Là căn bản bởi Nho giáo không chỉ là học thuyết mà còn là hệ tư tưởng của xã hội, thống trị xã hội Việt Nam hàng trãm năm.Những tác động của Nho giáo là cực kỳ lớn, bởi trong quá trình t
Trang 1NHỮNG Tư TƯỞNG CHỦ YẾU CỦA NHO GIÁO
VỂ CON NGƯỜI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2LỜI MỞ Đ Ầ U : 2NỘI DUNG.
CHƯƠNG I: Sự tác động của Nho giáo đến con người Việt Nam
trong lịch s ử : 71.1 Sự du nhập và tác động của Nho giáo vào xã hội phong kiến
Việt N a m : 71.2 Con người Việt Nam dưới tác động của Nho g iá o : 231.3 Tầng lớp Nho sĩ Việt Nam và vai trò của họ trong xã hội
phong k iế n : 31
CHƯƠNG II: Những ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc xây dựng
con người Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay 402.1 Thách thức của thời đại và những định hướng giá trị cơ bản của
con người Việt Nam hiện nay 402.2 Những nguyên tắc để nhìn nhận ảnh hưởng của Nho giáo trong
việc đào tạo con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH 552.3 Loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, kế thừa, phát huy những ảnh
hưởng tích cực của Nho giáo trong việc đào tạo con ngườiViệt Nam hiện nay 62KẾT LUẬN: 86TÀI LIỆU THAM K H Ả O : 90
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Quan điểm duy vật Mác xít khẳng định rằng: con người là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử và chính con người lại là chủ nhân của lịch sử Nói như vậy, cũng có nghĩa là: con người sáng tạo ra chính bản thân mình Điểu khẳng định này rất quan trọng bởi nó đưa đến một kết luận có tính lôgíc: suy cho cùng, trình độ phát triển của lịch sử tương ứng với trình độ phát triển của chính con người Vì lẽ ấy ta thấy, khi lịch sử nhân loại có những bước ngoặt thì cũng đồng thời xuất hiện những mẫu hình nhân cách mới của thời đại đó
Minh chứng mà lịch sử đã biểu hiện khẳng định, những kết luận trên
là có tính chân lý và việc các giai cấp khi tham dự vào tiến trình lịch sử cũng đồng thời với việc tạo dựng mẫu hình nhân cách của giai cấp đã trở thành những động thái mang tính tất yếu Đến đây ta lại có một kết luận khác: rằng, suy cho cùng giai cấp đó đã tạo dựng được mẫu người của giai cấp hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn Chẳng hạn, giai cấp tư sản đã chiến thắng giai cấp địa chủ phong kiến để bước lên vũ đài chính trị không chỉ được biểu hiện ở chỗ nó tạo ra được lực lượng sản xuất mới cao hơn lực lượng sản xuất của xã hội phong kiến mà căn bản là đã tạo ra được một mô hình con người hiện đại hơn bởi chính những con người đó là một trong những chủ thể sáng tạo ra lực lượng sản xuất mới Tương tự như vậy, ta có thể nói, giai cấp vô sản chỉ thắng lợi khi đủ sức tạo ra mẫu nhân cách của giai cấp hiện đại hơn hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn nhân cách tư sản Trên cơ sở đó, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng đinh: “Muốn xây dựng CNXH thì trước hết cần phải có những con người XHCN”
Đến đây vấn để còn lại được đặt ra là: làm thế nào để có được những con người XHCN như Hồ Chí Minh mong muốn ?
Trang 4Bài học lịch sử cũng như những chỉ đãn về mặt lý luận và sự trải nghiệm của cách mạng cho ta thấy, không thể có con người XHCN nêu như không hợp chiếu những tác động tích cực, cùng chiều của các nhân tô truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế để nuôi dưỡng cho đến độ hoàn thiện những con người có những phẩm chất mới Suy nghĩ như vậy bởi con người đồng thời phải chịu những tác động của hoàn cảnh từ phía thời đại họ sống cũng như các nhân tố của truyền thống lịch sử Rõ ràng con người vừa chịu tác động theo chiều ngang - các nhân tố thời đại, và chịu tác động theo chiểu dọc - các nhân tố truyền thống Vì lẽ ấy nếu chỉ họp chiếu với những nhân tố của thời đại tất yếu sẽ sản sinh ra những con người vong thân, vong bản Đó là những quái vật.
Để bù đắp vào những hẫng hụt và lo toan của nhân loại hiện nay, không thể bỏ qua những nhân tô truyén thống trong quá trình xây dựng con người Điều này có nghĩa, phải quan tâm hơn đến việc hợp chiếu với các nhân tố truyền thống Kết luận này được rút ra khi nghiên cứu con người phương Tây hiện nay cũng như con người Nhật Bản hiện đại - một quốc gia phát triển ở gần Việt Nam Mặt khác kết luận đó là hệ quả của sự thấm nhuần chân lý: sự phát triển phải bắt đầu từ một nền tảng nhất định Nền tảng ấy, một phần có sự tham dự của các nhân tố truyền thống Và, nếu thiếu nó, sự phát triển sẽ không có giá đỡ, không có điểm tựa
Tuy nhiên, nghiên cứu các nhân tố truyền thống, cũng cho thấy rằng, trong các nhân tố đó có sự đan xen giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa tích cực và tiêu cực Vì vậy, để hoàn thành sự nghiệp cách mạng phải nhận diện rõ bản chất của từng nhân tố Giản đem là, nếu là nhân tố lạc hậu phải tìm cách hạn chế, khắc phục Nếu là nhân tố tích cực tất phải khuyến khích, phát huy.Tác động đến con người và xã hội Việt Nam hôm nay có vô vàn những nhân tố truyền thống Trong các nhàn tố đó, Nho giáo là một trong
Trang 5những thành tố căn bản Là căn bản bởi Nho giáo không chỉ là học thuyết
mà còn là hệ tư tưởng của xã hội, thống trị xã hội Việt Nam hàng trãm năm.Những tác động của Nho giáo là cực kỳ lớn, bởi trong quá trình tồn tại nó đã đủ sức không chỉ đặt được dấu ấn của mình lên mọi giá trị, mọi phương diện của đời sống mà căn bản còn là đã tạo ra những mẫu hình nhân cách Nho giáo Điếu đĩ nhiên, mẫu hình nhân cách đó ngày nay tất không còn phù hợp trong xã hội ta, song bản thân nó còn có thể chứa đựng những nhân tố có ý nghĩa nào không ? VI vậy đó là lý do tồn tại của công trình nghiên cứu “Những tư tưởng chủ yếu của Nho giáo về con người và ảnh hưởng của nó trong việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu.
Với hơn 2000 năm tồn tại, Nho giáo trong xã hội phong kiến ở những quốc gia chịu ảnh hưởng của nó liên tục được phát triển Dĩ nhiên nó cũng
là đối tượng nghiên cứu của nhiều người ở nhiều thời đại Những nghiên cứu
về Nho giáo rất đa dạng cả về nội dung, phạm vi và những kết luận được rút
ra Tựu trung, có 2 loại kết luận đối lập nhau: một, ca ngợi Nho giáo; hai, phản đối Nho giáo Kết quả này không chỉ ở các nước chịu ảnh hưởng Nho giáo mà ngay cả ở Trung Hoa - nơi Nho giáo khởi phát
Khi CNTB được xác lập trên phạm vi toàn thế giới, tình hình có những thay đổi Phần lớn các ý kiến khi nghiên cứu Nho giáo đều tập trung phê phán Nho giáo Quyết liệt nhất, không phải ở nơi khác mà là ở ngay Trung Hoa Theo chúng tôi sự phê phán này là tất yếu vì 2 lẽ: một là, theo quy luật, khi một hệ tư tưởng nào đó muốn tồn tại, chiến thắng tất phải phê phán hệ tư tưởng khác và hai là, tự bản thân nó, Nho giáo không phải là hệ
tư tưởng hoàn hảo
Khi Nhật Bản, sau đại chiến II, vươn lên thành một cường quốc và đặc biệt khi một số nước Đông Nam Á khác cất cánh thành công thì sự tập trung
Trang 6chú ý của giới nghiên cứu lại là ở chỗ, tìm cách chứng minh cho sự liên hệ giữa Nho giáo với phát triển.
Ở Việt Nam, trước ngày đổi mới, nhiều nhà nghiên cứu cũng phê phán Nho giáo Trong số đó có người khá cực đoan, mong muốn “quét sạch” tàn dư Nho giáo một cách nhanh chóng Tuy nhiên, có một nhân vật lỗi lạc, ngay từ những năm 1927 đã nhận thấy rằng, Nho giáo có nhiều điểm hạn chế, vì đó là hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến đã lạc hậu song cũng
có nhiểu điểm hiện vẫn có ý nghĩa nhất là về phương diện đạo đức Nhân vật
đó, không ai khác chính là Hồ Chí Minh
Từ ngày nước ta đổi mới, trong không khí dân chủ, cởi mở, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu, Quang Đạm, Nguyễn Tài Thư, Phan Đại Doãn, Lê Văn Quán bên cạnh việc khẳng định Nho giáo có nhiều hạn chế còn thừa nhận nó có nhiều yếu tô hiện vẫn còn giá trị Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp, cần phải nghiên cứu thêm và công trình của chúng tôi là một cố gắng theo hướng đó
3 M ục tiêu và nội dung nghiên cứu.
3.1 M ục tiêu: trình bày, phân tích và đánh giá những tư tưởng chủ
yếu nhất của Nho giáo về con người và đào tạo con người, từ đó phân tích những ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
3.2 N ội dung nghiên cứu.
Trang 7Ngoài phương pháp chung là CNDVBC và CNDVLS, đề tài còn sử dụng các phương pháp cụ thể như lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, so sánh .
5 Lực lượng tham gia:
- NCS Nguyễn Thanh Bình, Khoa triết học, Đại học KHXH và NV
- TS Hồ Trọng Hoài, Học viện CTQG Hồ Chí Minh
- TS Nguyễn Thị Nga, Học viện CTQG Hồ Chí Minh
Trang 8NỘI DUNG
CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG LỊCH sử
1.1 Sự du nhập và tác động của Nho giáo vào xã hội phong kiến Việt Nam.
l.a Sự tiếp nhận Nho giáo từ bị động tới chủ động, từ tiêu cực tới tích cực.
Nho giáo còn gọi là Đạo Nho hay Khổng Giáo, do Khổng Tử (551 -
479 TCN) sáng lập ở Trung Quốc Nó là một trong những học thuyết lớn của Trung Quốc không chỉ ở thời kỳ cổ đại mà còn phát triển mạnh ở những thời kỳ sau
Quá trình phát triển của tư tưởng Nho giáo có thể hình dung qua hai giai đoạn lớn Giai đoạn đầu là Nho giáo Nguyên thủy hay còn gọi Nho giáo Tiên Tần, với các đại biểu nổi tiếng như Khổng Tử, Tuân Tử Ớ thời kỳ này các tư tưởng của Nho giáo ít tính thần bí, chưa khắc nghiệt, có nhiều ý tưởng nhân bản, phù hợp với xã hội phong kiến phân quyền thời Xuân Thu - Chiến Quốc Giai đoạn sau kể từ thời nhà Hán, chính quyển phong kiến đã
sử dụng Nho giáo vào việc củng cố địa vị của giai cấp mình Nho giáo được
sử dụng như một vũ khí tư tưởng đắc lực cho giai cấp phong kiến Nho giáo
đã được thần bí hoá kết hợp chặt chẽ giữa thần quyền, quân quyền, phụ quyền nhằm phục vụ cho nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở giai đoạn sau Thời kỳ này Nho giáo trở nên hà khắc hơn, nghiệt ngã hơn về mặt chính trị xã hội, thần bí, duy tâm hơn về phương diện triết học
Tư tưởng Nho giáo trong quá trình phát triển có nhiều thay đổi tùy theo từng thời kỳ song nhìn chung nó vẫn xoay quanh việc tìm ra các giải pháp nhằm ổn định trật tự xã hội phong kiến Vì vậy có thể nói, Nho giáo không phải là một tôn giáo như Đạo Phật, Đạo Lão, nó cũng không phải là
Trang 9học thuyết triết học thuần túy mà còn là học thuyết chính trị - đạo đức v ề
cơ bản, Nho chủ trương dùng “nhân trị”, “đức trị” để quản lý xã hội Ngay
từ đầu, Khổng Tử đã đưa ra chủ trương này Ông nói: “Dùng đạo đức làm chính trị thì như là sao Bắc cực ở một chỗ nhất định mà các sao khác đều vây quanh” (Tử viết: Vi chính đĩ đức, thế như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi) Chỗ khác ông nói: “Lấy đức hạnh để dẫn dắt người ta, lấy lễ giáo để chỉnh đốn người ta thì họ không những có lòng liêm sỉ mà còn quy phục nữa” [Đại chi đĩ đức, đề chi đĩ lễ, hữu sở thả cách]
Để thực hiện đường lối “Đức trị”, Nho giáo đã xây dựng những nguyên tắc đạo đức như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đó cũng là những chuẩn mực, quy phạm đạo đức để giáo hoá điều chỉnh hành vi con người, hướng họ tới mẫu người thích nghi với xã hội phong kiến Mặc dù ở Nho Khổng Mạnh đã nêu lên xã hội lý tưởng là xã hội đại đồng, một xã hội
“Thiên hạ là của chung, tuyển chọn người hiền và cử người tài năng, nói điểu tín và tu sửa điều hoà mục, cho nên người ta không chỉ tôn kính cha mẹ mình, không chỉ yêu thương con cái mình khiến cho người già được sống trọn đời, người trai tráng được sử dụng, người không vợ, người không chồng, trẻ mồ côi, người không con tất cả đều được chăm sóc Song điều đó chỉ là không tưởng Ớ thời đại các ông, xã hội Trung Quốc đã phân chia đẳng cấp, sản xuất còn ở trình độ thấp, chiến tranh giành quyền lực xẩy
ra liên miên, ý tưởng đó chỉ là hình ảnh “đứng dưới đất mà mơ ăn ngỗng trời”
Xã hội hiện thực của Nho giáo là xã hội đẳng cấp, tôn ty bởi nền Nho giáo chú trọng xây dựng ý thức tôn ty trật tự sao cho: “Vua ra vua, bề tôi ra
bề tôi, cha ra cha, con ra con” (quân - quân, thần - thần, phụ - phụ, tử tử”
Tư tưởng này xuyên suốt quá trình phát triển của Nho giáo song nội dung cụ
Trang 10thể ở mỗi thòi kỳ có nhiều đổi khác Ở Nho giáo nguyên thủy, các quan hệ
cơ bản này có tính nhân bản hơn: “Vua Nhân”, “Tôi trung”, “Phụ tử”, “Tử hiếu”, ở giai đoạn sau, quan hệ này là sự ép buộc của người trên đối với người dưới chứ không phải nghĩa vụ của cả đôi bên, thậm chí có chỗ nó được đặt ra một cách nghiệt ngã, vô lý, phi nhân bản Đổng Trọng Thư nói
“Vua xử bề tôi chết bề tôi không chết là bất trung, cha khiến con chết con không chết là con bất hiếu” Suy cho cùng, sự thay đổi này nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến
Một phương tiện để ổn định xã hội mà Nho giáo đề cập không thể bỏ qua ấy là tư tưởng giáo dục, giáo hoá con người Ngay từ đầu Khổng Tử đã nói “Tính tương cận dã tập tương viễn dã” Sau Mạnh Tử cũng nhấn mạnh rằng con người ta cứ được ăn ngon, mặc ấm mà không được giáo hoá thì cũng gần giống như cầm thú mà thôi Dù các nhà tư tưởng của Nho giáo có quan điểm khác nhau song nhìn chung họ đểu đề cao giáo dục, coi giáo dục
là mắt khâu quan trọng của xã hội trên con đường phát triển, v ề phương diện triết học, đạo đức, Nho giáo có nhiều điểm hạn chế mà các nhà nghiên cứu đã đề cập và thực tế lịch sử đã ghi nhận nhưng về phương diện giáo dục, quan điểm Nho giáo có nhiều điểm tiến bộ cho đến tận ngày nay vẫn có thể
kế thừa và phát huy Dù vậy, tư tưởng về giáo dục của Nho giáo cũng không vượt qua khung cửa chật hẹp, tạo ra những con người thích ứng với xã hội phong kiến
Với những tư tưởng cơ bản trên, trong lịch sử, Nho giáo đã ảnh hưởng rất lớn tới xã hội phong kiến Trung Quốc, đã từng được coi là hệ tư tưởng,
vũ khí tinh thần đắc lực của các triều đình phong kiến Trong quá trình phát triển Nho giáo đã vượt ra khỏi Trung Quốc, ảnh hưởng đến hàng loạt các nước trong khu vực như Nhật Bản, Triều Tiên Ở Việt Nam, Nho giáo du nhập vào từ rất sớm Nhiều sách cho rằng, Nho giáo vào nước ta từ trước công nguyên nhưng việc truyền bá có nền nếp là từ thế kỷ thứ I sau công
Trang 11nguyên Lúc đầu Nho giáo vào nước ta do những người Trung Quốc tự áp đặt Đất nước lúc bấy giờ là xã hội mới thoát thai từ thòi Văn Lang Âu Lạc, dân ta chưa biết đến Nho giáo Sách Hán Thư ghi rằng “Người Giao Chỉ không biết đạo vợ chồng, cha con, không theo lễ giáo phong kiến”.
Những người cai trị phương Bắc truyền bá Nho học vào nước ta trước hết nhằm tạo nên những người làm việc cho chính quyền Hán Người theo học là con em tầng lóp cai trị và cả những người Việt Người Giao Châu dần làm quen với Nho giáo
Phải nói rằng lúc đầu con người và xã hội Việt Nam tiếp nhận Nho giáo một cách thụ động, chậm chạp Hầu như trong thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo vẫn đứng hàng thứ yếu Trong nhân dân, Phật giáo vẫn giữa vai trò chính yếu Với triết lý từ bi, hỉ xả, đầy lòng bác ái vị tha, Phật giáo trở nên gần gũi vói lối tư duy, cách sinh hoạt của người dân Việt, c ắ t nghĩa về tình hình trên có nhiều ý kiến khác nhau Nhiều ý kiến cho rằng sở dĩ có tình hình đó là bởi Nho giáo gắn liền với bước chân xâm lược của người phương Bắc Ý kiến khác lại cho rằng, nội tại sự phát triển của xã hội Việt nam chưa thực sự cần đến một hệ tư tưởng có tính chặt chẽ hà khắc như Nho giáo Thực ra hai cách quan niệm trên đểu ít nhiều thấy được nguyên nhân của nó
ở những góc độ khác nhau Người Việt vốn có truyền thống yêu nước, bất khuất chống giặc ngoại xâm bởi nên những gì theo chân xâm lược thì không thể chiếm được sự tin cậy ngay của người dân Việt Mặc khác, người Việt cũng vốn có cách tư duy dung hoà, mở rộng để tiếp nhận các luồng văn hoá, các tư tưởng ngoại lai làm giầu cho văn hoá bản địa Sự tiếp nhận một cách
tự nhiên các tư tưởng Phật giáo, Lão giáo của dân tộc ta hồi đó đã chứng minh cho nhận định này Có lẽ việc nhân dân ta còn xa lại với Nho giáo vì
nó gắn với bước chân quân xâm lược chỉ là giai đoạn đầu Thực tế lịch sử cho thấy khi sự phát triển nội tại của đất nước đặt ra những nhu cầu cần giải
Trang 12quyết, hệ tư tưởng nào đáp ứng được những yêu cầu đó ắt được tiếp nhận, phát huy Sự phát triển Nho giáo ở Việt Nam cũng nằm trong tình hình này.
Xã hội Việt Nam dần phát triển, xu thế đấu tranh giành độc lập, hình thành nhà nước phong kiến Trung ương tập quyển thể hiện rõ trong những năm cuối thòi kỳ Bắc thuộc Quá trình truyền bá Nho giáo của kẻ xâm lược
đã được người dân Việt quen dần rồi từ đó có sự thay đổi trong nhận thức, trong thái độ với Nho giáo Mặt khác sự phát triển nội tại của xã hội Việt Nam đã dần nhận thấy Nho giáo cũng có những điểm phù hợp với đời sống sinh hoạt - xã hội của mình Người Việt đã quan tâm hơn đối với Nho giáo Như vậy Nho giáo đã được người Việt tiếp nhận đi từ phản ứng đến tiếp thu,
từ xa lạ đến gần gũi
Buổi đầu cầm quyền của giai cấp phong kiến Việt Nam, Nho giáo tuy
đã được triều đình sử dụng như một công cụ tinh thần trong quản lý xã hội, song vẫn đứng vị trí thứ yếu bên cạnh Phật giáo Thời kỳ này, Phật giáo được coi như một quốc giáo, được triều đình phong kiến sử dụng như một hệ
tư tưởng Bản thân Phật giáo là một tôn giáo có tư tưởng bi quan yếm thế, song khi du nhập vào Việt Nam, nó đã được bản địa hoá và đi sâu vào đời sống sinh hoạt người Việt Vốn bản thân Phật giáo là một tôn giáo thoát tục song thời kỳ này Phật giáo mang đầy nét nhập thế Phật giáo tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động chính trị Bên cạnh ngai vua còn
có các nhà sư giữ vai trò tham mưu cho triều đình Phật giáo không chỉ phát huy vai trò trong dân gian mà còn đóng góp tích cực cho triều đình Phật giáo đã giữ vai trò chủ đạo ảnh hưởng tới xã hội, con người Việt Nam trên mọi lĩnh vực: từ chính trị đến đạo đức, giáo dục
Mặc dù vậy, thời kỳ Lý cũng là giai đoạn khởi đầu chính quyền phong kiến quan tâm đến Nho giáo Do nhu cầu củng cô nhà nước và trật tự phong kiến, triết lý cùng cách tổ chức hành chính lỏng lẻo của Phật giáo không đáp ứng được nhu cầu củng cô' nhà nước, duy trì nền độc lập phát
Trang 13triển đất nước Nho giáo với hệ thống lý luận hoàn chỉnh, thống nhất, chặt chẽ phù hợp với một thể chế chính trị phong kiến tập quyển thống nhất sẽ đáp ứng được nhu cầu của đất nước lúc bấy giờ Mặt khác những tư tưởng của Nho giáo về sinh hoạt, đòi sống tâm linh đã khái quát lên từ đời sống người dân phương Bắc cũng có những điểm tương đồng với phong tục tạp quán người Việt Ví như Nho giáo đề cao đạo hiếu thì từ xưa trong ý thức người Việt cũng thường xuyên giáo dục con người phải hiếu thảo và có rất nhiều tấm gương hiếu thảo được ngợi ca trong các câu chuyện cổ tích đã được truyền miệng từ thế hộ này sang thế hệ khác Hay ở Nho giáo rất đề cao giáo dục, coi giáo dục là một phương tiện đào tạo con người mà xã hội nào cũng cần Tuy trước đó ở Việt Nam chưa có hệ thống giáo dục nhà trường, song trong dân gian đã rất đề cao giáo dục qua lao động sản xuất, qua sinh hoạt, qua các trò chơi, câu h á t
Có thể thấy vào triều Lý, mặc dầu Phật giáo vẫn giữ vai trò quốc giáo,
có địa vị trung tâm nhưng cũng ở thời kỳ này Nho giáo đã được chú trọng Điều đó được ghi nhận bằng một loạt các sự kiện như: Việc xây dựng Vãn Miếu vào năm 1070, Quốc Tử Giám vào năm 1076, tổ chức kỳ thi Tam giáo
Từ đó về sau Nho giáo càng được phát triển, phổ biến và chiếm được địa vị
độc tôn bắt đầu từ thời kỳ nhà Lê Với tư cách là công cụ thống trị tinh thần, Nho giáo được sự hậu thuẫn bằng các chính sách của triều đình nên ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam ngày càng trở nên sâu nặng, đối với nhiều tầng lớp
Như trên đã phân tích, Nho giáo vào Việt Nam và phát triển được phải trải qua một thời gian dài, tuy chậm trễ nhưng lại vững chắc, lặng lẽ nhưng lại có chiều sâu Người Việt từ chỗ phản ứng nó đến chỗ tiếp nhận nó Nho giáo từ xa lạ rồi trở thành gần gũi, từ công cụ của kẻ đi xâm lược trở thành công cụ để xây dựng và phát triển nhà nước mình Xã hội và con người Việt Nam tiếp nhận Nho giáo từ thế bị động sang chủ động, từ tiêu cực thành tích
Trang 14cực Nho giáo ảnh hưởng rất mạnh mẽ và sâu sắc đến xã hội và con người Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
l.l.b N ho giáo với hệ tư tưởng chính trị giai cấp phong kiến cầm quyền.
Nho giáo có ảnh hưởng tới tư tưởng chính trị của giai cấp phong kiến cầm quyền Việt Nam từ thòi kỳ nhà Lý Mặc dù thời kỳ này Phật giáo được coi là quốc giáo và nó có ảnh hưởng lớn tới lĩnh vực tư tưởng chính trị, song Nho giáo cũng có tác động không nhỏ Điều này được thể hiện rõ trong tư tưởng của Lý Công u ẩ n với “Chiếu dời đô”, Lý Thường Kiệt trong bài
“Nam Quốc Sơn Hà” Một sô phạm trù Nho giáo như trung, hiếu, nhân, nghĩa đã được vận dụng vào lĩnh vực chính trị
Thời Trần, sự tác động của Nho giáo trở nên mạnh mẽ hơn Trước nhu cầu bảo vệ đất nước, củng cố địa vị cho giai cấp cầm quyền Phật giáo thể hiện sự yếu kém và bất lực rõ rệt Tầng lớp Nho sĩ ở Việt Nam đã hình thành, phát triển và ngày càng trở nên đông đảo Họ trở thành đội ngũ mưu
sĩ đắc lực cho triều đình Xu hướng “Đức trị” khá rõ nét và phổ biến Một bài phú nhà Trần khuyên Vua như sau: “Thanh sắc xa lánh chẳng thiết, săn bắn bỏ đích không chơi Cần gấm vóc không cho là quý, mặc giản đơn làm trước mọi người Dù phú quý không mang dật lại, nghề nghiệp vua khó nhọc lâu dài Thức khuya dậy sớm, sử dụng hiền tài thâu cả chính sự, nắm bắt quyền oai Đức Nghiêu Thuấn mong rằng sánh kịp, công vua Văn cố gắng theo đòi” Như vậy tư tưởng của Nho giáo về phép trị nước đã được đưa vào chính trường thời này Ngoài ra các bậc Nho sĩ thời kỳ này còn tiến hành trào lưu phê phán Phật giáo Thực tế ấy thể hiện sự sa sút của Phật giáo và
nó cũng báo hiệu sự đăng quang của Nho giáo trên lĩnh vực tư tưởng Từ thời Lê (TK XIV) về sau Nho giáo thực sự đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực chính trị tư tưởng, chừng mực nào đó có thể coi nó là quốc giáo
Trang 15Sở dĩ có sự lựa chọn này nguyên nhân trước hết nằm chính ngay trong nội tại tư tưởng Nho giáo Nho giáo đã đưa ra một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, chặt chẽ nhằm bảo vệ cho trật tự xã hội phong kiến đẳng cấp - một kiểu xã hội m à giai cấp thống trị Việt Nam đang xây dựng và duy trì Tư tưởng Nho giáo bảo vệ sự liên kết gia đình, dòng họ xung quanh một triều đình và giữ gìn sự phân chia đẳng cấp xã hội phức tạp theo danh phận Nho giáo biết dung hợp sự phân chia và liên kết này trên nển tảng đạo đức luân
lý và chính trị dưạ trên sự kết hợp “lễ” và “pháp” Nó biết khai thác khéo léo những khía cạnh tâm lý truyển thống của những cư dân nông nghiệp làm cho những tư tưởng của nó dễ được chấp nhận trong cuộc sống Giai cấp thống trị đã nắm lấy, sử dụng nó trong kế sách trị nước Đây là thế mạnh hơn hẳn của Nho giáo so với Phật giáo Đúng như nhận xét của các nhà nghiên cứu về tư tưởng Việt Nam rằng: “Phật Thiền có tích cực đến mấy cũng không thể bằng Nho giáo” Sự lựa chọn hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam như vậy đã rõ
Trong quá trình xây dựng, bảo vệ nhà nước phong kiến trung ương độc lập, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động kiếm tìm một lý thuyết làm hệ tư tưởng thống trị, làm công cụ thống trị tinh thần cho giai cấp mình Mặc khác, chính những tư tưởng cơ bản của Nho giáo về đạo đức, chính trị, giáo dục đã thu hút được sự chú ý của giai cấp thống trị Việt Nam Trên bước đường mở rộng củng cố, xây dựng nhà nước phong kiến thì Nho giáo
tỏ ra có ưu thế trội hơn hẳn Phật giáo Nho giáo góp phần củng cố sự thống nhất của xã hội nông nghiệp, tạo ra một kỷ cương xã hội theo lễ và pháp Trong một xã hội cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp phải dựa vào quản lý hành chính là chính như ở nước ta thì hệ tư tưởng Nho giáo có ý nghĩa hỗ trợ tích cực nhất Như vậy từ thực tiễn yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến, chính quyển phong kiến chủ động lựa chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng của giai cấp mình là một tất yếu, lịch sử
Trang 16Giai cấp phong kiến Việt Nam bắt đầu chủ động sử dụng Nho giáo vào thời kỳ nhà Lý Đến thời kỳ nhà Trần, Nho giáo đã khẳng định được vị trí ưu trội của mình trên con đường xây dựng, bảo vệ trật tự xã hội đẳng cấp Vào thời kỳ nhà Lê, Nho giáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng, chiếm địa
vị độc tôn và cũng là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến Đây
là quá trình chọn lựa nghiêm túc của giai cấp cầm quyền
Để củng cố địa vị hệ tư tưởng thống trị, các triều đại nhà Lê đã tích cực mở mang giáo dục và thi cử theo Nho giáo Thực hiện điểu này trước hết
là để quảng bá tư tưởng Nho giáo rộng rãi đến các tầng lớp dân chúng, mặt khác qua đó để tuyển lựa đội ngũ Nho sĩ đông đảo làm công cụ thực hiện và tuyên truyền cho các chính sách nhà nước phong kiến Thực ra việc học tập
và thi cử theo Nho giáo đã có từ các triều đại trước đó nhưng chỉ đến thời kỳ nhà Lê, việc học tập thi cử mới gắn bó chặt chẽ với chế độ thăng quan tiến chức nhằm tạo ra đội ngũ nho sĩ làm quan lại cho bộ máy hành chính cho nhà nước phong kiến Vì vậy, có thể nói, thời kỳ Lê việc học tập và thi cử đỗ đạt theo Nho giáo phát triển thịnh vượng nhất Từ năm 1442 trở đi chế độ khoa cử đã hoàn chỉnh cứ 3 năm có 1 kỳ thi hương và một kỳ thi hội Số người đi học, đi thi, đỗ đạt ở học vị cao nhiều Nếu kể từ thời Lý với khoa thi Nho học đầu tiên 1075 đến khoa thi Nho học cuối cùng 1916 có 2335 tiến sỹ trong đó có 30 Trạng Nguyên thì chỉ riêng thời Lê Thánh Tông trong
38 năm đã có 501 tiến sỹ trong đó có 9 Trạng Nguyên 1
Việc thi cử theo Nho giáo, kén chọn kẻ Nho sĩ, đưa họ vào bộ máy quản lý nhà nước là đặc trưng nổi bật của thời kỳ nhà Lê - khi Nho giáo đã giữ vai trò làm hệ tư tưởng chính trị Nhà viết sử Phan Huy Chú đã ghi lại:
“Đời Trần đã có đặt khoa cử nhưng sự bổ dụng không bắt buộc phải có khoa
cử, không câu nệ đường xuất thân (là khoa giáp), chỉ cần người dùng được Trong thời kỳ Hồng Đức thi cử chọn được người rất nhiều, bây giờ trong đài
Trang 17viện và quan ngoài địa phương đều dùng người đỗ tiến sỹ Còn giáo sinh và nho sinh có trúng thường chỉ bổ các chức phủ huyện” 1.
Cùng với việc xây dựng đội ngũ quan lại là Nho sĩ, chính quyền sử dụng sức mạnh chính trị ban bô hàng loạt các chính sách xuống các địa phương để các tư tưởng Nho giáo thấm dần tới làng xã, từng người dân mà không chỉ dừng lại ở Nho sỹ hay bộ máy chính quyền Có thể kể đến hàng loạt các chính sách nổi bật sau:
Trước hết là chính sách mở rộng phát triển giáo dục Nho học - Một nền giáo dục theo Nho giáo Nó được coi là nền giáo dục chính thống của nhà nước Các sách kinh điển Nho giáo trở thành khuôn vàng thuốc ngọc cho người đi học Các kỳ thi đều lấy để tài trong các sách Luận ngữ, Mạnh
Tử, Xuân Thu, Trung Dung, Đại học Mặt khác Lê Thánh Tông còn cho lập bia tiến sỹ tại Quốc Tử Giám Nhiều văn bia khẳng định: “Lấy trọng đạo sùng nho làm việc trước, kén kẻ sĩ làm trước tiên trong phép trị nước”2 Như vậy rõ ràng trong tư tưởng nhà cầm quyền đã mang nặng tư tưởng Nho giáo
Tư tưởng Nho giáo đã thực sự chi phối các lĩnh vực khác của đời sống tinh thần
Cùng với giáo dục, trong các lĩnh vực khác, khen thưởng, trừng phạt hay chính sách về văn hoá, đạo đức cũng mang nặng màu sắc Nho giáo Đời Lê Thánh Tông, triều đình ban hành 24 điều giáo huấn đề cập những vấn để củng cố gia đình, tông tộc, thôn xóm, theo đạo đức Nho giáo Hàng năm vào dịp tết hay ngày lễ lớn, xã trưởng phải tập trung nhàn dân giảng giải 24 huấn điều Ngoài ra triều đình còn ra sắc dụ xuống thôn xã định rõ
24 điều đó Sắc dụ chỉ rằng: “Thế đạo thịnh hay suy quan hệ ở phong tục, phong tục tốt hay xấu quan hệ ở khí số Kinh Dịch nói “Người quân tử tìm thấy người hiền tài cho làm quan để giáo hoá phong tục cho dân được tốt
1 Phan H uy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, N xb sử học, H 1961 T2 tr.69-70.
Trang 18Kinh Thư nói: Dạy cho mọi người biết 5 giáo để dân được hoá mà có phép tắc Kinh Thi nói: Giữ điều nghĩa trước sau như mới có thể làm trưởng cả 4 phương Kinh Lễ nói: Lấy bất chính mà răn cấm cho khỏi quá mức, thống nhất đạo đức để phong tục cả nước giúp nhau Kinh của thánh nhân dạy lại
rõ ràng, đủ làm bằng cứ Các đế vương xưa lên ngôi trị nước, giữ gìn trong mình, ứng tiếp mọi người không ai không lấy đó làm đầu” 1
Đến tận các hương ước, lệ làng vốn là những văn hoá đặc trưng của làng xã, có sắc thái độc lập rõ nét cũng bị Nho giáo chi phối thông qua việc chỉ định người làm hương ước Lê Thánh Tông ra lệnh cho làng nào muốn làm hương ước phải cử các nho sĩ thực hiện Bằng cách này thì hương ước
dù có tính độc lập tự trị, dù tự điểu khiển điều chỉnh cũng khó vượt ra khỏi khuôn mẫu Nho giáo Các nhà viết sử, chép sử cũng chủ yếu là các nhà Nho, đánh giá sự kiện lịch sử theo quan niệm Nho giáo
Từ thời kỳ Lý trở đi, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động tích cực tiếp thu Nho giáo - Nho giáo thực sự có ảnh hưởng lớn đến hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền Ngay từ khi Phật giáo còn đang được ưa chuộng thì tại triều đình, Nho giáo đã được chú ý ở một mức độ nhất định Trong chính sách trị nước, cách nhìn của nhà cầm quyền mang nhiều màu sắc Nho giáo Khi Nho giáo chiếm địa vị độc tôn thì tư tưởng của Nho giáo trở thành kim chỉ nam cho hành động của triều đình phong kiến trên tất cả các lĩnh vực từ hoạch định chính sách đến phát triển giáo dục, phong hoá văn học, sử học, đạo đức Nho giáo trở thành khuôn vàng thước ngọc trên cơ sở đó để chính quyền nhận thức và giải quyết các vấn đề lịch sử đề ra
Trở thành hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyển trong xã hội phong kiến, Nho giáo là chất keo liên kết các thành viên trong xã hội theo trật tự đẳng cấp Chính những tư tưởng “Trung hiếu”, “Lễ nghĩa” của Nho giáo
là những thành trì vững chãi bảo vệ giai cấp thống trị cũng như nhà nước
Trang 19phong kiến Trong lịch sử phát triển nước nhà, Nho giáo trở thành ngọn đuốc soi đường ở giai đoạn xã hội phong kiến phát triển cực thịnh nhưng nó cũng trở thành mồi lửa thiêu đốt giang sơn trong những thời điểm nguy kịch Thật u mê và ngớ ngẩn trước cảnh thực dàn Pháp nổ súng xâm lược, triều đình nhà Nguyễn không lo rèn binh bố trận mà lại lo giữ nhân, nghĩa
để cảm hoá giặc Trước những biến đổi to lớn của thời đại, khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất lón mạnh không học hỏi mà lại thu mình vào những sách vở giáo điều cũ kỹ mà bài bác cách tân Nho giáo đã trở nên bất lực trước bối cảnh xã hội Việt Nam mới thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Sự thất bại của triều đình phong kiến Việt Nam trước sự xâm lược của thực dân Pháp trước hết là sự thất bại của hệ tư tưởng Nho giáo cũ kỹ già nua ít sức sống, nó cũng là thất bại của giai cấp phong kiến - giai cấp không còn giữ được địa vị trung tâm của xã hội Sự thay thế nó bằng một hệ tư tưởng khác là một tất yếu lịch sử
l.l.c Sự tác động của Nho giáo tới các lĩnh vực khác của đời sốnẹ tinh thần x ã hội.
c ỉ N ho giáo với giáo dục:
Nho giáo là một học thuyết đặc biệt coi trọng vấn đề giáo dục, nó là một bộ phận không thể thiếu làm nên chỉnh thể học thuyết chính trị - đạo đức hoàn thiện Trong quá trình tồn tại, Nho giáo đã phát triển qua nhiều thập kỷ, giai đoạn khác nhau nhưng ở chúng đều có một nội dung thống nhất là coi trọng giáo dục
Ở Nho giáo, giáo dục được coi là phương tiện cơ bản để đưa xã hội về với Thái bình thịnh trị Bởi lẽ không thể nói đến học thuyết Nho giáo nếu bỏ qua tư tưởng “Đức trị” và không thể có tư tưởng “đức trị” nếu bỏ qua tư tưởng giáo dục Giáo dục là một bộ phận hữu cơ trong tổng thể học thuyết Nho giáo
Trang 20phong kiến Trong lịch sử phát triển nước nhà, Nho giáo trở thành ngọn đuốc soi đường ở giai đoạn xã hội phong kiến phát triển cực thịnh nhưng nó cũng trở thành mồi lửa thiêu đốt giang sơn trong những thòi điểm nguy kịch Thật u mê và ngớ ngẩn trước cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược, triều đình nhà Nguyễn không lo rèn binh bô' trận mà lại lo giữ nhân, nghĩa
để cảm hoá giặc Trước những biến đổi to lớn của thời đại, khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất lớn mạnh không học hỏi mà lại thu mình vào những sách vở giáo điểu cũ kỹ mà bài bác cách tân Nho giáo đã trở nên bất lực trước bối cảnh xã hội Việt Nam mới thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Sự thất bại của triều đình phong kiến Việt Nam trước sự xâm lược của thực dân Pháp trước hết là sự thất bại của hệ tư tưởng Nho giáo cũ kỹ già nua ít sức sống, nó cũng là thất bại của giai cấp phong kiến - giai cấp không còn giữ được địa vị trung tâm của xã hội Sự thay thế nó bằng một hệ tư tưởng khác là một tất yếu lịch sử
1.1 c Sự tác động của Nho giáo tới các lĩnh vực khác của đời sốnẹ tinh thần x ã hội.
c l Nho giáo với giáo dục:
Nho giáo là một học thuyết đặc biệt coi trọng vấn đề giáo dục, nó là một bộ phận không thể thiếu làm nên chỉnh thể học thuyết chính trị - đạo đức hoàn thiện Trong quá trình tồn tại, Nho giáo đã phát triển qua nhiều thập kỷ, giai đoạn khác nhau nhưng ở chúng đều có một nội dung thống nhất là coi trọng giáo dục
Ở Nho giáo, giáo dục được coi là phương tiện cơ bản để đưa xã hội về với Thái bình thịnh trị Bởi lẽ không thể nói đến học thuyết Nho giáo nếu bỏ qua tư tưởng “Đức trị” và không thể có tư tưởng “đức trị” nếu bỏ qua tư tưởng giáo dục Giáo dục là một bộ phận hữu cơ trong tổng thể học thuyết Nho giáo
Trang 21Khẳng định tầm quan trọng to lớn của giáo dục, Nho giáo đã xây
dựng một hệ thống tư tưởng giáo dục tương đối hoàn chính trên mọi phương
diện từ đối tượng đến mục đích, nội dung, phương pháp
Là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, tư tưởng giáo dục Nho giáo
cũng gián tiếp phản ánh các quan hệ xã hội đẳng cấp lúc bấy giờ, gián tiếp
phản ánh đòi sống vật chất xã hội, mặt khác sự phát triển các tư tưởng giáo
dục của Nho giáo cũng chịu sự chi phối cả chính sự vận động bên trong của
quá trình giáo dục Vì vậy tư tưởng giáo dục Nho giáo tuy cùng mang màu
sắc chính trị, giai cấp nhưng có nhiều tư tưởng thực sự khoa học, có giá trị
Tư tưởng giáo dục là một bộ phận trong tổng thể học thuyết Nho giáo
nên dù gần dù xa, dù gián tiếp hay trực tiếp cũng là để phục vụ cho mục tiêu
chính của giai cấp cầm quyền Khi giai cấp phong kiến Việt Nam chủ động
tiếp nhận Nho giáo, đặc biệt khi Nho giáo trở thành công cụ thống trị tinh
thần thl Nho giáo đã tác động sâu sắc đến giáo dục cả về bề rộng lẫn bề sâu,
từ việc học hành đến thi cử Nó thể hiện tập trung trong nền giáo dục Nho
học
Trưóc khi phát triển nền giáo dục Nho học, Việt Nam đã có nền giáo
dục dân gian Những triều đại đầu của chế độ phong kiến trung ương tập
quyền thì giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng của Phật giáo Thời kỳ này nhà
chùa cũng là trường, thầy giáo cũng là thầy tu, học trò cũng là những Phật
tử Nhìn chung ở những giai đoạn này hệ thống giáo dục bài bản gắn với
trường lớp chưa phát triển
Có thể nói giáo dục phong kiến chỉ phát triển một cách hệ thống, có
sự định hướng, tổ chức của nhà nước khi nhà nước ý thức được vai trò của
giáo dục Sự thức tỉnh ý thức này xuất phát từ 2 nguyên nhân cơ bản sau:
1 Đứng trước nhu cầu củng cố, duy trì, phát triển trật tự xã hội phong ị
kiến nhà nước phong kiến tự xác định nhu cầu phát triển giáo dục
Trang 222 Nho giáo đưa ra một hệ thống lý luận giáo dục đầy đủ, hoàn chỉnh làm kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục trong nhà trường phong kiến Không chỉ ở nhà trường, Nho giáo còn có ảnh hưởng lớn đến giáo dục gia đình, đặc biệt trong các gia đình nhà Nho.
Về nội dung của việc học, nhà trường phong kiến chịu ảnh hưởng rất nhiều của Nho giáo Nội dung học ở trường cơ bản là về lý luận, chính trị, văn chương và một số kiến thức về toán học, địa lý Hầu như các tri thức về lao động sản xuất, về khoa học tự nhiên, vẻ kinh doanh buôn bán, dạy nghề không được đưa vào học ở nhà trường Theo một số nhà nghiên cứu cho biết, giáo dục Nho học Việt Nam phát triển rất sớm nhưng nội dung giáo dục thì hạn hẹp, suốt gần ngàn năm phát triển giáo dục nhưng các nội dung giáo dục vẫn cơ bản được gói gọn trong các kinh sách thánh hiển Đến tận thế kỷXIX, khi khoa học kỹ thuật đã trở thành lực lượng sản xuất phát triển mạnh
ở châu Âu thì giáo dục Việt Nam vẫn không có những thay đổi gì cơ bản ngoài những điều ghi trong sách thánh hiền hàng ngàn năm nay Nhận xét
về nền giáo dục Việt Nam thời cận đại, học giả Phan Trọng Báu viết: “Giáo dục Việt Nam thời cận đại có nói đến toán số, thiên văn địa lý nhưng chủ yếu là để xem bói, biết mệnh trời” 1
Sự hạn hẹp trong nội dung giáo dục nhà trường Nho học thể hiện rõ trong các loại sách giáo khoa của nhà trường Suốt nhiều năm ròng tu luyện trong ghế nhà trường, người học thuộc lòng những sách kinh điển của Nho giáo là Tứ thư, Ngũ kinh Họ coi những lời dạy trong đó là khuôn vàng thước ngọc chỉ có nói theo mà không xét lại Ngoài ra còn học những sách
về luân lý, ứng xử như sơ học vấn tâm, minh tâm bảo giám Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Giáo, tác giả cuốn sách “Tìm hiểu kho sách Hán
N ôm ”, ông có tìm ra xấp xỉ 15 đầu sách viết về giáo dục Trong kho tàng sách cổ ấy, viết vé giáo dục chủ yếu là luân lý, đạo đức, dạy cho người ta ý
Trang 23chí học hỏi thi đỗ làm quan chứ không có cuốn sách nào viết về việc dạy nghề, làm ruộng, buôn bán.
Ngoài ra Nho giáo còn tác động đến giáo dục một cách trực tiếp và hiệu quả thông qua chính sách thi cử, kén chọn kẻ sĩ, thăng quan tiến chức
Từ 1125, nhà nước phong kiến mở kỳ thi tam giáo (Nho - Phật - Lão) đầu tiên, ngoài một số kỳ thi tam giáo chủ yếu còn lại là các kỳ thi Nho giáo Thông qua các kỳ thi, số người đỗ đạt (không kể nguồn gốc xuất thân) đều được tuyển dụng vào bộ máy quan chức của nhà nước Đây là một thực tế có sức cuốn hút mạnh mẽ, hấp dẫn người ta chạy theo học sách vở thánh hiền Một nhà nghiên cứu nước ngoài đã từng nhận xét: “Là Nho sĩ, trở thành quan, đó là tham vọng lớn nhất của mọi thanh niên An Nam” 1
Đặc biệt khi triều đình phong kiến sử dụng Nho giáo là hệ tư tưởng dân tộc, vì muốn quảng bá cho Nho giáo sâu rộng vào nhân dân, triều đình phong kiến còn sử dụng sức mạnh của hệ thống chính trị làm cho giáo dục Nho giáo phát triển mạnh thông qua các chính sách đãi ngộ đối với người thi đỗ cao như ghi tên bia đá, làm lễ vinh quy bái tổ, thăng quan tiến chức,
ở các làng xã còn có những hương ước khuyến khích người đi học Điều này kích thích giáo dục phát triển, mặt khác nó càng làm cho giáo dục đi theo hướng “từ chương” , “Khoa cử” bộc lộ nhiều những hạn chế lớn
Trong xã hội phong kiến, người thầy dạy học chủ yếu là những nhà nho Với mục đích chủ yếu của người đi học bấy giờ là “Tiến vi quan, thoái
vi sư ” đã cung cấp cho xã hội một đội ngũ thày giáo đông đảo
Đội ngũ nho sĩ đông đảo là kết quả của sự phát triển giáo dục Nho giáo ngược lại họ cũng là lực lượng tích cực tiếp tục mở mang phát triển giáo dục Nhờ có học mà người được đi học trở lên đông gấp nhiều lần so với số người đến trường lớp do nhà nước mở Chính đội ngũ Nho sĩ đã đi
1 T rích theo N guyễn T hừa Ký - Con người Việt N am th ế ký XIX qua con m ắt người nước ngoài Bộ sách
Trang 24đầu trong việc phát triển tư tưởng bình dân giáo dục, mở trường tư thục, khai hoá tri thức cho người thôn quê Như vậy ở nhà trường phong kiến không chỉ chủ yếu theo sự định hướng của Nho giáo mà thày dạy cũng là nhà Nho Người học cũng chủ yếu là học đạo thánh hiền Nho giáo.
Có thể nói Nho giáo có ảnh hướng rất lớn tới việc giáo dục truyền thống Việt Nam Nhò chính sách coi trọng giáo dục nên xã hội Việt Nam có nhiều ngưòti biết chữ, có truyền thống hiếu học, tôn trọng đề cao việc học hành Giáo dục Nho giáo góp phần đưa Việt Nam trở thành một nước có nền văn hiến phát triển Cũng do ảnh hưởng của Nho giáo mà nội dung giáo dục Việt Nam hạn hẹp, ít thực dụng Điều này đã được các nhà cải cách cuối thế
kỷ XIX chỉ rõ Nho giáo đã góp phần quan trọng tạo lên bức tranh giáo dục với đầy những nét tương phản
C 2 Nho giáo với văn học nạhệ thuật.
Nho giáo rất coi trọng văn chương nghê thuật, coi vãn là một trong những bộ phận quan trọng trong nội dung giáo dục nhà trường Học văn là một hình thức để hoàn thiện nhân cách Khi Nho giáo trở nên phổ biến ở nước ta, nền giáo dục và thi cử trở nên phổ biến thì văn học nghệ thuật chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo - có thể coi đó là dòng văn học Nho giáo dẫu biết rằng trong lịch sử Việt Nam có nền văn học dân gian khá phát triển, phổ biến trong đời sống dân chúng Ngoài ra Việt Nam cũng có những tác phẩm văn học chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang, tuy nhiên một dòng văn học đáng kể không thể xem nhẹ đó chính là bộ phận văn học chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo
Trước hết, văn học nghệ thuật chính thống cổ điển là bộ phận văn học chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo bơỉ lẽ những người đị học đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, mặt khác do chính sách thi cử chỉ thi văn chương, phú, biểu, vì vậy rất nhiều người đi học bỏ ra khoảng thời gian lớn để gọt rũa câu chữ Nhà nước chăm lo phát triển Nho học, ưu đãi kẻ
Trang 25sĩ có văn học Những thời kỳ như thế thưòng để lại cho ngày nay nhiều thư tịch, nhiều tác phẩm văn học Đúng như nhận xét của cố giáo sư Trần Đình Hượu: - “Nho giáo thực sự khích lệ sự phát triển của văn học”.
Đặc biệt khi Nho giáo thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến, dùng khoa cử chọn người làm quan, tổ chức bộ máy quan liêu
đã vạch cho thanh niên con đương đi tìm cuộc sống nhàn hạ, danh giá thông qua con đường khoa cử Người đi thi muốn đỗ đạt ắt phải giỏi văn thơ, kinh nghĩa vì vậy nếu không chú trong dùi mài kinh sử, trau dồi câu chữ, thơ phú, rèn luyện kỹ xảo viết văn thì chẳng thể có đỗ đạt, dân gian đã có câu:
“Văn thơ phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong”
Tình hình này cũng là một hình thức thúc đẩy văn học nghệ thuật pháttriển
1.2 Con người Việt Nam dưới tác động của Nho giáo.
1.2.1 N ho giáo với giá trị đạo đức con người Việt Nam.
Nho giáo là học thuyết “đức trị” Đặc trưng này là sự khác nhau cơ bản của Nho giáo với các học thuyết khác Với chủ trương cai trị xã hội bằng đạo đức, thông qua đạo đức, Nho giáo đã xây dựng một hệ thống giá trị đạo đức hoàn thiện nhất, cô đọng nhất, gói trọn trong hai chữ “luân - thưòng” Ở Việt Nam do Nho giáo du nhập vào rất sớm, tồn tại suốt mấy nghìn năm, đặc biệt có thời gian dài Nho giáo chiếm địa vị độc tôn trong hệ
tư tưởng, vì vậy đạo đức Nho giáo tác động không nhỏ tới việc hình thành các giá trị đạo đức của người Việt Trong chừng mực nào đó, những giá trị đạo đức của Nho giáo cũng được khúc xạ, bản địa hoá trở thành những giá trị đạo đức người Việt
Đạo đức căn bản theo Nho giáo là “Luân - Thường” Luân gồm các quan hệ cơ bản giữa con người với con ngưòi Trong gia đình và xã hội Nho giáo chú ý đến 5 quan hệ cơ bản gọi là ngũ luân, bao gồm: quan hệ cha -
Trang 26con, chồng vợ, anh em, vua tôi, bạn bè Trong đó 3 quan hệ được coi là giưòng cột, từ đó xác định các quan hệ khác gọi là “Tam cương” Dựa trên các quan hệ cơ bản này các nghĩa vụ tương ứng như trung, hiếu, tín, thuận được xác định.
“Thường” ở Nho giáo bao gồm: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín gọi là ngũ thường Đứng đầu ngũ thường là chữ nhân Chữ nhân có rất nhiều nội dung, suy đến cùng thì trong nhân đã có các đức còn lại, bởi vậy có người nói rằng qua các giai đoạn phát triển, các nội dung cụ thể của Luân - Thường cũng được giải thích hết sức khác nhau Ví dụ Nho giáo ở thời Tiên Tần, thời kỳ này Nho giáo đại diện cho tư tưởng của giai cấp phong kiến mới trỗi dậy nó chứa đựng nhiều những kiến giải mang tính tiến bộ, nhân bản vì vậy hầu như các giá trị cụ thể của “luân thường” có những nội dung nhân văn Đến thời kỳ Hán Nho, khi ấy Nho giáo đã là hộ tư tưởng của giai cấp thống trị, nó trở thành công cụ tinh thần đắc lực cho giai cấp cầm quyền
bởi vậy các gicù trị “luân thường” trở nên khuôn sáo, khô cứng hà khắc,
xoáy quanh việc củng cố bảo vệ vương triều Ngay trong học thuyết Nho giáo quan niệm về Luân thường đã có những nội dung phức tạp, thậm chí mâu thuẫn, nó phản ánh những diễn biến phức tạp của lịch sử, chính trị xã hội phong kiến
Vào Việt Nam; bản thân Nho giáo đã phát triển đến giai đoạn hoàn thiện, người Việt tiếp nhận nó với thái độ chủ động, tích cực vì vậy có thể tiếp thu tinh thần này, không tiếp thu tinh thần khác, nhấn mạnh yếu tô' này nhưng lại bỏ qua yếu tố khác - Đó là sự chọn lọc của người Việt Sự chọn lọc này trước hết căn cứ vào mục đích chính trị, sau nữa còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận đánh giá của từng triều đại Cuối cùng nó còn phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan, cách nghĩ cách nhìn của từng cá nhân Cơ bản ngày nay người ta đểu thống nhất cho rằng người Việt chỉ chú trọng tới
Trang 27những nhân tố có lợi cho nhiệm vụ giữ nước dựng nước của mình cũng như những yếu tố phù hợp với tâm lý, phong tục dân tộc.
Mặt khác khi vào Việt Nam, để tồn tại và trụ vững trong xã hội, những giá trị đạo đức của Nho giáo cũng có những thay đổi - mà theo Giáo
sư Phan Ngọc gọi đó là hiện tượng khúc xạ để trở thành những giá trị đạo đức của người Việt Người Việt tiếp thu nhiều giá trị đạo đức của Nho giáo nhưng những giá trị đạo đức của Nho giáo ở đây không còn thuần tuý là Nho giáo nữa Sự tiếp nhận và khúc xạ của nó bị quy định bởi mấy nhân tố
cơ bản sau:
1 Những nhân tố đạo đức, văn hóa phong tục truyền thống: Người Việt cổ truyền vẫn có tinh thần trung thành với thủ lĩnh, có ý thức trách nhiệm cộng đồng, có tình cảm tự nhiên, thuần phác lành mạnh, có thái độ coi trọng phụ nữ
2 Xuyên suốt lịch sử Việt Nam là tinh thần yêu nước, anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm
3 Người Việt gắn bó với nhau bằng nếp sinh hoạt, văn hoá làng xã.Hơn nữa sự tiếp nhận của ngưòi Việt đối với Nho giáo cũng chứađựng những nét đặc thù nhất định Cả Nho - Phật - Lão đều ảnh hưởng đến đạo đức người Việt - Nhưng do những đặc trưng riêng của mình mà Phật - Đạo từ lâu đã gắn bó đi sâu vào quần chúng, ngược lại con đường Nho giáo đến với người dân Việt không thuần phác theo con đường tự nhiên Đạo đức Nho giáo tác động vào đạo đức người Việt bắt đầu từ tầng lớp quan lại, Nho
sĩ Bằng các ảnh hưởng của Nho sĩ cùng các chính sách của triều đình mà Nho giáo đi sâu vào đời sống cá nhân Vì vậy có thể nói ảnh hưởng của Nho giáo vào đạo đức được định hướng một cách chủ động tích cực
Có được vị thế này, đạo đức Nho giáo cơ bản phải đáp ứng được hai mục tiêu: Thứ nhất là phục vụ cho nhiệm vụ chính trị là củng cố duy trì trật
tự xã hội phong kiến Thứ hai nó không mâu thuẫn với đạo đức cổ truyền
Trang 28của người Việt Điều này thể hiện rất rõ khi khảo sát đạo đức trong xã hội phong kiến Việt Nam.
Đạo đức người Việt khi chưa chịu tác động nhiều của đạo đức Nho giáo xuất phát từ tình cảm tự nhiên của con người, đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu làng xóm, người thân, là tình yêu lao động tôn kính người trên, coi trọng phụ nữ Khi nhà nước phong kiến Việt Nam sử dụng Nho giáo làm công cụ thống trị tinh thần,các giá trị đạo đức Nho giáo được đem
ra phổ biến trong xã hội, cho mọi người cùng học và noi theo Đến thời nhà
Lê về sau các giá trị đạo đức Nho giáo đã trở nên quen thuộc, phổ biến với ngưòi dân Việt, đặc biệt trong tầng lớp Nho sĩ Điểu này đã phản ánh rõ trong tâm sự của Nguyễn Trãi
“Hai chữ cương - thường dằng cả nước
M ột tay trung hiếu dựng lên nhà”
Không chỉ tầng lớp Nho sĩ, gia đình nho sĩ, người đến trường lớp học sách thánh hiền mới biết đến cương - thường, trên thực tế đó là chuẩn mực đạo đức rất quen thuộc và phổ biến trong nhân dân Bởi lẽ chính sách dùng Nho giáo làm hệ tư tưởng của chính quyển phong kiến, Nho giáo được phổ biến đến tận người dân Sử sách ghi lại cho biết đời vua Lê Thánh Tông, ông
đã truyền giảng nội dung của cương - thường, lễ giáo đến cho mọi người dân trong làng xã mình Vậy là những chuẩn mực đạo đức phong kiến được định hướng theo những chuẩn mực đạo đức Nho giáo Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại những điều giáo hoá của triều đình đến dân chúng Những điéu giáo hoá đại ý viết: “Làm tôi hết lòng trung, làm con hết lòng hiếu, anh
em hoà thuận, vợ chồng kính yêu nhau làm điều nhân, cha mẹ sửa mình để dạy con, thày trò đối xử vói nhau bằng đạo, gia trưởng dạy người bằng lễ, con em cung kính cha anh, vợ không được trái chồng Ở làng xóm người lớn nhỏ phải kính yêu nhau, cùng nhau làm lợi trừ hại, không được cậy
Trang 29mạnh mà lấn át kẻ yếu, không được gây kiện tụng để kiếm lợi riêng” 1 Đến tận thời Minh Mạng, cũng dựa vào đạo lý “cương - thường” mà soạn 10 điều huấn dụ, tháng 4 hàng năm phải phổ biến đến tận các thôn xã Nội dung đại thể viết: “Đạo làm ngưcri không gì cốt yếu bằng làm cho luân lý được trong sáng, vua tôi có nghĩa, cha con có tình thân, vợ chồng có riêng biệt, anh em
có thứ bậc, bạn bè có tin cậy - Đó là 5 điều đạo lý quan trọng của người ta”2.Như vậy dù người Việt trước đó đã có những chuẩn mực đạo đức nhất định của mình, dù trong quá trình phát triển, đạo đức người Việt còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo, Lão Trang Nhưng với địa vị là
hệ tư tưởng chính thống, thông qua con đường giáo dục thi cử, thông qua chính sách can thiệp của nhà nước mà đạo đức Nho giáo trở nên phổ biến
Dù vậy ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến từng vùng, từng gia đình, từng con người có chỗ đậm nhạt, nông sâu khác nhau
Tuy Nho giáo có ảnh hưởng đến chuẩn mực đạo đức, đến quan niệm đạo đức người Việt song có thể khẳng định đạo đức người Việt không hoàn toàn là đạo đức Nho giáo Tuy vậy cũng cần thấy rõ, nhiều giá trị đạo đức Nho giáo phản ánh được những quan hệ nhân bản của con người, phản ánh được những nét đặc trưng của con người phương Đông, gần gũi quen thuộc với người Việt Nam Trong mức độ nào đó những giá trị chuẩn mực Nho giáo đó được Việt hoá thành giá trị đạo đức của người Việt
Ai cũng biết rằng “nhân - nghĩa” là những chuẩn mực đạo đức bắt nguồn từ Nho giáo, song nhân nghĩa vào Việt Nam đã có những nội dung cụ thể được Việt hoá Nhà văn hoá dân tộc Nguyễn Trãi đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Bình Ngô Đại Cáo) Giáo sư Trần Văn Giàu đã có lý khi coi “nhân nghĩa” là một trong những giá trị tinh thần truyền thống của người Việt
' Đai V iệt sứ ký loàn thư T 3, N xb K H X H Bán đính khả năm chính hoà thứ 18 tr 264.
T rần V ãn G iàu Sự phát triển củ a tư tường ờ Việt N am từ th ế kỷ XIX đến CM tháng 8, tập 1 N xb
Trang 301.2.2 N ho giáo với phong cách tư duy người Việt.
Do ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo tới đời sống xã hội Việt Nam trong một thời gian dài, do sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước phong kiến nên dấu ấn của Nho giáo trong đời sống tinh thần người Việt rất đậm nét và sâu sắc, bởi vậy Nho giáo không chỉ chi phối quan niệm của người Việt về đạo đức mà sâu sắc hơn, bền chặt hơn, Nho giáo ảnh hưởng đến cả phong cách
tư duy, cách nghĩ, cách nhìn của người Việt
Mỗi một dân tộc đều có những phong cách tư duy riêng biệt độc đáo
Nó phản ánh điểu kiện sống, trình độ sống, trình độ văn minh và cả những đặc thù văn hoá của dân tộc đó Người Việt chúng ta sống chủ yếu bằng nghề nông, trồng cấy lúa nước, bốn mùa lăn lộn làm ra hạt thóc đời này kế tiếp đời khác vì vậy tư duy chủ yếu thuần túy ngưòi Việt đó là lối tư duy cảm tính, kinh nghiệm Trong lịch sử chúng ta không có những ngành khoa học cơ bản, phát triển với những thành tựu rực rỡ như văn hoá Ả Rập, Ai Cập hay Trung Hoa, cũng không có những phát kiến lớn như một số dân tộc khác Các bài ca dao dân gian chủ yếu phản ánh về tình cảm đẹp giữa con người với con người hay tình yêu quê hương đất nước, hay là những kinh nghiệm sản xuất, vì vậy có thể nói vốn tư duy truyền thống là lối tư duy thuần phác, tự nhiên, ít mạo hiểm, chủ yếu là tìm cách thích nghi, sống hài hoà với thiên nhiên, lựa theo tự nhiên để sống chứ không phải cách tư duy cải tạo tự nhiên, chế ngự tự nhiên
Nho giáo với triết lý Thiên - Địa - Nhân hợp nhất cho rằng con người phải biết sống hài hoà với trời đất, tôn trọng tự nhiên, chừng mực nào đó con người phải biết kính trọng trước sức mạnh của tự nhiên, tôn trọng quy luật vận hành của tự nhiên Không làm trái quy luật tự nhiên bằng cách thích nghi với tự nhiên chứ không cải tạo tự nhiên Nho giáo rất coi trọng việc tế
lễ trời đất, quỉ thần, coi trọng mệnh tròi Vì vậy khuyên con người hết sống theo mệnh trời, theo danh phận đã có chứ đừng tìm cách cải tạo nó Cũng
Trang 31trong tư tưởng Nho giáo không khuyên con người cải tạo tự nhiên bằng các thành tựu khoa học kỹ thuật, không hướng con người làm tăng giá trị của chính mình bằng cách cải tạo thế giới xung quanh mình Giá trị cao quý của con người chính là việc sống hợp với lẽ tự nhiên, hợp vói danh phận xã hội
đã có của mình Phương châm giáo dục của Nho giáo “Tiên học lễ, hậu học văn”, coi thường hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh buôn bán đã góp phần củng cố lối tư duy vốn ngại thay đổi của ngưòi Việt Triết lý “hoà” của Nho càng củng cố cách nhìn thích nghi theo hướng hướng trội Các triều đại phong kiến chọn niên hiệu của mình là “Kính Thiên”, “Thừa Thiên”,
“Thuận Thiên”, hàng năm làm lễ tế để cầu mưa thuận gió hoà, xem bói để hành động cho họp với trời đất Người nông dân làm nông nghiệp thì dựa vào khí hậu, điều kiện đất đai để lựa chọn cây con thích hợp, mà tâm lý phổ biến là tâm lý “ơ n trời mưa nắng phải thì” Phong cách tư duy này góp phần
lý giải tại sao trong suốt ngàn năm của xã hội phong kiến, duy chỉ có 2 lần
có trào lưu cải cách đáng kể (Tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly và tư tưởng của các nhà cải cách thế kỷ 18, 19) thì cả hai lần đều gặp thất bại Bởi vậy cho rằng chính Nho giáo là một tác nhân quan trọng củng cố phong cách tư duy ưa ổn định, trọng thích nghi của người Việt
M ặt khác, người Việt không cực đoan một cách thái quá bởi cách nhìn tổng thể hài hoà Nằm ở cửa ngõ vùng Đông Nam Á, nơi gặp gỡ giao lưu nhiều hệ tư tưởng, nhiều luồng văn hoá, trong lịch sử người Việt đã từng
bị xâm lược hàng ngàn năm, từng chịu những âm mưu đồng hoá văn hoá song trên thực tế người Việt luôn tìm cách thích nghi với những luồng văn hoá mới, những hệ tư tưởng mới, chừng mực nào đó còn làm khúc xạ chúng, biển chúng thành cái của mình Chính phong cách vừa ưa thích nghi, trọng
ổn định của người Việt Nam cùng với chữ “Hoà” vốn của Nho giáo là góp phần tạo nên phong cách tư duy mà các nhà nghiên cứu hiện nay gọi là
“phong cách tư duy trung hoà, mở rộng”
Trang 32M ột nét khác của phong cách tư duy người Việt cho thấy, từ rất xa xưa người Việt đã sống theo cộng đồng làng xã, với nghề cấy trồng tự cấp,
tự túc, kinh tế hàng hoá ít phát triển Người Việt gắn bó với nhau bằng cộng đồng dòng họ, bằng các quan hệ hôn nhân, huyết thống vì vậy từ bao đời nay trong cách ứng xử của con ngưòi có phần thiên về các quan hệ đạo đức, tình cảm Con người được nhìn nhận ở góc độ gia đình, dòng họ, dòng tộc là chủ yếu Con người công dân được nhìn nhận rất mờ nhạt Trong khi đó Nho giáo lại rất coi trọng đạo đức, tình cảm Ớ Nho giáo đạo đức là thước đo giá trị nhân phẩm con người, tình cảm là tiêu chí quan trọng để giải quyết các quan hệ xã hội, gia đình là cái gốc căn bản, dòng họ, dòng tộc, là sợi dây cố kết bền vững tự nhiên của con người Việc Nho giáo trở thành hệ tư tưởng của nhà nước phong kiến Việt Nam đã góp phần củng cố hình ảnh con người cộng đồng giai đình, dòng họ, làng xã, góp phần làm lu mờ hình ảnh con người công dẵn Câu nói cửa miệng của người Việt như: “phép vua thua
lệ làng”, “Giọt máu đào hơn ao nước lã” phản ánh rõ điều đó
Có thể nói phong cách tư duy người Việt không chỉ phản ánh trình độ sống, trình độ sản xuất, trình độ văn minh, không chỉ phán ánh nét văn hoá độc đáo riêng biệt của người Việt mà nó còn phán ánh quá trình tiếp biến các trào lưu văn hoá khác Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, người Việt đã tiếp nhận nhiều luồng văn hoá song không bị động hoá bởi bất kỳ một nền văn hoá nào cũng như hệ tư tưởng nào Người Việt tiếp nhận ở các
hệ tư tưởng khác những gì mình cần cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước mình Mặt khác, các hệ tư tưởng khác muốn trụ vững và tồn tại cũng phải ít nhiều khúc xạ để đáp ứng và thích nghi với xã hội, con người Việt Nam
Trào lưu tư tưởng Nho - Phật- Lão vào Việt Nam rất sớm, qua nhiều khúc thắng trầm chúng vẫn tồn tại cùng sự phát triển của nước Việt Tư tưởng của chúng đã ảnh hưởng đến xã hội con người Việt Nam trên mọi
Trang 33lĩnh vực, đặc biệt với vai trò là hệ tư tưởng của triều đình phong kiến trong một thời gian dài, Nho giáo đã góp phần củng cố một số đường nét trong phong cách tư duy người Việt, làm cho nó sâu sắc hom nhưng cũng từ đó tư duy người Việt đi vào khuôn phép hơn, cứng nhắc hom bởi những quy định ngặt nghèo của tư tưởng Nho giáo.
1.3 Tầng lớp Nho sĩ Việt Nam và vai trò của họ trong xã hội phong kiến.
Tầng lớp Nho sĩ là những người trong xã hội phong kiến theo đuổi nghiệp học và thi đạo thánh hiền, rèn luyện, tu dưỡng mình theo lý tưởng của Nho giáo Nho sĩ cũng chính là đội ngũ trí thức của xã hội phong kiến đặc biệt từ thế kỷ XIV về sau Sự tác động của tư tưởng Nho giáo tới con người Việt Nam được thể hiện một cách tập trung, sâu đậm ở tầng lớp này Việc tìm hiểu kỹ về họ, xem xét vai trò của họ đối với xã hội phong kiến là một hình thức phản ánh một cách sinh động, khá đầy đủ ảnh hưởng của Nho giáo tới xã hội phong kiến cũng như con người Việt Nam
Tầng lóp Nho sĩ Việt Nam ra đời và phát triển không ngừng cùng quá trình xuất hiện và tồn tại của Nho giáo ở Việt Nam Nó đặc biệt có sự phát triển mạnh khi giai cấp phong kiến Việt Nam chủ động sử dụng Nho giáo thành hệ tư tưởng, phát triển nền giáo dục Nho học, tuyển cử quan lại thông qua con đường học hành thi cử Tuy vậy ảnh hưởng của nho giáo vào đội ngũ nho sĩ Việt Nam thể hiện hết sức phức tạp Nó phản ánh sự phức tạp đa chiều trong quá trình tiếp nhận Nho giáo bởi chính con người Việt Nam Sự khác nhau trong nhân cách của từng nhà Nho cũng như đóng góp của họ đối với xã hội đã phản ánh rõ điều đó Để hiểu sâu hon về tầng lớp Nho sĩ có thể phân loại Nho sĩ như sau:
Thứ n h ấ t: Chân Nho
Họ là những Nho sĩ học tập, tu dưỡng và hành động theo đạo lý thánh hiền, đối lập với những kẻ “Ngụy Nho” nhân danh học đạo thánh hiền để
Trang 34mưu cầu lợi ích cá nhân Thấm nhuần tư tưởng nhân văn Khổng Mạnh không chỉ trong nhận thức mà còn thống nhất trong hành động - Đó là đặc điểm nổi trội của bậc chân nho Ngoài ra họ cũng là người thấm nhuần những giá trị văn hoá truyển thống, trọng tình làng nghĩa xóm, yêu nước thương nòi Tư tưởng nho giáo ở họ không phải là sự máy móc, rập khuân
mà là sự tiếp nhận có chọn lọc, linh hoạt Sự kết hợp nhuần nhuyễn các bài học từ Nho giáo với phong cách, truyền thống Việt Nam nhào nặn họ thành các nhà nho Việt Nam với những nét đặc trưng rất riêng Đạo đức nhân nghĩa của Nho giáo gắn bó chặt chẽ với truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm Sự nghiệp “tu - tề - trị - bình” gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp bảo
vệ độc lập chủ quyền đất nước thái bình, an dân Lịch sử Việt Nam mãi ngợi
ca những bậc chân nho như Tô Hiến Thành, Lê Thánh Tông, Chu Văn An, Nguyễn T r ã i Họ là những người có vai trò tích cực trong xã hội
Thứ hai: Những nho sĩ trung thành, tận tụy một cách giáo điều với
các triều đại phong kiến trong lịch sử Họ chính là sản phẩm của thứ nho giáo đã được chính trị hoá một cách tối đa thành công cụ đắc lực cho tập đoàn phong kiến Họ thấm nhuần tư tưởng trung quân hà khắc của Tống Nho “Không thờ hai vua” Mẫù người này bên cạnh bậc chân nho đã phản ánh diễn biến phức tạp của chính tư tưởng Nho giáo, mặt khác nó cũng phản ánh những xu hướng tiếp nhận Nho giáo của con người Việt Nam Trong lịch sử các bậc nho sĩ này còn hết lòng bảo vệ các bậc vua chúa “danh” không xứng, hết lòng bảo vệ những triều đình thực sự thối nát, không đủ sức đảm đương vai trò lịch sử của mình Sử sách và dân gian còn lưu truyền hình ảnh các nho sĩ đầy tiết tháo, tận tụy cho một lý tưởng trung quân mù quáng như Trần Danh Án, Lý Trần Quán Họ theo đuổi lý tưởng trung quân không gắn với lợi ích dân tộc, nhân dân Trong những hoàn cảnh nhất định
họ trở thành lực lượng đi ngược lại lợi ích của dân tộc, là thành lũy vững chắc bảo vệ cho ngai vàng đã mục ruỗng, cản trở sự phát triển xã hội
Trang 35T hứ ba: Những ngụy nho.
Nếu ở các bậc chân nho học tập tuyên truyền Nho giáo để thực hiện lý tưởng lớn là trị nước an dân thì ở các bậc “ngụy nho” lại dụng nho giáo và
cơ chế trị nước của tập đoàn phong kiến để chạy theo lợi ích cá nhân, vinh thân, phì gia Họ học nho, sử dụng nho song hành động của bản thân lại đi ngược lại tôn chỉ của nhà nho Dùng tri thức nho giáo để ngụy trang cho tâm địa giả dối, bất nhân, bất nghĩa lừa vua, hại dân Hầu hết các triều đại phong kiến đều xuất hiện những kẻ ngụy nho - chính họ là kẻ vấy bùn làm hôi tanh danh hiệu nho sĩ, là những con sâu mọt đục ruỗng thể chế chính trị phong kiến, dẫn nó vào con đường sa đoạ Nhân dân ta đã từng coi hàng này là thứ giặc ngày, quốc nạn nguy hiểm Danh truyển về họ là vết nhơ trong lịch sử của dân tộc Những cái tên Trần ích Tắc, Lê Chiêu Thống luôn là đối tượng tẩy chay, đả kích của nhân dân Lịch sử mãi chê trách và lên án họ
T hứ tư: Nho sĩ tài tử:
Họ là người học đạo thành hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Sự không đồng nhất trong phong cách và lối ứng xử của họ phần nào phản ánh những mâu thuẫn của thời đại họ Họ không phải là nhà nho thuần túy đặt nghĩa vụ trách nhiệm lên hàng đầu, lấy việc tu dưỡng đạo đức cá nhân làm thước đo giá trị Ở họ, bên cạnh nghĩa vụ trách nhiệm họ cũng hướng mình
đi tìm lạc thú trong cõi tình thơ mộng, trong sự thăng hoa trên diễn đàn văn chương Nhiều bậc danh Nho có thành tựu trên diễn đàn văn học nghệ thuật
tư nhân mình là nho tài tử Điển hình là Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát Nho tài tử đánh dấu bước chuyển mình của đội ngũ nho sĩ trong quá trình vận động tất yếu của xã hội
Mọi sự phân chia đểu có tính tương đối Sự phân chia các loại nho sĩ trên đây cũng chỉ là hình thức làm rõ, nổi bật diễn biến phức tạp trong tầng lớp nho sĩ Qua đó thấy được sự tác động rất đa chiều của tầng lớp này vào
xã hội, qua đó vai trò xã hội của họ được thể hiện Các cá nhân nho sĩ học
Trang 36nho, tuyên truyền cho sự tồn tại của nho giáo, họ chịu ảnh hưởng của nho giáo Ngoài ra ở mỗi cá nhân nho sĩ còn chịu sự tác động của rất nhiều yếu
tố khác: truyền thống dân tộc, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, mục đích cá nhân, đặc biệt là các điều kiện kinh tế chính trị, xã hội họ đang sống Sự tác động qua lại giữa các nhân tố này cuối cùng cô đúc lại thành nhân cách của họ Dấu ấn cá nhân của họ để lại trên các lĩnh vực đời sống
xã hội cho ta nhận thấy một bức chân dung tương đối hoàn thiện vể con người nho sĩ ở họ, nhận thấy họ ở bộ phận nào trong tầng lớp nho sĩ
Dù ở bất kỳ bộ phận nào thì nhìn chung nho sĩ đều là những người có học của xã hội phong kiến, có'vị trí xã hội và nhiều người trong họ được nhân dân coi trọng Nho sĩ có vai trò lớn trong xã hội phong kiến trên nhiều lĩnh vực, góp phần làm rạng rỡ nền văn hiến dân tộc
Có thể thấy, nho sĩ ít nhiều ai cũng biết đến văn chương Mặc dù giáo dục nho giáo chú trọng giáo dục “đạo làm người” rồi mới đến văn chương nhưng mọi kẻ học sách Thánh hiền đều hết sức chú trọng đến văn chương bởi lẽ không coi trọng văn chương thì không thể nói đến việc thi cử đỗ đạt, không thể gia nhập tầng lớp nho sĩ Trong xã hội phong kiến Việt Nam, ngoài dòng văn học dân giari thì văn học theo xu hướng nho giáo, do những nhà Nho sáng tác là thứ vãn học chính thống Nho giáo coi trọng văn chương bởi “văn dĩ tải đạo” Đến khi tập đoàn phong kiến sử dụng Nho giáo thì văn chương lại được để cao thêm một lần nữa, không chỉ trong lý luận
mà ở cả thực tiễn Nhà nước lấy vãn chương để chọn quan lại Sĩ tử muốn có công danh thì phải đua nhau dùi mài kinh sử, làm văn cử tử - “Vế sau định hình thành văn thơ phú lục hay thơ phú, văn sách kinh nghĩa” Văn chương
là cửa ngõ bắt buộc để trở thành nho sĩ
Nhà nghiên cứu, Giáo sư Trần Đình Hượu đã nhận xét: “tính chất quan liêu của nhà nước chuyên chế mở ra con đường công danh cho đám sĩ
tử ngày càng đông đảo biến xã hội thành một xã hội trọng văn, coi thường
Trang 37mọi thực nghiệp khác” Văn chương được cả xã hội đề cao Văn chương chữ nghĩa trở thành thứ trang sức quý giá như “câu đối”, “hoành phi”, thành thú chơi tao nhã như “Thả thơ, đố thơ, xướng hoạ thơ” Thậm chí nó còn là phương tiện bào chữa tội trạng một cách hữu hiệu .
Từ khởi đầu nho sĩ dùng văn chương làm phương tiện đạt tới danh vọng rồi họ trở thành những người trực tiếp viết ra các thư tịch, chiếu chỉ, sử
ký và các tác phẩm văn học nghệ thuật Một số nhà nho là những nhà viết sử nổi tiếng, để lại cho hậu thế những tác phẩm có giá trị lớn như Lê Quý Đôn, Ngô Sĩ Liên
Nếu các lĩnh vực kinh tế, thương nghiệp, khoa học, kỹ thuật Việt Nam không có gì nổi trội thì trên lĩnh vực giáo dục, văn học nghệ thuật người Việt Nam có quyền tự hào vể những thành tựu của cha ông Hệ quả tất yếu của nho giáo là đề cao văn hoá, văn hiến, coi trọng việc học hành, trọng vãn chương chữ nghĩa Đó là công lao to lớn của các nhà nho
Mặt khác Nho sĩ là người có vai trò với sự phát triển vãn hoá, văn hién của dân tộc trong thời kỳ phong kiến, song cũng chính họ đã tạo nên hạn chế của nền văn hoá chính thống nước nhà Các tác phẩm này chịu ảnh hưởng quan niệm nho giáo, được bày tỏ theo đạo cương - thường Ngay trong lĩnh vực văn chương - một lĩnh vực dành nhiều sự sáng tạo cho chủ thể cũng không tránh khỏi cái khuôn phép cứng nhắc mà nhiều lúc trở thành nhạt nhẽo Giáo sư Trần Đình Hượu nhận xét đó là thứ văn chương “Bị quan niệm chính đạo ràng buộc, văn học không tránh khỏi nghèo nàn trống rỗng”.'
Những hạn chế trên của Nho sĩ quy định bởi chính nội dung của nho giáo, mặt khác nó bị quy định bởi cơ chế kiểm duyệt của tập đoàn phong kiến Nó là sản phẩm tất yếu của xã hội phong kiến hành chính quan liêu, lấy nho giáo làm hệ tư tưởng
Trang 38Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tầng lớp nho sĩ có vai trò lớn trong quá trình xây dựng và củng cố.hệ tư tưởng phong kiến Các Nho sĩ đã góp phần quan trọng trong việc đẩy lùi Phật giáo ra khỏi cung đình, đưa nho giáo lên địa vị độc tôn Đội ngũ nho sĩ là thành luỹ vững chắc, dày đặc bảo
vệ các triều đại phong kiến Họ là người dẫn đường đưa lối hướng quần chúng nhân dan đi vào quỹ đạo của nho giáo Các nhà nho vì vậy trở thành những nhà tư tưởng của chế độ quân quyền
Tư tưởng của các nhà nho tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm trở thành những bộ phận không thể thiếu của hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam Thông qua các tư tưởng của họ mà các quan niệm đạo trời, đạo người, đạo trị nước được thể hiện một cách rõ nét Ở đó không chỉ bao chứa tư tưởng của Nho giáo mà đã có sự kết tinh những tinh hoa tư tưởng của dân tộc Ví như ở nhà Nho, nhà tư tưởng lỗi lạc Ngô Thì Nhậm, một mặt ông vẫn tuyên truyền cho đạo đức nhân nghĩa, trung hiếu của nho giáo, vẫn bảo
vệ chế độ phong kiến mặt khác tư tưởng của ông có sự gắn bó lợi ích giai cấp với lợi ích của nhân dân Theo ông, triều đình muôn củng cố sức mạnh phải biết dựa vào dân, khoan sức dân, chăm chút cho dân Dù quan niệm đạo đức của ông được dựa trên các chuẩn mực của Tống nho song ông không theo khuynh hưáng ngu trung, biết phân biệt rạch ròi chính tà, cổ vũ và kiên quyết ủng hộ những vị vua biết đứng về lợi ích của nhân dân Ông là nho sĩ của triều đình Lê - Trịnh song lậi sẵn sàng ủng hộ chính nghĩa của quân Tây Sơn và trở thành cánh tay đắc lực của triều đại đó
Không chỉ tuyên truyền củng cố hệ tư tưởng nho giáo, một số nhà nho cũng là người tiên phong trong việc đề xướng các tư tưởng cải cách, mặc dù trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, khuynh hướng cải cách không xuất hiện nhiều Tiêu biểu là những tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly, Nguyễn Trường
Tộ, Đặng Huy Trứ
Trang 39Cả trên bình diện tư tưởng lẫn thực tế diễn biến lịch sử, tầng lớp nho
sĩ dù cách tân hay bảo thủ họ vẫn là người kiến tạo và bảo vệ hệ tư tưởng phong kiến đắc lực nhất Họ là người trực tiếp duy trì, truyền bá hệ tư tưởng nho giáo từ thế hệ này đến thế hệ khác cả ở cung đình và chốn thôn quê.Trong những thời điểm lịch sử nhất định, khi lịch sử đặt yêu cầu củng
cố tập đoàn thống trị phong kiến vì nền độc lập của dân tộc, vì sự phát triển thịnh vượng của xã hội thì Nho giáo có nhiều vai ưò tích cực, vai trò của đội ngũ nho sĩ được đánh giá cao Khi xã hội phong kiến đi vào thê suy vi, trở nên bảo thủ trì trệ thì tư tưởng của nho sĩ lại trở thành hàng rào “bê tông cốt thép” vững chãi bảo vệ chế độ phong kiến Ở một thời điểm nhất định nho sĩ góp phần tạo nên sự trì trệ bảo thủ của hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam
Nó trở thành một trong những nguyên nhân, một trong những thế lực dẫn đến tình trạng b ế tắc của hệ tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX đầu thế kỷ thứ XX
Hạn chế của Nho sĩ trong lĩnh vực tư tưởng được quy định trước hết bởi chính các tư tưởng cơ bản của Nho giáo, bởi lẽ Nho giáo hướng tới đào tạo con người thích trật tự hơn cạnh tranh, ưu cải tạo trong khuôn phép đã được quy định, không ưu cách mạng nhảy vọt, vượt ra khỏi trật tự đã có Tầng lớp nho sĩ Việt Nam cũng không vượt ra khỏi khuôn mẫu này Nhiều ý kiến cho rằng, trong tầng lớp nho sĩ Việt Nam không thiếu người có lòng yêu nước, có ý thức dân tộc, mong muốn xây dựng nước nhà trở thành quốc gia độc lập, hùng mạnh Song ở những thời điểm bước ngoặt của lịch sử
họ lại gặp thất bại Họ cho rằng nho sĩ Việt Nam thừa ý chí nhưng lại thiếu mất những phương pháp thích hợp Cách lý giải này có phần hợp lý vì đã nhìn thấy những hạn chế của nho sĩ bắt nguồn từ chính tư tưởng nho giáo.Ngoài ra, hạn chế của nho sĩ còn bị quy định bởi chính các điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội của xã hội phong kiến Thực tế cho thấy, ở môt số
nhà Nho đã từng đi nhiều, hiểu nhiều, biết rộng, nhìn thấy nhiều
Trang 40cập của nho giáo tnrốc các bài toán của thực tiễn nên họ đã có những tư tưởng cải cách táo bạo vượt ra ngoài chuẩn mực nho giáo Những tư tưởng
đó như những ánh sao băng loé sáng trong màn đêm nên cũng thường tắt nhanh như khi nó xuất hiện bởi nó không được sự hậu thuẫn của chính thời đại nó xuất hiện Hồ Quý Lỹ sớm thất bại và diệt vong bởi không chuẩn bị được các tiển đề kinh tế, chính trị, xã hội cho các cải cách của mình Những
đề xuất cải cách toàn diện của nhà nho, nhà tri thức theo đạo thiên chúa Nguyễn Trường Tộ trở nên muộn mằn và vô vọng trước triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, bảo thủ đã mất hết vai trò lịch sử cùng với một nến kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, phát triển méo mó và một nền giáo dục từ chương khoa cử phi thực dụng Hạn chế của các nhà nho trong lịch sử không chỉ thuộc về cá nhân họ mà còn thuộc về thời đại họ
Nhiều ý kiến đã thống nhất rằng: đánh giá vai trò cá nhân hay một tầng lớp người nào đó trong lịch sử phải đặt họ vào thời đại của họ, vào các điều kiện lịch sử cụ thể mà họ sinh sống cũng như ảnh hưởng của họ đối với
xã hội, thời đại sản sinh ra họ Căn cứ vào đó thấy rằng tầng lóp nho sĩ Việt Nam thực sự là đội ngũ trí thức của xã hội phong kiến, giữ vai trò quan trọng, góp phần làm bển vững trật tự phong kiến cũng như sự ổn định phồn vinh của dân tộc Vai trò của họ trong xã hội không một tầng lóp nào có thể thay thế Cho dù trong nội bộ họ có sự phân hoá theo nhiều hưóng khác nhau Nhìn chung họ vẫn là niềm tự hào của xã hội phong kiến, được nhân dân kính mến quý trọng Nhận xét về vai trò tích cực của nho sĩ Dương Quảng Hàm trong sách “Việt Nam văn học sử yếu” đã viết: “Dù trong cảnh ngộ có khác, các nhà nho đều có một tư cách và một chí hướng chung đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo, lấy sự nghiệp mà giúp vua giúp dân, lấy phẩnthạnh làm mẫu mực cho người đời, lấy giáo hoá