
Cụ thể là các tác giả sử dụng cách tiếp cận của Edison và Pauls (1993) với các chuỗi dữliệu theo thời gian của tỷ giá thực và lãi suất thực Sau khi dữ liệu được chứng minh
Trang 21là không dừng theo kiểm định ADF và S&L, hiện tượng đồng liên kết sẽ được kiểmtra bằng các kiểm định đồng liên kết của Johansen và S&L Nếu như giữa các biến tồntại ít nhất một vector đồng liên kết thì Mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) sẽđược sử dụng để ước lượng mối tương quan dài hạn này Điểm đáng chú ý là vai tròcủa điểm gãy cấu trúc đều được xét đến trong các bước kiểm định.
Joseph P Byrne và Jun Nagayasu đã thu được bằng chứng phù hợp và chắc chắn hơn
Cụ thể, trong số mười ba quốc gia được nghiên cứu, trong mối tương quan với Mỹ, cóđến mười một quốc gia cho thấy có bằng chứng khá chắc chắn về sự tồn tại của vectorđồng liên kết giữa tỷ giá thực và lãi suất thực
Tuy nhiên tầm quan trọng của điểm gãy cấu trúc là khác nhau giữa các quốc gia Mặc
dù chưa xét đến điểm gãy cấu trúc, có đến chín trong số mười một quốc gia nói trêncho thấy sự tồn tại của mối tương quan tỷ giá thực – lãi suất thực Chỉ có hai trườnghợp đặc biệt là Anh và Thụy Sỹ là các tác giả phải xét đến điểm gãy cấu trúc Như vậy
có thể thấy vai trò của điểm gãy cấu trúc là cá biệt với từng quốc gia cụ thể, chứ khôngphổ biến trên phạm vi rộng và có vẻ vai trò của các điểm gãy là chưa rõ ràng
Tóm lại, các bài nghiên cứu quan tâm đến điểm gãy cấu trúc khi xét mối liên hệ giữa tỷgiá hối đoái thực và lãi suất thực đã mở ra một hướng khắc phục các sai lệch trong kếtquả hồi quy do tồn tại các điểm gãy này trong chuỗi dữ liệu và đã cho thấy các kết quảthực nghiệm có ý nghĩa thống kê rõ ràng hơn về mối quan hệ đồng liên kết của tỷ giáhối đoái thực và lãi suất thực Bài nghiên cứu cũng đưa điểm gãy cấu trúc vào trongquá trong quá trình hồi quy để có được các bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho mốiquan hệ đồng liên kết của hai biến này trong khuôn khổ mẫu nghiên cứu gồm Việt Nam
và mười một nước với Mỹ Phần tiếp theo sẽ thể hiện mô hình lý thuyết được sử dụngtrong bài nghiên cứu này
2.2.3 Mô hình lý thuyết
Trang 22Để rút ra một phương trình cho mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực,theo Edison và Pauls (1993) Hai thành tố chính của mô hình này là UIP và điều kiệnngang giá Fisher Theo công thức tính tỷ giá hối đoái thực:
Trong đó s t là logarit tự nhiên (ln) của tỷ giá giao ngay danh nghĩa (số đơn vị nội tệ
trên một đơn vị ngoại tệ), p t và p t * tương ứng với logarit tự nhiên của chỉ số giá tiêudùng trong nước và nước ngoài UIP khẳng định rằng với thị trường vốn mở, nhữngthay đổi dự kiến trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa tương đương với sự khác biệt tronglãi suất danh nghĩa Khi các nhà đầu tư e ngại với rủi ro thì UIP có thể được mở rộngbao gồm phần bù rủi ro với công thức:
Trong đó i t và i t * là lãi suất danh nghĩa trong nước và nước ngoài, E t s t+1 là kỳ vọng tại
kỳ hiện hành của tỷ giá hối đoái cho kỳ tới, và u t là phần bù rủi ro tỷ giá Do đó thaythế bằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa kỳ vọng ta có
+1
Ngoài ra bài viết giả định thay đổi kỳ vọng của lạm phát như sau
E ∆ +1 = E +1 – p
Trang 23E t∆ +1
Hơn nữa, lãi suất thực dự kiến giai đoạn hiện tại bằng lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát
Một vấn đề trong phương trình (11) là giá trị kỳ vọng của tỷ giá thực không có sẵn cho
các nhà nghiên cứu Một vài biến đại diện đã được xem xét trước đây, ví dụ, Meese và
Rogoff (1988); Edison và Pauls (1993), Byrne và Nagayasu (2010) đề xuất sử dụng cán
cân tài khoản vãng lai tích lũy và một hằng số Trong bài nghiên cứu phương trình (11)
sử dụng trường hợp đơn giản khi tỷ giá thực kỳ vọng là một hằng số, ta có:
Phần bù rủi ro thay đổi theo thời gian, u t, là một thành phần không quan sát được trong
phương trình này và được giả định là dừng Phương trình (12) là cơ sở của phương pháp
ước lượng của bài nghiên cứu này Như trong nghiên cứu của Byrne và Nagayasu
Trang 24(2010), đề xuất quan trọng nhất là chênh lệch lãi suất thực có quan hệ ngược chiều với tỷ giá hối đoái thực của đồng nội tệ (nghĩa là, < 0 và *> 0)
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Kiểm tra thuộc tính của chuỗi dữ liệu
Tính dừng hay không dừng của một chuỗi dữ liệu theo thời gian có ý nghĩa quan trọngtrong nghiên cứu, đặc biệt là tính không dừng hàm ý một mối quan hệ trong dài hạncủa các chuỗi dữ liệu
Trong bài nghiên cứu, Kiểm định nghiệm đơn vị trong chuỗi thời gian là một trongnhững cách thức phổ biến nhằm kiểm tra tính dừng của dữ liệu Trong bài nghiên cứunày, kiểm định nghiệm đơn vị được tiến hành trên chuỗi dữliệu gốc và chuỗi sai phânbậc một của tỷ giá thực và lãi suất thực Kết quả kiểm định sẽ xác nhận bậc liên kết củadữliệu và cho ta biết được mỗi chuỗi dữliệu là dừng hay không dừng Cụ thể, nếu kếtquả cho thấy ở chuỗi dữ liệu gốc không có nghiệm đơn vị, đây là một chuỗi dừng và cóbậc liên kết bằng không (I(0)) Trường hợp khác, khi chuỗi dữ liệu gốc có nghiệm đơn
vị trong khi chuỗi sai phân bậc một của nó không có nghiệm đơn vị, ta có thể kết luậnđây là một chuỗi không dừng và có liên kết bậc một (chuỗi I(1)) Hai phương phápkiểm định nghiệm đơn vị khác nhau được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm: kiểmđịnh Dicky – Fuller mở rộng (ADF) (Dicky và Fuller 1979) và kiểm định nghiệm đơnvịSaikkonen và Lutkepohl (2002) (S&L)
3.1.1 Kiểm định Dicky – Fuller mở rộng (ADF)
Kiểm định ADF là một dạng mở rộng của kiểm định Dicky – Fuller trong đó xem xétthêm các biến trễ của sai phân chuỗi thời gian và thực hiện ước lượng phương trìnhsau:
Trang 25∆ = −1 + +
Phương trình trên có giả thiết 0: = 0, đồng nghĩa chuỗi thời gian là chuỗi không dừng hay có nghiệm đơn vị.
Độ trễ phù hợp nhất đối với kiểm định ADF sẽ được lựa chọn theo tiêu chuẩn thông tinAIC (Akaike Information Criterion) với độ trễ tối đa là 12 theo đề xuất của Lanne,Lutkepohl, Saikkonen (2002) và Byrne và Nagayasu (2010)
3.1.2 Kiểm định Saikkonen và Lutkepohl (2002) (S&L)
Có nhiều cuộc tranh luận trong các bài nghiên cứu gần đây liệu chuỗi thời gian kinh tế
vĩ mô có thể được mô hình hóa toàn diện bằng một tiến trình không dừng
“Nonstationary process” với một nghiệm đơn vị hay là với một ước lượng bởi một tiếntrình xu hướng ổn định “Trend statationary process” với biến động ổn định quanh một
xu hướng gãy “Break trend”
Vấn đề này quan trọng vì, trong trường hợp nghiệm đơn vị, các cú sốc ngẫu nhiên cótác động vĩnh viễn trong khi trong mô hình xu hướng ổn định chỉ có thay đổi tronghàm xu hướng mới có tác động vĩnh viễn khi mà các cú sốc ngẫu nhiên chỉ là thay đổitạm thời Thông thường các kiểm định được thực hiện để chọn giữa một tiến trìnhnghiệm đơn vị hay một xu hướng ổn định
Tầm quan trọng của vấn đề cho việc đánh giá tác động của các hành vi kinh tế dẫn tớimột số lượng đáng kể các bài nghiên cứu cân nhắc kiểm định nghiệm đơn vị với sựhiện diện của những điểm gãy trong cấu trúc
Trong “Testing for a unit root in a time series with a level shift at unknown time”,
Saikkonen và Lutkepohl, 2002 đã mở rộng hai giả định thay thế liên quan đến ngàyđiểm gãy
Trang 26Một phần của bài nghiên cứu điểm gãy được giả định là biết trước từ các nghiên cứu,
đó là, điểm gãy được giả định do một vài cú sốc ngoại sinh xảy ra vào ngày đã biết Ví
dụ của các mục này được giả định trong nghiên cứu của Perron (1989, 1990),Saikkonen và Lutkepohl (1999) (thường được gọi là SL) và Lutkepohl, Muller &Saikkonen (được gọi là LMS)
Một mục khác của bài nghiên cứu giả định rằng ngày điểm gãy là chưa biết qua việckhảo sát hay điều tra và điểm gãy này có thể là một sự kiện bất kỳ từ mô hình hóa nộisinh Trong bài nghiên cứu, thời gian điểm gãy có thể được đề cập như một tham số Ví
dụ, Evan (1989), Christiano (1992), Perron & Vogelsang (1992), Zivot&Andrews(1992), Banerjee, Lumsdaine&Stock (1992) cũng như Leybourne, Newbold&Vougas(1998) cân nhắc “shifts” ở một ngày chưa biết trước
SL là mô hình thay thế tổng quát cho DGP của một chuỗi thời gian với một nghiệmđơn vị và một điểm thay đổi cấu trúc Một kiểm tra bằng SL có dạng:
(1)Trong đó: , 1 à 1 là những tham số chưa biết và ( )
là một hàm dịch chuyển (shift function) của là các thành phần xác định khác của chuỗidữliệu phụ thuộc vào tham số và điểm gãy được ký hiệu là , mà một sự “dịch chuyển”xảy ra chỉ trong hoặc trước thời kỳ Số lượng đại diện cho một sai số ngẫu nhiênkhông quan sát được giả định có một hàm tự hồi quy AR với độ trễ p
Trong đó:= 1 − − ⋯ −
= 1, Tức là chuỗi có nghiệm đơn vị.
Phương trình của sai phân bậc một là:
∆ =∆ ′
+
Trang 27Các tác giả đưa ra ba định nghĩa cho ( ):
- Trường hợp một: thời điểm xảy ra điểm vỡ cấu trúc ( ) được định nghĩa như là một biến giả dịch chuyển ( ) và do đó hàm này sẽ có dạng như sau:
- Trường hợp 2: hàm chuyển đổi dựa trên cơ sở hàm phân phối mũ mà cho phépmột chuyển đổi phi tuyến dần tới một mức mới bắt đầu ở thời gian ,
2 ( ) =
Với hàm 2 ( ) thì cả à đều là những tham số
- Trường hợp 3: Hàm chuyển đổi có thể được coi như một hàm áp dụng “lag operator” cho một biến giả dịch chuyến 1 = ,
Trang 28Trong bài nghiên cứu này, chúng ta cũng sẽ sử dụng định nghĩa đơn giản 1 để xem xétvai trò của điểm gãy trong kiểm định nghiệm đơn vị theo đề xuất của Byrne vàNagayasu (2010).Saikkonen and L¨utkepohl (2002) đề xuất kiểm định nghiệm đơn vịcho mô hình SL theo trình tự: ước lượng các thành phần xác định trong phương trìnhbằng phương pháp GLS; loại bỏ các thành phần này ra khỏi chuỗi dữ liệu gốc; sau đókiểm định ADF sẽ được thực hiện trên dữ liệu sau khi đã điều chỉnh bao gồm các phần
để điều chỉnh các sai số ước tính trong tham số của thành phần xác định
Nếu các điểm gãy là chưa biết, Lanne, Lutkepohl và Saikkonen (2001) gợi ý chọn mộtlượng lớn hợp lý độ trễ của AR trong bước đầu và sau đó chọn ra “Break date” tốithiểu hóa hàm mục tiêu Khi đã chọn được điểm gãy, thì độ trễ tối ưu của kiểm địnhđược lựa chon theo tiêu chuẩn AIC như gợi ý của (Akaike Information Criterion).Quytrình kiểm định nghiệm đơn vị trong trường hợp có một điểm gãy như sau:
Đầu tiên, xem xét mô hình (1) và mô hình hồi quy phụ (auxiliary regression model)
Ngày điểm gãy (shift date) được ước lượng bằng nhiều cách khác nhau Một cách để
chọn “shift date” là dựa vào kiểm tra trực quan đồ thị của chuỗi dữ liệu này Trong
Trang 29trường hợp đó, kể các kiến thức về thể chế cũng được sử dụng Một cách khác là coi τ như một “regular nuisance parameter” và tối thiểu hóa hàm mục tiêu Q Tτ
Một cách khác để ước tính “shift date” được cân nhắc bởi Banerjee và cộng sự (1992), Zivot & Andrews (1992) và Perron&Vogelsang (1992) Các tác giả này đề xuất chọn ước lượng của (shift date) τ tại điểm dẫn tới các giá trị nhỏ nhất của T1 (the least favourable result for the unit root null hypothesis is obtainted).
Theo giả định của các tác giả, ước lượng của τ phải được xác định trước khi tiến hànhtiến hành kiểm định Tối thiểu hóa giá trị t-statistic để chọn ra τ được tiến hành ở bướcđầu và sau đó, kiểm định được thực hiện sử dụng giá trị đã ước tính của τ (τ )
Trong bài viết của Byrne và Nagayasu (2010), quy ước về độ trễ của chuỗi thời gianđược lựa chọn theo tiêu chuẩn thông tin AIC với độ trễ tối đa là 12
Bài nghiên cứu sẽ xác định ngày điểm gãy theo tiêu chí tương ứng với giá trị nhỏ nhất của T 1 và lựa chọn độ trễ theo quy tắc của Byrne và Nagayasu (2010).
3.2 Kiểm định mối quan hệ dài hạn
Sau khi kiểm định nghiệm đơn vị và xác định được tính dừng hay không dừng củachuỗi dữ liệu Chúng ta tiến hành kiểm định đồng liên kết giữa các chuỗi dữ liệu.Trong bài nghiên cứu, chúng ta sử dụng hai kiểm định là kiểm đinh Johansen trace test
và Saikkonen và Lutkepohl (2000)
3.2.1 Kiểm định đồng liên kết Johansen (Johansen trace test)
Phát hiện nhiều chuỗi thời gian vĩ mô có thể chứa một nghiệm đơn vị đã thúc đẩy sựphát triển của lý thuyết phân tích chuỗi thời gian không dừng Điển hình như Engle vàGranger (1987) chỉ ra rằng một sự kết hợp tuyến tính của hai hay nhiều chuỗi khôngdừng có thể dừng Nếu một sự kết hợp tuyến tính ổn định như vậy tồn tại, chuỗi thời
Trang 30gian không dừng được cho được cùng hội nhập Sự kết hợp tuyến tính cố định đượcgọi là phương trình đồng liên kết và có thể được hiểu như là một mối quan hệ cânbằng dài hạn giữa các biến Granger (1974) cho rằng giữa hai hay nhiều chuỗi thời giankhông dừng có thể có một sự đồng bộ nào đó trong dài hạn mà ông gọi là đồng liên kết.Phương pháp của Johansen dựa trên nền tảng là vector tự hồi quy với độ trễ p như sau:
: = 0, tồn tại 0vector đồng liên kết giữa k biến
: > 0, tồn tại tối đa 0 vector đồng liên kết giữa k biến.
Trang 31Để xác định số lượng quan hệ đồng liên kết r, chúng ta có thể tiến hành cho tới khi cóthể chấp nhận H0.
Độ trễ tối ưu được xác định dựa trên tiêu chuẩn AIC với độ trễ tối đa là 12
3.2.2 Kiểm định đồng liên kết theo Saikkonen và Lutkepohl (2000)
Saikkonen và Lutkepohl trong nghiên cứu của mình vào năm 2002 đã xây dựngphương pháp kiểm định đồng liên kết khi có xét đến điểm gãy cấu trúc Phương phápcủa hai ông bắt đầu với công đoạn ước lượng các thành phần xác định trong mô hình( ) bằng phương pháp GLS, sau đó loại trừ thành phần này ra khỏi các quan sát và ápdụng kiểm định của Johansen đối với các chuỗi sau khi đã điều chỉnh Ngoài ra, tương
tự với kiểm định nghiệm đơn vị mà hai ông đã xây dựng, yếu tố điểm vỡ cấu trúc đượcđưa vào xem xét như một biến giả dịch chuyển (shift dummy) trong mô hình
Ý tưởng của bài nghiên cứu này là xác định các thành phần xác định và loại bỏ ra khỏi
dữ liệu là bước đầu tiên Khi đó, việc xác định đồng liên kết không phụ thuộc
điểm gãy xảy ra vào thời điểm nào Sau đó, kiểm định đồng liên kết với chuỗi đã điềuchỉnh
được thêm vào ( ) có thể được biểu diễn dưới dạng vector tự hồi quy với độ trễ p như sau:
Trang 33Tác giả sử dụng phương trình này trong bước
à , , Γ à Ω là
Cụ thể, ước lượng các hệ số của thành phần xác định trong mô hình là 0 , bằng cách sử dụng GLS (generalized least squares) mở rộng.
Nếu gọi các hệ số ước lượng của 0 , à 0 à :
ó: = − 0 −
Sử dụng phương trình này để dùng kiểm định kiểm định tỷsố khả năng LR
(likelihood rate test) cho kiểm định giả thuyết:
Ước lượng các hệ số , , Γ à Ω bằng mô hình hồi quy giảm hạng.
Thống kê LR dựa trên
Thống kê LR dựa trên ∆ = Π −1 +
Với ký hiệu các kết quả trị riêng là 1 ≥ ⋯ ≥ , LR có dạng:
So sánh
3.3 Phương trình đồng liên kết
Theo Byrne và Nagayasu (2010), sau khi đã xác nhận được sự tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa tỷ giá thực và lãi suất thực, phương trình dài hạn biểu diễn cho mối
Trang 34quan hệ này sẽ được ước lượng nhằm hiểu rõ sự tác động của các biến với nhau, cụthể đó là sự thay đổi trong lãi suất thực của hai nước có thể giải thích như thế nào chonhững thay đổi trong tỷ gía thực Để thực hiện giai đoạn này, mô hình VECM được lựachọn Theo đó, VECM có dạng tổng quát:
∆ = ′:
Γj là vector hệ số của các biến trong ngắn hạn, −1 và − lần lượt là các thành phần xácđịnh trong mô hình VECM và trong vector đồng liên kết (trong nghiên cứu này, hệ số chặnđược thêm vào vector đồng liên kết) Mô hình tổng quát VECM có thể ước lượng bằngnhiều cách thức khác nhau, đơn cử như cách thức ước lượng của Johansen (1995),phương pháp S2S của Ahn và Reinsel (1990) và phương pháp hai giai đoạn của Lutkepohl
và Kratzig (2004)…
Dựa trên phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu của Byrne và Nagayasu (2010),bài nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp ước lượng hai giai đoạn (two-stagemethod) được xây dựng bởi Lutkepohl (2002) Theo đó, mô hình VECM sẽ được ướclượng qua hai giai đoạn:
- Thứ nhất, vector đồng liên kết giữa các biến sẽ được xác định và ước lượng với nhiều phương pháp khác nhau (OLS, Johansen,…);
- Thứ hai, toàn bộ mô hình VECM gồm các biến nội sinh, vector đồng liên kết đã
xác định ở bước một và các thành phần xác định được hồi quy bằng một trong
ba phương pháp (OLS, GLS, 3SLS)
Trong bài nghiên cứu, bước một sử dụng Johansen mở rộng và bước hai sử dụng hồi quy OLS
Trang 353.4 Dữ liệu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo tháng ở mười ba quốc gia bao gồm: Việt Nam,Thái Lan, Singapore, Hàn Quốc, Malaisia và Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý, Bỉ, Thụy
Sỹ và Mỹ
Nguyên nhân cho việc lựa chọn các quốc gia này là đây là nhóm các nước có tỷ trọngthương mại với Việt Nam cao, và có các số liệu đủ cho khoảng thời gian trong nghiêncứu là từ 4/2002 đến 4/2014 Bài viết này sử dụng đồng tiền yết giá là đô la Mỹ Trongbài nghiên cứu, Mỹ là quốc gia trên phương diện nước ngoài, các quốc gia còn lại lànước chủ nhà Chuỗi dữ liệu được thu thập là chuỗi theo tháng, từ tháng 4/2002 đếntháng 4/2014 Việc lựa chọn này để thống nhất với chuỗi thời gian ở Việt Nam do mặthạn chế về số liệu ở biến chính lãi suất dài hạn danh nghĩa Thông tin chi tiết về nguồnthu thập, đặc tính chuỗi dữ liệu như sau:
Bảng 3.1 Dạng và nguồn dữ liệu
Quốc Gia
BỉPhápĐứcÝNhậtThụy SỹAnhMỹ