1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ngân hàng thương mại cổ phần việt nam thương tín

82 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 230,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNGTHANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Một ngân hàng thương mại có khả nă

Trang 1

NGUYỄN THỊ BẢO NGÂN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

NGUYỄN THỊ BẢO NGÂN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM THƯƠNG TÍN

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS BÙI KIM YẾN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương tín”, tôi đã tự mình nghiên cứu,tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng dẫn,đồng nghiệp, bạn bè Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn từ cáctài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website.

TP HCM, ngày 04 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Bảo Ngân

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình vẽ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Kết cấu của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Vai trò của thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và nền kinh tế 4

1.1.3 Biểu hiện của mất khả năng thanh khoản 5

1.2 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN MẤT KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 6 1.2.1 Nguyên nhân khách quan 6

1.2.2 Nguyên nhân chủ quan 7

1.3 ĐO LƯỜNG KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 9

1.3.1 Đo lường khả năng thanh khoản thông qua cung thanh khoản và cầu thanh khoản 9

1.3.2 Đo lường khả năng thanh khoản thong qua các chỉ số thanh khoản 10

Trang 5

1.4.2 Các nhân tố vi mô 13

1.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 19

2.1 TÌNH HÌNH THANH KHOẢN CHUNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 19

2.2 TÌNH HÌNH THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN HIỆN NAY 22

2.2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín 22

2.2.2 Tình hình thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín 26 2.2.3 Đánh giá khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín trong những năm vừa qua 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34

Chương 3: MÔ HÌNH ĐỊNH LƯỢNG NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 35

3.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 35

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 35

3.2.1 Các phương pháp nghiên cứu 35

3.2.2 Biến nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 36

3.2.3 Mô hình nghiên cứu 40

3.2.4 Các phương pháp kiểm định mô hình 42

Trang 6

3.3.2 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 453.3.3 Kết quả hồi quy 47KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 51

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 524.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆTNAM THƯƠNG TÍN ĐẾN NĂM 2020 524.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH KHOẢNCỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN 524.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị thanh khoản trong toàn

hệ thống 524.2.2 Xây dựng và hoàn thiện quy trình quản trị thanh khoản trong toàn

hệ thống 534.2.3 Xác định mục tiêu, chiến lược quản trị thanh khoản và chiến lược kinhdoanh cụ thể, hòa hợp 544.2.4 Thực hiện cơ cấu lại Tài sản Nợ và Tài sản Có phù hợp 544.2.5 Thành lập Trung tâm cảnh báo và xử lý nợ xấu 554.2.6 Tích cực tham gia hoạt động và ứng dụng các công cụ tài chính mộtcách linh hoạt và có hiệu quả trên thị trường 564.2.7 Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực và đạo đức nghềnghiệp 564.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HỮU QUAN 574.3.1 Ổn định kinh tế vĩ mô 574.3.2 Phối hợp hài hòa, chặt chẽ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa 574.3.3 Củng cố và phát triển thị trường liên ngân hàng 58

Trang 7

KẾT LUẬN 61Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

Ngân hàng Nhà nước

Tổ chứ tín dụngThương mại cổ phầnNgân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt NamNgân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín

Trang 9

Bảng 2.1: Số liệu về các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản của các ngân

hàng 19

Bảng 2.2: Tình hình hoạt động chung của VIETBANK từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014 24

Bảng 2.3: Số liệu về các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản của VIETBANK 27 Bảng 3.1: Chi tiết các biến giải thích 41

Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 44

Bảng 3.3: Hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 46

Bảng 3.4: Kết quả hồi quy 48

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín 17

Hình 2.1: Tình hình hoạt động chung của VIETBANK qua các năm từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014 24

Hình 2.2: So sánh chỉ số thanh khoản của các ngân hàng tại thời điểm 31/12/2013 28

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong vòng hơn mười năm trở lại đây, thị trường tài chính ở Việt Nam phát triểnmạnh mẽ nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro trong nó Nói riêng trong ngành ngânhàng, các rủi ro về thanh khoản, tín dụng, nghiệp vụ ngày càng gia tăng với xuhướng phức tạp và nguy hiểm Đặc biệt, rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngânhàng ở Việt Nam tuy chưa bộc lộ rõ nhưng đã ít nhiều gây khó khăn trong hoạtđộng của các ngân hàng Không nằm ngoài xu hướng đó, Ngân hàng TMCP ViệtNam Thương Tín trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014 cũng đã trảiqua không ít lần có vấn đề về thanh khoản, đặc biệt là vào các tháng cuối nhữngnăm 2010, 2011, 2012 Điều này xuất phát từ việc các ngân hàng chưa có cơ chếquản lý khả năng thanh khoản cụ thể, rõ ràng và hiệu quả, dẫn đến việc gia tăng nợxấu, mất uy tín trong kinh doanh và lâm vào tình trạng khả năng thanh khoản mất

ổn định

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnhhưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng được thực hiện ở nhiều quốc gia vàvùng lãnh thổ khác nhau như nghiên cứu của Fadare (2011) ở Nigeria, nghiên cứucủa Vodova (2011) ở Cộng hòa Cezh, nghiên cứu của Moore (2010) ở Mỹ La tinh

và các nước vùng biển Caribbean… Ngoài ra, các chính sách, quy chuẩn mới cũngđược ban hành nhằm đổi mới và tăng cường đảm bảo an toàn trong việc quản trị khảnăng thanh khoản của ngân hàng

Do đó, tìm hiểu về khả năng thanh khoản là một việc vô cùng cần thiết để đảmbảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng nói chung và cho mỗi ngân hàng nóiriêng Thông qua quá trình tìm hiểu, ta có thể nhận biết được các nhân tố nào tácđộng đến thanh khoản và mức độ cũng như xu hướng tác động ra sao Qua đó, cácngân hàng có thể lựa chọn cho mình chiến lược quản trị khả năng thanh khoản mộtcách phù hợp để đảm bảo an toàn thanh khoản cho chính ngân hàng cũng như củng

cố được cho cả hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trang 11

Vì lý do nêu trên, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đếnkhả năng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín: cho luận văncủa mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận liên quan đến khả năng thanh khoảncủa ngân hàng và các nhân tố tác động đến khả năng thanh khoản Trên cơ sở đó,xem xét và kiểm định tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanhkhoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín nhằm tìm ra giải pháp nâng caokhả năng thanh khoản của VIETBANK

Để giải quyết được mục tiêu nêu trên, câu hỏi nghiên cứu được đưa ra là:

- Khả năng thanh khoản của VIETBANK chịu ảnh hưởng từ các nhân tố nào trong giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014 và

- Mức độ ảnh hưởng cũng như xu hướng ảnh hưởng của những nhân tố đó lên khả năng thanh khoản của VIETBANK ra sao và

- Giải pháp để nâng cao khả năng thanh khoản của VIETBANK

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là khả năng thanh khoản và các nhân tố tác động đến khảnăng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín, bao gồm các nhân

tố vi mô và các nhân tố vĩ mô

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của bài luận văn là khả năng thanh khoản của VIETBANK trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 9 năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Nguyên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để giải quyết được mục tiêu đã đưa ra, cụ thể như sau:

- Sử dụng phương pháp định tính: dùng các số liệu thứ cấp để đánh giá khả năng thanh khoản của VIETBANK trong giai đoạn xem xét

Trang 12

- Sử dụng phương pháp định lượng: dùng mô hình hồi quy các biến phụ thuộc

để pháp hiện ra sự ảnh hưởng của các biến phụ thuộc lên khả năng thanh khoản củaVIETBANK

6 Kết cấu của đề tài

Đề tài được chia làm 4 chương với nội dung cụ thể như sau:

- Chương 1: Tổng quan về khả năng thanh khoản và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại

- Chương 2: Thực trạng về khả năng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

- Chương 3: Mô hình định lượng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

- Chương 4: Các giải pháp nâng cao khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG

THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Một ngân hàng thương mại có khả năng thanh khoản tốt là khi ngân hàng sẳn cónguồn vốn khả dụng, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn bênngoài với chi phí hợp lý và đúng lúc cần đến, hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một

số tài sản ở mức giá thỏa đáng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinhdoanh như: thanh toán, chi trả, rút tiền và xin vay mới của khách hàng

Do đó, khi xét đến khả năng thanh khoản của một ngân hàng thương mại, người

ta luôn phải đặt nó trong một trang thái động ở một giai đoạn nhất định

1.1.2 Vai trò của khả năng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và nền

kinh tế

Khả năng thanh khoản đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống ngân hàngthương mại và nền kinh tế quốc gia Đầu tiên, đối với một ngân hàng riêng lẻ, thanhkhoản tốt đảm bảo cho ngân hàng có thể chuyển hóa các tài sản thành tiền với chiphí thấp, tiếp cận thị trường tiền tệ một cách dễ dàng, hoạt động thương mại thuậnlợi dẫn đến nâng cao lợi nhuận cũng như uy tín trên thị trường, ngày càng thu hútđược nhiều khách hàng và tạo được lòng tin ở dân chúng cũng như những cơ quanquản lý Nhà nước, và đặc biệt là tránh được nguy cơ phá sản

Trang 14

Ngoài ra, đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng, khi khả năng thanh khoản đượcduy trì ổn định ở tất cả các ngân hàng, niềm tin của người dân vào hệ thống ngânhàng ngày càng phát triển, do đó thu hút được nhiều nguồn tiền gửi cũng như chovay được nhiều hơn, khối lượng thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng cao Điềunày giúp hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển hơn, hoàn thiện hơn để đáp ứngnhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan Nhà nước

về việc quản lý dòng tiền thanh toán trong hoạt động kinh doanh mua bán hàngngày của các doanh nghiệp, cá nhân, hộ kinh doanh cá thể…

Bên cạnh đó, một khi hoạt động ngân hàng phát triển mạnh mẽ, tình hình sảnxuất kinh doanh của những doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong các ngành nghềkhác cũng phát triển hơn nhờ có sự hỗ trợ tích cực về vốn cũng như công cụ thanhtoán ngân hàng Nền kinh tế của quốc gia cũng từ đó mà phát triển vững mạnh hơn,môi trường kinh tế – xã hội ổn định tạo điều kiện cho tất cả mọi ngành nghề pháttriển

1.1.3 Biểu hiện của mất khả năng thanh khoản

Một số dấu hiệu cho thấy ngân hàng bị mất khả năng thanh khoản:

- Lãi suất huy động vốn của ngân hàng diễn biến bất thường: lãi suất huy độngkỳ hạn ngắn tăng cao và cao hơn lãi suất huy động các kỳ hạn dài; ngân hàng tập trunghuy động vốn ngắn hạn Điều này phản ánh ngân hàng đang thiếu thanh khoản, mục đíchhuy động vốn của ngân hàng lúc này là đảm bảo khả năng thanh khoản chứ không phảisinh lợi

- Lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng tăng nhanh: nguyên nhân chính là

do ngân hàng đang có vấn đề về thanh khoản, huy động từ dân cư không thuận lợi nênngân hàng vay liên ngân hàng để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu thanh toán

- Thiếu khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Khi ngân hàngkhông đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nhu cầu vay mới hoặc giải ngân các hợp đồng tíndụng đã ký chứng tỏ ngân hàng đang thiếu tiền hay nói cách khác là thiếu cung thanhkhoản

Trang 15

- Giá cổ phiếu của ngân hàng sụt giảm: Khi giá cổ phiếu của ngân hàng giảm,cho thấy rằng cổ phiếu của ngân hàng không hấp dẫn được nhà đầu tư, điều này cũng ảnhhưởng đến tâm lý của người gửi tiền Lúc này, người dân có xu hướng rút tiền tiết kiệm

ra để gửi vào ngân hàng khác hoặc đầu tư vào kênh khác có lợi nhuận cao hơn, uy tín củangân hàng giảm sút tiếp tục có thể làm giảm giá cổ phiếu của ngân hàng nếu không cóhành động cụ thể nào để khắc phục tình hình này

- Tình trạng khách hàng rút tiền ồ ạt vì một số nguyên nhân nào đó cũng là biểu hiện của việc có nguy cơ mất khả năng thanh khoản của ngân hàng

- Bán lỗ tài sản: Khi ngân hàng gấp rút bán tài sản và sẵn sàng chịu lỗ chứng tỏngân hàng đang gặp phải vấn đề trong thanh khoản

1.2.1 Nguyên nhân khách quan

1.2.1.1 Chính sách điều tiết vĩ mô của Chính phủ

Việc thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô một cách đột ngột của Chính phủ sẽdẫn đến nguy cơ của một khủng hoảng thanh khoản lớn trong hệ thống tài chínhngân hàng Thông qua các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suấttái cấp vốn, lãi suất thị trường mở… chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa khôngđược phối hợp chặt chẽ sẽ làm giảm hiệu quả điều hành chính sách, đồng thời gây raáp lực về thanh khoản cho hệ thống ngân hàng thương mại Ví dụ, khi Chính phủchuyển từ chính sách tiền tệ nới lỏng sang chính sách tiền tệ thắt chặt một cáchnhanh chóng bằng cách bắt buộc ngân hàng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc mua tráiphiếu kho bạc nhằm làm giảm lạm phát, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơthiếu tiền để đáp ứng tất cả các yêu cầu của Chính phủ cũng như đáp ứng nhu cầuthanh toán của khách hàng Nhu cầu vay mượn của ngân hàng từ đó tăng cao, dẫnđến lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng cũng tăng lên Điều này cũng sẽ gâykhó khăn cho ngân hàng trong việc tiếp cận vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Trang 16

1.2.1.2 Phản ứng của khách hàng

Đối với nguyên nhân gây mất khả năng thanh khoản từ phản ứng của khách hàng, có hai trường hợp có khả năng xảy ra:

- Một, khách hàng gửi tiết kiệm rút tiền ồ ạt vì một số lý do như tin đồn ngânhàng phá sản hoặc tình hình kinh tế – chính trị – xã hội của quốc gia bất ổn định… lúcnày ngân hàng không kịp đáp ứng nguồn vốn để chi trả cho nhu cầu rút tiền/rút trước hạncủa khách hàng, dẫn đến mất khả năng thanh khoản

- Hai, khách hàng có nhu cầu vay mượn tăng cao đột xuất, đặc biệt là vào cácchu kỳ kinh doanh như vào mùa vụ thu mua lương thực, thực phẩm; hoặc vào các thángcuối năm nhu cầu kinh doanh, mua sắm, chi trả của người dân và doanh nghiệp tăngcao… điều này tạo nên một sự căng thẳng về nguồn vốn giữa ngân hàng và khách hàng,ngân hàng có thể phải tăng lãi suất huy động để đáp ứng nguồn vốn cho vay hoặc chấpnhận vay với lãi suất cao ở thị trường liên ngân hàng

1.2.2 Nguyên nhân chủ quan

1.2.2.1 Thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu chi trả

Việc thiếu ngân quỹ của ngân hàng xuất phát từ cả phía tài sản và nguồn vốn:

- Đầu tiên, thiếu ngân quỹ đến từ phía tài sản của ngân hàng là khi khách hàng

có nhu cầu giải ngân cho các hợp đồng tín dụng đã được ký kết Khi đó, nhu cầu thanhkhoản của ngân hàng phát sinh, ngân hàng phải sử dụng tiền mặt dự trữ, hoặc huy độngvốn, hoặc vay mượn, hoặc bán tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản

- Tiếp theo, thiếu ngân quỹ đến từ phía nguồn vốn của ngân hàng là khi kháchhàng có nhu cầu rút tiền gửi ngay lập tức với số lượng lớn, hoặc khi đến hạn thanh toáncho các khoản vay nợ mà ngân hàng đã đi vay trước đây Lúc này, cũng như khi cần tiền

để đáp ứng nhu cầu của khách hàng vay, ngân hàng

Trang 17

phải huy động các nguồn vốn bổ sung hoặc tình cách bán hoặc chuyển các tài sản đang nắm giữ thành tiền mặt.

1.2.2.2 Sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn

Một khi ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ ngườidân và định chế tài chính khác, sau đó, chuyển hóa thành những tài sản đầu tư dàihạn sẽ làm nảy sinh ra tình trạng mất cân xứng ngày đáo hạn của các khoản sử dụngvốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà phổ biến nhất là tình trạngdòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi trả cho các khoảntiền gửi đến hạn

1.2.2.3 Sự thay đổi lãi suất của các kênh đầu tư khác

Tiền gửi ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất đầu tư Khi lãi suất củakênh đầu tư nào đó tăng cao, một số người gửi tiền rút vốn ra khỏi ngân hàng để đầu

tư vào lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi cao hơn Bên cạnh đó, các khách hàng vay lạithích tiếp cận với các nguồn tín dụng có lãi suất thấp hơn Do đó, sự thay đổi lãisuất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay tiền, qua đó tác độnglên cả trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, xu hướng thay đổi lãi suấtcũng ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng nắm giữ, do đó,ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ của ngân hàng

1.2.2.4 Cơ cấu khách hàng chưa phù hợp và chất lượng tín dụng kém

Khi ngân hàng tập trung vào một số khách hàng lớn, hoặc một số ngành chủ lực,hoặc một số khu vực trọng điểm trong việc cho vay hay huy động, ngân hàng sẽ đốimặt với nguy cơ mất khả năng thanh khoản do khách hàng hoặc ngành hoặc khuvực được tập trung đó có biến động tiêu cực nghiêm trọng Cụ thể, khi khách hànggặp khó khăn trong việc kinh doanh sẽ rút tiền ngay lập tức để đảm bảo công việckinh doanh, dẫn đến ngân hàng có nguy cơ thiếu hụt thanh khoản; hoặc khách hànggặp khó khăn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, khi đó ngân hàng phải thuxếp nguồn vốn đề thanh toán lại những nguồn khách hàng đã huy động để cho vayhoặc đã vay mượn để cho vay lại

Trang 18

1.2.2.5 Chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp

Ngân hàng có chiến lược quản trị thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quảnhư các chứng khoán ngân hàng đang sở hữu có tình thanh khoản thấp, dự trữ ngânhàng không đủ cho nhu cầu chi trả… cũng có thể đưa ngân hàng vào tình huống khókhăn trong thanh khoản Trong thực tế, các ngân hàng nhỏ thường lựa chọn nhữngdanh mục trái phiếu, chứng khoán có tỷ suất sinh lợi cao để đầu tư, tuy nhiên,những trái phiếu, chứng khoán này khó bán, một khi rủi ro xảy ra, ngân hàng khôngthể thu hồi các khoản nợ trong ngắn hạn cũng như không thể bán tài sản ngay lậptức, dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh khoản

1.3.1 Đo lường khả năng thanh khoản thông qua cung thanh khoản và cầu

o Chứng khoán chính phủ và các chứng khoán có tính lỏng cao;

o Các khoản thu hồi tín dụng đã cấp;

o Doanh thu từ việc bán các sản phẩm dịch vụ;

o Vay mượn trên thị trường tiền tệ (ngân hàng nhà nước và thị trường liên ngân hàng)

Trang 19

- Cầu thanh khoản là các nhu cầu thanh toán cho các nghĩa vụ tài chính đã camkết hoặc phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng, gồm:

o Đảm bảo dự trữ bắt buộc;

o Khách hàng rút tiền gửi;

o Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao;

o Thanh toán các giấy tờ có giá và hoàn trả nợ vay khi đến hạn;

o Thanh toán các chi phí hoạt động kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, thanh toán cổ tức cho cổ đông

Trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại một thời điểm có thể là thặng dưthanh khoản (khi tổng cung lớn hơn tổng cầu, tức là ngân hàng sử dụng nguồn vốnchưa hiệu quả) hoặc thâm hụt thanh khoản (khi tổng cung nhỏ hơn tổng cầu, tức làngân hàng đang trong tình trạng thiếu vốn, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việckinh doanh cũng như lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc khách hàng giảm sútlòng tin, rút tiền hoặc không gửi tiền nữa)

1.3.2 Đo lường khả năng thanh khoản thông qua các chỉ số thanh khoản

Một số chỉ số hỗ trợ trong việc đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng:

- Chỉ số về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: Đây là thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng, thể hiện khả năng thanh toán các khoản nợ của ngân hàng

Vốn tự cóTỷ lệ an toàn vốn tối thiểu =

Tổng Tài sản có rủi ro quy đổi

- Chỉ số về trạng thái tiền mặt: Một tỷ lệ tiền mặt cao đồng nghĩa với việc ngânhàng có thể giải quyết tốt nhu cầu thanh khoản tức thời

Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTDChỉ số về trạng thái tiền mặt =

Tổng Tài sản Có

- Chỉ số về năng lực cho vay: thể hiện chỉ số thanh khoản âm của ngân hàng vì

dư nợ cho vay là tài sản nợ có tính thanh khoản thấp nhất mà ngân hàng nắm giữ

Trang 20

Dư nợChỉ số về năng lực cho vay =

Tổng Tài sản Có

- Chỉ số cho vay/tiền gửi: thể hiện khả năng tự huy động để cho vay của ngân hàngtại thời điểm báo cáo Như đã nói ở trên dư nợ cho vay là tài sản có tính thanh khoản thấp,nhưng mặt khác, lợi tức mang lại là cao nhất Do đó, chỉ tiêu này càng lớn cho thấy ngân hàng

có khả năng thanh khoản càng thấp nhưng lại có lợi nhuận cao

Dư nợChỉ số cho vay/tiền gửi =

Tiền gửi của khách hàng

- Chỉ số cơ cấu tiền gửi: thể hiện tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn so với tiền gửi có kỳhạn của một ngân hàng Chỉ số này càng thấp thì nhu cầu thanh khoản của ngân hàng càngthấp, tuy nhiên, trong thực tế các ngân hàng luôn mong muốn và duy trì chỉ số này ở mức caonhất định vì giá vốn tiền gửi không kỳ hạn luôn thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn, do đó khi chỉ sốnày cao đồng nghĩa với việc tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng ở mức cao, giá vốn bìnhquân vốn đầu vào thấp và lợi nhuận mang lại cao

Tiền gửi không kỳ hạnChỉ số cơ cấu tiền gửi =

Tiền gửi có kỳ hạn

- Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn: thể hiện tỷ lệ % nguồn vốnngắn hạn được tài trợ cho vay trung, dài hạn Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng thanh khoảncủa ngân hàng càng cao, tuy nhiên, một lần nữa, trên thực tế các ngân hàng cũng duy trì chỉ sốnày ở một mức cao nhất định vì chi phí vốn ngắn hạn thấp nhưng khi cho vay trung, dài hạnlại thu về lợi nhuận cao hơn

Chỉ số nguồn vốn ngắn

=

Dư nợ trung, dài hạn – Nguồn vốn trung, dài hạn

Trang 21

1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN

CỦA NGÂN HÀNG

1.4.1 Các nhân tố vĩ mô

1.4.1.1 Môi trường kinh tế – chính trị – xã hội

Môi trường kinh tế – chính trị – xã hội của một quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đếntính thanh khoản và hoạt động của các ngân hàng thương mại ở quốc gia đó Kinh tếsuy thoái, tình hình chính trị không ổn định làm cho điều kiện hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng bị ảnh hưởng nghiêm trọng,người dân cũng bị tác động gây mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng

1.4.1.2 Chính sách tiền tệ

Bằng các công cụ quản lý tài chính, Ngân hàng Nhà nước có thể rút bớt lượngtiền trong lưu thông, điều này làm giảm bớt lượng tiền thanh toán tại ngân hàngthương mại, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh khoản của ngân hàng

1.4.1.3 Sự phát triển của các thị trường khác như bất động sản, chứng khoán,

vàng

Trong nền kinh tế, giữa các thị trường hàng hóa đều có liên quan đến nhau mộtcách mật thiết Nhà đầu tư với mục tiêu luôn nâng cao lợi nhuận và giảm thiểu rủi

ro, họ phân bổ nguồn vốn của mình và nhiều lĩnh vực, nhiều thị trường khác nhau

và sẽ tập trung nguồn lực vào những thị trường ổn định và đáp ứng được yêu cầucủa nhà đầu tư cao nhất Do đó, một thị trường nào đó có dẫu hiệu phát triển tốt hayxấu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến những thị trường còn lại

1.4.1.4 Tính cạnh tranh giữa các ngân hàng

Mỗi ngân hàng có một chính sách huy động, tín dụng hoặc lãi suất khác nhau

Và những chính sách này của mỗi ngân hàng tác động đến cầu thanh khoản củanhững ngân hàng còn lại

Trang 22

1.4.2 Các nhân tố vi mô

1.4.2.1 Lãi suất huy động

Lãi suất huy động của ngân hàng cho thấy ngân hàng đang có vấn đề về cungthanh khoản hay không, khi một ngân hàng huy động ở mức lãi suất cao rất nhiềukhả năng ngân hàng đang bị thiếu hụt về mặt thanh khoản; hoặc khi một ngân hànggiảm mức lãi suất huy động của mình xuống có nghĩa là họ đang thừa vốn hoặckhông cho vay được

1.4.2.2 Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay theo quy luật sẽ tăng lên hoặc hạ xuống theo lãi suất huy độngcủa ngân hàng Khi một ngân hàng huy động lãi suất cao, để đáp ứng được chi phíhuy động, ngân hàng cho vay ra với lãi suất cao; tuy nhiên, đôi khi khách hàngkhông chấp nhận được mức lãi suất cho vay nay dẫn đến ngân hàng cũng gặp khókhăn trong việc cho vay Hoặc khi ngân hàng huy động lãi suất thấp và đang thừavốn, lãi suất cho vay cũng được hạ thấp thu hút khách hàng; tuy nhiên để đảm bảo

an toàn tín dụng, điều kiện vay vốn được nâng cao, các khách hàng chưa tiếp cậnđược với nguồn vốn giá rẻ, ngân hàng cũng gặp khó khăn về thanh khoản vì khôngcho vay được sẽ dẫn đến việc thiếu hụt chi phí thanh toán cho các khoản huy động

1.4.2.3 Lãi suất liên ngân hàng

Thị trường hoạt động giữa các ngân hàng được xem là thước đo thanh khoản của

hệ thống Khi ngân hàng Nhà nước thực hiện các quy định chặt chẽ đối với hoạtđộng huy động vốn của ngân hàng thương mại, một số ngân hàng thiếu hụt thanhkhoản sẽ tham gia vào thị trường liên ngân hàng để vay vốn bù đắp, khi đó, lãi suấtliên ngân hàng sẽ tăng cao Điều này dẫn đến việc ngân hàng đi vay ở thị trườngliên ngân hàng phải chịu một chi phí cao cho mức vốn cần thiết để thanh toán cáckhoản phải trả, đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng; lâu ngày đây sẽ là một rủi rocho khả năng thanh khoản của chính ngân hàng đó

Trang 23

1.4.2.4 Tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu là các khoản vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theođúng các điều kiện trong hợp đồng tín dụng Tỷ lệ nợ xấu cho thấy được chất lượngtài sản của ngân hàng Khi tỷ lệ nợ xấu càng cao, ngân hàng càng gặp khó khăntrong việc thu hồi vốn và có được nguồn cung để giải quyết cầu thanh khoản

1.4.2.5 Lợi nhuận

Trong hoạt động kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng, có một nguyên tắcbất di bất dịch là lợi nhuận càng cao rủi ro càng cao Một ngân hàng muốn có đượckhả năng thanh khoản tốt, phải chấp nhận mức lợi nhuận đạt được thấp; hoặc ngượclại, nếu ngân hàng muốn làm tăng lợi nhuận lên nhanh chóng, ngân hàng phải chấpnhận tình trạng thanh khoản yếu

1.4.2.6 Cơ cấu vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản

Cơ cấu vốn chủ sở hữu trong tổng tài sản của một ngân hàng cho thấy ngân hàngđược tài trợ bởi bao nhiêu vốn chủ sở hữu, đòn bẩy tài chính của ngân hàng là lớnhay nhỏ Thông thường, các ngân hàng không sử dụng vốn chủ sở hữu để cho vay

mà dùng đầu tư, mua sắm tài sản cố định hoặc đầu tư khác vào các tài sản có tínhthanh khoản cao – đây là nguồn để ngân hàng xoay sở khi xảy ra trường hợp cầnthanh khoản Do đó, khi vốn chủ sở hữu có tỷ lệ càng cao trong tổng tài sản, khảnăng thanh khoản của ngân hàng càng cao

1.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ

NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM

THƯƠNG TÍN

Hiện tại trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởngđến khả năng thanh khoản của ngân hàng Những nghiên cứu này tập trung vào việctìm hiểu tính thanh khản của các ngân hàng trong một khu vực, một nhóm các quốcgia hoặc một quốc gia cụ thể

Trong đó, Vodova (2011) đã thực hiện công trình nghiên cứu “Determinants ofCommercial Banks’ Liquidity in the Cezh Republic” (tạm dịch: những nhân tố

Trang 24

quyết định khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại ở Cộng hòa Séc).Trong nghiên cứu này, Vodova đã xem xét số liệu cụ thể của các ngân hàng ở Cezh

và tình hình kinh tế vĩ mô trong giai đoạn năm 2001 – 2009, sau đó sử dụng môhình hồi quy dữ liệu để phân tích Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các biếnđộc lập (gồm: vốn chủ sở hữu, tỷ lệ lạm phát, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu,lợi nhuận của ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất cho vay, chênh lệchgiữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, lãi suất chính sách tiền tệ, tỷ lệ thấtnghiệp, quy mô ngân hàng và biến giả về tác động của khủng hoảng tài chính) lênbiến phụ thuộc (tức là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại, được đobằng 4 chỉ số thanh khoản, gồm: tỷ lệ tài sản lưu động trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sảnlưu động trên tổng tiền gửi và tiền đi vay ngắn hạn, tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản vàtỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi và tiền đi vay ngắn hạn)

Ở khu vực châu Phi, Fadare (2011) đã thực hiện nghiên cứu về tính thanh khoảncủa hệ thống ngân hàng và khủng hoảng tài chính ở Nigeria với mục tiêu nghiên cứu làxác định các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng ở Nigeria,đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố đó đến khả năng thanh khoản của

ngân hàng Fadare (2011) đã sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính OLS và dữliệu bảng trong thời gian từ 1980 đến 2009 Nghiên cứu này cho thấy chỉ có tỷ lệthanh khoản, lãi suất chính sách tiền tệ và biến trễ lãi suất cho vay là có ý nghĩa để

dự đoán thanh khoản của hệ thống ngân hàng Theo nghiên cứu, trong thời kỳ khủnghoảng kinh tế tài chính, tiền gửi ngân hàng không đảm bảo được tính thanh khoản

và chính sách tiền tệ phải đảm bảo thanh khoản trong giai đoạn này

Ở Mỹ La tinh và các nước vùng biển Caribbean, Moore (2010) nghiên cứu ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đối với thanh khoản của các ngân hàngthương mại Mục tiêu nghiên cứu của Moore (2010) là nghiên cứu các hành vi liênquan đến thanh khoản ngân hàng trong các cuộc khủng hoảng, xác định các yếu tốquyết định thanh khoản và đánh giá thanh khoản của các ngân hàng thương mạitrong thời kỳ khủng hoảng là cao hay thấp so với điều kiện kinh tế bình thường.Trong nghiên cứu này, thanh khoản được đo bằng tỷ lệ cho vay/tiền gửi và phụ

Trang 25

thuộc vào các yếu tố: nhu cầu tiền mặt của khách hàng (đo bằng tỷ lệ tiền mặt/tiềngửi), tình hình kinh tế vĩ mô và lãi suất thị trường tiền tệ ngắn hạn Moore (2010) sửdụng mô hình hồi quy ước lượng bình phương bé nhất để đưa ra kết quả nghiên cứucho thấy sự biến động của tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi và lãi suất thị trường tiền tệ có tácđộng tiêu cực và đáng kể đến thanh khoản.

Qua ba nghiên cứu trên đây cho thấy, nghiên cứu của Vodova (2011) có sự tiếnbộ hơn hai nghiên cứu còn lại được thực hiện trước đó với việc đưa vào nghiên cứuđầy đủ tất cả các nhân tố vi mô nội tại của ngân hàng và vĩ mô của nền kinh tế cóthể có tác động đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại cũng như cácquyết định của NHNN về chính sách tiền tệ Vì vậy, để nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín, tácgiả sẽ ứng dụng mô hình nghiên cứu của Vodova (2011) với mẫu dữ liệu củaVIETBANK từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014 cũng như các số liệu về tình hìnhkinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian này

Dựa theo nghiên cứu của Vodova (2011), tác giả đề nghị ra mô hình nghiên cứuthực nghiệm trên số liệu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín từ năm 2010đến tháng 9 năm 2014 như sau:

Trang 26

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

Trong đó đã loại bỏ hai nhân tố: Sự phát triển của các thị trường khác và Tínhcạnh tranh giữa các ngân hàng so với nội dung lý thuyết nêu ở phần trên Lý do choviệc không theo dõi hai nhân tố này trong mô hình là vì các nhân tố không địnhlượng được, do đó có thể dẫn đến kết quả không chính xác, không khách quan chonghiên cứu

Bên cạnh đó, cũng loại bỏ nhân tố quy mô ngân hàng (được định lượng bằngcách lấy logarit tổng tài sản) so với nội dung nghiên cứu của Vodova (2011) vì thựctế Vodova nghiên cứu trên một số lượng lớn các ngân hàng ở Cộng hòa Cezh do đó

có sự khác nhau về quy mô, còn ở bài nghiên cứu này tác giả chỉ xem xét cụ thể choVIETBANK với quy mô ngân hàng qua các năm không có nhiều thay đổi

Trong mô hình nêu trên, nhân tố Môi trường kinh tế – chính trị – xã hội được đolường bởi ba biến là tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp vàbiến giả về tác động của khủng hoảng tài chính; nhân tố Chính sách tiền tệ được đolường bằng lãi suất thị trường mở

Trang 27

Kết luận chương 1:

Khả năng thanh khoản là một vấn đề rất được quan tâm trong quá trình quản lý

và hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khả năng thanh khoản của một ngân hàngkhông những ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng đó màcòn ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân hàng và sự phát triển của kinh tế quốc gia.Chương 1 với mục đích khái quát lý thuyết về khả năng thanh khoản, nhữngnguyên nhân dẫn đến mất khả năng thanh khoản, các chỉ số định lượng đo lườngkhả năng thanh khoản của một ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năngthanh khoản của ngân hàng và các mô hình nghiên cứu nhân tố tác động đến khảnăng thanh khoản trên thế giới những năm qua Qua đó, đưa ra được mô hình đềnghị để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngânhàng TMCP Việt Nam Thương Tín

Cơ sở lý luận được trình bày tại chương 1 cũng tạo tiền đề cho việc đánh giátình hình thanh khoản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam cũng như khả năngthanh khoản của VIETBANK ở chương tiếp theo Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứuđược đề nghị ở cuối chương sẽ được trình bày cụ thể ở chương 3 khi nghiên cứuđịnh lượng cụ thể

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI NGÂN

HÀNG TMCP VIỆT NAM THƯƠNG TÍN

HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Tác giả đề xuất xem xét số liệu vào thời điểm 31/12/2013 của một số ngân hàng

sau để đánh giá tình hình thanh khoản của nhóm ngân hàng này, qua đó thấy được

tình hình thanh khoản chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Bảng 2.1: Số liệu về các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản của các ngân hàng

Tỷ lệ an Chỉ số Chỉ số Chỉ số Chỉ số cơ

(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC năm 2013 của các ngân hàng)

Theo bảng số liệu 2.1, vào thời điểm cuối năm 2013 các ngân hàng thương mại ở

Việt Nam đều đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đúng theo mức quy định của Ngân hàng

Nhà nước (không thấp hơn 9%) Điều này cho thấy các ngân hàng đã có một tỷ lệ

hợp lý giữa vốn tự có với mức độ rủi ro trong sử dụng tài sản Tuy nhiên, xuất hiện

những ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cao vượt bậc: VIB 19,43% và

NAMABANK 19,21%; hệ số này quá an toàn cũng đồng nghĩa với việc hoạt động

kinh doanh của ngân hàng kém hiệu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Ngoài

ra, đây cũng là dấu hiệu cho thấy thanh khoản của ngân hàng có vấn đề, hoặc các

Trang 29

ngân hàng đang trong tình trạng không huy động được tiền gửi, hoặc các ngân hàngkhông thể cho vay hoặc không muốn cho vay.

Tiếp đến là chỉ số trạng thái tiền mặt, chỉ số này cao đảm bảo cho khả năng đápứng nhu cầu thanh khoản tức thời của ngân hàng và chỉ số này tối thiểu bằng 5%.Theo bảng số liệu 2.1, ACB và VIB là hai ngân hàng có chỉ số trạng thái tiền mặtthấp nhất trong nhóm được đánh giá và vẫn duy trì được ở mức cho phép Với con

số 9,3% cho ACB và 7,5% cho VIB cho thấy ngân hàng vẫn có tính thanh khoảntốt, không tích trữ quá nhiều tiền mặt mà dùng tiền đó để đầu tư kinh doanh khác.Tuy nhiên để duy trì ở mức cần thiết thì khi phát sinh nhu cầu thanh khoản lớn trongthời gian ngắn bắt buộc ngân hàng phải vay vốn trên thị trường với lãi suất cao Bêncạnh đó, NAMABANK, VCB và đặc biệt là EXIMBANK lại có chỉ số trạng tháitiền mặt rất cao, lần lượt là: 18,4%, 24,1% và 32,2% Khi ngân hàng duy trì chỉ sốnày ở mức cao chưa hẳn là tốt, chỉ số cao cho thấy ngân hàng có lượng tiền nhàn rỗicao, đồng nghĩa với việc ngân hàng sử dụng vốn chưa thật sự hiệu quả

Vì dư nợ cho vay là tài sản có tính thanh khoản thấp nhất của một ngân hàng nênkhi tổng dư nợ của một ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản hay chỉ sốnăng lực cho vay của ngân hàng cao đồng nghĩa với việc ngân hàng càng gần với rủi

ro thanh khoản Những năm gần đây, các ngân hàng tập trung phát triển tín dụngnên việc chỉ số này đạt cao không đáng ngạc nhiên, trong những ngân hàng đượcxem xét, NAMABANK là ngân hàng có chỉ số năng lực cho vay thấp nhất (44,4%)

vì so với toàn nhóm, đây là ngân hàng có quy mô nhỏ nhất, uy tín thấp nhất Đối vớicác ngân hàng lớn như VCB, ACB, EXIMBANK tỷ lệ này đạt trên 50%

Chỉ số được xem xét tiếp theo là chỉ số tổng dư nợ/ tiền gửi khách hàng, chỉ sốnày cho thấy ngân hàng đã cho vay bao nhiêu số tiền đã huy động được từ kháchhàng Trước đây, ngày 20/05/2010 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thông

tư 13/2010/TT-NHNN, trong đó có quy định tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huyđộng và được sửa đổi tại thông tư 19/2010/TT-NHNN ban hành ngày 27/09/2010,theo đó giới hạn tỷ lệ cho vay từ nguồn vốn huy động của một ngân hàng tối đa80% Tuy nhiên, đến ngày 30/08/2011 thông tư 22/2011/TT-NHNN ra đời, hủy tỷ lệ

Trang 30

đã được quy định trong hai công văn nêu trên này nhằm tạo sự luân chuyển và điềuhòa vốn giữa thị trường liên ngân hàng và thị trường vốn huy động từ tổ chức, dân

cư, giữa ngân hàng thừa vốn và ngân hàng thiếu vốn, nhằm giúp các ngân hàngthiếu vốn có điều kiện tăng trưởng tín dụng Theo bảng số liệu 2.1, dễ dàng thấyđược cho đến ngày 31/12/2013 phần lớn các ngân hàng vẫn duy trì tỷ lệ cho vaytrên tiền gửi của khách hàng ở mức không quá 80%, ngoại trừ VIB với mức cao hơnkhông đáng kể 82,4% Bên cạnh đó, NAMABANK cùng VCB là hai ngân hàng cóchỉ số tổng dư nợ/tiền gửi của khách hàng thấp nhất trong nhóm, tương ứng với60,7% và 66,7% Tuy nhiên theo nhận xét của tác giả, hai con số này xuất phát từhai nguyên nhân khác nhau Đối với NAMABANK, tại thời điểm xem xét số liệu,ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc cho vay khách hàng, tín dụng không thực

sự phát triển Còn đối với VCB, ngân hàng với uy tín sẵn có đã huy động được mộtlượng tiền gửi lớn, vượt hơn nhiều so với nhu cầu cho vay dân cư của VCB, đâycũng là lý do cho việc VCB cho vay trên thị trường liên ngân hàng nhiều hơn nhữngngân hàng khác

Chỉ số cơ cấu tiền gửi của ngân hàng phản ánh tính ổn định của nguồn cungthanh khoản, tỷ lệ này càng thấp cho thấy khả năng cung thanh khoản càng cao vàngược lại Tuy nhiên, duy trì chỉ số cơ cấu tiền gửi ở mức thấp có thể làm ảnhhưởng đến lợi nhuận của ngân hàng vì chi phí huy động cao, do chi phí huy độngtiền gửi có kỳ hạn luôn luôn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn Vào thời điểm cuốinăm 2013, VCB có chỉ số cơ cấu tiền gửi đạt 43,2%, cho thấy lượng tiền gửi khôngkỳ hạn ở VCB cao, đảm bảo được lợi nhuận cho VCB, tuy nhiên cũng là một yếu tố

có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản cao khi hệ thống ngân hàng có biến cố Ngược lại,

ta thấy EXIMBANK duy trì tỷ lệ giữa tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn ởmức rất thấp 9,2%, cho thấy EXIMBANK muốn đảm bảo an toàn khỏi việc rút tiềncủa khách hàng, mặt khác, EXIMBANK phải gánh chịu chi phí huy động cao, trongtrường hợp thị trường diễn biến xấu, cho vay khó khăn, thì điều này cũng dẫn đếnrủi ro thanh khoản cho EXIMBANK

Trang 31

Như vậy, qua phân tích ta thấy được các ngân hàng được xem xét trên đây đangduy trì các chỉ số thanh khoản ở mức tương đối tốt Tuy nhiên, các ngân hàng cũngnên chú ý và quan tâm hơn đến thanh khoản để đảm bảo an toàn cho ngân hàng và

hệ thống ngân hàng Việt Nam khỏi những tác động xấu từ môi trường bên ngoài.Ngân hàng Nhà nước cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc hỗ trợ cácngân hàng quản lý và duy trì khả năng thanh khoản của mình

2.2 TÌNH HÌNH THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT

NAM THƯƠNG TÍN HIỆN NAY

2.2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín được thành lập vào tháng 02/2007trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam Vớicác cổ đông sáng lập có tiềm lực tài chính vững mạnh, giàu kinh nghiệm quản lý tàichính và kinh doanh, VIETBANK đã có sự chuẩn bị chu đáo về năng lực tài chính,nguồn nhân lực và trình độ công nghệ, vững vàng đối mặt với những khó khăn tronggiai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

Cuối năm 2010 VIETBANK đã nâng vốn điều lệ đạt 3.000 tỷ đồng, tổng tài sảnđạt 17.265 tỷ đồng VIETBANK cũng không ngừng mở rộng mạng lưới hoạt động(từ 2/2009 đến nay) với 95 điểm giao dịch đặt tại các vùng kinh tế trọng điểm trêncả nước và tuyển dụng hơn 1.400 nhân sự trẻ, năng động sáng tạo, có tinh thần tráchnhiệm cao sẵn sằng sàng đáp ứng cao nhất mọi yêu cầu của khách hàng

Trong quá trình phát triển, VIETBANK đã đầu tư nâng cao chất lượng hệ thốngcông nghệ thông tin thông qua xây dựng trung tâm dữ liệu và hệ thống ngân hànglõi corebanking Bên cạnh đó, VIETBANK đã triển khai áp dụng hệ thống quản lýchất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 nhằm kiểm soát, hoàn thiện chất lượngquản lý và phục vụ khách hàng Thương hiệu VIETBANK cũng đang dần trở nênquen thuộc với khách hàng thông qua hệ thống các sản phẩm dịch vụ phong phú,phục vụ nhu cầu đa dạng cho từng nhóm khách hàng cụ thể Ngoài ra, các chínhsách linh hoạt trong hoạt động kinh doanh cũng là một trong những thế mạnh củaVIETBANK trước nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng

Trang 32

Tầm nhìn chiến lược: Không ngừng nâng cao chất lượng về mọi mặt để trở

thành một trong những thương hiệu có uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tạiViệt Nam

Sứ mệnh: Xây dựng VIETBANK trở thành một ngân hàng bán lẻ năng động,

hiện đại, có chất lượng phục vụ hàng đầu tại Việt Nam, đủ khả năng để cạnh tranh

và phát triển trong giai đoạn mới

Giá trị cốt lõi:

- Nguồn nhân lực chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và nhiệt tình

- Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại

- Mô hình tổ chức và quản lý khoa học

Quá trình hình thành và phát triển:

- Ngày 02/2/2007, VIETBANK chính thức được thành lập tại số 35 Trần

Hưng Đạo, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, tạo tiền đề cho việc phát triển mạng lưới trên toàn quốc

- Ngày 18/2/2009, khai trương chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh tại số 02Thi Sách, phường Bến Nghé, quận 1 – chi nhánh đầu tiên của VIETBANK tại thị trườngThành phố Hồ Chí Minh

- Ngày 26/02/2009, khai trương chi nhánh Hà Nội – chi nhánh đầu tiên của VIETBANK tại khu vực miền Bắc

- Tính đến 01/11/2014, VIETBANK đã có 95 điểm giao dịch tại khắp cácvùng kinh tế trọng điểm trên toàn quốc Đây là minh chứng cho sự phát triển bền vữngcủa VIETBANK trong bối cảnh hiện nay

Trang 34

- Hoạt động huy động vốn: Số liệu ở bảng 2.2 cho thấy hoạt động huy độngvốn của VIETBANK giảm dần từ năm 2011 đến năm 2013 (từ 14.500 tỷ đồng, số dư huyđộng giảm xuống còn 12.358 tỷ đồng ở thời điểm cuối năm 2013) do tác động của việcsuy thoái kinh tế và một số vụ án vi phạm pháp luật trong hoạt động ngân hàng Tuynhiên, bước qua năm 2014, VIETBANK đã lấy lại được đà phát triển trong mảng huyđộng và đạt số dư 13.699 tỷ đồng vào cuối tháng 9 năm 2014.

- Hoạt động tín dụng: Cũng như hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụngcủa VIETBANK cũng bị giảm qua năm 2012 và năm 2013 (từ 8.728 tỷ đồng giảm còn7.563 tỷ đồng) do những lý do khách quan nêu trên Đến tháng 9 năm 2014, số dư chovay của VIETBANK đạt 7.752 tỷ đồng, tăng 2% so với số liệu cuối năm 2013

- Bên cạnh đó, nếu thu nhập năm 2011 tăng ngoạn mục 104% so với năm 2010đạt 4.961 tỷ đồng thì cũng suy giảm dần đến cuối năm 2013 là 4.079 tỷ đồng Với một sốthay đổi trong chính sách quản trị và kinh doanh, thu nhập của VIETBANK tại thời điểmtháng 9 năm 2013 đã đạt được 2.873 tỷ đồng

- Cũng chịu ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng,VIETBANK đã thực hiện chính sách cắt giảm chi phí và có hiệu quả đáng kể Nếu chiphí năm 2011 là 4.566 tỷ đồng thì đến cuối năm 2013 chỉ còn 4.043 tỷ đồng, giảm11,45% so với năm 2011

- Tuy nhiên, để tránh khỏi rủi ro tín dụng do nợ xấu gây ra, một tỷ lệ trích lập

dự phòng cao được cộng vào trong chi phí (đã tính vào số liệu nêu trên) đã làm giảmđáng kể lợi nhuận của VIETBANK trong 2 năm 2012 và 2013 Ở thời điểm huy hoàng,lợi nhuận của VIETBANK đạt 395 tỷ đồng vào cuối năm 2011, đến cuối năm 2012 còn

24 tỷ đồng (giảm 93,92% so với năm 2011); đến cuối năm 2013 tình hình được cải thiệnnhưng không đáng kể với con số lợi nhuận là 36 tỷ đồng Đây là một kết quả không mấykhả quan, tuy nhiên, điều đáng mừng là lợi nhuận của VIETBANK ở thời điểm cuốitháng

Trang 35

9 năm 2014 đã đạt 77 tỷ đồng, tăng 41 tỷ đồng, tương đương 114% so với số cuối năm 2013.

Tóm lại, VIETBANK đang thể hiện là một ngân hàng trẻ, quy mô nhỏ nhưng đã

có những cố gắng rất lớn trong hoạt động của mình, minh chứng là VIETBANK đãđạt được những tốc độ tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn năm 2010 – 2011 vàđang lấy lại tốc độ tăng trưởng ổn định đó vào năm 2014

2.2.2 Tình hình thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín

Trước khi xem xét các chỉ số để đánh giá tình hình thanh khoản củaVIETBANK, tác giả điểm qua một số công tác quản trị của VIETBANK nhằmgiám sát và đảm bảo khả năng thanh khoản của VIETBANK hiện nay:

- Bắt đầu hoạt động từ tháng 02/2007, đến đầu tháng 08/2007 VIETBANKthành lập Ủy ban Quản lý Tài sản Nợ và Tài sản Có (gọi tắt là Ủy ban ALCO) – Ủy bannày có trách nhiệm quản lý cấu trúc bảng Tổng kết Tài sản đảm bảo ngân hàng hoạt độngđạt lợi nhuận cao và hạn chế rủi ro bằng các chính sách tín dụng, chính sách vốn và chínhsách đầu tư; cụ thể Ủy ban ALCO chịu trách nhiệm xây dựng và kiểm soát các chỉ tiêu tàichính, tín dụng phù hợp với quy định của NHNN, giám sát và quản lý rủi ro trong đó córủi ro thanh khoản

- Trong hoạt động kinh doanh, VIETBANK chủ yếu đáp ứng các nhu cầu thanh khoản phát sinh thông qua các hình thức chủ yếu sau:

o Dự trữ tiền mặt, tiền gửi tại NHNN và các TCTD khác nhằm đáp ứngnhu cầu nguồn vốn thường xuyên, đều đặn hằng ngày của toàn hệ thống như chuyển tiềnthanh toán, giải ngân các khoản vay nhỏ…

o Vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, vay ngắn hạn NHNN,vay tái cấp vốn khi ngân hàng phát sinh các nhu cầu đột xuất với khối lượng lớn và lượngtài sản dự trữ không đủ đáp ứng Tuy nhiên, việc vay vốn NHNN chỉ sử dụng khi thịtrường liên ngân hàng gặp khó khăn hoặc khó tiếp cận được

Trang 36

o Tăng cường huy động vốn từ khách hàng thông qua các sản phẩm huyđộng linh hoạt, đa dạng của ngân hàng.

o Kiểm soát giải ngân trong những giai đoạn diễn biến thanh khoản

căng thẳng như cuối năm

o Bán tài sản như ngoại tệ, chứng khoán đầu tư… để đáp ứng nhu cầu

thanh khoản

Tuy nhiên, VIETBANK hạn chế sử dụng hai hình thức kiểm soát giải ngân

và bán tài sản vì việc này một mặt gây ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng,mặt khác cũng không phải là cách tốt nhất và nhanh nhất để đáp ứng nhu cầuthanh khoản tức thời

Tiếp theo, chúng ta cùng xem qua các chỉ số về khả năng thanh khoản của

VIETBANK từ năm 2010 đến nay để thấy rõ tình hình thanh khoản của

VIETBANK

Bảng 2.3: Số liệu về các chỉ số đo lường khả năng thanh khoản của VIETBANK

Tỷ lệ an Chỉ số Chỉ số Chỉ số Chỉ số cơ

Tổng dư Thời điểm toàn vốn trạng thái năng lực cấu tiền

(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC các năm 2010, 2011, 2012, 2013 và báo cáo sơ kết 9

tháng đầu năm 2014 của VIETBANK)

Trang 37

Hình 2.2: So sánh chỉ số thanh khoản của các ngân hàng tại thời điểm 31/12/2013

(Nguồn: Tổng hợp từ BCTC năm 2013 của các ngân hàng)

Theo số liệu tại bảng 2.3, từ năm 2010 đến tháng 9 năm 2014, VIETBANK vẫnduy trì ổn định các chỉ số thanh khoản cho dù môi trường kinh doanh có nhiều biếnđộng, cụ thể:

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu luôn duy trì ở mức 17% đến hơn 20% – phù hợpvới quy định của NHNN là 9%, đảm bảo cho VIETBANK tránh khỏi rủi ro do nhu cầuthanh khoản bất ngờ; tuy nhiên cũng là một dấu hiệu cho thấy VIETBANK hoạt độngkinh doanh chưa thực sự hiệu quả Để lý giải cho điều này không quá khó để chúng tathấy rằng VIETBANK vẫn còn là một ngân hàng có quy mô nhỏ và chưa có nhiều uy tíncũng như thị phần trên thị trường Tuy nhiên, theo bảng 2.1 và hình 2.2 ta thấy chỉ số nàycủa VIETBANK vào cuối năm 2013 cũng là chỉ số chấp nhận được so với các ngân hàngkhác

Trang 38

- Chỉ số trạng thái tiền mặt của VIETBANK các năm qua đều cao hơn 5%, tuynhiên, vẫn chưa được xem là con số tối ưu vì VIETBANK nắm giữ số lượng tiền mặt vàtiền gửi NHNN, TCTD khác cao, với mức thấp nhất là 15,37% năm 2011 và cao nhất là18,05% năm 2012 Chỉ số trạng thái tiền mặt cao, một mặt đảm bảo VIETBANK tránhkhỏi rủi ro thanh khoản, mặt khác cũng là một con số cho thấy tình hình thanh khoản củaVIETBANK chưa thật sự ổn định So sánh với các ngân hàng khác vào thời điểm31/12/2013 thì chỉ số trạng thái tiền mặt của VIETBANK đang ở mức trung bình, tuynhiên, về thực chất thì lý do sâu xa cho con số này là cũng là do ngân hàng chưa hoạtđộng thực sự hiệu quả nên chưa tạo được uy tín trên thị trường và phải duy trì lượng tàisản Có có tính thanh khoản cao nhiều để đảm bảo cho khả năng thanh khoản.

- Chỉ số năng lực cho vay các năm gần đây của VIETBANK dao động quanhmức 50%, một mặt vì VIETBANK chưa phát triển tín dụng một cách mạnh mẽ nhanhchóng được do chưa tiếp xúc được nhiều khách hàng có nhu cầu tín dụng cao cũng nhưkhách hàng chưa đa dạng và còn hạn chế; mặt khác vì trong những năm được xem xétVIETBANK cũng bị giới hạn phát triển tín dụng Tuy nhiên, với chỉ số năng lực cho vaynày VIETBANK được đánh giá đang nằm trong vùng an toàn về thanh khoản

- Chỉ số tổng dư nợ/tiền gửi của khách hàng đạt mức thấp nhất là 53,1% vàonăm 2010 và cao nhất là 66,31% vào năm 2012 Chỉ số này cho thấy VIETBANK thực

sự chưa phát triển tín dụng một cách hiệu quả Cùng với chỉ số năng lực cho vay thấp chothấy khi xét về khả năng thanh khoản, có thể nói VIETBANK có đầy đủ khả năng thanhkhoản, tuy nhiên, nếu xét cụ thể hơn, chúng ta phải làm rõ được với mức cho vay nhưvậy, liệu VIETBANK có đủ thu nhập từ lãi vay – cung thanh khoản để đáp ứng đầy đủchi phí trả lãi tiền gửi – cầu thanh khoản không Ngoài ra, tác giả đánh giá VIETBANKchưa thực sự hoạt động hiệu quả, do đó chưa tối đa hóa lợi

Trang 39

nhuận, đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến uy tín cũng như khả năng thanh khoản của VIETBANK.

- Cuối cùng, ta xem xét đến chỉ số cơ cấu tiền gửi Theo bảng số liệu 2.3, tathấy được tuy VIETBANK đang cố gắng nâng cao chỉ số cơ cấu tiền gửi nhưng vẫn ởmức thấp với mức cao nhất đạt 17,38% vào năm 2013, đây là một động thái cho thấyVIETBANK một mặt đang tập trung phát triển dịch vụ tiền gửi và số lượng khách hàng

sử dụng tài khoản VIETBANK một mặt vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngânhàng

Như vậy, thông qua bảng số liệu 2.3 và hình 2.2 cho thấy VIETBANK đang cốgắng duy trì các chỉ số thanh khoản ở mức hợp lý có thể chấp nhận được qua cácnăm Xét riêng thời điểm cuối năm 2013, ta dễ dàng thấy được các chỉ số củaVIETBANK gần như tương đồng với NAMABANK – một ngân hàng có thể xếpcùng nhóm về quy mô và khả năng tăng trưởng, do đó có thể nhận xét rằng khảnăng thanh khoản của hai ngân hàng tương đương nhau

2.2.3 Đánh giá khả năng thanh khoản của Ngân hàng TMCP Việt Nam

Thương Tín trong những năm vừa qua

2.2.3.1 Những thành tựu đạt được

Theo những phân tích ở trên, ta có thể thấy được trong suốt những năm trở lạiđây, VIETBANK luôn duy trì được những chỉ số thanh khoản tương đối tốt, theođúng quy định của NHNN trong từng thời kỳ

Bên cạnh đó, trong những năm 2011, 2012 có nhiều sự kiện xảy ra trong ngànhtài chính ngân hàng Việt Nam làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinhdoanh của các ngân hàng trong toàn hệ thống Tuy nhiên, vượt qua những khó khăn

đó, VIETBANK vẫn đứng vững và hoạt động ổn định VIETBANK luôn cố gắnglinh động trong chiến lược kinh doanh để đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng cũngnhư đảm bảo uy tín thanh toán đối với khách hàng

Ngoài ra, VIETBANK không để xảy ra hiện tượng rút vốn hàng loạt trong hệthống của mình – điều đã xảy ra với không ít ngân hàng trong những năm 2011,2012

Trang 40

2.2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại

Tuy nhiên, nếu xem xét một cách sâu sắc vào từng giai đoạn cụ thể thìVIETBANK cũng còn nhiều hạn chế về khả năng thanh khoản của mình Điển hìnhvào những giai đoạn cuối năm 2011, 2012, tình hình tăng trưởng tín dụng trở nêncăng thẳng, cầu vượt quá cung, để đảm bảo hoạt động một cách ổn định, an toànVIETBANK phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng, thị trường mở để đảm bảothanh khoản Mặc dù vậy, động thái này cũng ảnh hưởng ngược lại khả năng thanhkhoản của ngân hàng vì lãi suất liên ngân hàng và lãi suất thị trường mở lúc nàycũng tăng cao nhanh chóng Một biện pháp nữa được đưa ra là thắt chặt cho vay,kiểm soát giải ngân trong nhiều tháng liên tiếp

Một biểu hiện khác của khả năng thanh khoản VIETBANK mất ổn định là vàogiai đoạn đầu năm 2011 khi NHNN ấn định lãi suất huy động Việt Nam đồng 14%,

để đảm bảo cung thanh khoản, VIETBANK vẫn tồn tại một số khoản huy động vốnvượt lãi suất cho phép thông qua các nghiệp vụ khác nhau để chi trả cho kháchhàng Đến đầu năm 2013, một số sản phẩm huy động được đưa ra với kỳ hạn dàinhưng được trả lãi định kỳ với lãi suất cao và khách hàng có thể rút vốn trước kỳhạn với hình thức vay cầm cố sổ tiết kiệm nhằm nâng cao nguồn vốn huy động đảmbảo thanh khoản cho VIETBANK

Bên cạnh đó, những chỉ số thanh khoản nêu trên tuy đều ở mức chấp nhận đượcnhưng cũng ẩn chứa những hạn chế về thanh khoản khác của VIETBANK như:mức độ dự trữ tiền mặt vượt chuẩn cao cho thấy VIETBANK thường xuyên phải sửdụng tiền mặt để đảm bảo thanh khoản thay vì các tài sản hoặc nguồn vốn khác, tỷ

lệ cho vay trên huy động thấp cũng là một dấu hiệu về tình hình thanh khoản

2.2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Sau đây tácgiả xin điểm qua một số nguyên nhân chính của vấn đề này:

- Đầu tiên, VIETBANK chưa có một phòng, ban cụ thể nào chịu trách nhiệm

dự báo và phân tích thị trường với công việc theo dõi, nghiên cứu và dự báo sát sao cácdiễn biến của thị trường Điều này dẫn đến việc VIETBANK

Ngày đăng: 02/10/2020, 15:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w