Khó khăn: Bên cạnh những mặt thuận lợi như trên, ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây cũng đang phải đối đầu với không ít khó khăn thử thách mà cụ thể là: - Nhu cầu đòi hỏi về vốn đầu tư
Trang 1Ban giám đốc
Phòng Phòng tín dụng 1 Phòng tín dụng 2 Phòng kế toán tài chính Phòng kiểm soát nội bộ Phòng huy động (các bàn giao dịch) Phòng tổ chức hành Khu vực Sơn Tây ( phòng chức năng) chính
THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HÀ TÂY
I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN HÀ TÂY:
Ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây là một trong những chi nhánh củangân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam Tiền thân của nó là phòng đầu tư và
phát triển Hà Sơn Bình được thành lập ngày 1-6-1991 Cũng giống như các chi
nhánh khác trực thuộc ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam, toàn bộ hệ
thống ngân hàng Đầu tư & phát triển bên cạnh việc kinh doanh tổng hợp như
những ngân hàng thương mại khác còn tham gia vào cho vay đầu tư phát triển
theo kế hoạch Nhà nước đề ra Chính vì vậy, để đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển không chỉ căn cứ vào lợi nhuận
mà còn phải căn cứ vào các đóng góp của nó thông qua việc cho vay đầu tư
phát triển đối với kinh tế địa phương Kể từ năm 1999 đến nay, ngân hàng Đầu
tư & phát triển Hà Tây đã cho vay trên dự án đầu tư với tổng số vốn là 389.968
triệu đồng Hầu hết các dự án đầu tư do ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây
cho vay đều đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Điển hình trong những dự án phát huy hiệu quả tốt có các dự án
của công ty xi măng Tiên Sơn, công ty thực phẩm Hà Tây, nhà máy cơ khí Sơn
Tây, công ty du lịch Ao Vua
I.1 Mô hình tổ chức của ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây:
Ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây có bộ máy gọn nhẹ, tinh giảmnhìn chung đủ các phòng ban cần thiết đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ và
chức năng của mình
Hiện nay tổng số cán bộ công nhân viên của ngân hàng Đầu tư & pháttriển Hà Tây là 85 người, trong đó bao gồm một chi nhánh trực thuộc và tám
phòng nghiệp vụ, hai phòng giao dịch với các bàn tiết kiệm ở thị xã Hà Đông
và thị xã Sơn Tây Trụ sở chính của ngân hàng đóng tại 197 đường Quang
Trung - thị xã Hà Đông - tỉnh Hà Tây Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Đầu tư &
phát triển Hà Tây như sau:
1
Trang 2I.2 Những thuận lợi và khó khăn hiện nay đối với ngân hàng Đầu tư
& phát triển Hà Tây:
I.2.1 Thuận lợi:
- Trung tâm giao dịch thanh toán của ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà
Tây nằm ở thị xã Hà Đông gần sát thủ đô Hà Nội - một trung tâm kinh tế, chínhtrị, văn hoá của cả nước Đây là môi trường rất thuận lợi cho ngân hàng hoànhập với nhịp điệu và cơ chế mới trong hoạt động kinh doanh của cả nước đồngthời dễ dàng trang bị cho mình những thiết bị công nghệ mới, học hỏi đượcnhiều kinh nghiệm quản lý kinh doanh cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho cácđơn vị bạn đến giao dịch tại hội sở Cũng do gần trung ương nên ngân hàngluôn nhận được sự chỉ đạo sát sao và chặt chẽ của cấp chủ quản
- Ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây là đơn vị thành viên của một
ngân hàng thương mại quốc doanh lớn và có truyền thống lâu đời, ngân hàng
có thể học hỏi, tiếp nhận những kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng, đặcbiệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngân hàng Đầu tư & phát triển
Hà Tây có trình độ tương đối cao, phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình với côngviệc Tính đến thời điểm 31-12-2001 trong số 85 cán bộ công nhân viên củangân hàng thì trên 60% là có trình độ đại học
I.2.2 Khó khăn:
Bên cạnh những mặt thuận lợi như trên, ngân hàng Đầu tư & phát triển
Hà Tây cũng đang phải đối đầu với không ít khó khăn thử thách mà cụ thể là:
- Nhu cầu đòi hỏi về vốn đầu tư để tăng trưởng phát triển kinh tế rất lớn
nhưng việc chuẩn bị được các dự án khả thi còn ít; doanh nghiệp yêu cầu vốnvay trong thời gian dài, lãi suất thấp nhưng việc huy động vốn trung - dài hạnlại gặp nhiều khó khăn Để huy động được nguồn vốn đó thì phải đảm bảo lợiích cho người gửi tiền (lãi suất phải cao hơn lãi suất tiền gửi ngắn hạn) Huy
Trang 3động dài hạn với lãi suất cao nhưng cho vay đầu tư với lãi suất cao thì doanhnghiệp lại không chấp nhận Đây là một khó khăn thử thách rất lớn đối vớingân hàng để giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong phục vụ đầu tư pháttriển.
- Ngân hàng hoạt động sát bên địa bàn Hà Nội, do vậy chịu sự cạnh tranh
rất mạnh mẽ từ phía các ngân hàng thương mại khác cả về nội dung hoạt độngcũng như nguồn nhân lực
- Tình hình kinh tế nước ta nói chung và tỉnh Hà Tây nói riêng vẫn đang gặp
phải những khó khăn thử thách hết sức gay gắt, tình hình sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụchậm Điều này ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cũng như vay ngân hàng để đầu tư
- Từ năm 1980 đến 1996 ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây luôn có
sự biến động về mô hình tổ chức, tách ra rồi lại sát nhập nhiều lần Điều nàygây tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của đội ngũ cán bộ nhân viênngân hàng cũng như tác động không tốt đến các khách hàng có quan hệ thườngxuyên với chi nhánh
- Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây nhìn chung còn ở quy mô
nhỏ bé, thiếu dự án hiệu quả để đầu tư
- Hệ thống pháp luật, chính sách còn nhiều bất cập, cụ thể là cơ chế chính sách
về đầu tư phát triển và tiền tệ tín dụng còn thiếu đồng bộ, chế độ về đầu tư xây dựng cơbản bị sửa đổi bổ xung nhiều lần gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng
Nhận thức được những khó khăn và thuận lợi của mình, ngân hàng Đầu tư
& phát triển Hà Tây đã đề ra nhiều biện pháp để thực hiện tốt kinh doanh như tạođiều kiện thuận lợi ở mức có thể tối đa cho khách hàng, có ưu tiên đặc biệt đối vớicác khách hàng truyền thống của mình, mở rộng cho vay đối với các khách hàngngoài quốc doanh, đổi mới phong cách phục vụ Mặt khác chi nhánh luôn bámsát định hướng phát triển của ngành, thực hiện nghiêm túc các quy định, quy tắc,nghiệp vụ của ngành và thận trọng trong ký duyệt cho vay để đề phòng rủi rotrong cơ chế thị trường, phục vụ tốt hơn công tác đầu tư phát triển
Trang 4II THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
& PHÁT TRIỂN HÀ TÂY.
II.1 Thực trạng tình hình huy động vốn và sử dụng vốn nói chung của Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây.
Hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn là hai vấn đề khôngthể rời nhau, sử dụng vốn là cơ sở và động lực cho công tác huy động vốn vàhuy động vốn lại thúc đẩy sự mở rộng, phát triển việc sử dụng vốn Vì vậy,ngân hàng trong quá trình hoạt động của mình luôn cố gắng thực hiện tốt hơncông tác huy động vốn nhằm đáp ứng cho việc sử dụng vốn
Việc huy động vốn phải dựa trên kết quả xác định nhu cầu vốn và thựchiện đáp ứng yêu cầu đó Tuy nhiên trong phần sử dụng vốn thì việc sử dụngvốn sao cho có hiệu quả và có lợi cho ngân hàng và nền kinh tế Ví dụ việc chovay vốn đầu tư tại ngân hàng không chỉ sử dụng nguồn vốn huy động có thờihạn dài cho đầu tư mà còn sử dụng vốn ngắn hạn, việc đó là đúng theo quyđịnh của nhà nước ( được phép lấy 20% vốn ngắn hạn cho vay đầu tư ).Đây chỉ
là giải pháp tình thế nhằm tạo vốn cho nền kinh tế của nước ta trong giai đoạnhiện nay vậy huy động vốn và sử dụng vốn như thế nào là hợp lí để vừa đảmbảo an toàn và hiệu quả đối với ngân hàng Bởi nếu sự cân đối giữa huy động
và cho vay không tốt sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng
Đối với ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây để thấy rõ mối quan hệgiữa huy động và cho vay nói chung được thể hiện qua Bảng 1
Trang 5Bảng 1: Thực trạng huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Đầu tư
& Phát triển Hà Tây
Đơn vị: Triệu đồng
NĂM
CHỈ TIÊU
Giá trị trọngTỷ Giá trị trọngTỷ Giá trị Tỷ trọng
I Huy động vốn 234.729 100% 339.785 100% 386.961 100%
1 Vốn huy động ngắn hạn 126.854 54% 242.232 71% 295.321 76%
2 Vốn huy động trung và dài hạn 69.013 29% 61.203 18% 58.369 15%
3 Vốn tài trợ uỷ thác đầu tư 38.862 17% 36.35 11% 33.279 9%
II Sử dụng vốn 207.025 100% 239.944 100% 286.529 100%
1 Cho vay ngắn hạn 91.884 44% 134.123 56% 181.214 64%
2 Cho vay trung và dài hạn 74.879 36% 75.608 32% 78.456 27%
3 Tài trợ uỷ thác đầu tư 40.262 20% 30.213 12% 28.859 9%III Phần chênh lệch giữa
cho vay và huy động trung
và dài hạn và tài trợ
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây.
Biểu đồ tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của NHĐT và PT Hà Tây
Trang 6Theo số liệu bảng 1 ta thấy, nguồn vốn huy động của ngân hàng Đầu tư &Phát triển Hà Tây tăng lên rõ rệt, năm 2000 nguồn vốn huy động được 339.785triệu tăng ( 44,7%) so với năm 1999( 234.729 triệu) và năm 2001 đạt 386.916triệu đồng tăng 13,9% so với năm 2000 Tuy nhiên tỷ trọng vốn trung và dàihạn so với tổng nguồn lại giảm, cụ thể qua ba năm 1999 – 2001 tưng ứng là29%,18%,15% Về số tuyệt đối năm 2000 là 61.203 triệu đến năm 2001 chỉ còn58.369 triệu Điều này cho thấy việc nguồn vốn tăng mạnh là do sự tăng lên củanguồn vốn huy động ngắn hạn Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngânhàng thương mại khác trong những năm gần đây, là thừa nhiều vốn ngắn hạn
từ huy động, gây nên tình trạng “ ứ đọng vốn ngắn hạn” song lại thiếu vốntrung và dài hạn cho đầu tư của nền kinh tế
Tiếp theo ta thấy tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong cơ cấu sử dụngvốn của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây có su hướng giảm, ,Năm 1999
tỷ lệ này là 36%, đến năm 2000 và năm 2001 tỷ lệ này còn tương ứng là 32%
và 27% Mặc dù tổng cho vay trung và dài hạn của ngân hàng từ năm 1999đến năm 2001 có sự tăng về giá trị tuyệt đối từ năm 1999 đến năm 2001 có giátrị tương ứng là 74.879 triệu đồng, 75.608 triệu đồng và 78.456 triệu đồng.nhưng ta thấy mức tăng này chưa đáng kể và tương xứng với ngân hàng đầu
tư một ngân hàng có nhiệm vụ chủ yếu là cho vay trung và dài hạn cho các dự
án đầu tư Mặt khác nếu xét riêng tốc độ tăng trưởng các khoản cho vay trung
và dài hạn ta thấy rằng từ năm 1999 đến năm 2001 cũng đã có sự tăng trưởngnhưng tỷ lệ tăng trưởng không cao cụ thể tốc độ tăng trưởng của nguồn nàytương ứng là 0,9%, 3,76%.Điều đó cho thấy việc cho vay trung và dài hạncũng gặp nhiều khó khăn , một phần có thể về phía khách hàng không giámvay do làm ăn không hiệu quả về phía ngân hàng có thể không cho vay được
vì các dự án đưa ra có thể không mang tính khả thi, hay ngân hàng không thểhuy động được nhiều nguồn vốn này
Xem xét mối quan hệ giữa huy động và cho vay trung và dài hạn và tàitrợ cho đầu tư phát triển ta thấy trong 3 năm từ 1999 đến năm 2001 số dưphần chênh lệch này kết âm tương ứng là( -7.266, -8.268,-14.841 triệu đồng.) Như vậy ta thấy nguồn vốn trung và dài hạn và tài trợ uỷ thác đầu tư củangân hàng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển Mặt khác cũngnhìn vào tỷ lệ âm này ta thấy ngân hàng đã có một sự cân đối trong cho vayngắn hạn để lấy một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn cho đầu
tư phát triển, theo đúng chỉ thị 12/CT-NH của ngân hàng nhà nước Đây là
Trang 7một giải pháp tình thế ngân hàng nhà nước cho phép các ngân hàng thươngmại được phép lấy 20% vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạnđáp ứng nhu cầu vốn cho nền tế trong điều kiện các ngân hàng thương mạiđang thừa vốn ngắn hạn Do vậy dự nợ cho vay trung và dài hạn của ngânhàng lớn hơn mức huy động trung và dài hạn và tài trợ uỷ thách đầu tư.Tuynhiên ngân hàng sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạncác dự án đầu tư sẽ làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Do vây nếukhai thác được có hiệu quả nguồn vốn có thời gian dài hơn nữa thì ngân hàng
sẽ có thể cho vay đầu tư phát triển nhiều hơn nữa
Trong tương lai , theo xu hướng chung thì công tác huy động vốn có thờigian dài cho đầu tư phát triển sẽ đựơc chú trọng, bởi nhu cầu về nguồn vốn cóthời gian dài trong các doanh nghiệp đang có đòi hỏi rất lớn do các doanhnghiệp có nhu cầu đổi mới các trang thiết bị , xây dựng mới các nhà xưởng
để nâng cao trình độ sản xuất phù hợp với nền kinh tế hiện nay Do vậy ngânhàng cần phải đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và cần đảm bảo an toàn
và hiệu quả Mặt khác đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải nỗ lực phấn đấu đểlàm ăn hiệu quả và có thể đảm bảo chi trả đúng hạn cho các khoản nợ củangân hàng Có như vậy ngân hàng mới tồn tại và phát triển được
Tóm lại : Việc cân đối giữa huy động nguồn và sử dụng vốn nói chung và
vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng là rất khó cho sự đảm bảo an toàncho ngân hàng Do vậy đòi hỏi ngân hàng phải đề ra đựoc những giải pháphưu hiệu trong cả huy động vốn và sử dụng vốn nhằm phục vụ tốt hơn chođầu tư phát triển Để thấy rõ hơn và đề ra những giải pháp cho huy động vốn
và sử dụng vốn cho đầu tư và phát triển đòi hỏi ta phải xem xét cụ thể thựctrạng tình hình huy động vốn và sử dụng vốn cho đầu tư và phát triển củangân hàng
II.2 THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG.
II.2.1 Thực trạng về huy động vốn.
Như phần trên đã đề cập, việc huy động vốn cho đầu tư phát triển của ngânhàng thường phải là những nguồn vốn có thời gian tương đối dài ít nhất là mộtnăm hay còn gọi là vốn trung và dài hạn Đối với ngân hàng đầu tư phát triểnvới mục đích chủ yếu phục vụ cho đầu tư phát triển thì nguồn vốn này đóngmột vai trò quan trọng đối với ngân hàng Thực tế trong những năm qua nguồn
Trang 8vốn có thời gian dài cho đầu tư phát triển của ngân hàng cũng có nhiều thay đổi, ảnh hưởng đến chi phí huy động và và hiệu quả của ngân hàng
Hiện nay vốn dành cho đầu tư của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây gồm
có 4 nguồn vốn chính sau: nguồn đi vay ngân hàng đầu tư phát triển TW, nguồn huyđộng bằng kỳ phiếu và trái phiếu, nguồn tài trợ uỷ thác đầu tư, nguồn huy động củacác tổ chức kinh tế và dân cư > 1năm Cụ thể của các nguồn này được thể hiện
Bảng 2: Thực trạng huy động vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây :
Đơn vị: triệu đồng
NămChỉ tiêu
Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
1 Vay ngân hàng ĐT&
NhËn tµi trî uû th¸c §T
TiÒn göi TCKT, d©n c (>12 th¸ng)
Trang 9- Đối với nguồn vay từ ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Theo bảng trên ta thấy khoản đi vay trung và dài hạn cho đầu tư củangân hàng đầu tư và phát triển TW qua các năm xét về mặt giá trị có phần tănggiảm chút ít trong các năm Từ năm 1999- 2001 tương ứng là 38.222(32%)triệu đồng, 35.471(36%) triệu đồng, 36.213(39%) triệu đồng, điều này cho thấyngân hàng đầu tư phát triển Việt nam vẫn đang là một cơ quan chủ quản cungcấp một phần vốn cho đầu tư phát triển của chi nhánh Nhưng đây là nguồn cóchi phí cao , ngân hàng chỉ sử dụng trong trường hợp thiếu vốn do vậy su hứngchung là nên giảm nguồn này cả về số tuyệt đối và số tương đối
Nếu xét chung cả cơ cấu vốn vay từ nguồn vay ngân hàng đầu tư vàphát triển Việt Nam thì tỷ trọng vốn vay trung và dài hạn cho đầu tư phát triểnchiếm chủ yếu trong tổng nguồn vốn vay còn nguồn vốn vay ngắn hạn củangân hàng đầu tư phát triển Việt Nam chỉ chiếm một phần nhỏ Điều này là tấtyếu bởi ngân hàng đầu tư phát triển mục tiêu chủ yếu là phục vụ đầu tư và pháttriển nên nguồn vay này tăng
Tóm lại: Ngân hàng sử dụng hình thức này để đáp ứng nhu cầu về vốn
cho đầu tư phát triển của mình trong trường hợp huy động nguồn vốn có thờigian dài cho đầu tư phát triển còn thiếu Tuy nhiên nếu ngân hàng sử dụnghình thức này nhiều khi không có hiệu quả bằng hình thức tự huy động do lãisuất trả cho hình thức này cao hơn hình thức tự huy động Do vậy, để có thểđáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển và đem lại hiệu quả cho ngânhàng thì đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng tốt các biện pháp tự huy động khácnhư phát hành kỳ phiếu và trái phiếu cho đầu tư và huy động từ dân cư và các
tổ chức kinh tế cùng các nguồn khác
- Huy động kỳ phiếu và trái phiếu:
Kỳ phiếu và trái phiếu là hai công cụ quan trọng và có hiệu quả để huyđộng vốn cho đầu tư và phát triển Do vậy trong những năm qua và những nămtới ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây vẫn và sẽ sử dụng công cụ này mộtcách hữu hiệu để huy động vốn cho đầu tư và phát triển
Trang 10Hình thức huy động vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng bằng kỳphiếu và trái phiếu đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1995 Nhưng mãi đếnnăm 1999 hình thức này mới chú trọng cho công tác huy động vốn của ngânhàng Hiện nay hai công cụ này đang là phương tiện quan trọng cho công táchuy động vốn của ngân hàng nhằm giảm tính phụ thuộc nguồn vốn cho đầu tư
và phát triển từ ngân hàng đầu tư và phát triển trung ương Theo số liệu bảng 2
ta thấy nguồn vốn huy động bằng kì phiếu và trái phiếu cho đầu tư và phát triểncủa ngân hàng đã được tăng lên trong các năm cụ thể năm 1999 là 12.422(12%)triệu đồng, thì năm 2000 là14.689 (15%) triệu đồng, và đến năm 2001 tăng lên14.892(16%) triệu đồng
Tuy nhiên, đối với kỳ phiếu và trái phiếu do thời gian đáo hạn tương đốidài nên tuy lãi suất của kỳ phiếu và trái phiếu có thể cao hơn lãi suất của tiềngửi tiết kiệm nên rủi ro và bất tiện cho người mua kỳ phiếu và trái phiếu là rấtlớn do hiện nay lãi suất trên thị trừng luôn biến động , và khi cần tiền mặt họmuốn chuyển từ kỳ phiếu và trái phiếu sang tiền mặt sẽ gặp nhiều khó khăn
Do vậy để tăng cường khả năng huy động nguồn này đòi hỏi ngân hàng phải cónhững giải pháp thích hợp tạo điều kiện cho khách hàng
Tóm lại: Nguồn vốn huy động bằng kỳ phiếu và trái phiếu để tạo vốn cho
đầu tư và phát triển của ngân hàng là quan trọng, và đóng vai trò chủ chốt nhằmtạo tính chủ động cho ngân hàng, phát huy nội lực của bản thân ngân hàngtrong phục vụ cho đầu tư và phát triển Hy vọng rằng với đường lối, chiến lượchuy động đúng đắn, chính sách và giải pháp cụ thể phù hợp với tình hình vàkhả năng thì ngân hàng sẽ đạt được mức cao hơn về kỳ phiếu và trái phiếu
- Nhận tài trợ uỷ thác đầu tư:
Cũng qua số liệu của bảng 2 , ta thấy nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư có
số vốn giảm đi qua các năm về số tuyệt đối Cụ thể năm 1999 là 38.862 triệuđồng, năm 2000 là 36.350 triệu đồng và năm 2001 là 33.271 triệu đồng Đây lànguồn vốn cung cấp vốn đầu tư trung và dài hạn cho đầu tư có chi phí thấp dongân hàng chỉ làm đại lí cho nên không lo đầu ra và đầu vào của nguồn vốn,cũng không phải trả lãi cho người gửi mà được nhận một khoản phí từ công tácnày Tuy nhiên hiện nay nguồn này đang có xu hướng giảm đi vì hiện naykhông chỉ có ngân hàng làm đại lí thanh toán và tài trợ uỷ thác đầu tư mà có rấtnhiều ngân hàng và các tổ chức khác được tham gia nhận vốn uỷ thác, thựchiện việc giải ngân thu nợ các dự án đầu tư tài trợ Và hiện nay theo chủ trương
Trang 11của nhà nước thì vốn tài trợ uỷ thác này được chuyển cho quỹ hỗ trợ phát triểnđảm nhiệm.
- Nguồn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư cho đầu tư phát triển.
Tổ chức kinh tế và dân cư là hai nguồn vốn lớn để ngân hàng có thể huyđộng vốn Nhưng thực tế tiền giử của các nguồn này có thời gian dài lớn hơn 1năm là rất thấp Cụ thể năm năm 1999 đến năm 2001 nguồn này giảm đáng kể
cả về số tuyệt đối và số tương đối tương ứng là.18.369 triệu đồng ( tương ứng17%), 11.043 triệu đồng(12%), 7.264 triệu đồng(9%) Sở dĩ có vấn đề này là dotrong những năm gần đây nhà nước luôn cắt giảm lãi suất để kích thích đầu tưcủa các doanh nghiệp do vậy tiền gửi của các doanh nghiệp giảm xuống Mặtkhác người dân không ưa thích giửi tiền tiết kiệm có thời gan tương đối dài do
họ sợ rủi ro do có các biến động về lãi suất,lạm phát hoặc khi họ muốn rútkhoản tiền này ra sử dụng cho việc gì đó sẽ gặp khó khăn
Tóm lại: Để có thể gia tăng được nguồn vốn huy động cho đầu tư và phát
triển đáp ứng nhu cầu cho tăng trưởng và phát triển kinh tế thì đòi hỏi phải có
sự nỗ lực phấn đấu của bản thân ngân hàng để đưa ra được các giải pháp hữuhiệu cho huy động vốn Để có thể đưa ra được các giải pháp huy động cho đầu
tư phát triển của ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tây ta cần xem xét thêmcác nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn cho đầu tư và phát triển củangân hàng
II.2.2 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây
a Các chính sách huy động.
Một trong những yếu tố chủ yếu hấp dẫn khách hàng của ngân hàng Đầu
tư & Phát triển Hà Tây là sự đa dạng hoá của các hình thức huy động với nhiềuloại kỳ hạn khác nhau như tiền gửi và tiền tiết kiệm các loại , kỳ phiếu cácloại :3,6,9,12,24, tháng với lãi suất trả trước và lãi suất trả sau Huy động bằngVNĐ và ngoại tệ Với các hình thức huy động này, ngân hàng vừa đáp ứngđược nhu cầu của nhiều tầng lớp khách hàng, vừa theo kịp và vượt các đối thủcạnh tranh trong việc thu hút khách hàng Đặc biệt trong những năm vừa quangân hàng đã huy động được các đợt kỳ phiếu và trái phiếu lớn có thời giantương đối dài như 1,2,3,4,5 năm Hình thức huy động của ngân hàng đã thu hútđược sự quan tâm của nhiều khách hàng giúp ngân hàng tăng được nguồn vốnhuy động của mình
b Nhân tố lãi suất huy động.
Trang 12Sau khi xây dựng một chiến lược vốn phù hợp và bắt đầu tiến hành huyđộng vốn thì lúc này lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn
và cơ cấu huy động vốn của ngân hàng vì mục đích lớn nhất của người giửi tiền
là hưởng lãi suất lãi xuất càng cao thì lượng vốn huy động vào càng nhiều, vàlãi suất của các nguồn khác nhau có mức lãi suất khác nhau thì lượng tiền gửivào khác nhau Do vậy chính sách lãi suất luôn được sử dụng mềm dẻo, thườngxuyên được điều chỉnh cho phù hợp qua các thời kỳ và các kỳ hạn Để xem xétnhân tố lãi xuất ảnh hưởng đến huy động ta xem xét bảng sau:
Bảng 2 Lãi suất trái phiếu của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây :
là 12.422 triệu đồng thì đến năm 2000 tăng lên là 14.689 triệu đồng và đến năm
2001 lãi suất vẫn dữ nguyên như cũ do vây khối lượng vốn huy động đượckhông có sự biến động đáng kể so với năm 2000 ( năm 2001 là 14.892 triệu)
c Các hình thức tiếp thị cho huy động vốn của ngân hàng.
Công tác quảng cáo tiếp thị có tác động rất lớn đến hoạt động huy độngvốn và sử dụng vốn của ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng Đầu tư & Phát triển
Hà Tây trong thời gian qua Nhờ đẩy mạnh công tác này ngân hàng đã gópphần tăng đáng kể nguồn vốn huy động qua các năm như đã phân tích
Như vậy, qua phân tích ở trên ta có thể nhận thấy công tác huy động vốn
đã đạt được những thành tựu đáng kể đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.Tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều hạn chế đòi hỏi ngân hàng Đầu tư &Phát triển Hà Tây cần phải có được các giải pháp hữu hiệu cho công tác này
II.3 Tình hình sử dụng vốn và đánh giá tình hình sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây.
II.3.1 Tình hình hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây.
II.3.1.1 Thể lệ cho vay đầu tư phát triển của ngân hàng.
Trang 13 Nguồn vốn cho vay:
+ Vốn nhận từ nguồn do trung ương hỗ trợ
+ Vốn uỷ thác tài trợ
+ Vốn huy động trung và dài hạn để cho vay đầu tư
+ Một phần tỷ lệ nhất định vốn ngắn hạn để cho vay đầu tư
Mục đích cho vay: Đáp ứng vốn cho đầu tư xây dựng các dự án mới,
mở rộng cải tạo, khôi phục, đổi mới kĩ thuật, phù hợp với chính sách phát triểnkinh tế của đất nước
Đối tượng cho vay: Là chi phí cấu thành tổng mức đầu tư của dự án
đầu tư xây dựng mới, mở rộng cải tạo, khôi phục đổi mới kĩ thuật, ứng dụngkhoa học công nghệ
Phương thức cho vay: Trước mắt ngân hàng thực hiện các phương
thức:
- Cho vay dự án đầu tư
- Cho vay từng lần sản xuất kinh doanh
Việc cho vay được đảm bảo bằng tài sản( Tài sản cầm cố, thế chấp, bảolãnh của bên thứ ba, bằng tài sản hình thành từ vốn vay ) hoặc cho vay khôngbảo đảm theo địa chỉ của chính phủ
+ Trưởng phòng tín dụng thực hiện việc kiểm tra công tác thẩm định củacác cán bộ tín dụng và có ý kiến rõ ràng về quyết định cho vay hay không chovay Sau đó trình hợp đồng tín dụng lên cho hội đồng tín dụng chi nhánh
Trang 14- Quyết định cho vay: Chủ tịch hội đồng tín dụng chi nhánh có quền
quyết định cho vay trong phạm vi thẩm quyền Với trường hợp ngoài thẩmquyền do tổng giám đốc ngân hàng Đầu tư & Phát triển quyết định
- Thời hạn thẩm định và quyết định cho vay:
+ Các dự án do chi nhánh trực tiếp thẩm định xét duyệt cho vay thời giankhông quá 30 ngày
+ các dự án thuộc ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam quyết địnhthời gian thẩm định và quyết định cho vay không quá 45 ngày trong đó thờigian xét duyệt tại ngân hàng TW không quá 20 ngày
+ Trường hợp không cho vay phải thông báo bằng văn bản cho kháchhàng biết trong đó phải nêu rõ căn cứ từ chối cho vay
Về phát tiền vay: Ngân hàng và đơn vị vay kí kết hợp đồng và làm thủ
tục phát tiền vay theo quy định của ngân hàng Ngân hàng phát tiền vay theoquy định của ngân hàng Ngân hàng phát tiền vay theo tiến độ thực hiện dự án
Về kiểm tra và giám sát vay vốn: Cán bộ tín dụng có trách nhiệm
kiểm tra , giám sát vay vốn, sử dụng vốn và trả nợ vay của khách hàng Hệthống kiểm tra nội bộ thực hiện việc kiểm tra việc tuân thủ quy chế, quy địnhtín dụng, quá trình vay vốn theo quy định kiểm tra hoạt động tín dụng của toànngành và tại từng chi nhánh
Về trả nợ gốc và lãi: Đến kì hạn trả nợ đã thoả thuân, đơn vị vay phải
chủ động trả nợ đầy đủ cho ngân hàng Đơn vị vay trả lãi và gốc theo kì hạn trả
nợ đã được thoả thuận trước Trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn được giữnguyên lãi suất và lãi vay được tính cho đến ngày trả nợ thực tế và ngân hàng
xẽ có các biện pháp ưu tiên khác
Về gia hạn nợ và điều chỉnh kì hạn nợ:
Khi đến thời hạn trả nợ nếu khách hàng không có khả năng trả hết nợcho ngân hàng do nguyên nhân khách quan gây nên và có văn bản đề nghị rahạn nợ thì chi nhánh xem xét ra hạn nợ( thời gian ra hạn nợ cho vay đầu tư cácmón vay do chi nhánh xét duyệt cho vay không quá 12 tháng Riêng các mónvay của chi nhánh do Ngân hàng đầu tư phát triển trung ương cho vay thì dongân hàng Đầu tư & Phát triển TW quyết định
Ngân hàng xem xét điều chỉnh nợ đối với các món vay không trả nợđúng hạn do nguyên nhân khách quan và có văn bản đề nghị Đối với những
Trang 15Khai thác khách hàng, tìm kiếm dự án.
Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn
Điều tra thu thập thông tin về khách hàng và dự án vay vốn
Quyết định định cho vay vốn
Kiểm tra,hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ Tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
Kiểm soát trong khi cho vay, phát tiền vay
Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay, theo dõi hoạt động của dự án
Thu hồi và sử lí nợ
Thanh lý hợp đồng vay vốn
món vay do Ngân hàng đầu tư phát triển TW quyết định xét duyệt thì việc
quyết định điều chỉnh gia hạn nợ do ngân hàng TW quyết định
II.3.1.2 Quy trình cho vay đầu tư phát triển tại Ngân hàng Đầu tư &
Phát triển Hà Tây.
II.3.2 Thực trạng cho vay đầu tư phát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát
triển Hà Tây :
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây hiện nay tuy đã hoạt động như
một ngân hàng thương mại nhưng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ngân hàng Đầu
tư & Phát triển Việt Nam với sự phấn đấu đi lên của bản thân, ngân hàng Đầu
tư & Phát triển Hà Tây đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ trong hoạt
động cho vay đầu tư phát triển góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế
và xã hội của đất nước và của tỉnh Hà Tây Để đánh giá tình hình sử dụng vốn
cho đầu tư phát triển củn ngân hàng trong những năm qua ta xét bảng sau
Trang 16Bảng 3: Thực trạng cho vay đầu tư của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây ( 1999- 2001).
Đơn vị: triệu đồng
I.Tổng doanh số cho
vay đầu tư phát triển
II Doanh số thu nợ
đầu tư trong năm
III Chênh lệch giữa
cho vay và thu nợ
đầu tư phát triển
(Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây ) Biểu đồ danh số cho vay và thu nợ đầu tư phát triển của NHĐT và PT Hà Tây
Quabảng 3
ta thấy tổng nguồn vốn cho vay đầu tư tính đến cuối năm: Nếu không tách riêngphần cho vay tài trợ đầu tư của TW ra ta thấy tổng nguồn cho vay đầu tư tươngđối ổn định qua các năm năm 1999 (là 115.141 triệu), năm 2000(105.821 triệu )
và năm 2001 là 107.312 triệu đồng Nếu tách riêng phần tín dụng tài trợ thìtổng doanh số cho vay của ngân hàng qua các năm như sau:
Năm 1999: 75.879 triệu chiếm 65% so với tổng nguồn cho vay đầu tưtính đến cuối năm
Năm 2000: 75.608 triệu đồng chiềm 72% so với tổng nguồn cho vay đầu
tư tính đến cuối năm
Năm 2001: 78.456 triệu đồng chiềm 75% so với tổng nguồn cho vay đầu
tư tính đến cuối năm
®Çu t trong n¨m
Trang 17Như vậy ta thấy trong tổng cho vay do ngân hàng tự lo đã có tỷ trọngtăng lên trong các năm Điều này thể hiện ngân hàng ngày càng chủ động tronghoạt động sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mình Nhưng là một chi nhánhngân hàng đầu tư phát triển thì tỷ trọng tín dụng cho đầu tư như vậy còn rấtnhỏ Ngân hàng cần tăng tỷ trọng này cao hơn nữa để đáp ứng nhu cầu vốn chođầu tư phát triển, và trở thành một chi nhánh ngân hàng đầu tư phát triển vớiđúng nghĩa của nó.
Mặt khác cũng nhìn vào bảng 3 ta thấy Năm 2000 doanh số cho vay đầu
tư chỉ bằng 91% (bằng 105.821 triệu đồng) so với năm 1999 nhưng đó là do bộphận tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước giảm đáng kể trong năm này cụthể năm 1999 là 40.262 triệu đồng thì đến năm 2000, 2001 còn tương ứng là30.213 triệu đồng và 28.859 triệu đồng việc cho vay của ngân hàng trong giaiđoạn này chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước và khả năng tìmkiếm các dự án cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cònrất nhiều hạn chế trong giai đoạn này trong khi nhu cầu vốn đầu tư cho thànhphần kinh tế này là rất lớn.Việc cho vay vốn vẫn chỉ dựa và kế hoạch nhà nướcgiao, việc tự tìm kiếm khách hàng và dự án hiêu quả để cho vay còn rất hạnchế Tuy nhiên, đẩy mạnh việc cho vay đối với các thành phần kinh tế đặc biệt
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn hiệu quả của ngân hàng đã có xu hướngtăng lên qua các năm do vậy đến năm 2001 tuy vốn tín dụng đầu tư theo kếhoạch nhà nước giảm xuống thì vốn cho vay đầu tư nói chung của ngân hàngtăng 3,8% so với năm 2000( tương đương 78.456 triệu đồng năm 2001)
Như vậy trong thời gian tới ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây cầnđẩy mạnh hơn nữa việc cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh và việc tìm kiếm khách hàng hiệu quả và dự án vay vốn hiệu quả ngàycàng trở nên quan trọng đem lại lợi ích cho ngân hàng và đáp ứng tốt hơn nhucầu vốn cho nền kinh tế
- Nhưng việc cho vay sẽ trở nên không có ý nghĩa nếu không thuđược nợ Do vậy để đánh giá tình hình cho vay đầu tư ta cần xem xét tình hìnhthu nợ cho vay đầu tư Việc thu nợ đối với ngân hàng Đầu tư & Phát triển HàTây luôn được chú ý, ngân hàng đã thực hiện việc giao kế hoạch thu nợ đến cácphòng ban cụ thể của ngân hàng với các biện pháp tích cực và hợp lý các đơn
vị vay vốn đã cùng ngân hàng tìm mọi cánh khắc phục nợ quá hạn trả lãi và nợđến hạn kịp thời Năm 1999 thu nợ đầu tư đạt 84.279 triệu đồng, năm 2000 là85.289 triệu đồng và năm 2001 thu nợ cho vay đầu tư như sau:
VNĐ: là 78.821 triệu đồng đạt kế hoach trung ương giao là 120%
Trang 18USD: là 937,5 Ngàn đạt kế hoạch trung ương giao là 103%.
Có được thành tích thu nợ tín dụng đầu tư năm 2001 vượt mức trungương giao như vậy là nhờ có sự phối kết hợp, tạo điều kiện của các bạn hàng.Năm 2001 có 23/ 25 đơn vị hoàn thành kế hoạch trả nợ cho ngân hàng, cónhững đơn vị hoàn thành vượt mức kế hoạch trả nợ ngân hàng như công ty ximăng Tiên Sơn, Công ty may Hưng Thịnh, Công ty Chè Long phú Điều đó
đã minh chứng cho công tác thu nợ tín dung đầu tư của ngân hàng đã được chútrọng
Việc thu nợ không những phản ánh hiệu quả và độ an toàn của đồng vốncho vay mà nó còn là một nguồn để ngân hàng tiếp tục cho vay Đây là mộttrong những giải pháp được ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chỉ đạo
và được ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Tây thực hiện tốt, góp phần cùngvới nguồn vốn TW hỗ trợ và nguồn vốn huy động để kịp thời cho các dự án đầu
Như vậy, trong chỉ tiêu cho vay đầu tư phát triển bao gồm cả nợ quá hạn
và trong số nợ quá hạn đó tồn tại một lượng nợ khó đòi, đó chính là rủi ro màngân hàng luôn gặp phải Nếu tỷ lệ nợ quá hạn quá cao, điều đó có thể khẳngđịnh chất lượng cho vay của ngân hàng đó là thấp và ngược lại
Bảng 4 Tình hình nợ quá hạn cho vay đầu tư:
Đơn vị: triệu đồng
Trang 19Nợ quá hạn 1.387 2.039 2.550
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay đầu tư
trong tổng nợ quá hạn
Nợ qua hạn khó đòi cho vay đầu tư 543 1.063 1.421
Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trong tổng
nợ quá hạn cho vay đầu tư
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây
Xem xét tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi của ngân hàng Đầu tư & Pháttriển Hà Tây trong những năm qua ta thấy ngân hàng luôn giữ được một mức
nợ quá hạn được coi là lý tưởng chung <1% Nhưng nếu xét riêng về cơ cấucho vay đầu tư trong tổng cơ cấu thì tỷ lệ này lớn hơn hẳn tỷ lệ chung và có suhướng tăng trong các năm cụ thể năm 1999 (là 65% tổng nợ quá hạn) thì đếnnăm 2000 tăng lên là 83% và năm 2001 tỷ lệ này vẫn tiếp tục tăng là 85% trongtổng nợ quá hạn của ngân hàng Song điều đó là tất yêú vì tín dụng đầu tư cóthời gian dài hơn nên khả năng rủi ro, bất trắc cũng lớn hơn Nhưng xét chung
tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây trong những nămqua vẫn luôn giữ ở mức dưới 1% Tuy nhiên nợ quá hạn tín dụng của ngânhàng đang có hướng tăng lên cả về số tương đối và số tuyệt đối Đặc biệt năm
2001 trong khi dư nợ tín dụng vẫn giữ ở mức gần như cũ thì tỷ lệ nợ quá hạn lạităng lên từ 0.67% năm 1999 và 0,85% năm 2000 lên 0,89% năm 2001 Tuy con
số 0,89% như vậy vẫn là một con số lí tưởng song ngay từ bây giờ ngân hàngcần phải có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn nợ quá hạn đặc biệt là nợ quá hạntrong tín dụng đầu tư bằng cách đề ra các giải pháp hữu hiệu cho công tác thẩmđịnh, quản lý vốn vay
Một chỉ tiêu nữa mà ta chưa đề cập đến đó là tỷ lệ nợ khó đòi Ta thấy tỷ
lệ nợ quá hạn khó đòi chiếm một tỷ lệ tương đối trong tổng tỷ lệ nợ quá hạn tíndụng đầu tư, và có xu hướng tăng lên về cả số tuyệt đối và số tương đồi cụ thểnăm 1999 là 61%( tương đương 543 triệu) trong tỷ lệ nợ quá hạn cho vay đâù
tư thì đến năm thì đến năm 2000 và năm 2001 tỷ lệ này tương ứnglà63%(1.063 triệu đồng), 66% ( 1.421 triệu đồng) Do vậy ngân hàng cần phải cónhững giải pháp hữu hiệu để thu nợ và sử lí nợ quá hạn cũng như nợ khó đòi
Trang 20Tóm lại: Hoạt động tín dụng đầu tư của ngân hàng Đầu tư & Phát triển
Hà Tây đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn Hầu hết các doanh nghiệp vay vốn và các dự án vay vốn ngân hàng đều làm ănhiệu quả , trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng , nộp ngấn sách nhà nước và thuđược nhiều lợi nhuận cho chính họ, góp phần vào tăng trưởng và phát triểnkinh tế và xã hội của đất nước và của địa phương Năm 2001 mới chỉ tính phục
vụ đầu tư cho 31 doanh nghiệp với tổng doanh số cho vay cả ngắn , trưng vàdài hạn là 250 tỷ và doanh số thu nợ là 288 tỷ, thì hiệu quả của đồng vốn màngân hàng cho vay đạt dược là:
- Giá trị sản lượng thực hiện là: 1.059 tỷ
- Doanh thu : 922 tỷ
- Nộp ngân sách: 39 tỷ
- Lợi nhuận: 16 tỷ
- Tạo việc làm cho: 9.385 người
Từ hoạt động trên đây ta có thể thấy hoạt động sử dụng vốn cho đầu tưphát triển của ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây đã đã góp phần rất lớncho việc đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước và cuảđịa phương thực hiện công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.Đối với ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hà Tây thì hoạt động này thì đã luôntheo đúng đường lối và chính sách của ngân hàng Đầu tư & Phát triển ViệtNam, với phương châm phục vụ tốt hơn cho lĩnh vực đầu tư phát triển
Để có thể đưa ra được những giải pháp tăng cường khả năng sử dụngvốn cho đầu tư phát triển ta cần xem xet thêm các nhân tố ảnh hưởng đến khảnăng sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của ngân hàng đầu tư và phát triển Hàtây
II.3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đầu tư phát triển tại chi nhánh ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây trong thời gian qua:
II.3.3.1 Đánh giá chung:
Với thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư như đã nêu ở phần trước về cácmặt doanh số cho vay, doanh số thu nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, những thành tựu đốivới bản thân ngân hàng cũng như đối với tổng thể nền kinh tế cho ta nhữngđánh giá chung nhất về chất lượng tín dụng cho đầu tư tại chi nhánh ngân hàngnhư sau:
Nhìn chung chất lượng tín dụng đầu tư tại chi nhánh ngân hàng Đầu tư &phát triển Hà Tây thời gian qua là khá tốt Tuy có một số hạn chế về quy mô, tỷtrọng cho vay đầu tư, phương thức cho vay còn đơn điệu, đối tượng khách hàng
Trang 21cho vay còn hạn chế, những rủi ro tiềm ẩn đang có xu hướng tăng lên nhưng cóthể thấy chất lượng tín dụng đầu tư đạt được như vậy cũng là rất khả quan vàkết hợp hài hoà giữa lợi ích của ngân hàng, lợi ích của khách hàng và của nềnkinh tế
Có được những thành tựu đó trước hết là nhờ sự chỉ đạo sát sao của cáccấp uỷ Đảng, của ngân hàng Nhà nước tỉnh Hà Tây và đặc biệt là ngân hàngĐầu tư & phát triển Việt Nam Sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng của giám đốcngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán
bộ công nhân viên trong ngân hàng cũng như các khách hàng của ngân hàng.Trong thời gian tới ngân hàng cần cố gắng hơn nữa để đảm bảo nâng cao hiệuquả sử dụng vốn cho đầu tư phát triển
II.3.3.2 Đánh giá công tác đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây:
Hiệu quả sử dụng vốn được hình thành và đảm bảo từ cả hai phía: ngânhàng và khách hàng Nó được đảm bảo trong suốt quá trình cho vay Để có thểđánh giá được hiệu quả hoạt động cho vay vốn đầu tư phát triển tại chi nhánhngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây ta lần lượt xem xét việc nâng cao hiệuquả thông qua các công tác chính sau:
II.3.3.2.1 Công tác thẩm định:
Công tác thẩm định là khâu đầu tiên quyết định hiệu quả hoạt động chovay vốn Nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác thẩm định ngânhàng Đầu tư & phát triển Hà Tây đã thực hiện khá tốt khâu này Thẩm định là
sự kiểm tra, phân tích đánh giá và kết luận các mặt về khách hàng vay vốn và
dự án vay vốn để đi đến quyết định có cho vay hay không Đây chính là khâukiểm tra trước khi cho vay của ngân hàng Hầu hết các khoản cho vay của ngânhàng đều được kiểm tra trước khi cho vay Việc kiểm tra, phân tích, đánh giáhết các chi tiết tuân theo đúng các quy trình thẩm định do ngân hàng Đầu tư &phát triển Việt Nam hướng dẫn, ít gây phiền hà đối với khách hàng và đưa ranhững ý kiến tham mưu cho ban lãnh đạo một cách cụ thể, rõ ràng Ngân hàng
đã đề cập, xem xét trên nhiều khía cạnh, tiến hành phân tích nhiều chỉ tiêu đểđưa ra được những kết luận chung nhất về các khoản vay như tư cách - uy tíncủa khách hàng vay, khả năng tài chính của doanh nghiệp vay vốn, tư cáchpháp lý của dự án vay vốn và tính khả thi của dự án đó Việc thẩm định dự án
về mặt tài chính được chú trọng các chỉ tiêu cơ bản như: giá trị hiện tại thuần(NPV), hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)
Ngân hàng ngoài việc xem xét đánh giá những mặt hiện tại có liên quanđến khách hàng và dự án vay vốn còn xem xét các yếu tố thuộc môi trườngkinh doanh, môi trường pháp lý để đánh giá mức rủi ro tiềm ẩn của dự án.Qua khâu thẩm định ngân hàng đã phát hiện ra những điểm chưa hợp lý và tưvấn cho khách hàng làm ăn hiệu quả hơn
Trang 22Tóm lại: Công tác thẩm định được ngân hàng Đầu tư & phát triển Hà Tây
thực hiện khá tốt, giúp ngân hàng đưa ra được những quyết định cho vay đúngđắn Tuy nhiên công tác thẩm định vẫn còn một số tồn tại cần phải khắc phục
có thể khái quát quá trình thẩm định dự án vay vốn của ngân hàng Đầu tư &Phát triển Hà Tây như sau:
A Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
- Mục đích thẩm định tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Tây
+ Có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư, khảnăng hoàn vốn của dự án cũng như khả năng trả nợ của chủ đầu tư
+ Tham gia ý kiến với Nhà nước và chủ đầu tư có quyết định, chủ trươngđầu tư đúng đắn, có cơ sở đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư
+ Phát hiện bổ sung thêm các biện pháp đảm bảo tính khả thi cho việctriển khai thực hiện dự án, khắc phục hoặc hạn chế các yếu tố gây rủi ro
+Tạo các căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đốitượng và tiết kiệm vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư dự án
+Rút ra kinh nghiệm và bài học để phục vụ tốt các yêu cầu của nghiệp
vụ chung của ngành
- Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng Đầu tư & Phát triển
Hà Tây :
* Thẩm định các điều kiện pháp lý của dự án và đơn vị vay vốn:
Hồ sơ do doanh nghiệp lập gửi tới ngân hàng Đầu tư và Phát triển đểvay vốn đầu tư yêu cầu phải có các tài liệu sau: Các văn bản pháp lý của đơn vịvay vốn Nghiên cứu khả thi, quyết định đầu tư dự án của các cấp có thẩmquyền, tổng dự toán công trình(là tổng chi phí cần thiết cho việc đầu tư côngtrình, được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuậtthi công) văn bản phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán công trình của cấp
có thẩm quyền, giấy phép xây dựng Nhiệm vụ của cán bộ thẩm định là phảikiểm tra các quyết định, giấy phép được cấp có đúng thẩm quyền và đầy đủkhông Yêu cầu đối với các giấy tờ đó là: chúng phải là bản chính hoặc bản saonhưng được công chứng
* Thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp.
Thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sởcác báo cáo tài chính như: Bảng tổng kết tài sản 3 năm gần đây nhất, bảng