1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dòng họ và chính quyền cấp xã trong thời kỳ đổi mới qua tư liệu từ một số xã ở thạch thất hà tây đề tài NCKH QX 2000 11

98 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 37,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả các nhà nghiên cứu thống nhất rằng quan hệ dòng họ là quan hệ huyết thống, cụ ihể là với các dòng họ phụ hệ như dòng họ ử Việi Nam thì kết cấu dòng họ được xác định bởi một ông tổ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VÃN

DÒNG HỌ VÀ CHÍNH QƯYEN CAP XÃ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUA T ư LIỆU TỪ MỘT s ố XÃ Ở

THẠCH THẤT - HÀ TÂY

Họ và tén chủ trì để tài : Cử nhân Phan Chí Thành

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐAI HOC KHOA HOC XÃ HÔI & NHÂN VÃN

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẨU

1 Lý do chọn đề tài.

Dòng họ là một hiện tượng xã hội phổ biến trong đời sống xã hội Việt

Nam truyền thống Cho đến hôm nay, quan hệ dòng họ vẫn còn là một quan

hệ bén vững trong đời sống nông thôn Do đó, sinh hoạt dòng họ chắc chắn sẽ tác động tới đời sống chính trị ở nông thôn, cụ thể là tới chính quyền cấp xã, trong cả quá trình hình thành và vận động của nó

Lâu nay, trên báo chí cũng như trong dư luận, chúng ta từng được biết đến nhiều thông tin vể vai trò của yếu tố dòng họ trong đời sỗng chính trị - xã hội ở cơ sở Băng cách nào và tại sao quá trình xây dựng và vận động của đời sông chính trị cơ sở lại phải chịu tác động này Những tác động đó có khuynh hướng tích cực hay tiêu cực, và để khăc phục nó thì cán phải có những giải pháp gì Đó thảy đều là những vấn đề có tính chất thời sự

Dòng họ ở ta là dòng họ phụ hệ, vốn là một nhân tố cơ bản của xã họi nguyên thủy Xã hội nguyên thủy đã chấm dứt từ lâu, nhưng quan hệ dòng họ, mọt đạc trưng bản chất của nó lại vẫn tồn tại Bản thân sự tồn tại này đã chứng

tỏ răng nó còn có những cơ sở hiện thực trong đời sống Vậy, cơ sở hiện thực

ấy là gì? Đó là những nhân tố tích cực hay tiêu cực trong đời sống Nó có còn phù hợp, còn cần thiết trong quá trình phát triển đất nước, trong công cuộc đổi mới, công nehiẹp hóa, hiện đại hóa đất nước hay không?

Để trả lời những câu hỏi này, trước hẽt phải giải quyết được vấn đề cơ bản, đó là xác định được bản chất của kết cấu dòng họ Nếu vấn đề này được

Trang 4

sáng tỏ, thì chúng ta có thể xác định được thực chất của các quan hệ dòng họ,

từ đó mà định tính được các quan hệ đó

Đó là một trong những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài này

Mặt khác, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội của chúng ta hiện nay

có một nhiệm vụ trung tâm là xây dựng nhà nước Pháp quyền, chuyển trạng thái quản lý xã hội chủ yếu dựa trên những quy tắc đạo đức truyền thống, trên

dư luận sang trạng thái quản lý xã hội chủ yếu là dựa trên pháp luật Song song với các công việc lập pháp, việc tăng cường tính pháp chê' của đời sổng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và thường xuyên Từ nhận thức này, qua kinh nghiệm nghiên cứu trước đây, chúng tôi nhận ra hai yêu tố quan trọng: Thứ nhấl là vai trò chính trị của chính quyền cấp xã, và thứ hai là các nguy cơ uấn lệch các quan hệ chính trị bởi những tác động phi chính trị, tác động cá nhân, nhóm, bộ p h ậ n

Vì vậy, việc xác định vai trò chính trị của chính quyền cấp xá găn với môi trường tổn lại của nó ở nông thôn, và xác định được các nguy cơ bị uấn lệch (khúc xạ) của những chức năng chính trị của nó là vấn đề có ích Nông ihồn hiện nay vẫn là môi trường rộng lớn, chiếm tỷ lệ cao trong không gian chính trị - xã hội Việt Nam Quan tâm tới khu vực này cả về vấn đề thực tiễn

và lý luận đều rất cần thiết

Về mặt địa bàn, chúng tôi nghiên cứu chủ yếu ở vùng Thạch Thất, thuộc tỉnh Hà Tây Đây là một trong những vùng đất gốc của người Việt từ thời Cổ đại Ớ vùng này, sinh hoạt dòng họ rất phát triển, đặc biệt là các xã Hương Ngải, Đại Đồng, Phùng Xá, Hữu Bằng Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu thêm ở một số xã thuộc huyện Thanh Oai như Đỗ Động, Kim Thư Vùng này giúp cho chúng tôi có được nhiều tư liệu phong phú Hơn

Trang 5

nữa, đây cũng là một vùng kinh tế - xã hội rất năng động của tỉnh Hà Tây Cư dân ở đây đông đúc, rất cần cù, thông minh trong lao động sản xuất Từ ngày đổi mới, vùng này cũng là vùng kinh tế tư nhân phát triển rất năng động.

Đó là những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài “Dòng họ và chính

quyền cấp xã trong thời kv đổi mới qua tư liệu từ một số xã ở Thạch Thất

- Hà Tây”.

2 Phương pháp nghiên cứu.

Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học - dân tộc học, các phương pháp phán tích thống kê, phương pháp so sánh, và phương pháp lôgic lịch sử Tuy nhiên, dòng

họ là vấn đồ văn hóa, và việc định lượng nó là một vấn đổ vô cùng khó khăn Bởi vậy, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn hóa học, tức phưưng pháp định giá Lrị thông qua các hiệu quả xã hội, thông qua những xu hướng đánh giá chung vồ đối tượng nghiên cứu của cư dân trong vùng Điêu này tuy không đưa lại các số liệu so sánh, nhưng lại có tác dụng xác định được

xu hướng vận động của các đối tượng nghiên cứu

Tất nhiên là phương pháp phân tích tổng hợp sẽ thường xuyên được sử dụng mỗi khi cần khái quát một luận điểm nào đó được coi như các kết quả cụ thê của công việc nghiên cứu

Trang 6

PHẦN I: BẢN CHẤT CỦA KẾT CẤU DÒNG HỌ

1.1 Các quan niệm về dòng họ.

Dòng họ là khái niệm rất quen thuộc trong khoa học dân tộc học Nó là một kiểu cố kết con người trong xã hội nguyên thủy và tổn tại lâu dài trong các xã hội đã có sự phân chia giai cấp Dòng họ trong xã hội có giai cấp đã biến đổi rất nhiều so với tình hình trong xã hội nguyên thủy Nhưng với tư cách là một kết cấu người theo huyết thống thì cái căn bản của đòng họ lại không biến đổi bao nhiêu Nó vẫn là một kết cấu người theo dòng máu và thực hiện nghiêm ngặt chế độ ngoại hôn

Tất cả các nhà nghiên cứu thống nhất rằng quan hệ dòng họ là quan hệ huyết thống, cụ ihể là với các dòng họ phụ hệ như dòng họ ử Việi Nam thì kết cấu dòng họ được xác định bởi một ông tổ chung của tất cả các thành viên trong dòng họ Giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong Tạp chí Dân tộc học số 3 năm

1996 đưa ra ba ý nghĩa của khái niệm “họ” :

- Là những người cùng mang một tên họ nhưng không chắc gì hay không có một chứng cứ gì chứng tỏ họ có chung một nguồn gốc huyết thống cho dù là rất xa xưa

- Là những ihành viên mang cùng tên họ được chắc chắn là có cùng mội nguổn gốc từ một ông tổ chung Đó là một cộng đổng mà trong đó một số được xác nhận cùng huyết thống qua iruyền thuyết hoang dường vé quê tổ hoặc hầu hếi được lưu giữ trong các tộc phả, truyền lại để cho con cháu biết được ai là người sáne, lập ra “họ” , qưê quán ở đâu, ngày giồ là ngày nào, phần

mộ đặt ở địa điểm nào

Trang 7

- Là những người thuộc một tông tộc (patrimonie), tức là cùng có chunc một ông tổ năm đời, gọi là chi họ.

Nhà bác học Trần Từ, trong cuốn sách “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ

truyền ở Bấc Bộ” , như một số nhà nghiên cứu khác, xác nhận “họ” là một kết

cấu huyết thống, nhưng trước hốt được phân biệt với đại gia đình phụ quyền ở

chỗ nó không còn là một đơn vị kinh tế, không phải là một “bếp” tập hợp

nhiều gia đình hạt nhân tự xưng là cùng một tổ tiên dưới một mái nhà chung

và nhất là cùng canh tác trên một diện tích đất được coi là sở hữu chung Do

đổ, quá lắm cũng chỉ có thể coi “họ” là một dạng đặc biệt của gia đình mở

rộng mà tác dụng chính đối với các thành viên của nó, tức là các í^ia đình nhỏ

hợp thành dòng họ, là tạo ra niém cộng cảm dựa trên huyêl ihống, thỉnh

thoảng cung cấp mộl chỗ dựa tinh thần cho từng gia đình nhỏ dang phải đương

đầu với mâu thuẫn trong làng mạc, trong khi chính nó cũng đang là một cái túi

chứa mâu thuẫn rồi Tác giả Trấn Từ còn nhấn mạnh đặc diêm, vai trò của ỏng

thủy tổ của dòng họ Đó thường là người có cổng “khai sơn phá thạch”, khới

đầu cho dòng họ tại một địa vực nhất định Khái niệm vị thủy tố chỉ có thể

mang ý nghĩa hết sức tương đối Theo thời gian, dòng họ có thổ sinh sôi nảy

nở, bao gồm nhiều chi ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ

Tác giả Nguyền Dương Bình trong Tạp chí Dân tộc học số 2 năm 1996

cũng dùng khái niệm dòng họ để chỉ những người được sinh ra từ một ông tổ,

và trong quá trình phát triổn một họ, dòng họ được chia thành nhiéu chi, nhiéu

phân chi, thông thường được gọi là ngành, là nhánh Vì vậy, khái niệm này

thông thường được hiổu là tập hợp có liên hệ với nhau về dòng máu phu hệ

Tác giả Ngô Thị Chính trong Tạp chí Dân tộc học số 2 nãm 1997 coi

dòng họ là sự tiốp nối các thế hệ Sự tiếp nối và phát triển được hay không phụ

Trang 8

thuộc vào việc có sinh được con trai hay không, có nhiều hay có ít con trai Phụ nữ là cầu nối quan trọng trong dây chuyển sản xuất dân số ấy Tuy nhiên phụ nữ chỉ là những “mát xích ngang”, tác nhân tạo ra những “mắt xích dọc”

để lưu truyền nòi giống, phát triển cây phả hệ

Tác giả Trịnh Thị Quang trong Tạp chí Xã hội học số 2 năm 1984 nói tới ba chức năng của quan hệ thân tộc, khái niệm mà tác giả dùng để chỉ dòng họ: Là một cộng đổng pháp lý, một cộng đồng kinh tế, cộng đồng sinh sống, dạo đức và tôn giáo Theo tác giả này, trong lịch sử, tổ chức thân tộc có tư cách pháp lý rõ ràng, có chế độ liên đới trách nhiệm Nhưng trong luật pháp

xã hội chủ nghĩa, tư cách này bị xóa bỏ, trách nhiệm dòng họ cũng khổng còn

mà bị thay thế bằng trách nhiệm cá nhân trước pháp luật của Nhà nước

Tác giả Trần Thị Quang coi từ đường, ruộng tế tự và quỹ do các thành viên trong dòng họ đóng góp là những biểu hiện chức năng cộng đổng kinh lố của dòng họ, thậm chí có thể coi đó là sở hữu tập thể Còn chức năng cộng dồng sinh sổng, đạo đức và tôn giáo của dòng họ thể hiện thông qua sự giúp

đỡ nhau giữa các thành viên trong dòng họ, sự kiểm soát đối với những hành

vi của những thành viên trong dòng họ Giỗ tổ được tác giả coi là biểu hiện của chức năng cộng đồng tôn giáo của dòng họ

Hai tác giả Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn trong cuốn sách “Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng” nghiên cứu dòng họ theo quan điểm và phương pháp xã hội học, vì vậy mà chủ trương không nghiên cứu bản chất của quan hệ dòng họ, mà nghiên cứu dòng họ trong thực tế đời sống, sự vận động của những quan hệ dòng họ trong các lĩnh vực như cư trú, hoạt động kinh lố,

tổ chức quyền lực và quàn lý làng xã, trong việc tìm kiêm các niềm cộnc cảm Hai tác giả này nhấn mạnh rằng họ chỉ đơn íiiản làm một việc là “tiên hành

Trang 9

khảo sát vai trò của quan hệ dòng họ ở thực địa cụ thể là hai làng Đào Xá (An Bình - Nam Sách - Hải Dương) và Tứ Kỳ (Hoàng Liệt - Thanh Trì - Hà Nội).

Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn dẫn quan điểm của Nguyễn Trune Thản và

Lc Trung Hoa cho rằng từ “họ” là bắt nguồn từ chữ “hộ” trong tiếng Hán được dùng từ khi nhà Triệu lập chế độ “hộ tịch” , nhưng ông lại nghi ngờ luận điểm này, bởi vì cũng theo tác giả, Ngổ Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký loàn ihư đã chép về chế độ hộ tịch của nhà Triệu không kiổm ké “họ” mà kiêm kê nhà, do

đó “hộ” có nghĩa là nóc nhà Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thiên vổ quan điểm của giáo sư Phan Văn Các, do đó từ “họ” có gốc từ khái niệm “tính” hay “thị” trong tiếng Hán, trong đó “tính” là chữ thông dụng hiện nay Tác già nhấn mạnh ràng, quan niệm “họ” và quan niệm “ha họ” có mối liên hệ chật chẽ

“Họ” có thổ hiểu trong ba nghĩa Nghĩa thứ nhất là những người cùng mang một tên gọi họ, mà không chắc chắn hay không có chứng cứ gì là có chunu mộl nguồn gốc Sự trùng lặp tên gọi họ do rấl nhiều nuuyén nhân từ các hiên động phức tạp của dời sống, trong dó cố những nguyên nhân chính trị, xã hội: Họ do vua ban, ihay đổi tên gọi họ để tránh họa chu di, kiêng kỵ húy của nhà vua, và trong lịch sử hiện đại, nhiều người đi hoạt động cách mạng cũng thay đổi họ tên Những nguyên nhân xã hội gồm có các trường hợp làm con nuôi, đổi theo họ của mẹ để giúp bên họ nối dõi, bán khoán, “cho” một gia đình phúc hậu đổ tránh cho đứa bé đau ốm

V nghĩa thứ hai là những thành viên mang cùng tén họ biết chắc chấn là cùng một cụ tổ Đó khồng phải là một thị tộc (clan), càne khônc phải là gia dinh (íamillc) như một số tác giả phương Tây thường dùng Nhưng Irong những cộng đổng này, một sô' lại được xác nhận huyết thống qua truycn thuyết hoang đườnt: Nhữnti họ lớn có danh giá, dỗ dạt, cỏ cõng, làm vè vang cho

Trang 10

làng xóm mới hay lập tộc phả Các họ thường thì ít khi làm việc này Tuy nhiên dân ta thường rất coi trọng khoa bảng, mà chế độ thi cử lại khá dân chủ, nén trong lịch sử mỗi dòng họ thường có một thế hệ nào đó có người đồ dạt Cho nên có những dòng họ hiện tại không có đặc điểm nổi bật eì nhưng irong quá khứ thường có những người tổ tiên có danh tiêng Trong tâm lý chuộng việc nghĩ đến cội nguồn, những người trong các họ này vần ngấm ngầm noi chí tổ tiên, dù đạt được hay chưa đạt dược mục đích vẫn thường xuyên nghĩ dến dòng họ.

Ý nghĩa thứ ba là những người thuộc cùng một tồng tộc, thường là cùng một ông lổ nãm dời Đây là dòng họ trong thực tố

Khái niệm “ ba họ” ihường được hiểu là họ nội (họ của bỏ), ho ngoại (họ của mẹ) và họ vợ Quan niệm này khác nhau giữa các tộc người chủ yêu

do quan niệm vồ ngồi ego (tôi) khác nhau

Còn mộl số những quan niệm của các nhà nghién cứu khác nữa, trong

dỏ những dấu hiệu của dòng họ thường chỉ giống nhau ở quan niệm cùng một huyết thông Còn lại các tác giả, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của mình, nhấn mạnh thêm các khía cạnh khác nhau trong đời sống dòng họ

1.2 Bản chát dòng họ.

Trước hốt, dòng họ là một kết cấu xã hội được hình thành trên cơ sở của một quan hệ tự nhiên, đó là quan hệ huyết thốne Gọi là tự nhiên vì quan hệ này đã xuất hiện ngay trorm các quần thổ độnc vật Những con vật mới ra đời đều đã có khả năim nhặn ra mẹ của chúng Còn các con mẹ thì cũng nhận ra các con của chúnti, phân biệt với các con vật mới sinh khác ớ trong dàn ơ nhữrm quần thê mà tính xã hội đã trở nén rõ nét và hơn hãn các loai khác, dăc biệt là ở các quần thể linh trưởng, quan hệ huyết thống được các cá thê nắm

Trang 11

vững tới quy mô bầy đàn Vì vậy, có thể nói quan hệ huyết thống là quan hệ xã hội đầu tiên trong xã hội loài người được hình thành trên cơ sở của một quan hệ

tự nhiên phổ biến nhất trong sinh giới nói chung và trong động vật cao cấp nói riêng Có thổ nói đó là một quan hệ tự nhiên đầu tiên được xã hội hóa

Trong suốt lịch sử hàng triệu nãm của xã hội nguyên thủy, quan hệ huyết thống là cơ sở căn bản của xã hội Nổ dinh tính các công dong người, và

là cơ sở cho sự xuấl hiện của các quan hệ xã hội khác irone hình thái kinh tố

xã hội đầu tiên của lịch sử loài người

Ngay troníỉ thời kỳ này, mặt định lượng của quan hệ huyốt thống chính

là các yêu tô’ xác định quy mô của những cộng đồng người Nêu tất cả các quan hệ khác đổu có cùng quy mô với quy mó quan hệ huyết thốnn, thì chúng xác lập mộl cộng đổng ổn dịnh; được tái xác lập bằng quan hệ ngoại hôn Đó chính là các thị tộc trong thời dại nguyên thủy

Ớ đây ta thấy sự xác lập của một đơn vị sản xuất tiéu dùng - Tố bào của

xã hội - bàng sự đan kốt vào nhau của các quan hệ với quan hệ huyél thống Cho nên chúng tôi gọi là sự định lượng quan hệ huyết thống: Trẽn cơ sở của quan hệ huyết thống, tập thể những người tuân thủ những quy định chung về sinh hoạt, tín ngưỡng, sở hữu chung một cơ sở sàn xuất, có quyền lợi như nhau tronq phân phổi sản phẩm, tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc ngoại hồn thì họp thành mổt thị tộc Đó là hình tượng trọn vẹn cùa tổ chức dòng họ

Dòng họ tổn tại trên thực tế vẫn là từ những nguyên nhân có từ thời

ông ihủy lổ Trong nuhĩa này, dòng họ có một phạm vi rất lớn, có thể lén tới hàng chục nghìn, thâm chí chuc vạn con người Nếu chỉ dìmc lại ở dấu hiệu

Trang 12

xác định về mặt này chúng tôi gọi là sự định tính dòng họ: Tính chất huyết thống Sự định tính như thế là để phân biệt dòng họ, với tư cách là một tập hợp người, với những tập hợp người trên một cơ sở khác như nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính

Chỉ khi thực hiện được công việc định lượng dòng họ thì bấy giờ chúng

ta mới có được “dòng họ” theo ý nghĩa là một kết cấu con người Theo chúng tôi, có những khía cạnh sau đây làm cơ sở cho việc định lượng dòng họ:

Thứ nhất, trong các dấu hiệu định lượng, quan hệ kinh tê' là dãu hiệu mờ nhại nhất, hởi vì cơ sở kinh tế chung của dòng họ đã mất đi từ lâu đời, có thê’ nói là hàng ngàn năm nay Sự khác biệt về quan hệ kinh te giữa các thành vien trong họ với quan hệ kinh tế giữa thành viên dòng họ với một người khác họ càng ngày càng càng mờ nhạt cùng với sự phái Iriổn của kinh lố nói chung, và càng mờ nhạt trong kinh tế Ihị trường Những yếu tố mà hiện nay các nhà nghiên cứu còn kê’ lới như là dãu hiệu của kinh tê chung thực ra là rất yêu ớt

và không có tính thuyết phục Cho nên quan hệ kinh tê' khổng đóng góp gì nhiều vào việc định lưựng dòng họ

Thứ hai là quan hệ neoại hôn Dòng họ là một cộng đổng ngoại hôn, đổ

là điều mà hất cứ nhà dãn tộc học nào cũng khàng định Thậm chí người ta có thê coi dấu hiệu ngoại hôn là dấu hiệu định tính dòng họ, gắn liền với quan hệ huyết Ihông và những ứng xử tàm linh, tâm lý có liên quan với vấn đé huyết Ihống Nhưng trong thực tê, chiếu theo yêu cầu xác định quy mô của dòng họ như là một kết câu người có tính ổn định nào đó thì yếu tố ngoại hôn lại khổng

có tác dung nhiổu Bới vì trong thực tế, việc ngoại hôn không chi được thực hiện ớ trontỉ nội bộ dòne họ như là một kết cấu người có tính ổn định tương dối thường là chỉ bao gồm 5, 6 thố hệ những con người dang sống và tự nhận

Trang 13

là bắt nguồn từ một ông tổ chung Trong các xã ở huyện Thạch Thất, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây, thường là không kể cách nhau bao nhiêu dời tính từ ông tổ chung, mà hễ cứ phát hiện ra (còn nhận ra) có cùng một ông tổ dù cách xa bao nhiêu đời, thì người ta đã tự nguyện không thực hiện những cuộc hôn nhân dược coi là đồng tộc Tất nhiên là không kể những trường hợp người

ta vô tình, thiếu cẩn thận, thiếu thông tin mà không biết được là có chung ông

tổ Như vậy, nếu lấy yếu tố ngoại hổn làm cơ sở định lượng, dòng họ với tư cách là một kết cấu người ổn định sẽ không được xác định Chỉ có thể coi ngoại hôn là một trong những yếu tố tham gia vào việc xác định (định lượng) dòng họ mà thối

Dấu hiệu thứ ba là tập họp những biểu hiện về sinh hoạt chung dòng họ

Đó lhường là những sự quan lâm lẫn nhau giữa các thành viên trong dòng họ ớ đời thường, với xu hướng thường là mặn mà hơn với những nu ười khônn cùng

họ, theo thói quen “ Một giọt máu dào hơn ao nước lã” Nó thường dược biếu hiện trong các dịp cưới xin, ma chay, làm nhà, những rủi ro trong cuộc sô ng

Và đặc biệt là những buổi họp họ khi phải quyết định những cồng việc cổ liên quan đốn toàn thể dòng họ Những sự việc cụ thê’ thường chỉ là rải rác, phải tập hợp lại theo một thời gian nào dó người ta mới nhận ra Tuy nhiên nó cũng

là những yêu tố tham dự vào việc củng cô' mối liên hệ eiữa các thành viên trong dòng họ, tăng thêm tính bổn vững của kết cấu này iVIặc dù vậy, khi xã hội eàne phát tricn, đặc biệt là tính pháp chế của đời sông ngày càng tãng lén, yếu tố thị trường của sản xuâi càng tăng lén thì xu hướng chung là những biếu hiện này cũntĩ Iieày càng nhạt dần

Dấu hiệu thứ iư là Iiehi lễ ụiỗ tổ chung Theo chúng tói đáy là dấu hiéu quan trọniĩ nhất đê’ xác định quy mõ của dòng ho Trong thực tố một kết cấu dòng họ tươnq đỗi bền vững hao giờ cũng hao gổm một táp the người định kỳ

Trang 14

thực hiện nghi thức giỗ ông tổ chung Theo quan niệm thường gặp, ông tổ chung ấy thường là ông tổ năm đời của ego (tôi) Ngôi ego không nhất thiết là trưởng họ mà thường là người có bậc huyết thống cao nhất trong dòng họ Những dòng họ có nề nếp nho học thường hay áp dụng hệ thống cửu tộc Ông

tổ nãm đời chính là ông cao tổ, là đời thứ năm tính ngược từ ego trử lẽn Đây

là ảnh hưởng của vãn hóa dòng họ Trung Quốc, thực hiện theo nguyên tắc

“Ngũ đại mai thần chủ”, sau đời ông cao tổ thì bài vị sẽ được đem đốt, không còn thờ ở nhà thờ họ nữa

Dấu hiệu này là dấu hiệu quan trọng nhất, và nó cũng phù hợp với các quan niệm dòng họ Một dòng họ hiện thực, có tính ổn định tưưng đối cao thì nghi thức giỏ tổ dược coi là bắt buộc, tiến hành từng năm Trong thực tố, người ta thường gọi những kốl cấu người ờ khuôn khổ này là những chi ho Khái niệm dòng họ mà chúng tồi sử dụng ironti luận án chù yếu là chi két câu này Thực ra nhiều chi họ (thực chất là dòng họ với tư cách là két cấu tưưng đối ổn định) còn có nghi thức giỗ tổ chung của các chi họ, gọi một cách ngắn gọn là giỗ họ Nhưng tính lặp lại của ngày giỗ này không cao bàng ngày giỗ tổ chung của các chi họ Nó phù hợp với tính kém ốn định hơn của họ với tư cách là tập hợp các chi họ, so với kết cấu mà chúng tôi gọi là dòng họ trong đề tài này Người ta còn có thể tiến hành những buổi giỗ chung một ỏng tổ ở một quãng cách rất xa Có hai trường hợp dành cho loại này Thứ nhất là ổng tổ đó

là người cổ danh vọim, đê lại tiếng tốl cho dòng họ, nên các dòrm họ dù khỏnu còn là mội kô't câu ổn định xét về mặt sinh hoạt nữa, nhưng vẫn có nguyện vọng chung, niềm tự hào chung về ổng tổ đó Do đó mà buổi giỗ chune dược duy trì mặc dù cố the rất thất thường, tùy hứng, tùy dịp Thứ hai là từ dòng họ ban đầu của ông tổ chune, đổ, các dòng họ đã phân chia ra từ lâu, trở thành rất nhiều họ có tính ổn định tương đối, nhưng vẫn cùng tụ cư trong mót khu vực

Trang 15

khá hẹp Vậy là, tính ổn định của lễ giỗ tổ có thể nói là khá tương đồng với tính ổn định của dòng họ với tư cách là một kết cấu người.

Trung Quốc và Việt Nam là hai nước có đường biên giới chung gần cả ngàn cây số, có quan hệ bang giao và quan hệ dân sự qua lại nhiều ngàn năm, cho nên ảnh hưởng lẫn nhau rất đậm Tuy nhiên, Việt Nam không phải là Trung Quốc trên rất nhiều lĩnh vực Do đó, mặc dù cùng có đặc điểm chung là

sự lổn tại lâu dài của kốl cấu dòng họ trong đời sống, nhưng khi xem xét kỹ lưỡng, chúng ta có thể nhận thấy những khác biệt rất rõ rệt giữa dòng họ và quan hệ dòng họ ở mỗi bên

Với ảnh hường qua lại, cụ thể là ảnh hưởng của văn hóa dòng họ Trung Quốc đốn văn hóa dòng họ Việt Nam có thê’ kổ đốn yốu tô đầu tiên là lộc danh Có rất nhiều tộc danh ở Việt Nam giống với lộc danh ờ Trung Quốc như Lưu, Tống Hiện tượng này được các nhà nghiên cứu giải thích băng nhiều

lý do Thứ nhất là vay mượn Kết cấu dòng họ ứ Việt Nam dương nhiên là có

từ lâu đời nhưng tên gọi họ (tộc danh) thì lại chưa có trước khi vãn hóa Hán

du nhập vào Thứ hai là hiện tượng Việt hóa của người Trung Quốc Gần như trong mọi thời kỳ lịch sử đều có người Trung Quốc di cư sang Việt Nam giữ lại

Sự tươntỉ đổng thứ hai là hệ thống cửu tộc, ít nhất là vé mặt hình Ihức Vấn đổ này có liên quan đến kết cấu lấy đời Ego làm mốc Kết cấu này nhìn chung là giống nhau giữa dòng họ của Trung Quốc và Việt Nam

1.3 Hiện trạng của quan hệ dòng họ ở nóng thỏn ngày nay.

1.3.1 Dòng họ ở một so dân tộc thiểu số.

Cùng sinh sống trên một lãnh thổ, các dán tóc thiểu số của nước ta đã đóng góp vào kho làne vãn hóa dân tộc những nét đặc sắc của văn hóa dán tộc

Trang 16

mình, một trong số đó, văn hoá dòng họ cũng có một vai trò không nhỏ của mình Mỗi dân tộc đều có những qui định, tập tục riêng đối với các quan hệ trong dòng họ Có thể ở một số dân tộc thì giống nhau nhưne nhìn chung nó đểu mang một bản sắc riêng của dân tộc đó.

Trong quan hệ kinh tế của người H ’mong, theo như tác giả Vũ Văn Quang nghiên cứu thì khi một dòng họ di cư đến vùng đất nào đỗ, các gia dinh phải tự khai phá đất và có quyền sở hữu toàn bộ đất đai Dònc họ khổne có ruộng đất công, ruộng dất thừ cúng hay ruộng dành cho các chức dịch Mỗi một gia đình trong dòng họ là một đơn vị kinh tế độc lập Tuy nhiên, cho dù ruộng đất thực chất thuộc quyền sở hữu của gia đình nhưng vẫn bị chi phổi phần nào bởi quan hệ dòng họ Điều này the hiện ở chỗ dối với gia đình có nhiều ruộng đất đôi khi phải san sỏ bớt cho nhữnu gia đình thiêu hoặc không

có ruộng đất Hay một gia đình di cư đi nơi khác, hoặc bô mẹ chết mà không

có con cháu thừa hường thì phần ruộng đất ấy dược dòng họ phán cho anh cm khác sử dụng Còn nếu cần bán thì trước tiên phải hán cho anh em trong họ Song điều này rất ít khi xảy ra vì khi khó khăn anh em tronti họ thường là giúp

đỡ nhau cho vay mượn

Ở người Thái, ruộng đất thuộc quyền sờ hữu của dònc họ Trưởng họ sẽ chia số ruộng đất này cho tất cả các gia đình trong dòng họ Tất nhiẽn những gia dinh này chỉ cỏ quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu, chỉ có quyén cầm cố chứ không có quyền bán đất Sau khi chia xong, số ruộng còn lại giao cho những nmrời neoài dòrm họ khõng có đất dể canh tác Những ngưừi này phải nộp lô lao dịch, phải đi phu, di lính thay cho những ngưừi trong tông lộc

Đôi với các tộc neười Tà Ôi, Cư Tu, Ván Kiều, các thành vién dù là trong môt gia dinh, irons một phân chi họ hay trong một họ đổu gắn bỏ chật

Trang 17

chẽ với nhau trong lĩnh vực sản xuất Một tập quán đã hình thành từ lâu đời,

dó là khi một gia đình nào đó phát rẫy hay thu hoạch thì các gia đình khác có nghĩa vụ đến giúp đỡ Sự hợp tác trong làm ăn là một yếu tô tích cực trong đừi sống cộng đổng Vào những lúc mất mùa, đói kém hay đau ốm, họ cưu mang, bảo vệ nhau

Trong quan hệ xã hội, hầu như các dân tộc đều có đặc điếm chung là thích cư trú thành cụm theo từng dòng họ Dù là ở bản cũ hay di dời sang nơi khác, tâm lý thích quần tụ luôn được đặt lén hàng dầu Ngoài ra, mỗi một dân tộc còn có những đặc điểm riêng biệt Với người H ’mổng, trong dám ma điều quan trọng để phân biệt các dòng họ với nhau là việc đặt hướng mọ, cách chôn cất người chết Trong nghi lễ làm ma, mỏi một dòng họ đổu cổ những tập tục riêng của mình Tấl cả những người trong cùng một họ hắt buộc phài làm ma theo họ của mình Do đó, khi nhận anh em họ hàng họ chi cần hòi cách làm

ma là biết có cùng họ hay khống Luật tục của người H ’mong còn quy định cả nghĩa vụ, trách nhiệm của các thành vién trong dòng Người H'mong cổ câu:

“Sống là người của dòng họ, chốt là ma cùa dòng họ Sống phái bào vệ nhau, chết phải chôn cất cho nhau” Trong cuộc sống, người H ’mông tuân thủ nghiêm ngặt những lễ nghi kiêng kỵ của dònc họ mình, những người thán thuộc phải giúp đỡ, bảo vệ nhau, giúp nhau báo thù, kiện cáo, giúp trả nợ và đòi nợ, giúp vì danh dư của dòng họ Gặp chuyện vui buồn, dù “dốc cao đường xa, họ cũng đốn chia xè với nhau Mối quan hệ giữa các thành viên cùng dòng họ thườne vưựi qua khỏi ranh giới hành chính quốc gia Người dòng họ cư trú tới đâu, luật tục dòng họ thực hién tới đó” (Quan hệ dòng họ trong xã hội người H' m ôn g - Vương Duy Quang)

Tron lĩ dòng ho của người H'mong còn phủi kê’ đến vai trò của người

“cầm quyổn dòng ho” Đây là người có uy tín, thong hiêu đao ly của người

Trang 18

H ’mong Người cầm quyền dòng họ không phải là trưởng họ, khône do hầu bán cũng không bị phế bỏ Người này chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện những luật tục lễ nghi tôn giáo đối với dòng họ và đối với cả bên ngoài Ngược lại, trưởng họ là do dòng họ cử ra và có thê’ bị phố truất khi không còn dược tín nhiệm nữa “Bà cô” trong xã hội người H ’mong cũng cớ một vai trò quan trọng Đây là người được quyền tham gia ý kiến vào các việc lớn trong dòng họ như cưới xin, ma chay, và đặc biệt là irong các vụ “ xưng vua” trước kia của người H ’mong Nói chung, tổ chức dòng họ của người H ’mong không giống một cơ cấu hành chính, nó không phụ thuộc vào chính quyền nhà nước Mọi việc xử lý đều dựa vào tình cảm và luật tục của dòng họ, các Ihành viên đều thực hiện một cách tự nguyện và có ý thức.

Trong ngành Thái, vai Irò của Irưứng họ lại lùy thuộc vào từnu luật tục cùa mỏi ngành Ớ Quỳ Châu - Nghệ An, theo nguyên tác trường họ là con trai trường của ngành trưởng Gia dinh trưởng họ là gia đình có uy lín nhất trong dòng họ Do đó chỉ khi gia đình đó không có con trai thì chức trưởng họ mới chuyển sang gia đình khác Nhưng đối với ngưừi Thái ở Táy Bắc, chức vụ trường họ được trao truyền không phải từ người cha cho người con trai cả mà

là từ anh trai cho em trai Chỉ khi nào người em trai chốt, chức vụ này mới traơ lai cho người con trai trưởng của người anh cả Tuy nhién, khi người em được nhân chức vụ trường ho Ihì vật linh thiêng của dòng họ là thanh gươm thiéng

và một chõ ninh xôi (theo quan niệm của người Thái là nơi ma nhà trú ngụ) lại dược người anh trai đế lại cho người con trai trường của mình (Dòng họ và mối quan hệ giữa gia dinh và dòng họ ờ người Thái - Đồ Thúy Bình - Tạp chí Dân tộc học Số 2 - 1C)Q4) Trường ho ờ ne ười Thái là người chủ trì nghi lỗ tổ sáng lập ra dò nu họ, trông nom nhà thờ họ, triệu tập hội nghị tông lộc, giải quyết mọi xích mích giữa các thành viên trong dòng họ cũng như các cong

Trang 19

việc đối với người ngoài họ, giữ địa đồ về rừng núi, nương đồi soi bãi thuộc quyền sở hữu của dòng họ, chịu trách nhiệm trước pháp luật vồ quyền sờ hữu các bất động sản, phân chia đất canh tác cho các gia đình, chủ trì các công việc có liên quan đến cưới xin, ly hôn, phạt v ạ

Do đặc điểm hình thành cộng đổng người Triêng có những điểm riêng hiệt nón trên thực tế các dòng, nhánh (họ) của người Tricng vẫn đang tổn tại nhưng rất mong manh Đối với người Kinh, họ hàng mang tính huyêl ihông sâu sắc thì với người Triêng, sự phân biệt giữa các dòng, nhánh (họ) rất mờ nhạt, vai trò của trưởng họ hầu như không có Nếu trong cùng một plây (bản) lổn tại các họ thì tất cà đcu bị chi phối bời vai trò của già làng

Trong quan hệ hồn nhân, các dân tộc thiếu sổ cũng gần giông như người Kinh, đó là tuyệt đối cấm kết hôn trong dòng họ Người trong một họ kêt hôn với nhau bị coi là phạm lội loạn luân, phải chịu phạt vạ rất nặng Luật tục của người H ’mông rất nghiêm khắc trong vấn đồ hồn nhân Anh em “khác ma” nhưng trùng lén dòng họ cũng không được lấy nhau Với người Êdé, hiện nay nguyên tắc ngoại hôn theo hệ dòng chí được thực hiện ở một nhóm địa phương gốc Êđê, còn các nhóm lai, nguyên tắc đó hoàn loàn bị xóa bò, ihậm chí cả ở những nhóm gốc Êđê cũng khỏne thực hiện triệt đế Các hiện tượng kết hổn trong một hệ dòng xưa kia bị luật tục coi là tội loạn luân Ca eăm) thì nay đã dược chấp nhận và coi là hiện tượng bình thường (Sự phát triến dòng

họ của người Êđê ở tính Đắc Lắc - Vũ Lợi - Tạp chí Dân tộc học Số 3 - 1983)

Hôn nhân của người Triêng lại mang tính trung gian giữa phụ hệ và mẫu hệ Nêu sinh con Irai thì mang họ cha, sinh con gái thì mang họ mẹ Do vậy nêu hổn nhân chéo dòng thì vấn đổ con mang họ cũng rất dỗ giải quyết

Trang 20

(Dòng họ của người Triêng truyền thuyết và mối quan hệ cộng đồng - Ngọc Quang - Tạp chí Dân tộc học số 4 - 1997).

Hình thức trừng phạt đối với tội loạn luân của người Tà Ôi, Cơ Tu và Vân Kiều là bắt ăn thức ăn thừa của heo, cao hơn nữa là bị giết hay bị đuổi ra khỏi cộng đổng Họ không chấp nhận kiểu hôn nhân trong dòng họ Nhưng theo phong tục của người Hrê thì cháu của anh (chị) với cháu của em, hoặc chắt của anh (chị) với chắt của em được phép lập quan hệ hôn nhàn (Góp phần nghiên cứu tính song hệ ở dân tộc Hrc - Lưu Hùng - Tạp chí dân tộc học sô' 3 - 1983)

Người Thái cũng đặc biệt cấm hôn nhân trong dòng họ Với thiết chế đòng họ chặl chẽ, vai trò và uy tín của tông tộc mạnh mẽ cho nên hồn nhân của người Thái đôi lúc khổng cần đến chính quyền can thiệp Các đói trai gái lấy nhau chỉ cần hai gia đình, hai tông tộc đổng ý với nghi lễ cưới xin Ihco truyền thống Họ có thể bỏ qua mọi thủ tục pháp lý như việc đăng ký kốl hôn

ở chính quyền địa phương Cũng như vậy, khi ly hôn chỉ cần có “giấy cầm tay” , tức là tờ giấy vợ chổng cam kết bỏ nhau và trao cho nhau là xong, không cần tới sự can thiệp của tòa án Chính vì điều này mà quyền lợi của phụ nữ bị xâm phạm nghiêm trọng

Tùy thuộc vào sự hình thành và phân chia các nhánh dòng của một số dân tộc thiểu số mà các quan hệ trong cộng đồng này có những phong tục tập quán riêng

1.3.2 Quan hệ dòng họ ở một sô xã thuộc Thạch Thất và Thanh Oai.

13.2.1 Khái quát tình hỉnh các dòng họ ở địa bàn nghiên cứu.

Thach Thất và Thanh Oai là hai huyện thuộc tính Hà Táy Thạch Thất là vùng đất Việt cổ, nàm ờ phía Tày Bấc của tính, và vùng hán sơn dịa, nơi

Trang 21

chuyển tiếp giữa vùng núi phía Tây Bắc (Hòa Bình) với đồng hằng Bắc Bộ Còn Thanh Oai nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Tây.

Căn cứ vào tài liệu khảo cổ học và những truyền thuyết kể lại từ đời này qua đời khác thì Thạch Thất và Thanh Oai đã có người sinh sống từ rất sớm Đặc biệt, theo các nhà khoa học khảng định trcn địa bàn huyện Thạch Thất từ cách đây 4.000 năm đã có những cộng đồng người Việt cổ sinh sống Ở những vùng cao như dãy núi vua Bà, Đổng Bãi, và vùng gò cao ờ Thạch Hóa ngày nay “ Vào thiên niên kỷ thứ II Trước Công nguyên (cách chúng ta 4.000 nãm)

có những nhóm tộc người cư trú ở vùng trung du và những vùng đất cao ven rìa phía Bác và đổng băng Bắc hộ, dó là những vùng dất thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Bắc” (Thời đại Hùng Vương - Nxh KHXH - Hà Nội, 1973)

Tuy là những vùng đất xuất hiện từ rất sớm nhưng dân cư ớ dây lại bị xáo trộn nhiều trong lịch sử Ó Thạch Thất, sau khời nghĩa Hai Bà Trưng thất hại, cư dân vùng này bị triệt hạ, hoặc phải lưu lán đi nơi khác de trách sự khủng bố của bọn xâm lược Địa hàn này cũng thường là nơi nổ ra khác cuộc khởi nghĩa nông dân - Sau thất bại của mỗi cuộc khởi nghĩa, tình hình dân cư lại một phen xáo trộn Còn Thanh Oai trước kia cũng là một trong những vùng đất của các tướng quân (Đồ Động là cát cứ của tướng Nguyễn Cảnh Thạc) Và trong thời kỳ chiến tranh, đây là một trong những khu căn cứ du kích nên cũng phải chịu những ảnh hướng, do đó người ta không còn có thế khảo cứu được một cách chính xác và đầy đủ nguồn gốc của các dòng họ ờ những vùng này Qua những xáo trộn như thố, ký ức (cả văn tự và iruyền miệng) của các dòng họ khô nu còn nhi nhận được thât rõ ràng

Tuy nhiên Thạch Thất và Thanh Oai là địa hàn mà ờ đó sinh hoạt dòng

ho vẫn còn được duy trì, liru uiữ nhiều dạng thức biểu hiện cùa quan hệ huyếl

Trang 22

thống từ lâu đời Song tình hình ấy không giống nhau ở các xã trong huyện và điều đó cũng là lẽ thường tình.

1.3.2.2 Các đặc trưng của sinh hoạt dòng họ.

1.3.2.2.1 Quan hệ dòng họ vê mặt kinh tế.

Dòng họ không còn là một thiết chế chặt chẽ như những gì chúng ta được biết về Tông tộc trong thời nguyên thủy, chủ yếu là vì nó không có một

cơ sở kinh lố chung

Cho đến nay, chúng ta khống còn đủ tài liệu để xác minh một cách chính xác thời điếm mà ở đổ cơ sở kinh tế của Tông tộc bị tan rã Nhưng xem xél trong chừng mực tri thức chung của giới sử học và dân tộc học về đặc điểm hước chuyển từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp ở Việt Nam, thì có thể biết được rằng đó là mộl quá trình lâu dài, chậm chạp, song song với quá trình hình thành các giai cấp có lợi ích đối kháng ở Việt Nam

Tất cả các điều tra hổi cố của tất cả các nhà nghiên cứu đcu không tìm thấy, ngay cả trong ký ức, về sự tồn tại ruộng đất chung của dòng họ Thậm chí cả trong các truyền thuyết dân gian, dấu vết này cũng khống có

Ở các họ trong vùng Thạch Thất, theo điều tra hồi cố, thu nhập từ ruộng hương hỏa có tới một nửa trường hưp các họ là không đủ chi phí cho giỏ họ và các sinh hoạt chunu TronẾỊ trường hợp này, trường họ sỗ thông báo cho các thành viên đê' các thành viên đỏng góp thêm Có hai cách đóng góp thêm Cách thứ nhất là trướng họ bổ theo đầu thành viên nam giới, khống phân tuổi tác hay tính theo cách mồi gia đình là một thành viên, và cách thứ hai là tùy tâm Cách thứ hai thường được coi irọng hơn, được sử dụng ờ trong các họ mà

tỷ lệ đời sống thành viên ở mức độ ổn định tương đối lớn Ớ các họ như vậy,

Trang 23

ngay cả khi hoa lợi từ ruộng họ đã đủ cho chi phí giỗ tổ, các thành viên vẫn tự nguyện góp giỗ tùy tâm của mình.

Khái niệm “góp giỗ” khá quen thuộc trong đời sống nống thôn cũng phản ánh một phần tính phổ biến của kiểu đóng góp này Kiểu đổng góp này càng phát triển kể từ sau khi có phong trào hợp tác hóa, thời điểm mà ruộng

họ hoàn toàn hiến mất, mà có lẽ là biến mất vĩnh viễn

Theo quan niệm của chúng tôi, nhà thờ họ không thê được coi là cơ sở kinh tê chung Xưa kia, khi chưa có kinh tế thị trường, nó càng khổng bao giờ

là một Ihứ “ vốn sinh lợi” Ngay cả ngày nay, khi mà đất đai trở nén rất cỗ giá thì nhà thờ họ cũng vẫn không thể trở thành đối tượng mua bán Chỉ đặc hiệt trong trường hợp nhà thờ họ trở thành đối tượng đén bù đê’ giải phóng mặt bằng cho những công trình xây dựng, đường xá hay các mục đích xã hội khác ihì ý nghĩa kinh tế của khu đất nhà thờ họ mới nảy sinh Tuy nhién, trong khu vực địa bàn mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu cũng chưa thấy một trường hợp như thế xuất hiện

Nhiều làng xã ờ huyện Thạch Thất đã phát triển rất mạnh các nghé thủ cồng truyền thống trong nhữníỉ nãm đổi mới vừa qua, như các nghề mộc, nề, chạm khắc đá, gồ, và các nghề mới như cơ khí, sửa chữa Nhiều cơ sở kinh

tế ở quy mô tiểu chủ với số vốn từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng đã ra đời Nhưng chưa hề có một cơ sở kinh tế nào là sở hữu chang của dòng họ nào, ngay cả khi chúng là công ty cổ phần hay còng ty trách nhiệm hữu hạn Các

cơ sờ kinh tê' này đều phải vật lộn với thị trường một cách khó khãn Trong các cơ sở kinh tố đó, tính chất dòng họ chỉ được biểu hiện rất mờ nhạt như đành vị trí lao động cho những ne ƯỜI trong họ nêu đảm bảo được hiệu qua lao động ít nhất là như neười ngoài họ, lạm ứng ticn lương khi chưa đốn kỳ phát

Trang 24

lương, ngay cả cho ứng lương vài tháng rồi trừ sau cũng rất hãn hữu Tóm lại, tính chất dòng họ phải không làm ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh Nếu vượt quá mức này thì có cũng không thể tổn tại được.

Đối với chúng tôi, vai trò mờ nhạt của dòng họ xét trên lĩnh vực kinh tê' lại có ý nghĩa quan trọng Nó khảng định rằng, ngay cả khi kinh tố không còn

là cơ sở chung nữa, thì dòng họ vẫn còn tồn tại dai dảng suốt hàng mấy ngàn năm rồi và còn đang tiếp tục tổn tại như thố nữa trong một tương lai chác chắn

là rất dài Thậm chí trong những năm đổi mới vừa qua, người ta còn thấy tính chấl nghịch của tương quan này lại tăng thêm: Chính trong thời kỳ xã hội Việt Nam chuyển đổi một cách căn bản từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nén kinh

tố thị trường, sinh hoạt dòng họ lại được phục hổi, đôi khi trờ nên rấi sôi nổi: Điều đó chứng tỏ bản chất của quan hệ dòng họ không gắn lien với những điều kiện sống vậi chất theo quan hệ một - một, dù là xét theo tỷ lệ thuận hay

tỷ lệ nghịch Hay nói một cách khác, quan hệ dòng họ mà chúng ta thây biếu hiện ra trong đời sống hiện ihực ihật ra chỉ là quá trình vật thổ hỏa những yêu

tố tinh thần được hình thành và tổn tại sâu sa từ một cấp độ ý thức rất cao Những nghiên cứu kinh tố còn cho biếl rằng: ơ những công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn mà thành viên của nó bao gồm loàn những người

có quan hệ huyếl thống với nhau, công việc kinh doanh thường rất thất thường, hay đổ bể, thậm chí phá sản, vì những yếu tố dòng họ thường là những yếu tô' cản trở các quy tắc kinh doanh hiệu quả, ràng sự nể nang nhau,

“gia đình chủ nghĩa” rất đối lập với nguyên tấc trách nhiệm cá nhân, và do được “đặi trên” các nguyên tắc này, yếu tố huyết thống thường là thủ phạm chung của những thất bại

Về cơ bản ranh eiới ^iữa quan hệ dòng ho với quan hệ lán cư ờ trong đời sống làng xã xét về mặt kinh tế là rất mờ nhạt Nguyên tắc “kiến giả nhất

Trang 25

phận” có giá trị như một hệ quy được đa số thừa nhận Một mật khãng định rằng gia đình nhỏ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng, một mặt khảng định ràng giữa các thành viên trong dòng họ không cần phải có nehĩa vụ kinh tê £Ì với nhau nữa.

1 3 2 2 2 Quan hệ dỏng họ vê mặt x ã hội.

Quan hệ dòng họ về mặt xã hội rõ rệt hơn quan hệ dòng họ về mặt kinh

tế Điều này có những cãn nguyên hiện thực Quan hệ vổ mặt xã hội là môi trường đổ giải quyết các lợi ích trực tiếp hơn so với lợi ích kinh tế, đó chính là hoạt động tạo ra các điều kiện xã hội và tâm lý, trên cơ sờ đỗ người ta có nhiều Ihuận lợi hơn đổ giải quyết những lợi ích trực tiôp Các diều kiện dổ Ihường là uy ihê xã hội, sự ủng hộ của người khác, các diêu kiện thuận lợi đê giành được tự sự tín nhiệm hay vị nổ của các thành viên khác trong làng

Dòng họ có vai trò rất quan trọng để mỗi người tạo dựng và phát huy danh giá cá nhân Những dòng họ lớn tự nó đã tạo ra một phần danh giá cho mỗi thành viên trong họ, và ngược lại, mỗi thành viên trong họ cũng phải có trách nhiệm eiữ gìn tiếng tăm cho tổ to họ lớn của mình Họ mặc nhiên cho phép các thành viên của mình dùng uy thế của dòng họ đê’ ưu thố cho bản thân mình trong các quan hệ xã hội, mưu lợi, lãn lưới người khác, tất nhiên là trong

không đê’ cho họ phải mang tiêng

Ớ mội số xã thuộc huyện Thạch Thất có sinh hoạt dònc họ khá đậm nét Mồi xã cỏ một sô dòne họ lớn Xã Đại Đồng chăng hạn, thậm chí còn có khái niêm Tứ dai tộc: họ Kiều Bá, ho Kiều Cao họ Khuâl Bá và họ Vũ Bá Thành viên của các họ này mặc nhiên có một vị trí tự nhiên ưu thố hơn mót chút so

Trang 26

với những người không thuộc họ nào, mặc dù cái “một chút” này không thể định lượng được.

Bảng 1: Dòng họ lớn ở xã Hương Ngải.

Vãn

N g ’ Ngọc

N g ’ Hữu

ho Phí ờ đây dược đi xuất kháu lao động Cũng cần phải nhân manh một hiên tượng tâm lý khác: Nêu hai người cùng ho gập nhau ớ nơi xa thì ý nghĩa bổn

Trang 27

phận của sự giúp đỡ lẫn nhau đột nhiên tăng lên nhiều, tỷ lệ thuận với những khó khăn mà họ phải đối mật trong trạng thái tha phương cầu thực.

Hiện nay, trong sự phát triển của đất nước hướng vào cổng nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu cầu về lao động tri thức ngày càng cao, lại thêm truyền thống của một vùng văn hiến thức dậy, việc học hành cho thế hệ trẻ ngày càne được người dân Thạch Thất cũng như Thanh Oai quan tâm Sinh hoạt dòng họ

có một nét mới rấl đáng quan tâm, đổ là các dòng họ đều mong mỏi cho con cháu dòng họ mình học hành tiến bộ, thi đỗ vào đại học, trờ thành những người có giá trị xã hội cao Một phong trào được các họ thi đua nhau thực hiện

và đẩy mạnh, đó là việc lập quĩ khuyến học, động viên và khen thướng vật chất đối với con cháu nào trong dòng họ cổ thành lích học tập tốt, thi đạt diem cao,

đỗ vào đại học Quỹ này còn cổ khi được dùng trợ cấp cho các gia dinh nghèo trong họ không có điều kiện tối thiểu cho con đi học hoặc cổ con học giòi

Hoạt động này ngày nay dã trở ihành hoạt động phổ biên ở các xã trong huyện Thạch Thất và Thanh Oai, đặc biệt là ở các họ lớn như các họ Đỏ, Nguyễn Hữu, Nguyễn Khác ở xã Hương Ngải, các họ Khuất Khắc, Khuất Văn, Kiều Cao ở xã Đại Đổng, huyện Thạch Thất và xã Kim Thư huyện Thanh Oai

ỉ 3.2.2.3 Quan hệ dòng họ vé mặt hôn nhún.

Về mặt hổn nhân, dò nu họ có dấu hiệu đặc trưng khác hẳn so với những quan hệ ngoài dòng họ Đó là dấu hiệu ngoại hôn

Quy tắc nỵoại hòn là quy định nghiêm ngăt nhất trong sinh hoạt dòng

họ Có thê' nói nó cỏ tính tuyệt đói, và dòng máu càng gần thì tính nghiêm nuặt lại cànt; Lăng lén

Trang 28

Hầu hết các dòng họ ở những xã mà ở đó sinh hoạt dònc họ có vị trí

Nậu huyện Thạch Thất, xã Đỗ Động, Kim Thư huyện Thanh Oai , hỏn nhân con cỏ con cậu ruột dù không có quy định thành văn nhưng vần bị ngân cấm khá luyệt đôi Tuy nhiên ở xã Phú Kim, mội xã giáo dân chiếm tỷ lệ tuyệt đồi trong dán cư, lại xuất hiện hiện tượng có nhiều cuộc hôn nhân con cô con cậu Điều trùng hợp là ở xã Phú Kim, vai trò của quan hệ dòng họ trong đời sống của làng xã mờ nhại hơn rất nhiều các xã nêu irén

Tóm lại, hỏn nhân của người Việt là quy tác ngoại hồn tuyệt đổi đôi với dòng họ Irực hệ, thậm chí đối với cả con cỏ con cậu ruột Quy tác dỏ có tính phổ bien cao ở luyệt đại đa số các dòng họ người Việt, ít nhất là dồng băng Bắc Bộ Những ngoại lệ là khổng đánu kể Do quy lác này dược áp dụng khổng chí đôi với chi họ (5 đời), đôi với họ lớn, mà còn dôi với tấl cà những người có quan hệ huyết thông irực hệ, nên dấu hiệu ngoại hõn trorm Ihưc té chỉ có tác dụng định tính (họ là một cộng đồng neoại hỏn), chứ khổng có tác dụng định lượng (quy mô) đổi với dòng họ, với tư cách là một kết cấu người

có những quan hệ ổn định tương đối có tính chất huyết thống

ỉ 3 2 2 4 Quan hệ dỏng họ vé tinh thần.

Quan hệ dòng họ về mạt tinh thần là biếu hiện cơ bản nhất, quan trọng nhất của sinh hoại dòne họ Biểu hiên của quan hệ dòng họ về mặt tinh thần rất phong phú, có nhữnc nét chung giữa những dòng họ, nhưng cũng cỏ những biểu hiện đặc thù ớ mồi dòng họ

1.3.2.2.4.1 Ọuê cha đất tổ

Lich sử tụ cư của người Việt nổi chung là một lịch sử đầy biến động Các dòng họ thườim chỉ hiểu được cội nguồn cùa dòng họ mình trẽn dưới 10

Trang 29

đời Tinh hình đó kéo dài cho tới khi những buổi đầu lịch sử tụ cư của các dòng họ ít bị xáo trộn và cũng chỉ có ở những vùng đất cổ ở đồng bàng Bắc

Bộ, và ở Thạch Thất có thể là một, từ thời Lê Trung Hưng Cho tới nay họ Cấn vùng này đã xác định được qua gia phả các ông tổ cách xa thế hệ E^o ngày nay gần 20 đời, ở xã Hương Ngải có họ Liêu, họ Nghiêm có khoảng trên

20 đời, ở xã Đại Đồng các họ Khuất (15 - 16 đời), họ Cao (19 đời), họ Kiều Trí (17 đờ i) Nhưng sô' lượng các họ chỉ nhớ dược 9 - 1 0 đời là nhiều

Người Việt rất coi trọng qué cha đất tổ, hiểu theo nghĩa là đất gốc của

tổ liên của mình, của dòng họ mình Những gia đình bị lưu tán, chì cần khônỉỉ phải lo dốn chuyện đói, thậm chí còn nghèo hơn mức độ dó một chút là dã nghĩ ngay đốn chuyện về thăm qué cha đấl tổ Tâm ihố này càng dậm ớ các dòng họ ở Thạch Thất và Thanh Oai Cho đốn tận ngày nay, quẽ lổ vẫn là một niềm cảm hoài rất thiéng liéng đôi với tất cả mọi người ờ xa Nuuyện vong thiêng liêng của những người phải bỏ qué mà đi kiêm sông ớ nơi khác là sau khi chết, được con cháu đcm hài cốt của mình vổ chon ờ que tổ

1.3.2.2.4.2 Giỗ họ, mộ tổ

Biểu hiện quan trọng nhất của quan hệ tinh thần trong dòng họ là tín ngưỡng thờ cúng tổ liên Có hàne loạt các hoạt động hiểu hiện cho tín ngưỡng này, liên quan lới quan niêm của người Việt về các thê giới, quan niệm cỗ tính chất thố giới quan cơ bản của người Việt

Hoạt động trung tâm của tín ngưỡng này là giỗ họ Đáy là hoạt đong quan Irọng nhất của sinh hoạt dòng họ nỗi chung Đém trước ngày giỗ ổng trường họ thườnu tháp hương ớ nhà thờ họ đê’ “đánh động” với tổ tiên, nhác trước với các cụ ngày mai là ngày giỏ Có họ làm việc này trong lúc ra mọ tổ thắp hương, có họ làm cả hai việc đỏ

Trang 30

Giỗ tổ được thực hiện ở nhà thờ họ Những họ không có nhà thờ họ thì

nhất thict Nêu nhà trưởng họ quá nghèo và chật thì ông nàv đề nghị cả họ chấp nhận cho giỗ tổ ử nhà một thành vién khác giàu có hơn, đàrm hoàrm hưn cho dỗ coi Nhưng nêu không cỏ lời đích thân của ỏng trướng họ ihì khònti ai dám quyết định việc này

Ớ Thạch Thất có những họ ngoài việc tuãn thủ theo như cách thòng ihường việc cúng lỗ vậi, còn cỏ những quy định rất đạc thù Như ờ xã Đại Đồng, một bữa gọi là cồ Ihì khổng thể thiếu Ihịt chuột và canh củ chuối Đây cũng là đổ ãn hắt buộc phải có trong mâm cúng giỗ tổ tiên của các họ Đinh ở

xã này Ngay cả trong diéu tra hổi cố, các Ihố hệ già nhất hiện nay cũng không đám tự cho lý giải của mình vồ hiện urợng trẽn là đúng Chúne tói nuhl răng tục này có liên quan tới những Irận đói rất hav xãy ra ở các địa phương dâì chật người đông ở Đổng hàng Bác bộ, tronii đó có vùng Thạch Thấu cù chuôi

và thịt chuột (tất nhiên là chuột đồng) có lẽ từrm cỏ cône íiiúp cư dãn vùng này qua được những ngàv dứt bữa ưonc các trận đói khùng khiép Họ Hổ họ Nguyền ờ Đỗ Động, huyện Thanh Oai còn dùnn thịt chỏ irong ngàv giỗ

Giỗ họ thưe sự là một ngày hội cùa họ Những việc buồn không bao giờ được nhác tới Thậm chí, nếu có một thành viên nào đỏ mắc lõi thì chi được nhữne bậc vai vố tronc họ nói tới, phê phán, dạy bảo, nhưng đều tránh thái độ hắt hủi cạn tình Khỏng cần phải dược nhắc nhở, và cũng chăng có một quy định rõ rệt nào, nhưnu ai nấy dều lư ý thức đó là ngày vui nhất cùa họ và dổu gượng nhẹ nânu niu vun dáp cho tinh ihần máu mù, ruột rà

Mo tổ là mòl đỏi tượng rẩi quan tro ne đói với ho Các họ déu ưu Liên

Trang 31

quan trọng nhất rồi tiêp đó là di duệ gần của cụ tổ thì mộ càng ờ gần mộ tổ

Có họ còn xây tường xung quanh, các phần mộ đều được xâv cất tử tê đẹp dẽ theo cách cảm, cách nghĩ của mồi họ, mồi nhà

1.3.2.2.4.3 Ý thức tự giác dòng họ

Ý thức tự giác dòng họ là một hiệu quả tâm lý hắt nguổn từ hai hướnu của cùng một bản chất Ớ mỗi hướng ây, tác dộng luôn luôn là tác dộng qua lại chứ không phải chỉ là tác động một chiều từ nhu cầu tâm linh tới hoại độnc hiện thực Cũng cổ hai dạng của ý thức tự giác của dòng họ, ý thức tự giác của

cả họ và ý thức tự giác ờ mỗi thành viên dòng họ Cái bản chất mà chúng tôi nói tới ở đây là tâm chất cận thố giới quan vổ cội nỵuổn của mồi con người

Một hiện tượng Ihường xảy ra mà thê hệ mới có rất nhiêu cơ hội phải trải nghiệm, đỏ là những cái chốt của các thành viên trorm dòne họ, Iái nhien thường thường là của các thành viên cao tuổi Trong các clip lanu lỗ, ihc hc mới bị kích thích mạnh mẽ ý ihức về cội nguổn của con neười vê câu irúc của

họ hàng, về các bậc huyết thống trong dòng họ qua nghi thức ve dám tang, vồ cách đô’ tang, và đặc biệt vé nỗi thương cảm của những người sổng dành cho người chết Ý thức về cái chết là một cú sốc có lính quyết định đối với việc các thế hệ mới phát triển suy nghĩ vổ cội nguồn của bản ihán mình Tâm lý sợ chết hình thành rất sớm trẽn cơ sở những hiện tượng tang ma và lập lức nảy sinh xu hướng tìm kiêm niềm an ủi cho tâm lý sông của mỏi thành viên trong thê' hệ trẻ Trung điều kiện bình thường và phổ biên ở nông thon Đổng hãng Bắc hộ Nhấl là sự vãng bone cùa các tòn giáo thê giới quan như Kilổ giáo, thì

ý thức về cội imuồn dược hình ihành rãi vững chãc V ihức này trớ nén vững chắc và ổn định khi thê hệ này dã (rường thành tới do dã lap eia dinh và sinh

Trang 32

Về vấn đề vai trò của người phụ nữ trong dòng họ, các kết quả nghiên cứu của chúng tôi về cơ bản là phù hợp với những kết quả của nhữnẹ neười

đi trước

Trong gia phả của nhiều họ ở vùng Thạch Thất - Hà Tây, con gái của gia đình cũng được ghi tên, nơi lấy chồng, có trường hợp còn ghi cả ten chồng, ngày mất, địa chỉ mồ mả Trong trường hợp chết trỏ, mặc dù không có bài vị trên bàn thờ họ, nhưng trong quan niệm của con cháu đó là những vone linh rất ihiêng, được thờ cúng đặc biệt Đó cũng là những nét khác biệt của sinh hoạt dòng họ ở người Kinh so với vai trò phụ nữ được thê hiện qua những tài liệu nghiên cứu về các Lộc người ớ phía Nam sông Dương Tử (Trung Quôc)

Trang 33

PHẦN HAI: ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG HỌ ĐỐI VỚI CHÍNH

QUYỂN CẤP XÃ

2.1 Tính chát chung.

Những vấn đề chúng tồi đã trình bày ờ phần Mộl, xét về mặt lỏgíe, quan

hệ giữa sinh hoại dòng họ và đời sống làng xã có thổ nói là nhiều chiều, theo

cả ý nghĩa tích cực và tiêu cực

Cần nhấn mạnh trước hot là việc xcm xét vấn dé phải được hoạch định iron qui mồ lổng ihể Đừi sống làng xã trong thực tố là một ihực thổ thống nhất, không tách hiệt hoàn toàn khía cạnh này ra khỏi khía cạnh kia, dặt cạnh nhau, theo lối mỏi một khía cạnh cứ độc lập tự hình thành, rồi sau dó mới dan xen vào nhau để hình ihành nên thực thổ thống nhấl dó Ngược lại, các yêu lố cùng lổn tại, cùng sinh thành và vừa sinh thành vừa dan cài, tác dộní: qua lại với nhau

Đời sống của mỗi thành viên làng xã cũng là một tổng the ihống nhất không thể phân lách, hay đúng hơn là sự phân tách chỉ thổ hiện qua ứng xử của mỗi mộl thành viên với tư cách là một tổng thổ trước mót tình huống cụ thổ với nhữne quan hệ đặc trime, nối bật trong tình huống đỏ Ví dụ: Một thanh niên A nào đó, trước một cuộc bầu cừ HĐND cùa xã mình, lám lý sống (tâm lý ứng xử) của anh la, với tư cách tổng thể, bị định hướng bởi lợi ích lâu dài và trước mắi Anh ta là thành viên của một dòng họ trong đổ cổ người của

họ mình tham gia vào danh sách ứng cử viên

Những quan hệ nào lôi kéo anh ta trong tình huống này Vé logic, ta cổ thổ suy ra các kịch bàn chunc nhất Anh ta sẽ nghĩ đốn chuyện hò phiêu cho

Trang 34

người trong họ, với hy vọng là vị trí ủy vién Hội đồng Nhân dân của neưừi họ hàng có nhiều khả năng giúp anh ta tìm kiếm được những lợi ích vật chất hay tinh thần trong làng xóm Tuy nhiên, khả năng này không lấv gì làm chắc chắn Nêu anh ta có một người bạn rất tốt với anh, từng giúp đỡ anh ta một cách vô tư và nhiều lần trong dời sống hàng ngày, lại là người cỏ nărm lực nêu được tham gia vào chính quyền xã, anh ta sẽ có xu hướng bỏ phiêu cho ngưừi bạn này Đổng thời như vậy, người bà con họ hàng cùa anh là người kém năng lực, chỉ vì dòng họ vận động anh là nên dồn phiếu cho người này thì khả nang anh ta bỏ phiếu cho người bạn kia sẽ chắc chán hơn.

Chúng tồi đưa ra tình huống giả định trên chi nhâm chứng minh lính thieu chính xác của những thông kê, mặc dù thống kê là không thê ihiốu dược trong nhiệm vụ lượng hóa các đặc trưng cần nghiên cứu Các tài liéu thống kẽ nhiều lắm chỉ có tính định hướng, và vổ mặt định lượng Ihì nó luôn luon chí la áng chừng

Thứ hai là, ảnh hưởng của sinh hoạt dòng họ dối với dời sõnu chính trị ỡ nông thôn nói chung, đối với vấn đé xây dựnc và vận hành cùa chính quycn xã nói riêng lùy thuộc ở mức độ đậm nhạt của sinh hoạt dòng họ ỏ mỏi làng xã

Ở những xã có các dòng họ lớn, và nhiều dòng họ, thì ảnh hưởng này cũng lớn và ngược lại Nói tới ảnh hưởng, ta không nên chí hiếu là ảnh hường xẩu,

mà là ảnh hưửng nói chung Xưa nay, theo một lối hiếu thién lệch có khuynh hướng hư vô chủ nghĩa, ít ra là ử phương diện chính thông, người ta thường cổ

ý chỉ tính chất tiêu cực khi nói tới ảnh hưửng của dòng họ tứi đời sông quan phương, nhất là đời sống chính trị Kỳ thực, nghĩ như vậy lại là một mức dó vi phạm tính khách quan, chôi bó hiện thực, có tính chất tự án thị ihi nhiêu hơn

là một lập trường đúng dãn Dòng ho ờ Đổng băng Bắc ho dêu theo huyết thống dòng cha do dó nó dỗ lam cho người ta eán nó vao cùng mọt phạm trù

Trang 35

của những gì gọi là phong kiẽn Đã đành thiết chẽ phong kiến công bô công khai uy quyền dòng cha, địa vị thống trị của cha mẹ với con cái, cùa đàn ông với đàn bà, y như cơ sở căn bản của dòng họ, nhưng như thế không có nghĩa tất cả những gì thuộc vổ dòng họ đổu là cổ hủ lạc hậu phong kiên Dòng họ như một chất kêt dính được dải dọc theo lịch sử nó dính kêt không chỉ các khuyẽt tật của xã hội cũ, mà còn chuyên tải cả những giá trị phổ hiên của văn hóa cộng đồng, là một kênh truyền dẫn văn hóa rất hiệu quả Chưa có được các thống kê tỷ mỷ, nhưng hầu như những nhân vật có tầm cỡ, cổ tiêng tăm trong vùng cho tới những danh nhân đất nước đều phần lớn xuất thân từ những dòng họ có tiếng tăm trong vùng, trong nước, có nhân tài xuất chúng ờ quy

mô khác nhau qua nhiều thố hệ (Như họ Hồ của Hổ Tăng Thốc chăng hạn)

Có nhiều kicn giải cho hiện thực này, và có thê nói, dó đêu là những kiên giải

có cơ sở khoa học, chứ không phải là những lời suy đoán thuần túy Thứ nhất, một người nào đó ihành đạt hay thành danh ironu cuộc sông, nhất là vổ lĩnh vực chính trị, văn hóa và khoa học, đều là điếm nhấn trong lịch sử của dòng

họ Điều đó giả định yêu tố chủ quan của những phẩm chất cá nhân, kế cả theo ý nghĩa sinh học Thường thì những người ihành danh đó quan tâm đến việc đầu tiên, đó là chăm lo cho thế hệ con cháu, rất khát khao thực hiện dược ước mơ “con hơn cha là nhà có phúc” Con hơn cha thì không nhiều trong các trường hợp thành danh, nhưng nhà có phúc lại là hè quả hiên thực Những yêu cầu khắt khc của bỗ mẹ là khuôn khổ tinh thần rất thuận lợi dế ròn luyện thế

hệ trỏ Họ được hưởrm thụ một nên giáo dục rất nghiêm túc và hiệu quả Các diều kiện vật chất cho quá trình học tập, ròn luyện cũng thuận lợi hơn các

sách vở đầy đủ và tiôp đó là được Ihụ giáo các thầy giỏi Nêu tính tới các yếu

tô di truyền sinh hoc nữíi thì vàn dô cung irơ ncn chctc chan

Trang 36

của những gì gọi là phong kiên Đã đành thiết chê phong kiên công bố công khai uy quyền dòng cha, địa vị thống trị của cha mẹ với con cái, của đàn ông với đàn bà, y như cơ sở căn bản của dòng họ, nhưnc như the không có nghĩa tất cả những gì thuộc vé dòng họ đều là cổ hủ lạc hậu, phong kiên Dòng họ như một chất kêl dính được dải dọc theo lịch sử, nó dính kêt không chi các khuyỗt tật của xã hội cũ, mà còn chuyến tải cả những giá trị phổ biên của vãn hóa cộng đổng, là một kênh truyền dẫn văn hóa rất hiệu quả Chưa có được các thống kê tỷ mỷ, nhưng hầu như những nhân vật có tầm cỡ, có tiếng tăm trong vùng cho tới những danh nhân đất nước dồu phần lớn xuất thân lừ những dòng họ có tiếng tăm trong vùng, trong nước, có nhân tài xuất chúng ờ quy

mổ khác nhau qua nhièu Lhê hệ (Như họ Hồ cùa Hổ Tăng Thốc chăng hạn)

Có nhiều kiến giải cho hiện thực này, và có thô nói, đó đều là nhữnu kiên giâi

có cơ sở khoa học, chứ không phải là nhữnu lời suy đoán thuần túy Thứ nhất, một người nào đó thành đạl hay thành danh tronu cuộc sông, nhất là vô lĩnh vực chính irị, văn hỏa và khoa học, đều là diêm nhấn tronu lịch sừ cùa dònt;

họ Điều đó giả định yếu tố chủ quan của nhữrm phẩm chài cá nhân, kổ cả theo ý nghĩa sinh học Thường thì những người thành danh đó quan tám đến việc đầu tiên, đó là chăm lo cho thế hệ con cháu, rất khát khao thưc hiện được ước mơ “con hơn cha là nhà có phúc” Con hơn cha thì không nhiều trong các trường hợp thành danh, nhưnc nhà có phúc lại là hệ quả hiện thực Những yêu cầu khắt khe của bố mẹ là khuôn khổ tinh thần rất thuận lợi đổ rèn luyện thê'

hệ trỏ Họ được hướng thụ một nồn giáo dục rất nghiêm túc và hiệu quả Các điều kiện vật chất cho quá trình học lập rèn luyện cũng thuận lợi hơn các trường hợp khác rất nhieu thấp nhất là cái ăn cái mặc, cao hơn một chút là sách vở đầy đủ và tiếp dó là được ihụ giáo các Ihầy giỏi Nêu tính tới các yêu

tố di truyền sinh hoc nữa, thì vân đổ càng trơ ncn chăc chăn

Trang 37

Nhân đây cần nói thêm, chúng ta hay nói tới văn hóa dân tộc nhưng ít

nói tới các địa chỉ xã hội của chúng Văn hóa dân tộc không phải là một phạm

irù trừu tượng Có những đối tượng văn hóa cụ thể mà các đặc trưng chune của

chúng được khái quát lại trong phạm trù văn hóa dân tộc Phấn lớn các đối

tượng này, trong trường hợp dân tộc Việt Nam, lại tổn tại ở khuôn khổ lànc

xã Cũng lại cùng một lối dần, những làng xã nào có truyền thông văn hóa

phong phú, lại thường là những địa phương có sinh hoạt dòng họ rất đậm đặc

Các xã ở vùng Thạch Thất, Thanh Oai cũng nổi lén đường nét này, như Chàng

Sơn, Hương Ngải, Hữu Bằng, Phùng Xá, Kim T h ư

Chúng tói cho rằng, quy luật tác động của sinh hoạt dòrm họ tới dời

theo cả hai chiều

2.2 Khuôn khổ, tính chát và vận hành của chính quvén cáp xã.

Trong tổ chức nhà nước của chúng ta, xã là đơn vị hành chính thấp nhấl

Tinh hình này cũng đúng với quá khứ Ngày nay, trong nhiều biên đổi ở nóng

thôn, nhất là vai trò trị an và vai trò xây dựng, phát triển văn hóa, dặc biệt là

ưong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sờ , vị trí, quy mỏ thốn đang nổi lén

dần Nhưng dẫu sao, thôn vẫn chưa chính thức được thừa nhận là cấu trúc

hành chính cơ sở Nó chưa có con dấu riêng, chưa có một ủy ban hành pháp

được cử ra từ hội đồng nhân dân như cấp xã

lịch sử chê' độ phong kiên Việt Nam (bao gồm ở dây cả thời kỳ thực dán, bời

vì trong Ihòi kỳ này gần như nông thôn vẫn còn được bảo lưu toàn vẹn chi có

từ cấp huyện trờ nên chính quyền thực dãn mới cử quan lại về tức là cũng vần

giông như thời phong kiên)

Trang 38

Bộ máy cai trị ở xã (chính quyền) theo nghĩa hẹp thì chỉ gồm cỏ Chánh phó tổng, Chánh phó lý Đó là những chức danh được chính quyển cấp huyện chính thức thừa nhận Bộ máy này được hình thành từ cả hai phía: Nhân dân làng xã và chính quyền cấp trên (chủ yếu là cấp huyện) Theo thể chê' và theo truyền thống được thể chế chấp nhận, họ đều phải là những người do dân cử

ra, cụ thể là từ hội nghị loàn thổ các thành viên (gia đình) trong lànẹ xã Nhưng đổng thời, kết quả bầu cử của dân làng phải được chính quyền huyện chấp nhận, trong từng trường hợp cụ ihể Người ta có quyền giả định là trong trường hợp dỏ, có thổ xẩy ra mâu thuẫn giữa két quả bầu của dân làng với quyết định của chính quyền huyện Trường hợp này trong thực tế là có, nhirnK không nhicu, hay đúng hơn là nó khống cỏ cơ hội biến thành những vụ dối đầu gay gát giữa hai bén Tính tố nhị của sự việc được thổ hiện ra thành những cuộc dàn xốp, mà cụ thổ là sự dàn xốp trong nội bộ giai tầng thống trị ớ thôn làng, tức hội nghị quan viên, với chính quyền cấp huyện Hội đổng quan viên (gồm những n^ười có chức sắc, danh vọng trong làng) với nông dân nghèo nêu có sự khác biệt nhau cũng không lớn, và thường là những người “thấp cổ

bé họng” phải ngậm n^ùi chấp nhận sự lựa chọn của “các cụ” , hoặc chăng quan tâm gì tới sự lựa chọn đó, theo lối nghĩ “ai làm lý trưởng thì cũng thố thôi”

Trong thực tế, mâu thuẫn trong vấn đề chọn lý trường, chánh tổng giữa hội đồng kỳ mục với chính quyền huyện chi xảy ra khi quan huyện nhất quyết lái dân làng (qua hội đổne kỳ mục) phải chấp nhận một nhân vật mà làng không thê’ chấp nhận, hoặc vì ông ta quá xu nịnh cấp trên và có nguy cơ sẵn sàng bó qua lợi ích cùa làng đế lây lòng quan trẽn, hoặc hán quá ư lõng hành, tàn bạo mất lònc phẩn lớn dân làng và hàng ngũ quan viên Trường hơp vì lý

do thiốu năng lực thì Ít thậm chí đôi khi còn là ưu tiên lưa chọn của dân làng

Trang 39

Kêt quả giải quyết mâu thuẫn cũng lại tùy hoàn cảnh Nếu ờ lúc tình hình xã hội căng thăng, có nhiều biến động, chính quyền cấp huyện có lý do đê lộnc, hành, hoặc sức mạnh, thế lực của quan huyện quá lớn, dân làng đôi khi phải chịu thua Nêu trong hoàn cảnh bình thường, thì bản thân quan huyện cũnc không thổ phiêu lưu mà đối mặt với dân làng dược Khi đó chi cần một dộng tác ve vãn của hội đổng kỳ mục, dổi khi bằng vật chất, biếu xén, quan huyện

có thể chấp nhận rút lui (ngấm ngầm và một cách có thể diện) quyốl định Ờ nhiều vùng, trong đó có một xã ở Thạch Thất, có những làng được gọi là “đất nghịch”, theo ý nghĩa là ngang bướng, sẩn sàng đối đầu với quan huyện và khổng bao giờ chịu thua Ớ đây, lại lập lại một xu hướng: Đỏ đcu là những làng chịu ảnh hướng lớn của những dòng họ như Phùng Xá, Hữu Băng, Thạch

Xá, Hương Ngải, Canh N ậ u

Có thế nói, chưa có Lý trướng nào được bầu nêu chí là mỏi người ntíhèo, và cũng chưa thấy ai làm Lý trướng, Chánh tổng mà lại nehèo di Trong sự phân hóa giai cấp chưa gay gắt ờ nông Ihổn Việt Nam, những người

có chức dù nhỏ, trong hệ thông chính quyền đều là những ntỉười cỗ dời sống khá giả Mặt khác, dù khòng hề có quy định nào, đặc biệt là trong hương ước, nhưng người làm chức dịch chủ chốt trong xã đã mặc nhiên làm cho uy thế dòng họ của mình tãnq lên rất nhiồu “Người nhà cụ Lý, cụ Chánh” dã là một nhân vật cao hơn “chân trắng” một chút trong quan niệm ngầm và trong tâm thế ứng xử Trong các điều tra hồi cô, ngay ở những ký ức xa xôi nhất có thể Ihực hiện được, rmười ta cũng khổng thê’ thấy một trường hợp khác biệt Nhưng điều sau đày mới thực sự loi cuốn sự chú ý cùa chúng tôi dỗ là: Khổng bao giờ nhữne “quy định” ncầm, chấp nhân ngầm ây dược ghi lai trong hất kỳ văn bản nào quv chê nào, không chỉ của chính quycn phong kiên, mà ngay cả trong các hươne ước Thậm chí, nó cũng khóng hê dươc phát hiểu chính thức

Trang 40

trong bất kỳ một diễn đàn công khai nào Mọi người cứ mặc nhiên thừa nhận

nó như là một luật lệ ngầm Ở đây có một vấn đề rất thú vị: Sinh hoạt dòng họ không hẳn là không quan phương, theo ý nghĩa là nó không bấl hợp pháp Nhưng nó là một vấn đề RIÊNG TƯ Do đó nó mới có một vai trò rất kỳ lạ, kỳ

lạ nhưng ai cũng biết Nó cứ mặc nhiên tồn tại, khổng liên quan gì đốn pháp luật, hay pháp luật không hề đề cập gì đốn nó, nhưng nó luôn luôn có khả nãng uấn lệch tất cả các quan hệ quan phương khác trong đời sống hàng ngày ở nông thôn, kể cả pháp luật Nó là một trong những sức mạnh đáng kổ trong các sức mạnh làm tản mát các hoạt động quản lý cộng đồng trên cơ sở những nguyên tắc cồng khai, từ lệ làng cho tới pháp luật Những mo thức chính trị hiện dại luôn luôn bị nó làm cho lệch pha, chệch quỹ đạo, dổi khi bị quay ngược

Quá irình vận hành của bộ máy hương lý ờ nông thôn Viẹi Nam Irước dây cũng chứa đựng nhiều hiện tượng tương tự Nó luôn chòng trành giữa hai thê' lực chi phối nó, neu không kê’ thố' lực thứ ba là sức ép của những nhu cầu của chính bản thân bộ máy đó, trong dó bao gồm cả các thúc ước của dòng họ Thê' lực thứ nhất là chính quyền trung ương, mà kẻ đại diện là chính quyền huyện Ba đòi hỏi của thê' lực này là nộp Ihuế, hắt lính và phu dịch (phu: xây dựng và tu hổ đê điều hay các còng trình công cộng, và dịch: phục dịch các công việc có tính chất dịch vụ như đón rước, lễ hội thi cử ) Thê' lực thứ hai

là xuất phát từ các nhu cầu tổ chức đời sống chung của cộng đồng Đời sống này là kết quà tương tác của các diều kiện tư nhiên mà làng xã cổ được, mật

dộ dân số, các đặc trưng về nghé nghiệp, và cuối cùng là tương quan lực lương giữa các nhóm lợi ích trong làng, trong đó vân đổ dòng họ là một khâu quan trọnc, Người ta Lhườim nói nhiều tới các yêu tố dán chủ trong làng xã chúng tôi cho rànu các yêu tố dân chú này có cơ sờ là ruộng cóng của làng xã và

Ngày đăng: 02/10/2020, 11:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w