+ CNTB Nhà nước là một chính sách kinh tế, một công cụ, một thành phần kinh tế mà Nhà nước XHCN dùng để điều tiết, quản lý, chi phối và lôi kéo các hoạt động kinh tế của các thành phần k
Trang 1ĐẠI HỌC Q UỐ C GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VÀN
KHOA TR IẾT IIỌC
Ten (lề tài:
T ư TƯỞNG CỦA LftNIN ví? n ư ớ c TttUNC GIAN QUẢ ĐỘ LÊN CIIỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ VẬN ])ỤN(Ỉ ỈNÓ ĐỚI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN ĐẤT NƯỚC
Ở VIỆT NÁM HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A - M Ở Đ Ầ U .1
1 Đặt vấn đ ề 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên c ứ u 2
4 Phương pháp nghiên c ứ u 2
5 Kếl cấu của công Irình nghiên c ứ u 2
IỊ - NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG TRÌNH 3
Chương 1 : HOÀN CẢNH LỊCH sử CỦA NƯỚC NGA XÔ-VIẾT - sự RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG VỀ BƯỚC TRUNG GIAN QUÁ ĐỘ LÊN XHCN 3 1.1 Hoàn cảnh lịch sử của nước Nga Xô v iế t 3
1.1.1 Thiệt hại về kinh tế 3
1.1.2 Thiệt hại về chính trị - xã h ộ i 6
1.1.3 Những hậu quả do chủ quan .7
1.2 Nội dung về bước Irung gian quá độ lên X H C N 8
1.2.1 Về CNTB Nhà n ư ớ c 8
1.2.2 Các hình thức của CNTB Nhà n ư ớ c 17
1.2.3 Quá trình hình thành và phái Iriổn của CNTB Nhà n ư ớ c 25
1.2.4 Thực liễn hoại động CNTB ở Việl Nam 34
1.2.5 Chính sách kinh tế mới của L ê n in 41
Chương 2 : sự VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG VỀ BƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN XHCN ở VIỆT NAM 54
2.1 Mộl số quan điểm của đảng la 54
22 Thực liễn hoạt động của CNTB Nhà nước ở nước l a 60
2.2.1 Sự vận dụng CNTB Nhà nước ử nước la Irưỏc năm 1 9 8 6 60
2.2.2 Sự vận dụng CNTB Nhà nước Irong Ihời kỳ đổi mới ở nước la (llừ 1986 đốn n a y ) 63
c - KẾT LU Ậ N 66
D - TÀI LIỆU THAM K H Ả O 69
Trang 3A MỞ ĐẦU:
1 Đặt vấn đề:
Vấn đề quá độ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản dã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh lế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử, xã hội học Nhưng Irong đề tài này dưới góc độ iriếl học, chúng lôi có tham vọng nghiên cứu mộl số vấn đề trong tư luửng của Lênin, nhà lư tưởng vĩ đại, một Người dã đưa lý luân của Mác, Ảngghcn về chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực ở nước Nga Xô-Viếl Trong quá trình chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô-Viết giai đoạn lừ 1917 đến 1924, Lênin đã tổng kếl lừ thực tiễn, đưa ra nhiều tư tưởng hết sức vĩ đại Trong phạm vi của đề lài chúng lôi chỉ nghiên cứu một phàn nhỏ trong cái vĩ đại của Người Đó là:
“T ư tưởng của Lê nin về bước trung gian quá độ lên chủ nghĩa x ã hội và vận d ụ n g nó đôi vói công cuộc đổi mới loàn diện đất nước ở Việt Natn hiện n a y ”.
2 Mục đích Iighiên cứu:
Khi liến hành nghiên cứu đổ lài, chúng lôi nhàm các mục đích sau đày:a) Làm rõ lư iưửng của Lênin về bưức trung gian quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ử nước Nga Xô-Viết trước đây đã được Lênin tổng kốl Ihành lý luận, đã
trử thành lư tưởng đổ chỉ đạo thực liễn xây dựng XHCN ờ nước Nga Xô-Viết;
những lư lu ong của Lônin có lính phổ biến đối với các nước kém phái triển đi lên XHCN; đổng thời làm rõ lính phổ hiến của các lư urởng đó
b) Lam ro sự vận dụng tư lương của LOnin về bước (.rung gian C |iiá độ lên CNXH của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới Loàn diện đất nước
c) Những nhận xcl và bài học kinh nghiệm cho bước quá độ lên chủ nghía xã hội ở nước la hiện nay
Trang 43 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được các mục đích nói trên, chúng tôi
có nhiệm vụ như sau:
a) Khai thác tư liệu trong các tác phẩm kinh điển, đặc biệt là của Lênin
về những vấn đề có liên quan đến nội dung của bước trung gian quá độ lén chủ nghĩa xã hội
b) Khai thác tìm hiểu các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các công trình đã công bố có liên quan đến tư tưởng về bước trung gian quá độ lẽn chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
c) Tim hiểu một phần thực tiễn đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay
4 d) Tổng họp lý luận và thực tiễn rút ra một số nhận xét và bài học nhàm
áp dụng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
4 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được các mục đích và nhiệm vụ dã nói ở Irên, chúng tỏi đã áp dụng một số phương pháp như sau:
a) Cơ sở chính là dựa vào phương pháp luân của của triết học Mác- Lênin mà chủ yếu là phương pháp luận của CNDVBC và CNDVLS
b) Phương pháp phân tích, tổng họp, so sánh, đối chiếu
c) Phương pháp lôgic và Lịch sử
5 C ấu trú c của công trìn h nghiên cứu: Ngoài phần mở đầu, kết luận, đanh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của công trình được chia làm hai chương:
C h ư ơ ngl: Hoàn cảnh lịch sử của nước Nga Xô-Viết - sự ra đời của tư
tưởne về bước trung gian quá độ lên XHCN
Chương 2: Sự vận dụng tư tưởng về bước trung gian quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 5B NỘI DUNG CHÍNH CỦA CÔNG TRÌNH
Chương I
HOÀN CẢNH LỊCH s ử CỦA N ư ớ c NGA XÔ-VIẾT -
Sự RA ĐỜI CỦA Tư TƯỞNG VỂ BƯỚC TRUNG GIAN
QUÁ Đ ộ LÊN XHCN.
1.1 HOÀN CẢNH LỊCH sử CỦA NƯỚC NGA XÔ-VIẾT
Trong lịch sử của nước Nga Xô viết những năm 1921 - 1927, những tư tưởng về bước trung gian quá độ lên XHCN xuất hiện như một hiện tượng lịch
sử - tự nhiên, trong đó chứa được chứa đựng sự thống nhất biện chứng của các điều kiện khách quan và chủ quan Trong tập hợp các điều kiện khách quan chúng ta cần nhấn manh một số yếu tố như: kinh tế, chính trị -x ã hội, lịch sử phát triển của nước Nga
Trước hết, chúng ta phải nói đến hậu quả của các cuộc chiến tranh
Vừa ra đời, còn non trẻ nhưng nước Nga Xô- viết đã phải đối đầu với hai cuộc chiến tranh liên tiếp: Cuộc Chiến tranh thế-giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và cuộc nội chiến ỏ nước Nga kéo dài 4 năm (1917 - 1921)
Bất cứ nước nào trên thế giới cùng đều như vậy, đã rơi vào hoàn cảnh chiến tranh đều phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do chiến tranh gây ra Măc dù là cuộc chiến tranh vệ quốc song những cuộc chiến tranh đó đã gây ra cho nước Nga Xô viết non trẻ những sự tàn phá nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần, trước tiên là lĩnh vực kinh tế:
1.1.1 Thiệt hại về kinh tế.
Các cuộc chiến tranh đã tàn phá một cách ghê gớm nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng đến đời sống vật chất của người dân nước N«a Xô viết Dể làm sáng tỏ nhận định nói trên, có thể dẫn ra một vài con số sau đáy:
Trang 6Cuối năm 1920, đất nước Xô viết bước ra khỏi chiến tranh và chuyển sang giai đoạn xây dựng hoà bình từ những điều kiện cực kỳ khó khăn, gian khổ do sự thiệt hại về kinh tế chưa từng có Hậu quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho tình hình kinh tê của nước Nga Xô viêt trở nên nóng bỏng; sự nóng bỏng đó biểu hiện rõ nét ở nhiều mặt sau đây:
a) Thiệt hại về công nghiệp:
Ước tính một phần tư tài sản quốc dân của nước Nga Xô viết bị mất đi, trong đó nền công nghiệp bị tổn thất lớn nhất, tổng sản lượng công nghiệp (triệu rúp) năm 1920 bị giảm đi hơn 4 lần so với nãm 1917 Tỷ trọng sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân của nước Nga tính đến năm
1920 chỉ còn lại 25%, nhìn chung lất cả các ngành công nghiệp đều bị sa sút nghiêm trọng, trong bảng thống kê dưới đây sẽ nói rõ nhận xét đó:
Khai thác than 731 triêu pút 476 triệu put
Nền sản xuất công nghiệp đã sa sút như vậy, điều nguy hiểm hơn là nguyên liệu, vật liệu dự trữ cho nền sản xuất đã cạn kiệt So với năm 1913 (trước G iiến tranh thế giới thứ nhất), sản xuất đại công nghiệp giảm xuống mức 12,8%, còn các ngành công nghiệp khác cũng giảm xuống tới mức 41,1% Sự tương quan giữa công nghiệp và liểu thủ công nghiệp cũng bị Ihay đổi theo xu hướns chuyển dần sang tiểu công nghiệp (sản xuất tiểu công nghiệp từ mức 24,2% lên đến mức 52,3%)
Trang 7v ề mật lực lượng sản xuất, một biểu hiện đáng lo ngại là có quá nửa số công nhân trong các ngành công nghiệp thiếu việc làm, không phấn khởi sản xuất và đã bỏ nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp của mình đi về nông thôn.
b) Thiệt hại vé nông nghiệp:
Sự biến động của nền kinh tế nước Nga nói chung và công nghiệp nói riêng đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền sản xuất nông nghiệp Diện tích gieo trồng, sản lượng ngũ cốc, sản phẩm chăn nuôi đều bị giảm xuống dẫn đến hậu quả tổng sản lượng nông nghiệp năm 1921 chỉ còn lại 60% so với năm 1913 Bình quân lương thực đầu người trước chiến tranh thế giới thứ nhất là 405 kg/người thì đến nãm l920 giảm xuống chỉ còn lại 246 kg/người
c) Thiệt hại vé giao thông vận tải:
Do chiến tranh nên hệ thống giao thông của nước Nga bị tàn phá hết sức nghiêm trọng: 61% số đầu máy và 28% số toa xe tầu hỏa bị tàn phá hư hỏng,
4000 chiếc cầu, nhà ga, kho tàng bị phá huỷ Năm 1920, khối lượng vận
chuyển chỉ còn 20% so với trước chiến tranh
d) Thiệt hại về tài chính - tín dụng:
Tài chính - tín dụng bị lâm vào tình trạng rối loạn, ngân sách bội chi quá lớn (nãm 1918 bội chi 31 tỷ rúp, nhưng đến năm 1920 con sô' bội chi lên tói 21.937 tỷ rúp) Mức dự trữ vàng của ngân hàng giảm sút nghiêm trọng (nãm 1914 mức vàng đảm bảo cho khối lượng tiền tệ trong lưu thông là 98,2% thì năm 1917 chỉ còn lại 6,8%) Tình trạng đồng tiền mất giá tăng nhanh, khối lượng hàng hoá trên thị trường khan hiếm dẫn đến hậu quả là giá cả tăng vọt, mức giá trung bình toàn quốc năm 1923 tăng hơn 21 lần so với năm 1913, đồng tiền rúp bị mất giá nhanh chóns Cho nên, các địa phương đã tự tạo ra vật ngang giá khác nhau để dùng trong lưu thông làm cho xu hướng hiện vật hoá trong nền kinh tế tăng dần lên v.v
Trang 81.1.2 Thiệt hại về chính trị - xã hội.
Do sự sút kém về mặt kinh tế nên đời sống của nhân dân lao động nước N^a ngày càng Irở nên khó khăn hơn thời kỳ còn chiến tranh Tiên lương thực
tế của công nhân công nghiệp giảm sút (trước chiến tranh là 22 rúp, năm 1920 chỉ còn 8,3 rúp)
Thiếu ăn thường xuyên, thiếu thuốc chữa bệnh đã dẫn đên tinh trạng n°ày càng nhiều công nhân bị mắc bệnh và chết Trong lúc đó, nhiêu nhà máy lại phải đóng cửa vì thiếu điều kiện sản xuất, số người không có việc làm ngày càng tăng lên
Trong thời kỳ nội chiến nước Nga phải thực hiện chính sách cộng sản thời chiến, tất nhiên điều đó đã gây ra những thiệt hại về lợi ích của giai cấp công nhân và nông dân Tuy nhiên những thiếu thốn, khó khăn về vật chất trong đời sống của công nhân và nông dân cũng chưa gây nên sự mỏi mệt về tinh thần, bởi vì quần chúng nhân dân sẵn sàng lao động quên mình để góp phần vào việc tiêu diệt bọn phản cách mạng, giữ vững chính quyền của nhân dân, bảo vệ những thành quả cách mạng Nhưng sau chiến tranh, khi những hy vọng vào việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động không được đáp ứng, trong khi đó tình hình kinh tế ngày càng khó khăn, ngày càng lâm vào sự khủng hoảng nghiêm trọng Tình hình này đã gây ra cho nhân dân lao động sự giảm sút về niềm tin, sự bất mãn đối với chế độ mới
Chính hoàn cảnh đó đã tạo ra kẽ hở cho bọn phản cách mạng lợi dụng
và chúng đã tập hợp lực lượng để tấn công vào chính quyền Xô viết còn non trẻ với ý đổ xoá sạch những thành quả mà Cách mạng tháng Mười Nga đã đạt được
Bên cạnh những hậu quả do chiến tranh gây ra, nước Nga khi đi lên chủ nghĩa xậ hội trên cơ sở một nền kinh tế tương đối lạc hậu trong đó có sự C]uyẹn chạt giưa tư ban độc quyên hiện đai với những tàn tích phong kiến
Lê nin đã chỉ ra rằng: “Mâu thuẫn giữa một bên là chế độ sở hữu ruông đất lac hậu nhất cùng với tình trạng nông thôn dốt nát và một bên là chủ nghĩa tư bản
Trang 9công nghiệp tài chính tiên tiến nhất” (1) Người còn nhấn mạnh: Sau hêt là một nước lạc hậu nhất về kinh tế (nước Nga), trong đó chủ nghĩa đê quốc tư bản hiên đai có thể nói bị bao bọc trong một mang lưới dày đặc những quan
hệ tiền tư bản chủ nghĩa” (2) Biểu hiện của quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa chính
là nền nông nghiêp chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tê quốc dân ơ nước Nga lúc này, nông dân chiếm 82,4% dân số, sản phẩm nông nghiệp chiêm 51,4% tổng thu nhập quốc dân
Việc nắm vững được đặc điểm trên có ý nghĩa quyết định trong việc vạch ra đường lối chiến lược và sách lược để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong nền kinh tế và hoạch định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của nước Nga Xô viết
1.1.3 Những hậu quả do chủ quan:
Cùng với sự tác động và ảnh hưởng của các điều kiện khách quan, về mật chủ Đảng Bôn Sêvích Nga còn có một số sái lầm về nhận thức con đường
đi lên XHCN Irong thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước Nga Do không nhận rõ các quy luật khách quan, nên việc xác định các chủ trương chính sách không sát, không phù hợp, có phần nóng vội đốt cháy giai đoạn Cụ thể, trong những năm tháng sau Cách mạng tháng Mười nấm 1917, do hoàn cảnh khách quan
mà nước Nga phải áp dụng chính sách Cộng sản thời chiến và hậu quả thực tế
của nó đã làm hình thành nên quan niệm về khả năng quá độ trực tiếp đi lên chủ nghĩa xã hội Từ quan niệm này đã xuất hiện hàng loạt chủ trương, biện pháp không thích hợp dẫn đến cuộc khủng hoảng có tính châ’t toàn diện Cuộc khủng hoảng này đã đặt vận mệnh của nước Nga Xô viết non trẻ vào tình trạng “nghìn cân treo đầu sợi tóc”
Do vậy nhận thức lại, nhận thức đúng đắn những điều kiên khách quan kết hợp với sự sửa chữa những sai lầm chủ quan trước đây về chủ nghĩa xã hội
V I.L ênin toàn tập, tập 16 N xb T iến bộ M 1979, tr.530
V l.L ên ú i toàn lập, tập 27, N x b T iế n bộ M 1981, ư 40
Trang 10chính ỉà tiền đ ề trực tiếp dẫn đến sự xuất hiện tư tưởng về bước trung gian quá
độ lên XHCN phản ánh đúng đắn quy luật phát triển của đời sống xã hội
Tóm lại, từ những sự phân tích ở trên cho chúng ta thấy: chiên tranh đã đưa đến thiệt hại về kinh tế, về chính trị-xã hội, mặt khác do mắc phải một số sai lầm chủ quan của Đảng Bôn Sêvích Nga trong việc nhận thức về bước quá
độ lên XHCN ở nước Nga Xô-Viết; với sự nhạy bén của mình Lênin đã đưa ra một số tư tưởng chỉ đạo hết sức đúng đắn, nhờ đó đã cứu nước Nga Xô-Viết khỏi sự sụp đổ Những tư tưởng đó của Lênin áp dụng vào thực tiễn cách mạng xây dựng XHCN ở nước Nga Xô-Viết với các bước trung gian quá độ lên XHCN Các bước trung gian quá độ trong tư tưởng của Lênin được đề cập nhiều nội dung Song trong phạm vi của đề tài chúng tôi tập trung nghiên cứu hai nội dung chủ yếu Đó là:
* Một s ố nội dung thuộc về CNTB Nhà nước
* Một s ố nội dung về c hình sách kinh tế được áp dụng ỏ nước Nga Xô-Viết.
1.2 NỘI DUNG VỀ BƯỚC TRUNG GIAN QUÁ ĐỘ LÊN XHCN
Chúng tôi cho 1'ằng bước trung gian quá độ là một giai đoạn lịch sử, một biện pháp, một chính sách kinh tế, một bước đi trung gian để đưa sự vật, hiện tượng chuyển biến từ chất lượng này sang chất lượng khác ngày càng cao Với quan niệm như vậy, trong phần nội dung của công trình chúng tôi đi sáu một
số vấn đề như sau:
1.2.1 Về chủ nghĩa tư bản Nhà nước:
Khái niệm chủ nghĩa Tư bản Nhà nước xuất hiên lần đầu tiên ở các nước tư bản chủ nghĩa Như chúng ta đã biết kinh tê tư bản ra đời và phát triển dựa Irên sự phát triên của kinh tê hàng hoá Điều kiên tiên quyết để có sư ra
đơi va phat tnên cua kinh tê hàng hoá là phái có sỏ hũìi IU ìihúìi vé ỈU liệu sảìỉ
Xìiữl G ie đọ sư hưu tư nhân vê tư liêu sản xuất đã xuất hiên và tồn tai dưới
nhiều chế độ xã hội khác nhau như: chiếm hữu nô ]ệ, phong kiến, đến chủ
Trang 11nghĩa tư bản thì sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất phát triển ỏ mức độ cao Nhờ quá trình xã hội hoá mà sản xuất đạt irình độ khá cao Quá trình xã hội hoá đó thông qua sự vận động của quy luật tích lũy, tích tụ và tập trung tư bản,
tư liệu sản xuất của nhiều người tập trung vào trong tay một số ít người
Nhưng sự tập trung và phát triển đến một mức độ nhất định tự nó dẫn đến độc quyền Song sự độc quyền tư nhân đã tỏ ra bất lực trước sức mạnh của
sự phát triển lực lượng sản xuất ngày càng được xã hội hoá cao, nhiều công trình, kết cấu hạ tầng đồ sộ, nhất là thông tin liên lạc, đường sắt v.v cần có
sự điều tiết và giúp đỡ về tài chính của Nhà nước Nhà nước có thể đảm đương xây dựng những công trình cần nhiều vốn, ít lãi hoặc mua lại những xí nghiệp
tư nhân có nguy cơ phá sản
Giai cấp tư sản cũng cấn sự giúp đỡ của Nhà nước trong những cuộc khủng hoảng kinh tế như cấp tín dụng ưu đãi, trợ cấp hay mua lại doanh nghiệp tư nhân với giá cao, chẳng hạn ở Đức cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX chuyển từ công nshệ dùng than sang dùng dầu mỏ rẻ hơn, Nhà nước Đức đứng
ra mua lại công nghệ dùng than để nhà tư bản chuyển sang đùng dầu mỏ thuận tiện hơn
Lúc này giai cấp thống trị kinh tế là tư bản độc quyền tư nhân phải viện đến sức mạnh của Nhà nước tư bản giúp sức, can thiệp phối hợp và cùng hùn
vốn với tư bản độc quyền tư nhân thành chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nhà nước.
N hư vậy ỏ đây có sự dung hợp giữa Nhà nước và nhà tư bản, tập đoàn
ĩư bản đê phút triển kinh tế Hiện tượng mới này được khái quát thành chủ nghĩa tư bản độc quyên Nhà nước Hay nói một cách khác chủ nghĩa tư bản
độc quyền Nhà nước là sự dung hợp giữa Nhà nước tư sản và các độc quyền tư bản tư nhân để phát triển kinh tế
Nêu trước đây Nhà nước chỉ làm người gác cổng cho chủ nghĩa tư bản thông qua việc ban hành các đạo luật như luật công xưởng, luật về hạn chế sử dụng lao động phụ nữ và trẻ em, về giảm độ dài ngày lao độne vé bảo hiểm
Trang 12xã hội v.v thì ngày nay Nhà nước đã xâm nhập, hôn hợp vào hoạt động kinh
tế với Nhà tư bản độc quyền
Tóm lại nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là do chính trình độ xã hội hoá sản xuất đòi hỏi Trình độ xã hội hoá sản xuất làm cho độc quyền tư bản tư nhân không đủ sức đổi mới kỹ thuật, không đủ sức cạnh tranh trên thương trường, không đủ sức xây dựng kết cấu
hạ tầng Họ phảivkiện đến Nhà nước, làm xuất hiện một loại hình kinh tế lớn
hơn giữa Nhà nước và tư nhân trên nhiều lĩnh vực được gọi là chủ nghĩa tư bản
độc quyền Nhà nước.
Có thể nói ưu việt của loại hình kinh tế này chính là ở chỗ nó đã biến Nhà nước tư bản độc quyền tư nhân đem lẻ thành nhà tư bản độc quyền tập thể trong đó có sự tham gia của Nhà nước Nó vừa phát huy được sức mạnh của độc quyền tư nhân lại vừa phát huy được sức mạnh của Nhà nước tư sản thông qua việc nó tham gia vào hoạt động kinh tế
Ở đây Nhà nước điều hành, phối hợp quản lý kinh tế không chỉ bằng công cụ, pháp lý, bằng giữ trật tự an ninh mà bằng chính thực lực kinh tế của Nhà nước tư sản
Lênin cho rằng đó là chủ nghĩa tư bản Nhà nước thông thường, thuận chiều, không nghịch lý Bởi vì nền kinh tế do kinh tế độc quyền tư bản thống tiị Còn Nhà nước, thể chế chính trị cũng chính là Nhà nước của giai cấp Lư sản Vì vậy lợi ích kinh tế tư sản và lợi ích chính trị tư sản là một, là thống nhất Mặc dù có thể có mâu thuẫn đó là không đối kháng, là thuận chiều Lênin gọi chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới chế độ tư bản là “chủ nghĩa tư bản thông thường” còn CNTB Nhà nước dưới chế độ cộng sản là chủ nghĩa tư bản Nhà nước “không thông thường”, thậm chí còn “khác thường nữa” C1)
V I.L ên in toàn tập, tập 44.;N xb Tiến bộ, M 1978 tr.426
Trang 13Vậy CNTB Nhà nước dưới CNTB là sản phẩm của trình độ xã hội hoá sản xuất ở mức rất cao và toàn diện ứng với giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Nó
là sản phẩm hỗn hợp giữa kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà nước trong điều kiện lịch sử nhất định
Bây giờ ta tìm hiểu khái niệm chủ nghĩa tư bản Nhà nước “không thông thường”, thậm chí “khác thường” trong thời kỳ quá độ từ CNTB và CNXH của Lênin là như thế nào?
Tnrớc hết đây là một loại hình kinh tế xuất hiện trong điều kiện lịch sử đặc biệt đó là thời kỳ quá độ “từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”
Có thể nói trước Lênin chưa một ai, hay một quyển sách nào nói về chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới chế độ cộng sản Lênin khẳng định dưới CNTB
“không có lấy một quyển nào nói đến chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới chế độ cộng sản cả ngay đến Mác cũng không viết một lời nào về vấn đề đó, và Người đã mất đi mà không để lại một lời nào rõ rệt, một chỉ dẫn nào chắc chắn về vấn đề ấy cả Vì thế ngày nay, chúng ta phải tự mình tìm ra lối thoát”(1)
Chúng ta hãy so sánh CNTB Nhà nước “khác thường” với CNTB Nhà nước “thông thường” về hai khía cạnh:
Khía cạnh thứ nhất: CNTB Nhà nước thông thường dưới CNTB là một
loại hình kinh tế về cơ bản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, dựa trên một trình độ xã hội hoá sản xuất rất cao Còn CNTB Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lại dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và dựa trên một trình độ xã hội hoá sản xuất còn rất thấp chưa có “phòng chò” để đi vào chủ nchĩa xã hội
Khía cạnh thứ hai: CNTB Nhà nước thông thường trong lòng CNTB có
Nhà nước tư sản điều hành đất nước Còn CNTB Nhà nước “khác thường”
l" V I.L êiiin loàn tập, tập 45, tr.101
Trang 14trong thời kỳ quá độ lên CNXH dựa vào Nhà nước của dân, do dân, vì dân đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Lẽnin đã chỉ rõ sự khác nhau đó bằng cách so sánh - “chủ nghĩa tư bản
Nhà nước ở trong một nước mà chính quyền thuộc về tư bản và CNTB Nhà
nước ở ưong một Nhà nước vô sản - đó là hai khái niệm khác nhau” (1)
và “CNTB Nhà nước như chúng tỏi đã xác lập là CNTB Nhà nước đặc biệt
Nó khác hẳn với khái niệm thông thường về CNTB Nhà nước” (2)
* “Chủ nghĩa tư bản Nhà nước của chúng tôi khác về căn bản so với CNTB Nhà nước ở những nước có chính phủ tư sản, sự khác biệt là ở chỗ Nhà
nước của chúng tôi không phải đại diện cho giai cấp tư sản mà đại diện cho
giai cấp vô sản” (3)
Tóm lại tuy tên gọi là giống nhau: CNTB Nhà nước và thành phần tham
gia CNTB Nhà nước là giống nhau: đều là tư bản tư nhân và Nhà nước cùng
hùn vốn với nhau, tác động hỗn hợp với nhau Nhưng đó là hai sản phẩm của
hai trình độ xã hội hoá khác nhau, hai chế độ xã hội khác nhau và đặc biệt là
tính chất Nhà nước hoàn toàn khác nhau Do đó mục đích và phương thức tồn
tại của chúng cũng hoàn toàn khác nhau
Như vậy CNTB Nhà nước trong thời kỳ quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn XHCN là sản phẩm của sự can thiệp, phối hợp tích cực của Nhà nước
với tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước nhầm huy động mọi tiềm lực phát
triển nhanh chóng lực lượng sản xuất theo định hướng XHCN
Phát triển CNTB Nhà nước có thể khái quát thành các mức độ và đặc
điểm như sau :
+ CNTB Nhà nước được hiểu là một hình thái kinh tế - xã hội trong thời
kỳ quá độ lcn sản xuất lớn XHCN
V I.L ẽnin loàn tập lập 44, N x b Tiến Bộ M 1978, ir 58
':i V I Lênin toàu tập, lập 45, N xb T iến Bộ M 1978, tr.335
° ' V I L ênin toàn tạp, lặp 45, N xb T iến BọTM 1978, tr.344
Trang 15+ CNTB Nhà nước là một chính sách kinh tế, một công cụ, một thành phần kinh tế mà Nhà nước XHCN dùng để điều tiết, quản lý, chi phối và lôi kéo các hoạt động kinh tế của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tiểu sản xuất, kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo định hướng XHCN.
+ CNTB Nhà nước là những hình thức kinh tế, là một thành phần kinh
tế có ba phần tư tính chất là theo định hướng XHCN Nó có tính trung gian qúa độ dẫn dắt sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, dẫn dắt kinh tế tư bản đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Ngoài ra CNTB Nhà nước còn là phương tiện, là cách thức để Nhà nước XHCN thực hiện sự kiểm kê kiểm soát nền kinh tế đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đặc điểm CNTB Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên XHCN
+ Mục đích chủ yếu của CNTB Nhà nước trong thời kỳ quá độ là phối họp sức mạnh của Nhà nước với sức mạnh của tư bản trong và ngoài nước để phát ưiển lực lượng sản xuất một cách nhanh nhất tạo tiền đề vật chất để sản xuất nhỏ lạc hậu đi vào “phòng chờ” bước vào XHCN “Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầý đủ nhất cho XHCN, là phòng chờ
đi vào XHCN, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó) với nấc thang được gọi là XHCN thì không có một nấc thang nào ở giữa cả” (1)
Vấn đề là dùng sức mạnh nào để tạo ra “phòng chờ” đó một cách nhanh nhất Sức mạnh để xây dựng “phòng chờ” như tiền vốn, công nghệ kỹ thuât hiện đại, tài nghệ tổ chức và quản lý, và quan hệ thị trường quốc tế đang nằm trong tay các nhà tư bản trong nước và ngoài nước, đặc biệt là tư bản nước ngoài Còn sức manh của chế độ chính trị, sức mạnh chủ quyền quốc gia, sức mạnh về lòng tin của nhân dân v.v được tập trung chủ yếu trong tay Nhà nước Hai sức mạnh đó liên doanh liên kết với nhau, ký hợp đồng giao kèo
V I Lêuiu tàon lập tập 36, N x b T iế o Bộ M 1978, tr.371
Trang 16-thoả thuận về lợi ích với nhau, để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất thì đó là thực chất của CNTB Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên XHCN hiện nay “Chủ nghĩa tư bản Nhà nước dưới chính quyền Xô viết là ngưỡng cửa XHCN, là điều kiện cho thắng lợi chắc chắn của XHCN” (l) và chúng ta còn chưa tiến đến “phòng chờ” của XHCN, và nếu không đi qua “phòng chờ” mà chúng ta chưa đạt tới ấy thì không thể nào vào cửa XHCN được” c2)
+ Phải hiểu CNTB Nhà mróc là sự kiểm kê, kiểm soát toàn dân, kiểm kê kiểm soát mọi thành phần kinh tế, kiểm kê kiểm soát tính tự phát vô chính phủ tiểu sản xuất đi lên CNTB v.v Thông qua kiểm kê kiểm soát để điều chỉnh dần nền kinh tế đi vào định hướng XHCN Không thực hiện được kiểm kê kiểm soát của Nhà nước bằng hình thức CNTB Nhà nước thì cũng khổng thể
có XHCN được “Hiện nay thực hiện CNTB Nhà nước có nghĩa là thực hiện chế độ kiểm kiêm kiểm soát - mà trước đây giai cấp tư bản đã thực hiện” (3), Bởi vì “CNTB Nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính toán, được kiểm soát và được xã hội hoá, thế mà chúng ta lại đang thiếu chính cái đó, chúng ta đang bị đe doạ, bởi tính tự phát của cái thói vổ tổ chức tiểu tư sản” (4)
Lênin còn căn dặn chúng ta: “Chừng nào mà giai cấp công nhấn học được cách gìn giữ trật tự Nhà nước, chống tĩnh trạng vô chính phủ của tiểu tư hữu, chừng nào mà giai cấp công nhân học được cách sắp đặt tổ chức sản xuất với quy mô lớn toàn quốc, trên cơ sở CNTB nhà nước, thì khi ấy tất cả những con chủ bài đều nằm trong tay công nhân và sẽ bảo đảm cho CNXH được
cúng cố K }
V I L ẽnin tàon tập, tập 36, N xb Tiến Bộ M 1978, tr.387
'2' V.I L ẻn in tàon tập, tập 36, N x b T iế n Bộ M 1978, tr 371-372
<3) V I L ênin tàon tập, lập 36, N xb T iến Bộ M 1978, tr.311
tJ’ V I L ẻniu tàon tập, tập 36, N xb T iến Bộ M 1978, tr.311
151 - V I L ênin tàon tập, tập 36, N.xb Tiến Bộ M 1978, tr.382
Trang 17+ VTiộc học tập kiến thức sử dụng, chọn lọc những thành tựu khoa học công nghệ, thực hiện chuyển giao công nghệ v.v của các nước tư bản tiên tiến.
Bởi vì chính CNTB đã có hàng trăm năm tích luỹ, tích tụ và phát triển Lênin: Chỉ rõ: “Chỉ có những người nào hiểu rằng không học tập những kẻ tổ chức ra tờ rớt thì không thể tạo ra hoặc thực hiện CNXH, chỉ những người đó mới đáng gọi là người Cộng sản Bởi vì CNXH đâu phải là điều bịa ra, mà nó
là kết quả của việc đội tiên phong của giai cấp vô sản, sau khi cướp được chính quyền, nắm lấy và vận dụng những cái mà các tờ rớt đã tạo ra Đảng vô sản chúng ta sẽ không lấy được ở đâu ra cái năng lực tổ chức nền sản xuất cực
kỳ lớn theo kiểu tờ rớt và như tờ - rớt, nếu không lấy năng lực đó ở các chuyên gia hạng nhất của CNTB
Vì vậy Lênin yêu cầu phải học tập kinh nghiệm chủ nghĩa tư bản Nhà nước của người Đức, dốc hết sức ra bắt chước họ
+ CNTB Nhà nước chính là tiếp tục cuộc đấu tranh ai thắng ai trong thời kỳ quá độ một cách toàn diện Để thấy rõ hơn, chúng ta có thể so sánh:
+ Tư bản nước ngoài luôn muốn thu lợi nhuận cao, muốn lật đổ chúng
ta có sự hỗ trợ đắc lực của tư bản trong nước, của tư bản nhỏ, và một số phần
tử thoái hoá biến chất trong bộ máy Nhà nước
+ Nhà nước vô sản có sức mạnh của chế độ chính trị, nắm các thực lực kinh tế: tiền tệ, tài chính chủ chốt của đất nước trong tay Nhà nước vô sản tuy còn nhiều non yếu về trình độ quản lý, về sức mạnh tiền vốn, kỹ thuật, mưu mẹo trên thương trường Song Nhà nước vô sản lại có đường lối đúng đắn hợp xu thế thời đại, hợp lòng dân, có tinh thẩn độc lập dân tộc chủ cao v.v
Do vậy, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” thật là quyết liệt Bởi vì chủ nshĩa
tư bản về mặt kinh tế là rất mạnh, lại tinh khôn, có nhiều mưu mẹo, thông ihạo thương trường Vì vậy trong cuộc đấu tranh đó la phải tuân theo nguyên tấc, vừa hợp tác vừa đấu tranh Vừa chấp nhận chịu bóc lột, chịu tô nhượng, chịu
Trang 18bị khai thác tài nguyên một thời gian để có được sản phẩm,, việc làm công nghệ và tài tổ chức.
Nội dung của sự đấu tranh chính là chấp nhận cho nhà tư bản trong nước và ngoài nước thu nhiều lơị nhuận, sử dụng nhiều lao động rẻ, khai thác nhiều tài nguyên ưu đãi khác nhưng phải bảo đảm các nguyên nhân
+ Hợp tác liên doanh nhưng vẫn giữ cững tính độc lập tự chủ; đảm bảo lợi ích cho đất nước, đảm bảo tính hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường sinh thái v.v ; đảm bảo tính định hướng XHCN; chủ nghĩa tư bản Nhà nước là cách thức phát huy mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước, kết hợp chúng thành một chỉnh thể mới tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nchĩa xã hội,
“không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiên đại, không có một tổ chức Nhà nước có k ế hoạch khiến cho hàng chục triệu người phải tuân theo hết nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm, thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội đồng thời nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong Nhà nước thì cũng không thể nói đêns chủ nghĩa xã hội được” (1)
Theo Lê nin chủ nghĩa tư bản Nhà nước không chỉ là cách thức để huy động nguồnlực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội mà nó là hình thức kinh tế để liên hiệp nhừng người sản xuất nhỏ lại “tư bản làm cho sản xuất nhỏ liên hiệp lại, tư bản sản sinh ra từ nền sản xuất nhỏ” (2)
Tóm lại: Chủ nghĩa tư bản Nhà nước là những loai hình kinh tế hỗn hợp giữa Nhà nước vô sản với tư bản trong và ngoài nước, để huy động nguồn lực phát triển lực lượng sản xuất nhanh nhất và thực hiện sự kiểm kê, kiểm soát mọi thành phần kinh tế
V.I L ênin tàon lập, tập 43, N xb T iến Bộ M 1978, tr.253
V I L ênin tàon tập, lập 43 N xb T iến Bộ M 1978 (1.188
Trang 191.2.2 Các hình thức của CNTB Nhà nước
Đứng trên góc độ kinh tế mà xét thì CNTB Nhà nước được quan niệm là
các hình thức kinh t ể trung gian quá độ Các hình thức này dựa trên sở hữu
hỗn hợp giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư bản tư nhân trong và ncoài nước
Tùy điều kiện lịch sử, tuỳ trình độ xã hội hoá, trình độ quốc tế hoá về
kinh tê mà có các hình thức kkinh tế tư bản Nhà nước đa dạng phong phú
khác nhau,
tô nhượng là chính sách chung sống hoà bình, thiết lập quan hệ buôn bán, đầu
tư với các nước tư bản; tô nhượng được coi là “sự liên minh với CNTB ở các
nước tiên tiến”; tô nhượng là một bản giao kèo, một hợp đồng cho thuê mà nội
dung chủ yếu là để cho những người hưởng tô nhượng được quyền sử dụng
một phần tài nguyên quý giá, họ có thể chỉ thuê đất, vốn đầu tư là 100% của
tư bản nước ngoài Nhà nước vô sản chấp nhận điều kiện phải trả cho giai cấp
tư sản thế giới một cống vật, để nhanh chóng thu hút được tiền vốn, kỹ thuật
hiện đại phát triển công nghiệp và cải thiện đời sống công nhân
Lênin chỉ rõ: “Chúng ta bảo đảm rằng trong bất cứ điều kiện nào, và
bất cứ phương tiện nào, thì khi ký các hợp đồng ấy, trong tất cả các điều
khoản ấy chúng ta sẽ không vượt quá những cái gì đã có trong pháp luật tư
bản chủ nghĩa rằng: “chúng ta phải căn cứ vào quan hệ tư bản chủ nghĩa mà
chứng minh rằng những điều kiện ấy là có thể tiếp nhận được đối với những
nhà tư bản, là có lợi cho họ, đồng thời chúng ta cũng phải biết rút ra từ đó cái
có lợi cho chúng ta, nếu không thì bàn đến vấn đề tô nhượng đều là bàn
suông” {1)
Tô nhượng chính là một hình thức “du nhập” CNTB mà đất nước tăng
được nền đại sản xuất, đối lập vói nền sản xuấl nhỏ lạc hậu, tăng ihêm được
sản phẩm đại công nghiệp, tãng trình độ tổ chức, quản lý sản xuất ở bậc cao
V I Léiun tàon tập, tập 43, N xb T iến Bộ M 1978, tr.28 — - -
-Đ AI HỌC Q U Ỏ C G IA h à N Ộ i
TRUNG TẨM THÒNG TIN THƯ ViẼN
Trang 20v.v Ví dụ tô nhượng về dầu mỏ Làm như thế chúng ta sẽ có ngay hàng triệu
peit dầu lửa, nhiều hơn số đầu lửa chúng ta tự sản xuất ra lúc đó ở nước Nga
Việc làm đó giúp Nhà nước chúng ta có sản phẩm trong tay để đổi lấy lương
thực với nông dân và khai thác dầu mỏ với kỳ thuật cao
Lênin nhấn mạnh thực hiện hình thức nhượng với mục đích:
- Thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào trong nước cao nhất thông qua
sự đầu tư 100% vốn của tư bản ở các khu chế xuất công nghiệp, đặc biệt khu
kinh tế v.v ; nhanh chóng tạo ra sản phẩm cho đất nước đặc biệt là sản phẩm
hướng về xuất khẩu; giải quyết việc làm, thông qua khu chế xuất mà đào tạo
đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề; du nhập kỹ
thuật hiện đai và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; tăng nguồn thu ngoại tệ, góp
phần cải tiện cán cân thanh toán quốc tế; tạo môi trường thúc đẩy nền kinh tế nội địa phát triển có trọng điểm, lôi kéo nền kinh tế cả nước đi lên
Lênin cũng chỉ rõ nội dung chủ yếư mang tính nguyên tắc như: Người
nhận tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí nghiệp
tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của người nước ngoài Đồng
thời có tính đến năng suất lao động thấp của công nhân Nga lúc đó Người
nhận tô nhượng phải nhập tư nước ngoài vào cho công nhân trong xí nghiệp tô
nhượng những hàng hoá cần thiết cho đời sống của họ và bán với giá không được cao Đổng thời nếu chính phủ nước Cộng hoà Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nga yêu cầu thì ngoài số lượng sản phẩm để cung cấp cho công nhân trong các xí nghiệp tô nhượng, những người nhận tô nhượng phải tôn trọng pháp luật về điều kiện lao động, về kỳ hạn phát lương V V phải ký hợp đồng với công đoàn.Người nhận tô nhượng phải tuân theo những quy tắc về khoa học và kỹ ihuật phù hợp với pháp luật của nước Nga và nước ngoài Về việc người nhận tô nhượng, chở máy móc thiết bị từ nước ngoài tới, thì xử lý theo quy tắc mà hai bên đã thoả thuận Vấn đề trả lương cho công nhán ở các
xí nghiệp tô nhượng, trả bằng ngoại tệ, bang phiếu đặc biệt, hay bàng tiền Xô
V iế t thì sẽ quy định theo sự thoả thuận riêng trong từng trường hợp Điều
Trang 21kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vật chất, về trả lương cho công nhân lành nghề và nhân viên người nước ngoài được quy định theo sự thoả thuận tự do giữa người nhận tô nhượng với những loại công nhân viên nói trên Theo sự thoả thuận với các cơ quan chính phủ của nước Cộng hoà Liên bang XHCN
Xô Viết Nga, có thể cho người nhận tô nhượng quyền mời những chuyên gia
có trình độ cao trong số công dân ở Nga, các điều kiện tuyển dụng ưong từng trường hợp phải được sự đồng ý của các cơ quan chính quyền Trung ương (1)
Tuy vậy loại tô nhượng mà tư bản đầu tư nước ngoài 100% vốn vào các khu chế xuất ở nước Nga lúc đó chưa thực hiện được bao nhiêu vì chính sách cấm vận của các nước tư bản lúc đó
Mặt khác, Lênin đã chỉ rõ tô nhượng có tác dụng: Tô nhượng chỉ có một loại sở hữu tư bản, một người chủ duy nhất do đó sức cạnh tranh rất cao, động lực lợi ích lớn, tránh được những thủ thuật đưa kỹ thuật cũ kỹ lạc hậu, tính giá cao ngay từ đầu v.v tô nhượng tạo điều kiện vật chất, thúc đẩy cuộc cách mạng trong lĩnh vực công cụ đại công nghiệp cơ khí hoá hiện đại hoá năng suất cao, nhờ vào việc xây dựng các xí nghiệp tô nhượng Tô nhượng tạo điều kiện xây dựng đào tạo đội ngũ công nhân và các chuyên gia giỏi cho nền kinh tế
Bên cạnh đó thực hiện hình thức tô nhượng cũng sẽ bị hạn chế: Đất nước phải cống nạp cho các tập đoàn tư bản nước ngoài nhận tô nhượng phần lợi nhuận cao thậm chí rất cao như Lênin nói có thể tới 2000% Do du nhập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự hình thành các công ty tư bản nước nsoài trên đất nước cho tô nhượng, thì đồng thời cũng làm nẩy sinh nhiều mâu thuẫn kinh tế xã hội Chẳng hạn du nhập “tô nhượng” thì đồng thời cũng du nhập cả lối sống tư bản chủ nghĩa, văn hoá tư bản chủ nehĩa và các quan hệ bóc lột khác v.v
b) Hình thức: Hình thức cho tư bản thuê tài sản của Nhà nước.
Ul - V.I Lêiún tàou tập tập 43, N x b T iến Bộ M 1978, tr.269 và 2 0 0 - 2 15
Trang 22Đây là một hình thức giống như hình thức tô nhượng trên đây nhưng có
phạm vi hẹp hơn Đối tượng nhận tô nhượng không phải là tư bản nước ngoài
mà là tư bản trong nước Các tài sản cho thuê là những hầm mỏ nhỏ, nhữns
rừng núi, các lâm, nông nghiệp và nhà máy khác v.v Sự cho thuê trong nước
có thể cả cho nông dân thuê giống như nước Nga trước đây đã cho thuê ở vùng
Đôn Bát Chính hình thức cho thuê này đã gây một hưng phấn mới cho nền
kinh tế, tốc độ phát triển nhanh Ngưcd được thuê tài sản Nhà nước có thể nộp
tô cho Nhà nước bằng tiền hoặc bằng hiện vật (có thể 30% số than khai thác
được).
Tóm lại ta có thể cho tư bản lớn, tư bản nhỏ thuê tài sản của Nhà nước,
làm cho nền kinh tế năng động tăng trưởng nhanh Hợp đồng lại đơn giản hơn,
vì đây là hợp đồng thuê mướn giữa chính phủ và các tư nhân trong nước
tác xã”, Lênin khẳng định:
“Hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản Nhà nước,
nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù ít rõ rệt hơn, phức tạp hơn và vì thế, trong
thực tế, nó đặt ơ iín h quyền Xô Viết trước những khó khăn lớn hơn” (1)
Có thể có nhiều loại hợp tác xã, nhưrig chỉ chế độ hợp tác xã tư bản chủ
nghĩa, hay hợp tác xã của người tiểu nông tự do kinh doanh trong làng chế
độ Xô Viết mới được coi là hình thức chủ nghĩa tư bản Nhà nước
Các hợp tác xã tư sản tồn tại trong thời kỳ quá độ lên XHCN thì tính
chất chủ nghĩa tư bản Nhà nước khá rõ nét
Còn các hợp tác xã của người tiểu nông lập ra nhằm sản xuất, kinh
doanh, ký hợp đồng kiểu như “tô nhượng”, kiểu như “cho thuê tài sản” ở hai
hình thức trên cũng được coi là loại hình chủ nghĩa tư bản Nhà nước nhưng
“ít rõ rệt hơn” Mặt khác đứng về góc độ kiểm kê kiểm soát của Nhà nước vô
V I L ẻniu tàon tạp, tập 43 N xb T iếu Bộ M 1978, tr.271
Trang 23sản đối với tính tự phát tiểu tư sản của người sản xuất nhỏ thì hợp tác xã của ngưòi sản xuất nhỏ là trợ thủ đắc lực cho kiểm soát của Nhà nước hơn là kiểm soát người sản xuất nhỏ ngoài hợp tác xã do đó hợp tác xã của người sản xuất nhỏ có tác đụng kiểm kê kiểm soát, hướng người sản xuất nhỏ đi đần theo quỹ đạo của Nhà nước Các hợp tác xã ở đây là chủ nghĩa tự bản hợp tác xã và hợp lác xã của các nhà tư bản nhỏ, các tiểu chủ cửa hàng triệu tiểu nghiệp chủ Dưới chính quyền Xô Viết, chủ nghĩa tư bản hợp tác xã khác với chủ nghĩa tư bản tư bản tư nhân, nó là hình thái của chủ nghĩa tư bản Nhà nước và bản thân
nó là có lợi, cần thiết cho Nhà nước vô sản Chúng ta cần chủ nghĩa tư bản kiểu hợp tác xã là một cách thức cần thiết để dẫn dắt hàng triêu người sản xuất nhỏ đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Lênin chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã giống chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở chỗ nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự kiểm kê, kiểm soát, theo dõi, chonhững quan hệ đã ghi trong hợp đồng giữa Nhà nước (ờ đây là Nhà nước XốViết) với Nhà nước tư bản” và “nếu xét về mặt hình thức thương nghiệp thì hợp tác xã có lợi và có ích hơn thương nghiệp tư nhân, chẳng những vì những
lý đo đã kể trên, mà còn vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức hàng triệu người, sau đó toàn thể dân chúng, và tình hình ấy lại là một điều lợi rất lớn cho bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản Nhà nước lên chủ nghĩa xã hội” (I)
Lênin cũng so sánh hình thức chủ nghĩa tư bản Nhà nước kiểu tô nhượng với hình thức chủ nghĩa tư bản hợp tác xã về các phương diện:
- Đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn thì “chính sách hợp tác xã một khi thành công, sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏ phát triển và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ - trong một thời hạn không nhất định - lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết h ợ p <2)
11' V.I Lênin tà on tập, tập 43 , N xb Tiến Bộ M 1978 ir.272
V I L énin tàon tập, tập 43, N xb Tiến Bộ M 1978, tr.273
Trang 24- Về trình độ xã hội hoá thì tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí hoá, cốn chế độ hợp tác xã dựa trên bộ phận thậm chí còn có tính chất gia
trường Trong mỗi hợp đồng tô nhượng thì tô nhượng chỉ quan hệ đến nhà tư
bản hay chỉ một công ty tư bản, còn hợp tác xã lại bao gồm hàng ngàn thậm
chí hàng triệu tiểu nghiệp chủ
Tô nhượng đòi hỏi phải có một hợp đồng chính xác, một thời hạn rõ
ràng, còn hợp tác xã thì không có hợp đồng cũng không có thời hạn thật
chính xác Bãi bỏ một hợp đồng tô nhượng không khó khăn bằng bãi bỏ một
đạo luật về hợp tác xã
Ngoài ra ta còn thấy chuyển từ hình thức tô nhượng lên chủ nghĩa xã
hội là chuyển một hình thức đại sản xuất này sang hình thức đại sản xuất
khác Còn chuyển hợp tác xã ngành sản xuất nhỏ lên XHCN là chuyển từ tiểu
sản xuất sang đại sản xuất, tức là một bước quá độ phức tạp hơn Nhưng khi
thành công được thì ta đã đưa khối lượng quần chúng nhân dân đông đảo lên
XHCN Chính sách tô nhượng một khi Ihành công thì nó đưa lại cho chúng ta
một số xí nghiệp, khu công nghiệp kiểu mẫu tiên tiến ngang trình độ tư bản
hiện đại, các chính sách hợp tác xã một khi thành công sẽ giúp cho nền kinh
tê nhỏ phát triển và tạo điều kiên thuân lợi cho nền đại sản xuất trên cơ sở tự
nguyện kết hợp
Hơn nữa khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì chế độ hợp lác xã tư
bản Nhà nước có tác dụng chống tình trạng tự phát vô chính phủ của cơ chế
thị trường ít đấu tranh chống việc trao đổi hàng hoá một cách vô cính phủ
Bởi vì nó lẩn tránh sự kiểm soát và giám s á t đấu tranh bằng cách táp trung
chủ yêu vào tay hợp tác xã nhưng tuyệt nhiên không cản trở việc tư do buôn
bán đùn? đắn” (I)
Theo Lênin họp tác xã chủ nghĩa tư bản Nhà nước còn là một cách thức
kết hợp lợi ích tư nhân với lợi ích Nhà nước tốt nhất “Hiện nay chúng ta đã
V I Lênin tàon tập, tập 43, N xb T iến Bộ M 1978, tr.405
Trang 25tìm ra được mức độ kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích thương nghiệp tư nhân với viêc Nhà nước kiểm soát và kiểm tra lợi ích đó, mức độ làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích chung, điều mà trước đây là nan giải đối với rất nhiều người XHCN” (1)
Về tính chất chế độ hợp tác xã tư sản và hợp tác xã của người tư bản nhỏ là loại hình chủ nghĩa tư bản Nhà nước ít rõ rệt hơn Lênin khẳng định
“trong những điều kiện hiện nay của nước Nga, tự do và quyền lợi cho chủ nghĩa tư bản Nhắm mắt trước sự thật hiển nhiên ấy là dại dột hoặc là
có tội” (2)
d) : Hình thức công ty hợp doanh:
Đây ỉà một loại hình chủ nghĩa tư bản Nhà nước hỗn hợp, trong đó “vừa
có có các nhà tư bản tư nhân Nga và tư bản nước ngoài, vừa có những người cộng sản cùng tham gia” (1) loại công ty hợp doanh này được ra đời và phát tríển mạnh khi chuyển sang chính sách kinh tế mới, kinh tế thị trường Đó là những công ty mà “tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, ngoài ra của tư bản nước ngoài và một phần của chúng tôi” {3)
“Những công ty này đều biểu hiện việc chúng ta những người cộng sản
áp dụng phương thức buôn bán, những phương thức tư bản chủ nghĩa” (4)
Công ty hợp doanh cũng chính là hình thức vốn kiểu công ty cổ phần, là loại hình tư bản Nhà nước mà chúng ta thu hút tư bản tư doanh hùn vốn với tư bản của chúng ta Đó chính là xí nghiệp liên doanh với tư bản nước ngoài và
tư bản trong nước ở nước ta hiện nay
V I Lênin loàu tập, tập 45, N xb T iến Bộ M 1978, tr.422
(21 V I Lênin toàn tập, tập 43, N xb T iến Bộ M 1978, tr.272
(í’ V I Lẽnin toàn tập lập 45 N xb T iến Bộ M 1978, tr.95
'4' V I L ênin tàon tập, tập 45 N xb T iến Bộ M 1978, tr336
Trang 26Trong báo cáo tại đại hội IV quốc tế cộng sản, khi ứình bày về chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong lĩnh vưc thương mại Lênin nhấn mạnh chính quyền Xô Viết đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và đã thành lập được theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần là của chính quyền Xô Viết “Về thương nghiệp, tôi cần nhấn mạnh thêm rằng chúng tôi đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và chúng ta cũng đã bắt đầu lập rồi; đó là những công ty mà tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, ngoài ra của tư bản nước ngoài và một phần là của chúng tôi Như thế chúng tôi học tập làm công tác thương nghiệp, điều mà chúng tôi rất cần đến” (1)
Những điều kiện để lập công ty hợp doanh : Cán bộ, cán bộ trong công
ty liên doanh là nhân tố quyết định sự thành bại Lênin đòi hỏi cán bộ nhà nước hợp doanh với tư bản phải làm việc không kém nhà tư bản Trong khi buôn bán với nông dân “họ liên minh kinh tế với nông dân để làm giàu còn các đồng chí thì phải liên minh kinh tế với nông dân để tăng thêm lực kinh tế của Nhà nước .Các đồng chí có ưu thế hơn những nhà tư bản, vì chính quyền nhà nước ở trong tay các đồng chí, vì nhiều phương tiện nằm trong tay các đổng c h f’ (2)
Muốn có công ty hợp doanh ngoài điều kiện cán bộ còn đòi hỏi tôn trọng lợi ích của tư bản và có thái độ cộng sự với tư bản thật thân ái, những nhà tư bản sẽ không đến với chúng ta, nếu không có những điều kiện tối thiểu cho họ hoạt động và nếu không có thái độ thân ái cộng tác với họ
e) Thứ năm: Hình thức gia cồng đặt hàng kinh tiêu đại lý:
Đây là hình thức kinh tế tư bản Nhà nước trong đó Nhà nước lôi kéo các nhà tư bản làm gia công một sô' chi tiết hàng hoá, buôn bán, làm đại lý thu mua, gom hoặc tiêu thụ hàng hoá cho Nhà nước hưởng hoa hồng
111 V I L êuin toàn tập tập 45, N.xb T iến Bô M 1978, tr.196
a ) V I L ênin loàn tập lập 4 5 , N xb T iến Bộ M 1978, tr.336
Trang 27Làm như vậy chúng ta vừa liên kết trực tiếp với các nhà tư bản, đặt hàng
và giao hấng cho họ, một mặt thực hiện được sự kiểm kê, kiểm soát đối với
họ Mặt khác sử dụng sức manh của họ về kỹ thuật, tiền vốn và tài nghệ bán
hàng của họ Thông qua họ mà lôi kéo đều dắt nông dân đi theo sản xuất
XHCN
Ngoài ra Lênin còn quan niệm việc Nhà nước vô sản tiến hành kiểm kê
kiểm soát hoạt động các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, đặc biệt là
đối với kinh tế tư nhân về các mặt như: Kiểm tra khối lượng và chủng loại sản
phẩm; kiểm tra giá cả và chất lượng hàng hoá; kiểm tra thị trường tiêu thụ sản
phẩm và cung ứng tư liệu sản x u ấ t k i ể m tra lợi nhuận và mức điều tiết lợi
nhuân; chống lại việc làm hàng giả, buôn lậu và trốn thuế
Tóm lại, tuỳ trình độ xã hội hoá sản xuất, tuỳ điều kiện đặc điểm đất
nước và điều kiện quốc tế mà sử dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản Nhà
nước khác nhau Cốt lõi của mọi hình thức là ở sự tương quan lực lượng,
đường lối thể thức, thủ đoạn và phương thức ưung gian cần thiết để chuyển từ
những quan hệ tiểu tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội
1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản Nhà nước:
Chủ nghĩa rư bản Nhà nước như đã phân tích trên là sản phẩm của quá
trình xã hội hoá sản xuất Mặt khác chủ nghĩa tư bản Nhà nước là sự hỗn hợp,
sự kêt hợp hai sức mạnh tổng hợp của Nhà nước và tư nhân để phát triển
kinh tế
Do đặc điểm hình thành như thế nên chủ nghĩa tư bản Nhà nước có mặt
trong nhiều chế độ xã hội, trong chủ nghĩa tư bản, trong thế giới thứ ba và cả
trong các nước có Nhà nước chuyên chính vô sản Dưới đây chúng ta sẽ lần
lượt khảo sát quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở một số loại hình
Trang 28a) Sự phát triển chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở các nước tư bản chủ nghĩa:
ở các nước tư bản chủ nghĩa nhân tố số một để hình thành CNTB Nhà nước là tư bản tư nhân được hình thành và phát triển rất mạnh, tư bản tư nhân
trong chủ nghĩa tư bản phát triển theo nhiều quy luật, trong đó có quy luật tích
luỹ, tích tụ và tập trung Chủ nghĩa tư bản về động lực tối đa, vì quy luật tự do cạnh tranh nên càng phát triển nó, càng phải tích luỹ tiền vốn, kỹ thuật làm cho quy mô tư bản tư nhân không ngừng lớn mạnh, kết quả của tích luỹ, tích
tụ đi liền với cạnh tranh sẽ dẫn đến sự tập trung tư bản trên quy mô ngày càng lớn Nhờ tích luỹ, tích tụ và tập trung cùng với cạnh tranh cá lớn nuốt cá bé
làm cho những xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bị thôn tính, bị sát hợp bị tập trung lại thành những xí nghiệp lớn khổng lồ, thành các ten, xanh - đi - ca, tờ rớt, công - xooc-xi-cm và sau này là công gơ-lô Mê rát v.v Đúng như Lênin
đã khẳng định tích ỉuỹ, tích tụ và tập trung đến một độ nhất định tự nó dẫn thẳng tới độc quyền Trước hết là đôc quyền trong công nghiệp Sau đó do đòi
hỏi nhu cầu về vốn, sự phát triển của trình độ xã hội hoá sản xuất cũng đòi hỏi
có sự xã hội hoá vốn Nếu trước đây vốn của ai người đó dùng thì đến đây vốn
tư nhân được tập trung lại cho người khác dùng, xã hội dùng, làm xuất hiện độc quyền ngân hàng
Tiếp đó là sự xâm nhập giữa độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp hình thành độc quyền tài chính và sự thống trị của tư bản đầu sỏ tài chính, tư bản tài chính tìm mọi cách cấu kết với Bộ máy Nhà nước tư sản Bởi
vì chỉ có độc quyền tư bản tư nhân không thôi thì không giải quyết được mâu thuẫn sâu sắc giữa sản xuất ngày càng có tính xã hội hoá cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Mật khác Nhà nước tư sản chỉ là công cụ bộ máy bảo vệ lợi ích tư sản là trước hêt, do đó Nhà nước tư sản phải phu thuộc
và đi tới lệ thuộc vào các độc quyền tư sản Sự phụ thuộc đó nhằm mục đíc dùng sức mạnh của Nhà nước tư sản can thiệp vào sinh hoạt kinh tế trong ngoài nước, và bảo vệ lợi nhuận độc quyền cao trong đó cũng có sư độc tai
Trang 29của tư bản tài chính và mở rộng chính sách bành trướng đê quốc chủ nghĩa của chúng Xa hơn nữa sử dụng sức mạnh độc quyền tư nhân và sức mạnh Nhà nước tư sản để phân chia thế giới về mặt thị trường và lãnh thổ.
Như vậy có sự hỗn hợp giữa độc quyền tư bản tư nhấn với Nhà nước tư sản thành một loại hình kinh tế mới là chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước
Đó chính là chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở giai đoạn CNTB tiến đên độc quyền thống trị
Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước có các hình thức hoạt động dưới đây: Sự liên hiệp cá nhân tức là các tổ chức độc quyền lồi cuốn, thu hút, các giới chức cao cấp của Nhà nước tư sản tham gia vào các tổ chức độc quyền như Hội đồng quản trị cuả các công ty Ngược lại các nhà tư bản độc quyền cũng được tham gia các chức vụ cao cấp trong chính phủ Vậy là có sự xâm nhập, giữa Nhà nước tư sản và các độc quyền tư nhân tư bản hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước Kinh tế Nhà nước tư sản phục vụ cho lợi ích của các tổ chức độc quyền tư bản Kinh tế Nhà nước tư sản được hình thành do Nhà nước tư sản thu thuế, sở hữu các tài sản công và các đóng góp khác của toàn dân, có kinh tế công trong tay Nhà nước Nhà nước tư sản sử dụng sức mạnh đó tiến hành quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu tư bản tư nhân, quốc hữu hoá những công ty sấp phá sản làm ăn thua lổ Mục đích là để cứu nguy cho chủ nghĩa tir bản Nhà nước dùng ngân sách để hiện đại hoá đổi mới kỹ thuật, biến công ty lỗ thành lãi, sau đó lại đem bán lại cho các tập đoàn tư bản Đó là một sự quốc hữu hoá để cứu nguy và phục vụ lợi ích tư bản độc quyền tư nhân Nhà nước tư sản sử dụng ngân sách Nhà nước
để mua cổ phiếu, nắm cổ phiếu khống chế trong các công ty độc quyền tư bản
cổ phần Đó ihực sự là một công ty có sở hữu hổn hợp vừa của Nhà nước vừa của nhà lư bản tư nhân Khi trình độ xã hội hoá càng cao thì hình thức công ty
cổ phần càng phát triển và sở hữu giữa tư bàn và Nhà nước càng nhiều Nhà nước lư sản dùng sức mạnh của Nhà nước dọn đuờng cho CNTB độc quyển
Trang 30phát triển và ngược lại CNTB độc quyền càng mạnh thì sức mạnh Nhà nước
càng được tăng thêm
Chẳng hạn Nhà nước sử dụng thực lực kinh tế xây dựng kết cấu hạ tầng,
đường sá bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm thương mại v.v ở một nước khác để
cho các độc quyền tư nhân đầu tư vào mức đó Ví du Việt Nam và Mỹ đã có
sự bình thường hoá nhưng các độc quyền tư bản Mỹ còn chưa đầu tư nhiều
vào Việt Nam trong những lý do đó là vì chính phủ Mỹ chưa có quyết định
bảo hiểm thương mại đầu tư vào Việt Nam
Chính phủ tư sản cũng có thể sử dụng các công cụ kinh tế và công cụ
pháp luật để điều hành kinh tế vĩ mô kiểu học thuyết Keynes” để ổn định cho
toàn bộ nền kinh tế cho tư bản độc quyền phát triển v.v
Khi có chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước xuất hiện thì các Đảng
phái, các tổ chức độc quyền tư bản đấu tranh quyết liệt giành ghế trong quốc
hội, giành chức tước quyền hành trong các bộ máy Nhà nước v.v
b) Sự phát triển chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở các nước kinh tê dang phát triển.
Từ sự phân tích trên chúng ta thấy rõ chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà
nước ra đời do chính sự phát triển của trình độ xã hội hoá cao đòi hỏi Còn ỏ
các nước đang phát triển chủ nghĩa tư bản ra đời do chính đòi hỏi của sự phát
triển quá thấp kém của trình độ xã hội hoá CNTB tư nhân mới ở trình độ “tư
bản nhỏ” Họ vừa không đủ sức chống chọi với tư bản nước ngoài do đó họ
cần có nhà nước can thiệp, giúp sức có lợi cho họ Mặt khác chính họ cũng
không đủ sức xây dựng các kết cấu hạ tầng mà do khu vực kinh tế thuộc sở
hữu Nhà nước đảm nhận Đó cũng là lý do để xí nghiệp quốc doanh ra đời và
phát triển
Như vậy kinh tế tư bản tư nhân đòi hỏi có sự dune hợp giữa kinh tế Nhà
nước với kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển duới nhiều hình thức trong
đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước
Trang 31Hơn nữa các nước thê giới thứ ba đa sô là chính phủ tư bản dân tộc năm chính quyền Họ có yêu cầu về chính trị là độc lập dân tộc Họ vừa chống cộng sản, vừa chống ngoại bang Muốn vậy kinh tế trong nước phải mạnh phải đi theo đúng hướng yêu cầu của họ Điều đó buộc nhà nước phải có xu hướng tập hợp, liên kết lực lượng Vậy chủ nghĩa tư bản Nhà nước ở các nước kinh tế đang phát triển là một trong những hình thức hỗn hợp sức mạnh Nhà nước với sức mạnh kinh tế tư nhân tư bản hình thành xuyên quốc gia Tính đến năm 1978 thì trong 500 công ty xuyên quốc gia nằm ngoài nước Mỹ, có 34 công ty là những xí nghiệp quốc doanh của các nước đang phát triển (1)
c) Chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong điều kiện có chuyên chính
vô sản:
Khi đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền và thiết lập Nhà nưóc Chuyên chính Vô sản thì cùng xuất hiện một kiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước chưa hề có trong lịch sử Như vậy Nhà nước mới, nhà nước của dân, do dân và vì dân đã làm cho chủ nghĩa tư bản Nhà nước mang một nội dung mới và có một vai trò mới Nhưng tại sao nhà nước của dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo lại sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước hay nói cách khác chỉ nghĩa tư bản Nhà nước có cần thiết đối với Nhà nước chuyên chính vô sản hay không?
Như chúng ta đã biết cách mạng vô sản không nổ ra và thắng lợi ở các nước tư bản phát triển, nơi đã có chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước, có
“phòng chờ” đầy đủ để bước sang chủ nghĩa xã hội Trong thực tế cách mạng
vô sản lại nổ ta và thắng lợi ở một nước lạc hậu, kinh tế tiểu nông chiếm đại
bộ phận Do đó cái thiếu thốn nhất của Nhà nước vô sản là chưa có một lực lượng sản xuất phát triển, thiếu một cơ sở vật chất kỹ thuật cao, thiếu trình độ
xã hội hoá cao Muốn tạo ra “phòng chờ” để từ đó vào chủ nghĩa xã hội thì phải biết mượn bàn tay của người khác, bàn tay tư bản để xây dựng “phòng
° ’ M ấy vấn dề C N TB N N N.xh Chính trị quóc gia H l 995, tr 13
Trang 32chờ” đó Lênin cho rằng khi nước Nga ra khỏi nội chiến đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện “như một người đã bị đánh gần chết” (1)
Ấy thế mà vội vàng nói đến chủ nghĩa cộng sản Lênin viết: “Chủ nghĩa cộng sản” ở nước ta quá vội vàng, thẳng tuột, không được chuẩn bị” (2) Lênin cho ràng trong điều kiện đó: “chủ nghĩa tu bản Nhà nước là một sự cứu nguy đối với chúng ta” (3) chủ nghĩa tư bản Nhà nước không đáng sợ mà đáng mong đợi” (4)
Đó là một trong những lý do để chủ nghĩa tư bản Nhà nước ra đời trong điều kiện có chuyên chính vô sản
Mặt khác đối với một đất nước có nền kinh tế tiểu nông là chủ yếu, nền sản xuất còn thấp kém, lạc hậu khi nhà nước vô sản được xác lập từ mục tiêu chính trị số một là phải chống nạn đói, chống tình trạng khan hiếm hàng hoá, tạo động lực cho nền kinh tế phát triển
Lênin cho rằng vì mục đích phát triển ngay lập tức lực lượng sản xuất
xã hội, có thể sử dụng cả chủ nghĩa tư bản tư nhân chứ chưa nói gì đến CNTB Nhà nước Có như vậy mới tăng vốn cho ngân sách Nhà nước có điều kiện tích luỹ trực tiếp để phát triển cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội
Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bước tiến to lớn
đủ cho chúng ta phải trả một khoản lớn hiện nay Bởi vì trả “học p h f’ là việc đáng giá, vì cái đó cớ lợi cho công nhân, vì việc để chiến thắng tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo vô chính phủ của những kẻ tiểu tư hữu tiếp tục tồn tại là một nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất, nó
sẽ làm cho chúng ta diệt vọng, nếu chúng ta không chiến thắng có một cách dứt khoát còn trả một khoảng lớn hơn cho chủ nghĩa tư bản Nhà nước thì điều
ấy không những không làm cho chúng ta diệt vong, trái lại sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường chắc chắn n h ấ t(5) Trong thực tế chấp
111 V I L êiiin loàn tập, tặp 43 N x b T iến Bỏ M 1978, lr.8 1
V I L êiũn toàn tập lặp 43, N x b T iế n Bộ M 1978, tr.445
<3) V I L êu in toàn lập, tập 43, N xb T iến Bộ M 1978, tr.311
,41 V I L ẻu in toàn tập, tâp 43, N x b T iến Bộ M 1978, tr.462
151 V I L ên in loàn tập, tập 43, N x b T iến Bộ M 1978, tr.201
Trang 33nhận cho chủ nghĩa tư bản Nhà nước phát triển có nghĩa là chấp nhận phát triển kinh tế thị trường, tự do thương mại coi đó là chiếc cầu để đi lên CNXH Nền kinh tế tiểu nống được tự do thương mại có khả năng tự phát đi lên CNTB.
Nhưng nếu chúng ta ngăn cấm họ là “dại dột” “tự sát” chỉ có một con đường duy nhất là hướng họ vào chủ nghĩa tư bản Nhà nước Lênin nói: Cách làm thứ nhất là “dại dột và tự sát” cách làm thứ hai là khôn ngoan và cần thiết đồng thời có thể thực hiện được nhờ vào lợi ích vật c h ấ t(1)
Trước đay chúng ta cho rằng có thể phát triển sản xuất đẻ tiến thẳng lên CNXH bằng phương pháp trực tiếp không cần đến kinh tế hầng hoá tiền tệ
Ngày nay thực tế đã chỉ rõ muốn phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất của nền kinh tế tiểu nông thì phải đi con đường vòng, gián tiếp thông qua kinh tế hàng hoá và tiền tệ
Như vậy do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế xã hội và tính thời đại làm nhà nước vô sản cũng cần đến “CNTBNN” để làm con đườne trung gian quá độ lên CNXH Chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong điều kiện chuyên chính
vô sản là sự liên minh kinh tế giữa Nhà nước của giai cấp vô sản với giai cấp
tư sản, nó bị điều tiết bởi Nhà nước của giai cấp vô sản và phuc vu cho giai cấp vô sản Hay nói cách khác CNTBTN trong điều kiện chuyên chính vô sản chỉ là một kiểu kinh tế quá độ “bắc những chiếc cầu nhỏ” lên CNXH chứ không phải phục vụ lợi ích của CNTB
ở Liên Xô từ năm 1921 đến năm 1924 nhờ áp đụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước đã mang lại cho nước Nga Xô Viết những kết quả nhất định, góp phần khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh Nhờ tô nhượng với nước ngoài nhiều ngành công nghiệp quan trọng, đặc biệt là khai thác dầu đã phát triển khá mạnh Những kinh nghiệm tiên tiến, với kỹ thuật và thiết bị hiện đại của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa đã được sử dụng vào quá trình sản xuất đưa lại những kết quả cao Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần
(1) L ẽa in toàn tập N X B T iến bộ M atxcova 1978 t-43, tr251-252
Trang 34sản xuất hàng hoá, tăng thêm dự trữ ngoại tộ cho đất nước, mở rộng quan hệ liên kết kính tế, liên doanh trong các lĩnh vực đầu tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với các nước tư bản phương Táy Thông qua các hoạt động của các công ty hợp doanh, những người cộng sản Nga còn học được cách buôn bán từ những nhà tư bản Hoạt động cùng các xí nghiệp cho thuê, các xí nghiệp hỗn hợp đã góp phẩn giúp Nhà nước Xô viết duy trì sự hoạt động sản xuất binh thường ở các cơ sở kinh tế, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc làm cho người lao động Hình thức đại lý thương nghiệp và các hợp lác xã tư bản chủ nghĩa trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ đã góp phần quan ữọng trong viẹc hỗ trợ thương nghiệp XHCN, đẩy nhanh quá trình trao đổi và lưu thông hàng hoá tiền tệ làm khởi sắc nền sản xuất hàng hoá nhỏ, qua đó tạo điều kiện cải biến những người tiểu nông, tạo ra mối quan hệ trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp nối liền thành thị và nông thôn.
Những kết quả ấy có ý nghĩa rất lớn đối với nước Nga Xô Viết tạo điều kiện để phát triển kinh tế sau chiến tranh, cố nhiên so với sự mong muốn và mục tiêu ban đầu đặt ra thì kết quả thực hành chủ nghĩa tư bản nhà nước vẫn còn thấp Nguyên nhân chủ yếu là nước Nga bị bao vây về kinh tế và chính trị, chủ nghĩa tư bản đế quốc tìm mọi cách để bóp chết chính quyền Xô Viết non trẻ Vì thế sự hợp tác, sự đầu tư của tư bản nước ngoài vào Liên Xô không đạt được theo sự mong muốn Qua tài liệu và sự đánh giá trong những nãm 1923 -
1924 tỷ trọng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong tổng sản phẩm của cả nước chỉ chiếm có 1% Nãm 1923 các xí nghiệp tô nhượng mới sản xuất được khối lượng sản phẩm trị giá 35,1 triệu rúp Tuy nhiên, kết quả lớn nhất là nhờ chính sách kinh tế mới trong đó áp dụng CNTBNN là cốt lõi, mà chính quyền
Xô Viết đã giữ đựoc những vị trí vững chắc trong nông nghiệp và có khă năng tiến lên được Nông dân vừa lòng, công nghiệp cũng như Ihương nghiệp đang hồi sinh và phát triển (I)
m M ấy vấn dề vổ chù nghĩa tư bàn N hà nước N X B Chính tiị Q uốc gia - Hà N ộ i.1995, tr 52
Trang 35Ngoài nước Nga Xô Viết sau chiến tranh thế giới lần thứ hai một số nước đán chủ nhấn dân cũng đã thực hiện CNTB Nhà nước như một giải pháp nhằm tải tạo hoà bình giai cấp tư sản như: Cộng hoà dán chủ Đức, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Trong thời đại ngày nay Trung Quốc là nước thu được nhiều thành tựu
to lớn trong việc vận dụng CNTBTN Những hình thức chủ yếu CNTBTN ở Trung Quốc đã thực hiện:
Hình thức cổ phần hoá xí nghiệp quốc doanh thành công tự cổ phần của người đầu tư Đây là hình thức Nhà nước chuyển sở hữu quốc doanh thành sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước và tư bản với hình thức đó nó đã cứu nguy cho sự thua lỗ, phá sản của các xí nghiệp quốc doanh Theo sự tính toán đến cuối năm 1994 Trung Quốc có 260.000 xí nghiệp quốc doanh lỗ 88,3 tỷ nhân dân
lệ bằng 10,6tỷ USD Nhưng đến cuối năm 1994 Trung Quốc thành lập dược11.500 công ty cổ phần sở hữu hỗn hợp Trong các công ty cổ phần Nhà nước chỉ giữa 40% cổ phần nhưng vẫn chi phối được các hoạt động sản xuất kinh doanh Trung Quốc mở rộng liên doanh với nước ngoài Hiện nay Trung Quốc đứng đầu châu Á về thu hút vốn đầu tư nước ngoài Liên doanh để phục hồi tư bản trong nước để có hợp lực mạnh liên doanh với nước ngoài Hình thức khu chế xuất 100% vốn nước ngoài Hình thức đặc khu kinh tế có đặc khu đã tăng GDP 50% hàng nãm Có vùng như Thẩm Quyến trước kia là một địa phương nghèo chỉ có 2,6 vạn dân, này nay đã trở thành vùng giàu có 3-4 triệu dân, kinh tế phát triển sản xuất một số mặt hàng đứng thứ hai trong cả nước Ngoài
ra Trung Quốc còn có các hình thức khác như: Khu công nghiệp tập trung, khu công nghê cao v.v
Tóm lại, từ sự phân tích trên có thể nói: trong diều kiện ở các nước có chuyên chính vô sản chúng ta rút ra những kết luận sau: Trong điều kiện sản xuất nhỏ, lac hậu rất cần thiết có CN TBTN để phát huy sức mạnh tổne hợp của tư bản về Nhà nước Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng không phải
là ảo tưởng mà là một quá trình tất yếu tự nhiên từ chủ nghĩa lư bản độc quyền Nhà nước lên chủ nghĩã xã liội, muốn vậy phải biết mượn bàn tay tư bản để