1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh đối chiếu kết trị của động từ trong hai hệ thống ngôn ngữ

89 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 41,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của động từ trong việc hình thành ngữ nghĩa của câu Câu vốn là sự thể hiện ngôn từ của một mệnh đề và các nội dung ngữ thế giới tưởng tượng được hư cấu.. Đối với các ngôn ngữ biế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC Gin HÒ NỘI

T RƯỜNG ĐẠI H Ọ C N G O ẠI NG Ữ

ĐÊ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU KẾT TRỊ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG HAI HỆ THốNG NGÔN NGỬ PHÁP-VIỆT

TIẾNG PHÁP NGOAI NGỬ CHO NGƯỜI VIÊT

CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

G.v.c, KHOA NGÔN NGỮ - VĂN Hon PHÁP ĐỌI HỌC NGOỌI NGỮ • ĐỌI HỌC ọuốc Gin HR NỘI

HÀ NỘI- 2004

Trang 2

MỤC LỤC

A GIỚI THIỆU ĐỂ T À I 1

1 Tính cấp thiết của đề t à i 1

2 Ý nghĩa lý lu ậ n 1

3 Ý nghĩa thực tiễ n 1

4 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài 2

5 Tư liệu và phương pháp nghiên c ứ u 2

B NỘI D U N G 3

Chương I Những cơ sở lý luận của đề t à i 3

1 Động từ nhìn từ phương diện ngữ nghĩa và ngữ p h á p 3

2 Vai trò của động từ trong việc hình thành ngữ nghĩa của c â u 7

3 K hái niệm kết trị trong ngôn ngữ học và kết trị bắt buộc của đ ộ n g t ừ 9

Chưưng II Đ ộng từ tiếng Pháp và các phân loại kết trị 18

1 Phân loại động từ trong tiếng P h á p 1 s 2 Xác định kết trị của động từ tiếng P h á p 21

3 Động từ tiếng pháp và các kết trị bắt buộc của chúng (trích dẫn minh h o ạ ) 33

Chương III Động từ trong tiếng Việt và các phân loại kết t r ị 51

1 Vị trí của động từ trong tiếng V iệ t 51

2 Các phân loại kết trị của động từ trong tiếng V i ệ t 54

Chương IV Những tương đồng và khác biệt của kết trị động từ trong tiếng Pháp và tiếng V iệt 64

1 Kết tố chủ thể : Valence s 62

2 Kết tô đối thể : Valence s.o 68

KẾT L U Ậ N 75

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 76

Trang 3

A GIỚI THIỆU ĐỂ TÀI

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Với chính sách mở cửa của Việt Nam để hoà nhập với cộng đổng quốc tế trong đó có cộng đồng Pháp ngữ thì nhu cầu dịch thuật và học ngoại ngữ ngày càng tăng, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ nhằm nâng cao chất lượng của công tác dịch thuật và tạo điểu kiện thuận lợi cho việc học ngoại ngữ ở Việt Nam

- Trong quá trình dịch thuật cũng như giảng dạy tiếng Pháp ở Việt Nam, khó khăn lớn nhất cho tới nay vẫn còn là việc sử dụng các động tù' trong tiếng Pháp Việc nghiên cứu đối chiếu kết trị của động từ tronc hai hệ thống ngồn ngữ Pháp- Việt sẽ là một công trình đáp ứng nhu cẩu mong đơi của nhiều người đang học và sử dụng tiếng Pháp ở Việt Nam, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo phiên dịch và cử nhân tiếng Pháp ngoại ngữ ở trường ĐHNN- ĐHQG Hà Nội

2 Ý nghĩa lý luận

Việc nghiên cứu động từ theo thuyết kết trị sẽ góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng đang đặt ra cho ngành ngôn ngữ học, đó là vấn đe ngữ nghĩa và ngữ cảnh, v ề mặt lý luận, nó sẽ đóng góp một số cứ liệu và bố sung những nhận thức mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trên bình diện dụng học, nhất là khi vấn đề không còn là việc mô tả ngôn ngữ mà phải tìm hiểu xem ngôn ngữ sử dụng như thế nào

3 Ý nghĩa thực tiễn

- Để tài nghiên cứu nhằm giải quyết những khó khãn, lúng túns của học viên Việt Nam trong quá trình học tiếng Pháp, một ngôn ngữ biến hình

mà ở đó động từ là khâu then chốt cúa ngữ nghĩa với những biến đổi hình

thái phức tạp đã gây cho người học những khó khăn trở ngại lớn nhất

Trang 4

- Giúp cho việc dịch thuật các công trình văn học nghệ thuật của Pháp sang tiếng Việt và của Việt Nam sang tiếng Pháp được dễ dàng hơn nhờ có công trình nghiên cứu đối chiếu này.

4 Đõỉ tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu kết trị của động từ trong hai hệ thống ngôn ngữ Pháp- Việt và những đối chiếu

a Những đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của động từ trong ticne Pháp

b Phân loại và xác định kết trị của động từ tiếng Pháp

c Động từ trong tiếng Việt và các phân loại kết trị

d Những tương đồng và khác biệt của kết trị động từ trong tiếng Pháp và tiếng Việt

5 Tu liệu và phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp quy nạp dựa trên những so sánh đối chiếu về kết trị của động từ trong hai hệ thống ngôn ngữ Pháp- Việt với các tư liệu chọn lọc từ các tác phẩm văn học Pháp- Việt

- Kết hợp với các phương pháp ngôn ngữ học bổ sung: thống kê, phân tích tình huống ngữ cảnh, mô hình hoá và khái quá hoá đặc điểm của từng đối tượng

xem xét kết trị của động từ tiếng Pháp Bởi lẽ nhân tố ngữ nghĩa không chì

là khái niệm do từ ngữ biểu thị mà còn bao gồm mọi thông tin thuộc vé cái được biểu hiện của tín hiệu ngôn ngữ Nói một cách khác, nhân tố ngữ nghĩa là sự biểu hiện, sự phản ánh hiện thực khách quan thônc qua ý thức của cộng đồng người bản ngữ Ví dụ "ăn tiền" trong tiếng Việt và "toucher

un pot de vin" (sờ vào bình rượu) trong tiếng Pháp có thê tương đương nhau

vể ý nghĩa biểu đạt

Trang 5

B NỘI DUNG CHƯƠNG I NHŨNG c ơ s ở LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI

Động từ với vai trò là trung tâm tổ chức của tuyệt đại đa sô câu trong tiếng Pháp cũng như tiếng Việt, luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà ngữ pháp

Động từ là nòng cốt của câu hay theo cách gọi của L TESNIERE là cái nút của câu đã được đề cập tới trong rất nhiểu công trình ngữ pháp đặc biệt là trong thập kỷ 70- 80 của thế kỷ qua, quan điểm của các nhà ngũ' pháp chức năng hiện đại như L.Tesnière, Ch Fillmore, M Halliđay, M Clark, s Dik và nhiểu tác giả khác đang được ứng dụng rất rộng rãi và đã đem lại những kết quả đầy hứa hẹn

Việc nghiên cứu động từ theo lý thuyết kết trị sẽ góp phấn giái quyết những vấn để quan trọng đối với ngữ pháp ngữ nghĩa Đó là các vần đề xác

định và phân tích miêu tả các kiểu bối cảnh cú pháp hay các kểu kết trị CLUI

động từ, phân loại từ dựa vào kết trị, mối quan hệ giữa kết trị và nghĩa cua

từ, sự hiện thực hoá kết trị của từ trong ngôn bản

Việc đối chiếu kết trị của động từ trong hai hệ thống ngôn ngữ khác nhau sẽ cho phép những ứng dụng quan trọng trong việc giảng dạy ngoại ngữ cũng như công tác dịch thuật liên quan đến pháp ngữ ở Việt Nam

Vấn đề kết trị của động từ có phạm vi rất rộng Trong khuôn khổ của công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới hạn ở phạm vi kết trị bắt buộc (kết trị hạt nhân) của động từ và so sánh đôi chiếu đế có những ứng dụng vào việc giảng dạy và dịch thuật tiếng Pháp ở Việt Nam

1 Đ ộng từ nhìn từ phương diện ngữ nghĩa và ngữ pháp

Từ thời xa xưa nhất cho đến ngày nay, các nhà ngữ pháp đã quan tâm đến nghĩa của từ và thường quan tâm đến nghĩa cúa từ nhiều hơn là chức năng ngữ pháp của nó Mối quan tâm đó được thể hiện trong thực tiễn củ a

vô sô từ điển được làm ra qua nhiều thời đại, không những ớ phươne Táy

Trang 6

mà còn ở khắp nơi trên thế giới Ta cũng thấy các phạm trù ngữ pháp truvển thống, trong phạm vi rộng lớn, đã được quy định bằng những cách thức biếu nghĩa (modes de sig n ific a tio n ) đặc trưng của chúng Thực vậy, quá trình sản sinh ra các cấu trúc ngôn ngữ là do cấu trúc ngữ nghĩa của động từ quy định và loại hình học các cấu trúc cú pháp đểu do loại hình các ý nghĩa cua động từ quyết định.

L Tesnière, nhà ngôn ngữ học Pháp, trong cuốn "Các yếu tô của cú pháp cấu trúc" đã cho rằng động từ trong vai trò mà ngữ pháp truyền thốriíi gọi là vị ngữ thực chất chính là thành tố hạt nhân, là cái nút chính của câu

Ví dụ như nghĩa của những động từ biểu hiện các sự thể như "tìm, cho, chạy, đến " (Chercher, donner, courir, venir ) đều quy định cái khung

của toàn câu

Ngôn ngữ với tư cách là một hộ thống thực hiện vai trò trung gian giữa thế giới ý nghĩa và thế giới âm thanh trong đó ngữ nghĩa đã trở thành thành tô chủ yếu giúp cho ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp quan trọng nhất của loài người Trong thực tế, nếu không nhận thức được bản chát của cấu trúc ngữ nghĩa thì chúng ta không thế miêu tả được đầy đứ và bao quát các quá trình hậu ngữ nghĩa có tác động đến quá trình giao tiếp Ngữ nghĩa

là cái nuôi dưỡng quá trình giao tiếp Hiểu cấu trúc ngữ nghĩa sẽ cho phép

ta xác định được các phát ngôn đúng hoặc sai quy tắc Chúng ta giải thích rằng tất cả các ngôn ngữ đều có cái khả năng mà nhờ đó các đơn vị ngũ' nghĩa thuộc một kiểu loại nhất định được gọi là danh từ đểu có thể đặt ớ vị trí đối tượng so với các đơn vị ngữ nghĩa loại khác mà chúng ta gọi là độnc

từ Ví dụ "le chat" (con mèo) và "une maison" (ngôi nhà) là nhũng danh từ còn "effrayer" (làm cho sợ) và "construire" (xây dựng) là những động từ Sẽ

là hoàn toàn tự nhiên khi đặt "le chat" (con mèo) lù đối tượng của "cffi avcr"

(làm cho sợ) và "une maison" (ngôi nhà) là đối tượng của "construire" (xây dựng) ta có các câu đúng của tiếng Pháp

- Paul a effraye le chat

Trang 7

(Paul đã làm con mèo sợ)

- Paul a construit une maison

(Paul đã xây một ngôi nhà)

câu trên sẽ trái với tự nhiên và không thể chấp nhận được:

* Paul a affraye une maison

(Paul đã làm ngôi nhà sợ)

* Paul a construit le chat

(Paul đã xây con mèo)

Như vậy động từ đã chi phối những tham tô trong kết trị của nó đế đảm bảo tính logic của phát ngôn Ngữ pháp luôn gắn liền với ngữ nghía Một câu đại loại như: "Mon chien a des ailes" (con chó của tôi có cánh) sẽ không thể chấp nhận được mặc dầu không có vấn để gì về mật cấu trúc nổi nhưng vì nó đã đi chệch ra khỏi chuẩn mực của cái thế giới hiện thực mà người ta đang sống ở đó mọi người đều biết rằng con chó thì không có cánh Sự kết hợp của các khái niệm trong câu này mâu thuẫn với sự hiếu biết của con người Theo W.L Chafe thì toàn bộ thế giới khái niệm của con người ngay từ đầu đã chia ra làm hai phạm vi chính Một là phạm vi động từ bao gồm các trạng thái (tình trạng, chất lượng và sự việc); Pham vi kia là

danh từ bao g ồ m các "sự vật" (đối tượng vật chất cũng như các khái Iiiọin

trừu tượng vật chất hoá) trong đó động từ chiếm vị trí trung tâm và quy định

sự có mặt cũng như tính chất của danh từ trong kết trị của nó Ánh hương ngữ nghĩa của động từ đã có tính chất quyết định đối với những tham tô có mặt trong kết trị của nó để bổ sung về mặt ngữ nghĩa cho động từ đồnc thời cũng bổ sung cho ý nghĩa của các câu được xây dựng xung quanh động từ

hưởng tới toàn bộ hệ thống mặt trời theo cách so sánh của W.L Chafe

Vai trò của ngữ nghĩa mà động từ làm nòng cốt có thê được xem như

những đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của động từ có ý nghĩa thực tiễn thiết

Trang 8

thực Nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học trong đó có thể kể tới L Tesnière, nhà ngôn ngữ học người Pháp, một trong những người sáng lập lý thuyết kết trị nhằm nghiên cứu thuộc tính kết hợp của động từ hoặc một sô từ loại nhất định.

Trong những công trình viết về động từ tiếng Việt trước đây, chúng ta

có thể kể đến các công trình của Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lê Van

Lý, M.B Emeneau sau đó là đến những cuốn sách xuất bản gần đây hơn của Nguyễn Tài c ẩ n , Nguyễn Kim Thân, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban, Phan Thiều, Đinh Văn Đức

Các công trình nghiên cứu vể ngữ nghĩa đã cho thấy cách tư duy của con người dù thuộc dân tộc nào thuộc nền văn minh nào cũng đểu giống nhau về cơ bản, và do đó, các ngôn ngữ dù khác nhau đến đâu cũng có những chiểu sâu giống nhau về ngữ nghĩa Chính vì vậy mà môn phiên dịch

có thể hoạt động một cách có hiệu quả và các nước thuộc những cộng đồng ngôn ngữ khác nhau mới có thể có những hợp tác rộng lớn như ngày nay Cái làm cho ngôn ngữ khác nhau là những hình thức biểu đạt, những phương tiện, những cách thức sử dụng từ ngữ để biểu hiện những ý nghĩa, những nhận định, những yêu cầu của con người (vốn đa dạng đến vô cùng tận)

Cho nên các công trình nghiên cứu ngữ pháp của những năm 80 - 90 của th ế kỷ thường lấy những ý nghĩa mà ngôn ngữ nào cũng phải diễn đat làm điểm xuất phát

Và một phương pháp nghiên cứu của ngữ pháp chức năng hiện đại, là

đi từ nội dung đến hình thức từ mục đích đến phương tiện, từ ý nghĩa đến

cấu trúc ngữ pháp Khác với các nhà ngôn ngữ học miêu tả quen coi những đặc trưng phân bố như những thực thể có giá trị tự thân chứ không phái là những biểu hiện bên ngoài của một cái gì khác Họ không bao giờ quan tám đến câu hỏi: sở đĩ từ này chỉ kết hợp được với từ nọ mà không kết hợp dược với từ kia là vì lý do gì cũng như những kết hợp tưởng chừng vô nghĩa đối với cộng đổng này thì lại hoàn toàn có ý nghĩa đối với cộng đỏng khác: Ví

Trang 9

dụ "ăn tiền", " ở đây xay bột trẻ em" tưởng chừng không thế chấp nhận được đối với người nước ngoài học tiếng Việt thì lại hoàn toàn có nghĩa đối với người Việt.

2 Vai trò của động từ trong việc hình thành ngữ nghĩa của câu

Câu vốn là sự thể hiện ngôn từ của một mệnh đề và các nội dung ngữ

thế giới tưởng tượng được hư cấu) Nội dung của sự thể này thường do mộtđộng từ làm vị ngữ biểu hiện kết hợp với các tham tố thường do những danh ngữ (ngữ đoạn danh từ) biểu hiện

Động từ là một từ có chức năng tự mình làm thành một vị ngữ hoặc làm trung tâm ngữ pháp hay làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biếu

hiện nội dun g của sự thể:

V í dụ:

Tất nhiên, chức nãng biểu hiện nội dung của sự thể không phái chỉ cỏ phần vị ngữ đảm nhiệm Nhưng nó là nòng cốt đê tạo nên ngữ nghĩa của câu Chức năng ngữ nghĩa tiêu biểu này của động từ quy định đặc trưng IIÍIŨ' pháp chủ yếu của nó đó là khả năng tình thái hoá bằng những từ tình thái

dám

Ngoài chức năng chính trên, động từ cũng như danh từ hay đại từ còn

có thổ dùng ở một chức năng phụ, làm phụ ngữ cho trung tâm vị từ hay danh từ của ngữ đoạn Trong những trường hợp ấy nó không biểu hiện nội dung của sự thế nữa mà chỉ dùng để xác định hoặc miêu tả sự vật được trung tàm của ngữ đoạn biểu thị Người ta nói đến giá trị danh hoá cua động

từ nlur trong trường hợp: le manger, le boire, le savoir

Trang 10

Đối với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Pháp, động từ trong câu còn m ang dấu ấn của các hình vị chỉ ngôi, số, thời, dạng, thức được thế hiện trên cách chia (dạng thức) của nó.

Người châu Âu nói chung và người Pháp nói riêng khó có thế châp nhận m ột câu không có động từ trừ trường hợp phát ngôn đặc biệt được tìnhhuống giao tiếp cho phép- ở ngôn ngữ biến hình như tiếng Pháp, thời cua đồng từ còn cho phép định vị thời gian của sự tình mà người ta nói tới bằng cách chia động từ ở hiện tại, quá khứ hay tương lai Có thể nói trong các ngôn ngữ biến hình động từ đóng một vai trò kép trong câu và trong phát ngôn Một mặt động từ mang lại một thông tin mới cho chủ thê và đóng vai trò làm vị ngữ:

Mặt khác động từ còn cho phép thể hiện mối quan hệ giữa câu và thực tại bằng cách hiện thực hoá nó tức là gắn sự thể với một ngôi, một thời, một thể hoặc một thức nào đó để thể hiện rằng điều được nói dang diễn ra, hay đã xảy ra, có khả năng xảy ra hay không:

Pierre travaille (đang)

vụ nhu cầu giao tiếp của con người Việc nghiên cứu kêt trị cúa động từ

mới mẻ có tầm quan trọng đối với việc giảng dạy ngoại ngữ và cóng tác dịch thuật ngày nay

Trang 11

3 Khái niệm kết trị trong ngòn ngữ học và kết trị bát buộc cúa động từ

Thuật ngữ kết trị (tiếng Pháp: Valence) vốn được dùng trong hoá học

để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một số lượng xác định các

nguyên tử khác Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngừ

học từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX để chỉ khả năng kết hợp cua các

lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung

Theo cách hiểu hẹp thì kết trị chỉ là thuộc tính kết hợp của động tù

hoặc một số từ loại nhất định Cách dùng thuật ngữ kết trị theo nghĩa hẹp

gắn trước hết với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học người Pháp L Tesnière

Trong cuốn "Các yếu tô của cú pháp cấu trúc" ông cho rằng động từ có vai

trò mà ngữ pháp truyền thống gọi là Vị ngữ thực chất chính là thành tô hạt

nhân, là cái nút chính của câu Với vai trò hạt nhân, động từ quy định sô

lượng và đặc tính của các thành tô có quan hệ với nó

Ví dụ:

- Thầy giảng bài cho sinh viên - Le professeur explique bien la

leẹon aux étudiants

Các thành tố này, xét theo mức độ gắn bó với động từ được chia

thành hai loại

L Tesnière gọi các thành tố bắt buộc là các tham tố (actants) và

thành tố tự do là chu tố (circonstants) (Elements de la syntaxe structurale,

tr 94, 61)

Quan niệm về kết trị của L Tesnière gắn liền với lý thuyết ngữ pháp

phụ thuộc (Grammaire de dépendance) của ông, một lý thuyết không chỉ có

ảnh hưởng ở Pháp mà còn ở nhiều nước khác trẽn thè giới

Trang 12

Nghiên cứu về kết trị của động từ còn có rất nhiều tác giả khác đậc biột là các nhà ngôn ngữ học của Liên xô (cũ) như S.D Kasnelson (1987), N.I Tjapkina (1980), A Kholodovich (1979)

Theo S.D Kasnelson, thì kết trị là thuộc tính của các lớp từ nhất định kết hợp vào mình những từ khác Kết trị của từ được xác định theo sô lượng các vị trí m ở (các ô trống) bao quanh nó mà theo S.D Kasnelson về nguyên tắc số lượng này không lớn chẳng hạn ở động từ thường không quá 4 vị trí Những yếu tố làm đầy các vị trí mở bên động từ (actants) gồm các thành tố: chủ thể, đối thể trực tiếp, gián tiếp của hoạt động và một sô thành tô khác

có ý nghĩa phụ thuộc vào ý nghĩa của động từ Tất cả các thành tô này đượcS.D Kasnelson gọi là những yếu tô bổ sung hay bổ ngữ cho động từ Các thành tố tự do có mật bên tất cả hoặc phần lớn các động từ không thuộc vế

số lượng các yếu tố làm đầy các vị trí mở bên động từ và do đó không được tính đến khi xác định kết trị của động từ

Khác với L Tesnière, S.D Kasnelson còn phân biệt kết trị nội dung (mối quan hệ ngữ nghĩa) và kết trị hình thức (mối quan hệ về mặt hình thái)

Việc phân biệt kết trị nội dung và kết trị hình thức đã làm sâu sắc thêm lý thuyết kết trị Theo các lý thuyết này thì kết trị của động từ thường được xác định là khả năng của động từ kết hợp vào minh các thành tố bát buộc của câu (chủ ngữ và bổ ngữ theo cách gọi truyền thống) Nhưng nói rộng ra thì kết trị của động từ là toàn bộ thuộc tính kết hợp của động từ (gồm cả khả năng kết hợp từ vựng lẫn khả năng kết hợp cú pháp, cả khá năng kết hợp bất buộc lẫn tự do) Trong khuôn khổ cuả khảo luận khoa học này, chúng tôi chỉ đi sâu vào việc khảo sát kết trị bắt buộc của động từ bứi thực tế cho thấy chỉ với việc nghiên cứu kết trị bắt buộc của động từ, ta đã

có thể phát hiện những đặc điểm cơ bản nhất của động từ, những bình diện đối lập cơ bản giữa các phạm trù từ vựng- ngữ pháp trong nó Cũng như A.s Kholodovich đã khẳng định, các thành tô bắt buộc chính là các thành

Trang 13

tố lập thành "bối cảnh tối ưu"của động từ mà dựa vào đó ta đã hoàn toàn có

đủ cơ sở để phân chia động từ thành các thể loại (Kholodovich, 1979, tr 22)

Trong phạm vi đó, kết trị của động từ được xác định theo sô lượng các vị trí m ở bao quanh nó còn bản thân các vị trí mở lại được xác định dựa vào số lượng các thành tố bổ sung (các kết tố) làm đầy các vị trí mở này Như vậy, xác định và phân tích kết trị của động từ thực chất chính là xác định và phân tích các kết tố làm đầy các vị trí mở bên động từ

Với tư cách là đơn vị ngữ pháp, các kết tố của động từ được đặc trưng bởi hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức ngữ pháp Tính hai mặt này đòi hỏi khi xác định và phân tích kết trị của động từ phải tính đến cả mặt nội dung lẫn mặt hình thức

Ý nghĩa đặc trưng của mặt nội dung của các kết tố là kết hợp các nghĩa có quan hệ tôn ti với nhau Nghĩa chung nhất đặc trưng cho tất cả các kết tố là nghĩa xác định (bổ sung) Nghĩa cụ thể hơn là các nghĩa cú pháp kiểu như: nghĩa chủ thể, nghĩa đối thể, nghĩa công cụ, nguyên nhân

Khi xác định, phân tích kết trị của động từ theo mặt hình thức, cán phải xuất phát từ mặt nguyên tắc chung nhất định Nguyên tắc chung dó là dựa vào sự phân bô cơ bản của các kết tố

Phân bố cơ bản của kết tố là hình thức có tính phổ biến cao nhất Tính phổ biến cao nhất của phân bố cơ bản được thể hiện ở chỗ sự xuất hiện của nó không bị hạn chế bởi điều kiện đặc biệt nào Các phân bô còn lại sẽ được coi là hình thức không bơ bản Chẳng hạn trong hai cấu trúc: "Tôi viết sách" và "Sách, tôi viết " thì vị trí sách ở sau động từ không đòi hoi điéu kiện riêng nào Trái lại, vị trí sách ở trước động từ là phân bố không cơ bán

vì việc chuyển lên vị trí này của kết tố đối thể đòi hoỉ những điểu kiện nhất

định n hư n g ữ điệu riêng, tính xác định, tính nhấn mạnh

Khi xác định, phân tích kết trị của động từ cần dựa vào những thao tác nhất định như lược bỏ, bổ sung, thay thế Đó là những thủ pháp cán thiết

và thích hợp đối với việc nghiên cứu kết trị của động từ

Trang 14

* Lươc bỏ là bỏ bớt một yếu tố nào đó trong cấu trúc nhám xác định

Ví dụ:

- Đọc sách trong thư việnThủ pháp lược bỏ được dùng đê xác định các thành tô bắt buộc và tự

do Thành tố bắt buộc là thành tố không thể bỏ được trái lại thành tô tự do

có thể bỏ

* Bổ sung là thêm một yếu tố nào đó vào cấu trúc nhất định nhằm xác định đặc tính của một yếu tố hoặc đặc tính của cấu trúc nói chun" Chẳng hạn với cấu trúc: Nói chuyện với anh, họ đều ngán Việc có thể bổ sung vào trước động từ "nói chuyện" thành tố chủ thể (ví dụ: Bạn bè nói chuyện với anh, họ đều ngán) cho thấy trước động từ "nói chuyện" vẫn còn một vị trí m ở chưa được làm đầy

* Thay thế là thay một yếu tố trong cấu trúc bằng một yếu tô khác nhằm phát hiện đặc điểm của yếu tố nào đó trong cấu trúc được xem xét

Ví dụ: Nam đọc sách —» Ai đọc sách?

—> Nam đọc báo —» Nam đọc gì ?

Thủ pháp thay thế này đặc biệt là thay thế bằng từ nghi vấn SC được

sử dụng trong việc xác định kết trị của động từ

*c ả i biến là sự biến đổi một cấu trúc nào đó thành một cấu trúc khác được thực hiện theo một nguyên tắc chung nhất định với điểu kiện mối quan hệ ngữ nghĩa của các thực từ tham gia vào sự biến đổi này, vé cơ han vẫn được giữ lại Để đảm bảo được điểu kiện này, khi thực hiện sự cải biến

về nguyên tắc không được thêm các thực từ đích thực vào cấu trúc được cái biến:

Trang 15

Các thủ pháp lược bỏ, thay thế, cải biến, bổ sung lập thành một hệ thống thủ pháp thường được dùng làm phương pháp thử nghiệm (méthode expérimentale) Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong ngôn ngũ' học nói chung, ngữ pháp học nói riêng và cũng tỏ ra có hiệu quả trong việc nghiên cứu kết trị của động từ.

Việc xác định các kết tô của động từ phải dựa vào hai đặc điểm nội dung và hình thức, v ề mặt nội dung, chúng cụ thê hoá ý nghĩa của động từ bằng cách bổ sung cho nó một ý nghĩa nhất định, v ề mặt hình thức chúng luôn có khả năng được thay thế bằng từ nghi vấn, nói một cách khác, luôn

có thể dựa vào động từ để đặt câu hỏi về chúng

Ví dụ: "Ăn cơm bằng đũa" thì " cơm" và "đũa" là các kết tố của động

từ "ăn"

Vì về nội dung, chúng cụ thể hoá ý nghĩa của động từ "ăn" ("cơm":

bổ sung ý nghĩa đối thể, "đũa" bổ sung ý nghĩa công cụ) Còn về hình thức, chúng đều có thể được thay thế bằng từ nghi vấn: Ản gì? Ăn bằng gì?

Có thể nói, mỗi kết tố của động từ đều được đặc trưng bởi một kiểu câu hỏi nhất định nên thủ pháp đặt câu hỏi tỏ ra đặc biệt có hiệu quá trong việc xác định các kết tô của động từ Nhờ thủ pháp đặt câu hỏi mà ta có thể phát hiện được những nét tương đồng rõ rệt giữa thành tô chỉ đối the và thành tố chỉ chủ thể hoạt động Giống như thành tô chỉ đối thể, thành tô chỉ

chủ thể không chỉ có tác dụng cụ thể hoá ý nghĩa của động từ m à còn có

khả năng thay thế bằng từ nghi vấn, tức là có thể dựa vào động từ đê đặt câu hỏi về nó:

Ví dụ : Me tìm con —>_Aị tìm con?

kết tố, ngoài các thành tố bổ ngữ, trạng ngữ, cần phải tính đến cá thành tô chủ thể Việc xác định các kết tố của động từ có thể được thực hiện theo các bước sau đây:

a Xác định các cấu trúc (các câu) có chứa động từ

Trang 16

b Xác định kết trị hình thức của động từ bằng thủ pháp đặt câu

hỏi Từ trong cấu trúc có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn, tức là có khá năng cho phép dựa vào động từ để đặt câu hỏi về nó là từ thế hiện kết trị hình thức của động từ

V í dụ: Nước chảy róc rách Trong câu này từ "róc rách" cho phép ta đặt được câu hỏi "nước chảy thế nào?" ta có từ "róc rách" thuộc kết trị hình thức của động từ "chảy"

c Xác định kết trị nội dung của động từ

Nội dung của bước này là phân tích môi quan hệ ngữ nghĩa giữa động từ và các yếu tố có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (các yếu tố thê hiện kết trị hình thức của động từ) Từ có tác dụng cụ thê hoá ý nghĩa cho động từ sẽ được coi là từ thể hiện kết trị nội dung của động từ Kết trị nội dung là sự kết hợp về mặt ngữ nghĩa giữa động từ và các kết tố Kết trị nội dung của động từ được xác định theo đặc điểm cú pháp ngữ nghĩa (các kiểu nghĩa như: chủ thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân ) của các kết tố và phụ thuộc chặt chẽ vào ý nghĩa của động từ Tính chi phối vể mật nghTa của dộng từ đối với kết trị nội dung và thể hiện ở chỗ mỗi kiêu kết trị nội dung thường chỉ gắn với một kiểu ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp nhất định của động

từ Chẳng hạn, kiểu kết trị điểm đến chỉ có ở động từ chuyên động (ra, vào, lên, xuống, đi, về ), kiểu kết trị chỉ người nhận chỉ có ở các động từ ban phát (cho, tăng, gửi, trao, biếu )

Vì kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động tù' nén sự thay đổi nghĩa từ vựng- ngữ pháp của động từ luôn kéo theo sự thay đối kel trị nội dung của nó Động từ "chạy" trong tiếng Việt vốn có ý nghĩa nội hướng và khi được dùng với ý nghĩa vốn có của mình, nó không thê có kết trị đối thể Nhimg khi được dùng với ý nghĩa ngoại hướng "chạy" hoàn toàn

có thể có kết trị đối thể như các động từ ngoại hướng khác

Nó chạy thóc vào nhà (ngoại hướng)Cũng giống như các động từ "sortir", "descendre" troiiíi tiếng Pháp

Trang 17

- II sort dans la rue (nội hướng)

- II sort son mouchoir de sa poche (ngoại hướng)Kết trị hình thức của động từ là mối quan hệ về hình thức giữa động

từ với các kết tố Khác với kết trị nội dung chỉ gắn với mặt nghĩa của từ kết trị hình thức gắn với đặc tính ngữ pháp của từ Sự khác nhau giữa kết trị nội dung và kết trị hình thức được thể hiện rất rõ trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga, tiếng Pháp Ví dụ trong tiếng Nga, động từ "chitaju" về mặt kết trị nội dung đòi hỏi 2 kết tố bắt buộc là chủ thể và đối thể hoạt động Nhưng khi xác định các yếu tố làm đầy các vị trí mở bên động từ này không chỉ chú ý đến ý nghĩa từ vựng mà còn ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp của từ

Chỉ có thể nói: "Ja chitaju knigu" chứ không thể nói "ja chitaju kniga"

Kết trị nội dung và kết trị hình thức của từ mặc dù có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không phải lúc nào cũng tương ứng với nhau theo kiểu "một đối một"

Vì kết trị nội dung phụ thuộc vào mật nghĩa của từ nên nó là phạm trù m ang tính phổ quát Trong khi đó thì kết trị hình thức gắn với một hình thái của từ trong mỗi ngôn ngữ cụ thể nên mang tính đặc thù, nghĩa là khác nhau trong các ngôn ngữ, đặc biệt là trong các ngôn ngữ khác loại hình, kết trị hình thức của từ thể hiện rất khác nhau Có thể thấy rõ tính phổ quát của kết trị nội dung và tính đặc thù của kết trị hình thức khi so sánh kết trị nội dung và kết trị hình thức của những động từ có cùng ý nghĩa khái quát (ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp) trong các ngôn ngữ khác nhau

Chẳng hạn trong tất cả các ngôn ngữ, các động từ chỉ ý nghĩa han phát như: cho, tặng, trao, gửi, biếu đều đòi hỏi các thành tố bắt buộc: chú thể, đối thể, người nhận tức là kết trị nội dung của các động từ này trong mọi ngôn ngữ là giống nhau Nhưng kết trị hình thức của các động từ này trong các ngôn ngữ khác nhau có thể rất khác nhau

Chẳng hạn tiếng Việt thường dùng phương thức trật tự từ và hư từ, còn tiếng Nga, tiếng Pháp phương thức phụ tố là chủ yếu

Trang 18

Hiện tượng một kết trị nội dung tương ứng với một vài kết trị hình thức cũng không phải là hiện tượng hiếm ngay cả trong cùng một ngôn ngữ

Ví dụ trong tiếng Việt: "đấu tranh vì tự do" hay "đấu tranh cho tự do", "nói cho nó biết" hay "nói để nó biết" Vì kết trị nội dung và kết trị hình thức là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau nên trên thực tế không thể miêu tả kết trị nội dung và kết trị hình thức một cách hoàn toàn độc lập, tách biệt nhau nội dung và hình thức Như vậy xác định kết trị của động từ cần thoả mãn hai điều kiện Từ vừa thể hiện kết trị nội dung vừa thể hiện kết trị hình thức cua động từ mới được coi là kết tố đích thực của động từ

Trong một câu, động từ hạt nhân là thành tố có vai trò quan trọng nhất Điểu này trước hết thể hiện ở chỗ hạt nhân là thành tố có tính thường trực cao nhất trong cấu trúc câu

Khả năng lược bỏ hạt nhân bị quy định bởi những điều kiện hết sức chặt chẽ nghiêm ngặt Vai trò quan trọng của hạt nhân còn thể hiện ớ chồ

nó là thành tố chi phối tổ chức của cả cấu trúc câu Hạt nhân quy định só lượng và đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các kết tỏ có thế có trước Veil sau nó Nói một cách khác, đặc điểm của cấu trúc động từ phụ thuộc vào thuộc tính kết trị của động từ hạt nhân Điều này cho phép ta lý giải vì sao

có thể và cần dựa vào kết trị của động từ để phân tách và phân loại cáu Mỏi

Trang 19

kết tố xét trong quan hệ với động từ đều chiếm giữ một vị trí nhất định và

có m ột chức năng duy nhất, v ề nguyên tắc không thể có kết tố giữ 2 chức năng Nhưng có những kết tố bắt buộc và những kết tố tự do Việc phân biệt kết trị bắt buộc và kết trị tự do của động từ được dựa vào đặc tính khác nhau của mối quan hệ giữa động từ với hai loại kết tố này Kết trị bắt buộc là khá năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cán làm đáy bởi các kết tố bắt buộc Còn kết trị tự do là khả năng của động từ tạo ra xung quanh

nó và vị trí m ở có thể làm dẩy bởi các kết tố tự do

Trong ngôn ngữ học, có thể dựa vào thủ pháp lược bỏ để xem xét kết

tố nào là bắt buộc, kết tố nào là kết tố tự do Trong sô các kết tô có thê có xung quanh động từ, những kết tô nào mà việc lược bỏ chúng sẽ làm cho cấu trúc động từ không còn khả năng hoạt động với tư cách là câu trọn vẹn

về ngữ pháp sẽ được coi là kết tố bắt buộc Những kết tố không có đặc điểm này sẽ là kết tố tự do

Ví dụ câu: "Nam đọc sách ở thư viện" bằng thủ pháp lược bỏ, ta xác định được cấu trúc tối thiểu có khả nãng hoạt động với tư cách là câu trọn vện về ngữ pháp là "Nam đọc sách" Các kết tố tham gia vào cấu trúc này (N am , sách) là kết tố bắt buộc Kết tố không tham gia vào cấu trúc này (ớ thư viện) là kết tố tự do

Khi nghiên cứu kết trị của động từ, thì việc phân tích, miêu tả kết trị bắt buộc có ý nghĩa quan trọng nhất Vì kết trị bắt buộc gắn chật với ý nghĩa từ vựng- ngữ pháp của động từ nên việc miêu tả kết trị bắt buộc cho phép phát hiện những thuộc tính cú pháp bản chất nhất của động từ và những mặt đối lập cơ bản giữa các phạm trù từ vựng- ngữ pháp của động từ Dựa vào kết trị bắt buộc , không những có thể phân chia động từ thành các tiểu loại mà còn có thể tiến hành phân loại các động từ thành những kiếu nhất định

d ĩ í ỉ b ~ f

Trang 20

CHƯƠNG II ĐỘNG TỪ TIẾNG PHÁP VÀ CÁC PHÂN

LOẠI KẾT TRỊ

Người Châu Âu nói chung và người Pháp nói riêng khó có thế chấp nhận một câu không có động từ ngay cả đối với những loại hình câu mà về mặt ngữ nghĩa không cần đến động từ như: Anh ấy trẻ, chị ấy đẹp, bút của tôi màu xanh thì trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, tiếng Pháp vẫn cần đến sự có mặt của động từ (to be hoặc être) Trong tiếng Pháp, động từ với vai trò là vị ngữ trong câu hay cái nút của câu theo cách gọi cùa L.Tesnière thường biểu đạt nội dung của sự thể cho nên nghĩa của động từ

có tác dụng quyết định đối với ngữ pháp của một câu Ớ những ngôn ngữ có phạm trù thời như tiếng Pháp thì nghĩa của động từ không những quy định cái khung những tham tô có mặt trong kết trị của nó mà còn chi phối cá cách dùng thời của đổng từ đó Khác với tiếng Việt, động từ trong liêng Pháp là một từ biến đổi hình thái trong câu và có những dạng thức khác

mặt cấu trúc, đồng từ trong tiếng Pháp luôn đóng vai trò trung tâm và gắn kết các thành tố khác nhau (chủ ngữ và bổ ngữ), v ề mặt ngữ nghĩa, động tù' gợi lại một phát ngôn, chỉ một trạng thái, một hoạt động hay một sự kiện nào đó được đặt trong trục thời gian quá khứ, hiện tại hoặc tương lai

1 Phàn loại động tù trong tiẽng Pháp

a D ựa theo tiêu ch í hình thái học

Động từ tiếng Pháp được phân chia theo 3 nhóm:

+ Nhóm 1 gồm các động từ có đuôi "er" ở dạng nguyên thể và "e" ớ ngôi thứ nhất số ít như : Aimer, travailler, souhaiter

+ Nhóm 2 gồm các động từ có đuôi "ir" ớ dạng nguyên thể như: finir subir và các biến thê ờ ngôi thứ 1 sô ít là "is"

Trang 21

+ Nhóm 3 gồm tất cả các động từ còn lại có các hình thái đặc biệt (verbes irréguliers) như aller, cueillir, partir, recevoir, rendre

Hai nhóm 1 và 2 có cách chia tuân thủ theo một quy luật biến vĩ, nhất định Còn nhóm thứ 3 có hình thái biến đổi không tuân theo một quy luật nào gồm khoảng chừng 350 động từ (theo Bescheller- L'Art de conjuguer- Hattier, Paris, 1980)

Ngoài ra còn một nhóm động từ không nhiều chỉ dùng ở một ngôi thứ 3 số ít được gọi là động từ vô nhân xưng (verbes impersonnels) như falloir, pleuvoir, valloir và các động từ phản thân (verbes pronominaux) như (se laver, s'asseoir )

b Theo tiêu ch í cấu trúc

Ta có hai loại động từ, đó là nội động từ (verbes intransitifs) Gồm các động từ mà bản thân chúng đã có khả năng tạo thành một vị ngữ không cần những tham tố bắt buộc khác như dormir (ngủ), sortir (đi ra), partir (ra đi)

Nhóm thứ 2 là ngoại động từ (verbes transitif) bao gồm những dộng

từ làm trung tâm vị ngữ và cần có những tham tô bắt buộc khác Nhóm thứ

2 này được chia thành 2 thể loại: "verbes transitifs directs: tức là các ngoại động từ không có giới từ đi kèm và "verbes transitifs indirects", các ngoai động từ có giới từ đi kèm như penser à, parler de

Trong số này, có những động từ mang cả 2 đặc trưng trên hay nói cách khác là cần cả bổ ngữ trực tiếp lẫn bổ ngữ gián tiếp như động tù' donner, offrir hoặc cả 2 bổ ngữ gián tiếp như parler à qq'un de qqch

c T heo tiêu chí ngữ nghĩa

Theo tiêu chí ngữ nghĩa có thể chia động từ tiếng Pháp thành các cặp đối lập:

- Verbes duratifs (kéo dài) và verbes non - duratifs (không kco d à i )

V í dụ: Chercher / trouver

Ví dụ: arriver/ aller

Trang 22

Các cách phân loại động từ ở trên đều có những ưu điểm và hạn chê của nó Ví dụ như cách phân loại dựa vào tiêu chí hình thái chỉ cho phép người học nhớ được cách chia động từ và nhận diện được dạng nguyên thê

Cách phân loại theo tiêu chí cấu trúc đổ đi tới việc xác định các nội động từ (verbes intransitifs) và ngoại động từ (verbes transitifs) đã bước đáu giải quyết được vấn đề cú pháp song vẫn có những hạn chế đáng kê Đó là vấn đề giá trị sử dụng của động từ còn phụ thuộc vào ngữ cảnh hoặc lình huống giao tiếp Một động từ thuộc nhóm nội động từ có thế trơ thành ngoại động từ do sự tình mà nó biểu đạt trong một tình huống giao tiếp nhất định

Ví dụ: Sortir (verbe intransitif): đi ra

Và sortir son mouchoir (verbe transitif)

(lấy khăn mùi xoa ra)

hay "descendre dans la rue" và "descendre une valise"

Cách phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa để có các cặp đối lập: "verbes perfectifs" (động từ mang nét nghĩa hoàn thành) và "verbes imperfcctifs" (động từ mang nét nghĩa không hoàn thành), "verbes duratifs" (động lư mang ý nghĩa kéo dài) và "verbes non duratifs" (động từ mang ý nghĩa không kéo dài)

Cách phân loại này đã cho phép người học tiếng Pháp xác định được các thời ngữ pháp phù hợp với mỗi loaị động từ Ví dụ động từ mang nét

nghĩa hoàn thành hoặc không kéo dài như Trouver thường được dùng ở thời quá khứ kép {passé com pose) trong khi đó thì động từ mang nét nghĩa không hoàn thành hay kéo dài như chercher thường đi với thời Imparỷait.

Nhưng trên bình diện dụng học thì trừ một số trường hợp hãn hữu

một động từ bản thân nó ít khi mang ý nghĩa kéo đài hay không kco dài ma

nó phụ thuộc vào thực tế cuả sự tình mà nó biểu đạt Mộl động từ có the

biểu đạt cả hai ý nghĩa này tuỳ theo những tình huống giáo tiếp khác nhau

Trang 23

V í dụ động từ "sortir" (đi ra) trong tiếng Pháp được xếp vào hạníi mục các động từ non- duratif để diễn đạt một hoạt động không kéo dài có tính thời điểm như trường hợp:

Pierre est sorti à 7 heures

(Pierre di ra lúc 7 giờ)

Nhưng trong một trường hợp khác nó lại có thể biểu đạt một sự thể mang tính kéo dài trong thời gian:

Votre chemise sort de votre pantalon

(Áo sơ mi của anh thò ra ngoài quần)

Từ những hạn chế của các cách phân loại động từ trên đây cho ta thấy việc phân loại động từ theo kết trị bắt buộc và xem xét việc hiện iliực hoá kết trị bắt buộc của động từ trong tiếng Pháp sẽ có một sức sông mạnh

mẽ trong ngôn ngữ học hiện đại khi vấn đề không còn là mô tả ngôn ngữ

mà là tìm hiểu ngôn ngữ sử dụng như thế nào

2 Xác định kết trị của động từ tiếng Pháp

Chức năng tiêu biểu của động từ là làm hạt nhân của vị ngữ hay tự nó làm thành một vị ngữ biểu đạt nội dung của sự thể được phản ánh trong câu Chức năng ngữ nghĩa tiêu biểu này quy định đặc trưng ngữ pháp chủ veil của nó Đó là khả năng kết hợp với các thành tố khác và cũng quy định sô lượng và đặc tính của các thành tô có quan hệ với nó

Những động từ mà ngữ pháp truyền thống quen gọi là nội động từ

(v erb es in tran sitifs) m à bản thân nét n g h ĩa nội tại đã thể hiện đ áy đu m ột SU'

thể thì nó chỉ cần những thành tố tự do hay chu tố (circonstance) theo cách gọi của Tesnière

V í dụ: Dormir (ngủ), mourir (chết), travailler (làm việc)

Còn những động từ mà ngữ pháp truyền thông quen gọi là 'ngoai

đ ộ n g từ" ( v e r b e s t r a n si t i fs ) thì bản thân n ó c hi la hạt nhãn c u a vị HLiữ và I1Ó

đòi hỏi các thành tố bắt buộc hay các tham tô theo cách gọi của Tesnière

Trang 24

Ví dụ: faire qqch (làm cái gì), effectuer qqch (thực hiện), donner qqch(cho), offrir qqch (tặng)

Đối với các động từ thuộc nhóm "nội động từ" (verbes intransitifs) tự bản thân chúng đã có thể làm vị ngữ và trong kết trị bắt buộc chúng chỉ cấn một kết tố chủ thể Ví dụ "Paul dort" (Paul ngủ) Các động từ thuộc nhóm

"ngoại động từ" (verbes transitifs) cần không những kết tô chủ thể mà còn một hoặc hai kết tố đối thể trong kết trị bắt buộc của chúng

Kết tố chủ thể là một trong hai kiểu kết tố bắt buộc chính của độn II

từ So với kết tô đối thể, kết tô chủ thể tỏ ra có vai trò quan trọng hơn vì nó

có thể có ở tất cả các động từ Trong khi đó kết tố đối thể chỉ đặc trưng cho các động từ có tính ngoại hướng (ngoại động từ) Đặc điểm cơ bán cua kél

tố chủ thể là: v ề mặt nội dung, nó bổ sung cho động từ ý nghĩa cú pháp chú thể hoạt động Kết tố chủ thể trả lời cho câu hỏi "qui", "qu’est- ce qui?" được đật trước động từ Đặc điểm này cho phép xác định kết tố chủ thể và phân biệt nó với các thành tố cú pháp khác

Trong cấu trúc "Paul lit un livre", "Paul" là kết tố chủ thế của động từ

"lire" vì nó thoả mãn các điều kiện trên của kết tố chủ thể Nhưng trong câu trúc "người đang đọc sách là Paul thì "người" xét trong quan hộ với "đọc" không phải là kết tố chủ thể vì nó không bổ sung một ý nghĩa nào cho

"đọc" và không thể thay thế được bằng "ai?" hoặc "cái gì" Cấu trúc "Người đang đọc sách" nêu trên đây không phải là cấu trúc động từ mà là cấu trúc danh từ vì hạt nhân của nó là danh từ "người" chứ không phái là động từ

"đọc”

N ° h ĩ a của chủ thể với tư cách là nghĩa cú pháp cũng cán được phán biệt với nghĩ a chủ thể logic được xác định trong mối quan hộ \ới ý nghĩa từ

Trang 25

vựng riêng của động từ Chẳng hạn trong cấu trúc "Le chien aboie" (chó sủa), 'Toiseau chante" (chim hót), "Le chien" và "1'oiseau" là những chủ thể khác nhau của những hoạt động cụ thể khác nhau và chúng không thể tha) thế cho nhau được ("chó" thì "sủa" chứ không thể "hót" và "chim" thì "hót" (chanter) chứ không thể "sủa" (aboyer)) v ề mặt cú pháp, chứng đổng nhãt với nhau vì đều là chủ thể nhưng về mặt ý nghĩa chúng không thế hoán vị cho nhau trong hai cấu trúc trên vì nó phi logic Vì thế trong kết trị của động từ phải đảm bảo hai yếu tố ngữ pháp và ngữ nghĩa trừ những trường

hợp đặc biệt m à ngữ cảnh xã hội (contexte social) cho phép một ý nghĩa mà

cộng đồng xã hội đã chấp nhận như các câu trong tiếng Việt: "Ớ đây xay bột trẻ em" "Hôm nay bán thịt trẻ em" (cửa hàng thực phẩm thời bao cấp),

- Partir c'est mourir un peu

- Faire son devoir, c'est le plus important

d Một đại từ vô nhân xưng "il" hay chủ tố giả trong các cấu trúc: njaut

II est adjectif, il semble , II parait , II y a

Khái niệm chủ thể ở đây được hiểu theo nghĩa cú pháp chứ không phải nghĩa logic

Các hình thức (a) và (b) là những hình thức cơ bản nhất của kết tỏ chủ thể vì đó là những hình thức phổ biến nhất

Còn các hình thức (c) và (d) có phạm vi dùng han chế hơn Đăc hiệt (c) là hình thức phi thời, thể của vị từ v é thực chất thì đó là mót bién dang của động từ có ý nghĩa danh hoá

Trang 26

Kết trị của động từ trong tiếng Pháp được xác định theo sô lượng và tính chất của các tham tố mà nó thu nhận Người ta có thể phân biệt 4 loai kết trị của động từ trong tiếng Pháp theo sơ đổ dưới đây:

* Valence-S (Kết tố chủ thể): Là trường hợp từ có một kết trị (monovalent) và chỉ có thể có một tham tô bắt buộc đó là chủ thể (S)

Ví dụ: II vit, il neige

* Valence- S- O: Là trường hợp động từ có hai kết trị và có thế có hai tham tô là chủ thể và đối thể trực tiếp

Ví dụ: Je t’aime, il fait un bon voyage

Valence S- P: Là trường hợp động từ có hai kết trị và có thủ

tham tố là chủ thể và đối thể gián tiếp

Ví dụ: Elle lui plait, il pense à 1'examen

* Valence S- P- O: là trường hợp động từ có 3 kết trị

- Je donne aux enfants des bonbons

ở nhóm 1 "Valence S" ta có các động từ chỉ có một kết tô chu thế Những động từ này có thể xếp thành 3 nhóm theo đặc trưng ngữ nghĩa của chúng

* Các động từ biểu đạt cuộc sống thể chất và tinh thần (Verhc's exprimant la vie physique et psychique)

- Elle arrive (arriver) II ne part pas (paiiii )

*

Trang 27

- Tu vas m onter? (monter)

* Các động từ chỉ hiện tượng tự nhiên, thời tiết

(Verbes impersonnels désignant un phénomène naturel)\

Trong số các động từ làm vị ngữ của tiếng Pháp, động từ Etre có một tầm quan trọng đặc biệt vì nó có khả năng kết hợp cả với danh từ lẫn tính từ

để làm vị ngữ:

Prédicat

Prédicat

Một số động từ khác của tiếng Pháp có khả năng tương tự trong kết trị này đó là:

Trang 28

- Elle semble irritée (sembler)

- Elle a l'air severe (avoir l'air)

- II se rend fou (se rendre)

- u se fait poète (se faire)(Grammaữe textuelle du francais, HARALD Weinrich, Didier, Pans, 19X9)

ơ nhóm "Valence S- O" (sujet- objet) là các động từ có 2 kết trị: Chủ thể và đối thể

Ta có thể phân chia các động từ thuộc nhóm kết trị này thành 4 thểloại:

*Nhóm 1 gồm các động từ tiếp nhận chủ thể và đối thể đều là danh từ chỉ người

Ví dụ: Les lexicographes aident les grammairicns

* N h ó m 2 g ồ m các động từ tiếp nhận chủ thể và đối thể đều là những

voiture du garage

T étage

Nhóm kết trị Valence S- p là các độnc từ tiép nhậnmột kết (ố chu thó

và một kết tố đối thể gián tiếp: (sourire à qq'un parler de q q c h )

Trang 29

- La forture sourit aux jeunes

- II parle de son travail

Nhóm kết trị "Valence S- P- O" là các động từ có khá nãng tiếp nhận

3 tham tố: chủ thể, mộ t đối thể trực tiếp và 1 đối thể gián tiếp hoặc 2 đối thê

gián tiếp

Ví dụ các động từ (donner, offrir, permettre demander, parler, refuser, dire, raconter )

Trong tiêng Pháp, người ta có thể mở rộng kết trị của những động tù

có hai kêt tố S- p hoặc S- o bằng động từ "faire" hoặc "laisser" Trong trường hợp này, ta có kết trị tổ hợp S- P- o

Ví dụ:

* II sourit à tout le monde (S- P)

—> Je le laisse sourire à tout le monde

* L'enfant ne boit pas son lait (S- O)

—> La mère fait boire le lait à l'enfant (S- P- O)

B ản g hệ thông các loại kết trị của động từ tiêng Pháp

Ngoại kết trị (valences transitives)

Kết trị của các động từ thuộc nhóm nội động từ (verbes intransitif) có thể được thể hiện bằng sơ đồ:

intransitif)

Trong kết trị này, ta có V là một động từ có ý nghĩa hoàn chỉnh, han

mặt thời và thể

Ví du: - II dort- ils dorment

Trang 30

- Hier, il dorm ait quand je suis arrive (Temps et aspeet)

- l i est parti (masculin)

Đối với các động từ thuộc nhóm ngoại động từ (verbes transitifs) tức

là bản thân nó chỉ là hạt nhân của vị ngữ chứ không tự mình đóng vai trò

của vị ngữ N ó cần có một hay nhiều tham tô bắt buộc gọi là đối thế Ta có

thể tập hợp các loại hình kết trị của các động từ thuộc nhóm ngoại động từ bằng các sơ đồ sau:

tố chủ thể (S) Đặc điểm của kết tố chủ thê trong tiếng Pháp là khá năng cai

một cấu trúc danh từ theo một quy tắc nhất định Trường hợp chủ thế là một danh từ, cải biẽn danh từ được thực hiện theo công thức:

Trang 31

V í dụ: Les étudiants partent en vacances

—» Le depart en vacances des êtudiants

cải biến danh hoá được thực hiện theo công thức:

Tính từ sở hữu tương ứng với chủ thể + danh

từ tương ứng của vị từ

Ví dụ : II part en vacances

—» Son depart en vacances

Trong cấu trúc s +V+C, ta có động từ trong cấu trúc này hoàn toàn

có kh ả năng tham gia cải biến bị động là những động từ có hai kết trị: một

kết trị là chủ thể (S) và một kết trị là đối thể (C) Cả hai kết trị này đều là những kết tố bắt buộc:

Quan hệ của động từ V với chủ thể s giống như ở cấu trúc s + v của trường hợp các động từ có một kết trị có nghĩa là chủ thể chi phối dạng thức của động từ về mặt ngôi và số Còn đối thể (C) bổ sung cho động từ ý

đối thể này là bổ ngữ trực tiếp vì nó trả lời cho câu hỏi với: "Qu est - ce que" hoặc "que"

Trong cấu trúc này ta có V là các động từ thuộc nhóm ngoại độnsi lừ (verbes transitifs) cần có một bổ ngữ trực tiếp (direct) tức là không cần mọi

từ ngữ pháp nào để gắn kết đối thể với động từ

Khác với kết tố chủ thể là kết tố có ở hầu hết tất cà các động từ kei

tố đối thể chỉ đặc trưng cho các động từ có tính ngoại hướng tức là các động

từ có khả năng kết hợp vào mình một hay một vài kết tố bắt buộc ngoài kết

tố chủ thể Về mặt nội dung, kết tố đối thể bổ sung cho động từ ý nghĩa đôi thể hoạt động, v ề mặt hình thức, ở dạng cơ bản, kết tố đối thể được hiếu hiện bằng danh từ, hoặc vị từ chiếm vị trí sau dộng từ ngoai hướnị

On construit une maison

II doit partir

Ìg:

Trang 32

Cái kết tố đối thể này đều do ý nghĩa của động từ hạt nhân (construii doit) quy định Các động từ ngoại hướng này đều là thực từ không chỉ có tính ngoại hướng về ngữ pháp mà còn có tính ngoại hướng về ngữ nghĩa Ví

dụ các cấu trúc mà hạt nhân là đ ộn g từ ngoại hướng kiểu như: écrire Line

lettre, lire un livre, chanter une chanson thì các kết tô như "une lettre, un livre, une chanson" vừa chỉ đôi thể cú pháp (complement d'objet direct) vừa chỉ đối thể ngữ nghĩa của hoạt động Các kết tô đối thê này có thể thay đổi

vị trí từ chỗ đứng sau động từ đến đứng trước động từ trong trường hợp chúng được thay thế bằng những đại từ làm bổ ngữ như (le, la, les) hoặc (lui, leur, en) Trong tiếng Pháp có hai loại kết tô đối thể Đó là loại kết tô

đối thể gián tiếp như cấu trúc: écrire à qq'un (viết thư cho ai), parler de qqcli

(nói về cái gì) và loại kết tố đối thể trực tiếp như: faire qqcli (làm cái gì) voir qq'un(thăm ai)

Hai loại kết tố đối thể này về mặt nội dung giông nhau tức là cléu bổ sung ý nghĩa cho động từ hạt nhân và đều là những tham tỗ bát buộc trong kết trị của nó Nhưng chúng khác nhau về mặt hình thức và được nhận diện chủ yếu trên bình diện hình thức ngữ pháp bởi sự hiện diện của một giới từ

(à, de, SUI' ) m à trong tiếng Việt đôi khi không nhất thiết phái ciCuiíi ílên

Ví dụ: - Lc facteur apporte le courrier -> le courrier est apporte’ par

le facteur Trong khi đó thì cấu trúc :

không thể có câu bị động : Sa mèrc cst parlec

Trang 33

Cấu trúc với một kết tố đối thể trực tiếp còn cho phép khá năng cai

biến danh hoá mà nó không thể có ở cấu trúc với kết tô đối thê gián tiếp:

Construire une maison —» La construction d'une maison

Penser à sa mère —» không có cải biến danh hoá

Việc xác định các kết tố đối thể của động từ có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng trong tiếng Pháp Nó cho phép xác định ngữ nghĩa của những câu có

cấu trúc nổi giống nhau nhưng lại khác nhau về cấu trúc chìm như loại hình câu:

Pierre prépère le café au lait

Câu này trong tiếng Pháp có thể hiểu theo hai cách:

1 Pierre thích cà phê hơn sữa

2 Pierre thích cà phê sữa

Ở cách hiểu (1) ta có động từ "preferer" với hai kết tô đối thể (1 gián tiếp và 1 trực tiếp) Ở cách hiểu (2) ta có động từ "Prèíérer" chỉ có I kết lò đối thể trực tiếp là "café au lait"

Kết tố đối thể trực tiếp và kết tố đối thể gián tiếp có thể đổng thời tham gia vào kết trị của một động từ Trong trường hợp ấy ta có động từ 3 kết trị : chủ thể, đối thể trực tiếp và đối thể gián tiếp

V í dụ như các động từ :

Donner qqch à qq'un

Offrir à qq'un qqch

Presenter qq'un à q q ’un

Trong trường hợp này các kết tố đối thể trực tiếp và gián tiếp có thế hoán vị cho nhau mà không làm thay đổi ý nghĩa cứa câu:

Marie donne des bonbons aux enfants

Marie donne aux enfants des bonbons

(Marie cho trẻ em kẹo)

Mari ch o kẹo trẻ em)

Trang 34

Từ viêc phân tích các loai kết tri của đông từ, ta có thê tiến hành phân loại động từ trong tiếng Pháp thành các nhóm sau đây:

1 Dỏng từ cổ 1 kết tri (Kết tố chủ thể) như dormir, se lever, se

réveiller tức là các động từ mà ngữ pháp truyền thông quen gọi là nội

động từ (verbes intransitifs) và đổng từ phản thân (verbes pronominaux)

2 Đ ỏng từ cổ 2 kết tri (kết tố chủ thể và 1 kết tố đối thè trực tiếp,

hoặc gián tiếp)

Nhóm này bao gồm các động từ có cấu trúc:

V qqch hoặc V q q 'u n ,v à/ de/ sur qqch, V à/ de/ sur qq'un

Ví dụ faire qqch, voir qq'un, rencontrer qq'un, rencontrer qqch

kết tố đối thể gián tiếp hoặc cả 2 gián tiếp V qqch à qq'un, V de qqcli à

qq'un)

Cũng như trong tất cả các ngôn ngữ khác, trong tiếng Pháp, sự hiện

thực hoá kết trị của động từ phụ thuộc vào ngữ cảnh và tình huống giao ticp

Chính nhờ có ngữ cảnh và tình huống giao tiếp mà trong thực tô la thườn”

thực hiện được chức năng của mình Sự hiện thực hoá kết trị của động từ

trị bắt buộc gắn chặt với nghĩa của động từ và đòi hỏi bởi nshTa cún đông từ

còn sự hiện thực hoá kết trị tự do nói chung không bị đòi hỏi bơi ý nghĩa

của động từ mà gắn với mục đích nói năng giao tiếp

Do bi đòi hỏi bởi nghĩa của động từ, sự hiện thực hoá kết tri bãi buóc

bỏĩ’

thường mang tính khách quan và tính thường xuyên Nó bị ràng buộc cu hai

yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp trong khi đó sự hiện thực hoá kcì trị tự do

thường m ang tính chủ quan không bị ràng buộc bởi ngữ pháp có nghĩa la ta

có thể lược bỏ mà kh ôn g ảnh hưởng tới câu trúc ngữ pháp của cáu

Trang 35

V í dụ: Je regarde la television avec mes parents

"La television" trong câu trên là một kết tố có tính bắt buộc không

3 Đ ộng từ tiếng pháp và các kết trị bắt buộc của chúng

(trích dẫn minh hoạ) abandonner

qqch ou qqn Ce musée abrite de superbes collections

II a du abandonner ses études pour travailler

II faut abattre cet arbre 11 est pourri

Les policiers ont abattu le cambrioleur

Les négociations n'ont pas aboutiLes négociations ont abouti à un accord

Avec cette pluie, il va falloir nous abriter

Le directeur s'est absenté quelques minutes 11 va revenir 20% des électeurs se sont abstenus 40% ont vote pour la gauche

11 m'enervait, mais je me suis abstenu de répondre

N'abusez pas du tabac! Ce n'est pas très bon pour la santé

probablement condamné

Trang 36

Nous n'acceptons pas cette decision.

Accepteriez-vous que je vous invite à diner0 Accepteriez-vous de diner avec moi ?

La foule a acclamé le president

11 finira bien par s'accommoder de la situation: on s'habitue à tout!

Pouvez- vous accompagner Madame chez le Directeur ?

La musique qui accompagne ce poème est ties bien choisie

Les autorités ont accordé un visa à toute sa famille (Eille

va pouvoir la rejoindre)

Je vous accorde que ces couleurs ne sont pas très bien choisies

11s ne peuvent s'accorder

11 ne s'accorde jam ais de repos (= il ne se donne )

11 faudrait vous accorder sur le choix du titreiLes syndicats se sont accordés pour ne pas critiquer laposition du gouvem em ent dans cette affaire

Trang 37

avec qqch Le verbe s'accorde avec le sujet.

Trang 38

Nous avons acheté une nouvelle voiture.

J'ai acheté une montre à Julien pour son anniversaire

L'orateur n'a pas pu achever son discours: le public faisait trop de bruit

Nous n'aurons pas achevé de construire cet immeuble a

la date prévue

La Société Legrand a acquis cet immeuble en 1982

Par son travail, il s'est acquis l'estime de tous

Je voudrais m'acquitter de ma dette envers vous

Vous vous êtes bien adapé à votre nouveau travail ? Cela vous convient ?

Cette colle à bois adhere bien au matériau

Pierre veut adherer à un paiti

Je n'admets pas votre attitude!

On n'admet pas les chiens à 1'intérieur de l'iinmeuble.Paul n'admettrait pas que vous lui parliez sur ce ton

Je n'adinets pas d'avoir à recommecer ce travail

Le maire adininistre bien sa commune

Le médecin lui a administré un medicament efficace

Trang 39

adm irer

qqn ou qqch Patrick admire beaucoup son père

qqn de + inf Je vous admire d'avoir su garder votre calme!

s ’adonner

adopter

adorer

qqn ou qqch Elle adore ses enfants

Elle vous renseignera

affaiblir

s'affaiblir II s'affaiblit de jo u r en jour,

s'affaisser Ce mur s'affaisse, bientôt il va s'ecrouler

affecter

depressive pendant plusieurs semaines

Trang 40

II affecte de s'en moquer, mais il est très touchè.

On a affiche les résultats des examens, tu peux aller les voir

II affiche une grande indifference envers tous les probèmes humanitaires

S'afficher ainsi en public avec ce pantalon est ridicule

II affirme son innocence,

à qqn que + II a affirme à toute sa famille qu'il était innocent

Les lettres d'Olivier agacent Sylvin

II faut agir rapidement

Ngày đăng: 02/10/2020, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w