Thời kỳ đầu, vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnhvực thương mại, du lịch, dịch vụ, nhưng 3 năm gần đây đáng chú ý đầu tư vào lĩnhvực sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ cấu hạ tầng.*
Trang 1THỰC HIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.1.1 ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằn sông Hồng, trong phạm vi từ 20. 53’đến
21 23’ vĩ đô bắc và từ 105 44’ đến 106. 02’ kinh độ đông Hà Nội tiếp giáp với 5Tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông; Vĩnh Phúc ởphía Tây; Hà Tây và Hà Nam ở phía Nam Hà Nội có diện tích tự nhiên là 927,39
Km2 và dân số là 2.560.00 người; chiếm 0,28% về diện tích tự nhiên và 3,14% vềdân số cả nước
Hà Nội có vị trí địa lý rất quan trọng và ưu thế đặc biệt đối với địa phươngkhác Nghị quyết 15/NQ-TW, ngày 15 tháng 12 năm 2000 đã xác định : “ Hà Nội
là trung tâm đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá,khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước” Hà Nội đi các Thànhphố, Thị xã của Bắc Bộ cũng như cả nước rất dễ dàng bằng cả đường bộ, đườngsắt, đường thuỷ và hàng không
Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan Ngoại giao đoàn, các Đại sứ quán, các
tổ chức quốc tế Hà Nội còn nơi tập trung các cơ quan đầu não, đông đủ các cán bộ
có kinh nghiệm sẽ là điều kiện tốt về trí tuệ giúp Hà Nội trong việc hoạch địnhchính sách phát triển kinh tế
Hà Nội mang sắc thái đặc trưng của khí hậu vùng với đặc điểm khí hậu nhiệtđới gió mùa Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều Từ
Trang 2tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông lạnh (thời kỳ đầu thường khô nhưngđến nửa cuối mùa đông lại thường ẩm ướt) Giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếptạo cho Hà Nội bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Nên nhiệt độ khá đồng đều và khácao Nhiệt độ trung bình năm đạt tới 23 - 24. Hai tháng nóng nhất là tháng 6 đếntháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất xảy ra vào tháng 7 với nhiệt độ xấp xỉ
29. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 17. Tháng lạnh nhất là tháng 1, ở thờigian này nhiệt độ tối thiếu trung bình thường 13. nhiệt độ tối thấp quan sát đượcxuống tới 2,7. Biên độ nhiệt độ trong năm khoảng 12. - 13. Biên độ cao dao độngnhiệt độ ngày đêm khoảng 6 - 7. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm củaThành phố Hà Nội là 82% và cùng ít thay đổi theo tháng, thường chỉ dao độngtrong khoảng 78% - 87% Lượng mưa của Hà Nội phân bố khá đồng đều và trungbình hàng năm khoảng 1600 - 1800 mn
2.1.1.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Chiến tranh kèo dài, kinh tế suy thoái trong những năm 70 và 80, quy môdân số qua các năm đều tăng nhanh (năm 1990 có: 2.051.900 người, năm 1993 có:2.219.700 người, năm 1998 có: 2.556.500 người) đã gây nên những tác đông tiêucực đến chất lượng, số lượng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, nhà đất và di sản kiến trúcphong phú của Thành phố.Yêu cầu cho tài chính phúc vụ cho chiến tranh đã hạnchế nguồn tài nguyên cần thiết để tiếp tục bảo dưỡng duy trì các dịch vụ đô thị vàxây dựng hệ thống hạ tầng mới Sự không ổn định về kinh tế đã làm cho suy thoáithêm hế thống hạ tầng cơ sở, hệ thống giao thông và điều kiện về nhà ở
Theo số liệu điều tra năm 1989, diện tích nhà ở Hà Nội khoảng 4 km2/người, khoảng 7% số hộ gia đình có diện tịch nhà ở dưới 2%/ người Hơn nửakhoảng 70% nhà ở của Hà Nội tồi tàn, 10% rách nát không phù hợp để sống Sựbùng nổ của thị trường nhà đất không có quy hoạch đã làm cho hộ dân tập trung
Trang 3đông ở các vùng đất nông nghiệp có ý nghĩa kinh tế quan trọng, lẫn chiếm hànglang các trục đường giao thông chính làm cho người nghèo không có điều kiện cảithiện đời sống của họ Theo số lượng thống kê cho thấy số lượng người thất nghiệpcủa Thành phố thấp nhất khoảng 100.000 người, trong khi kết quả khảo sát chothấy có khoảng 30% số hộ mức sống được cải thiện từ năm 1993 và 13% số hộ cònnghèo hơn trước đây, có 2.13% hộ nghèo Khoảng 30%-40% trẻ em dưới năm tuổi
có mức ăn không phù hợp và thiếu cân đối
* Cơ cấu kinh tế có chuyển biến quan trọng: Ngành sản xuất công nghiệp
ngày càng có tỷ trọng cao trong cấu thành giá trị tổng sản phẩm trong nước Từnăm 1990-1998, tỷ trọng công nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế Thủ đô (Tính theoGDP) tăng từ 29,0% năm 1990 lên 34,9% năm 1996 và 36,2% năm 1998 tỷ trọnggia trị tổng sản phẩm trong của ngành nông - lâm nghiệp và tổng thuỷ sản giảm từ9,0% năm 1990 xuống còn 5,1% năm 1996 và 4,3% năm 1998
* Trình độ, năng lực quản lý kinh doanh: Đã được nâng lên rõ rệt Tăng
bước thích ứng với kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhiều loại sảnphẩm hàng hoá dịch vụ đã được cải tiến về chất lượng, mẫu mã và phương thứcphúc vụ nhờ đó đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước, một loại đã xuất khẩuvới số lượng ngày càng lớn
* Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: Khu vực có vốn đầu tư nước ngoại
tăng tỷ trọng từ 3,2% trong tổng giá trị GDP năm 1993 lên 11,1% năm 1998 Thịtrường xuất nhập khẩu được mở rộng Tổng kim ngạch xuất địa phương tăng từ81,7 triệu USD năm 1990 lên 161 triệu USD năm 1995 và 306 triệu USD năm1998
Vốn đầu tư từ nước ngoại vào Hà Nội tăng rất nhanh Tính đến tháng 12năm 1998 đã có tổng 342 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoại với tổng số vốnđăng ký là 8838 triệu USD; vốn đã thực hiện được đạt 3837 triệu USD, bằng 35%
Trang 4vốn đăng ký Bình quân hàng năm từ 1990-1998 tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoạivào Hà Nội là 52,2%/ năm Thời kỳ đầu, vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào lĩnhvực thương mại, du lịch, dịch vụ, nhưng 3 năm gần đây đáng chú ý đầu tư vào lĩnhvực sản xuất công nghiệp và xây dựng cơ cấu hạ tầng.
* Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị đạt kết quả cao: Thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XI và chương thình “ Quyhoạch xây dựng đô thị” của Thành uỷ, bộ mặt Thủ đô trong những năm qua cónhiều thay đổi Đã tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Thủ
đô năm 2010 và năm 2020 trình Chính phủ duyệt Hoàn chỉnh quy hoạch chi tiếtmột số dân cư, khu, cụm công nghiệp, cải tạo một bước phố cổ, phố cũ; quy hoạchxung quanh Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Trúc Bách, khu trung tâm Ba Đình Một sốquy hoạch đã được công bố, công khai và giao cho chính quyềh Nhà nước các cấpquản lý
- Về giao thông:Được mở rộng ra ngoại ô: Hệ thống đường nội thành được
cải tạo đáng kể Đang tích cực khai triển xây dựng hệ thống đường vánh đai, cácđường trực hướng tâm; xây dựng và duy trì đèn chiếu sáng cho trên 2.000 kmđường phố
Đã sắp xếp lại tổ chức vận tải hành khách, duy trì hệ thống xe buýt, mở rộng
và nâng cấp hệ thống bến bãi Phương tiện vận tải hành khách, phát triển mới xeTAXI đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân
- Về hệ thống tin liên lạc: Được hiện đại hoá nhanh theo hướng điện tử và
số mạng viễn thông
- Về hệ thống cấp thoát nước,và lưới điện: Được cải tạo và nâng cấp một
bước; các công trình văn hoá và phúc lợi công cộng được mở rộng và có chấtlượng phúc vụ cao hơn Trật tự, vệ sinh đô thị, công tác quản lý và bảo vệ môitrường có chuyển biến rõ rệt
* Văn hoá xã hội Thủ đô có chuyển biến tốt.
Trang 5- Về công tác giáo dục và đào tạo; Đã đa dạng hóa các loại hình trường lớp,
tiến hành phổ cấp giáo dục cấp I và đang phổ cấp giáo dục cấp II Nội dung giáodục được cải tiến, chất lượng được giữ vững, có một số mặt được nâng cao, đãhoàn hành việc tách cấp I và II; cơ sở vật của các trường được nâng cấp khá
- Về mạng lưới khám chữa bệnh: Trong toàn Thành phố bước đã được sắp
xếp lại Y tế cơ sở được quan tâm, đảm bảo việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu chongười dân Các chương trình y tế quốc gia chỉ đạo thực hiện tốt, đặc biệt là chươngtrình tiêm chủng mở rộng, 98%-99% số trẻ em trong độ tuổi tiêm đủ 6 loại vắc xin,Công tác kế hoạch hoá gia đình được triển khai tích cực Tỷ lệ sinh hàng năm giảmđáng kể 6,7% (năm 1998)
- Về hoạt động văn hoá ,văn nghệ: Phát triển phong phú , đa dạng, phong
trào văn hoá quần chúng được khơi dậy mạng lưới thông tin đại chúng được mởrộng Trình độ và phạm vi hưởng thụ văn hóa trong nhân dân tăng lên rõ rệt, cácchính sách xã hội được tổ chức thực hiện khá tốt dưới hình thức như: Xây dựngnhà tình nghĩa, bảo trợ bà mẹ anh hùng, liệt sỹ cô đơn, nuôi dưỡng thương binhnặng tại gia đình, xây dựng trung tâm bảo trợ xã hội
* Sản xuất công nghiệp:
Tính đến cuối năm 1998 Hà Nội có 271 doanh nghiệp quốc doanh, trong đó
có 167 doanh nghiệp quốc doanh Trung ương; 1400 doanh nghiệp công nghiệpngoại quốc doanh trong đó: 171 HTX, 40 Doanh nghiệp tư nhân, 240 hỗn hợp và
13558 hộ kinh doanh cá thể Hà Nội là nơi tập trung công nghiệp cao nhất ở Bắc
Bộ và đứng thứ hai của cả nước Tỷ lệ GDP công nghiệp trong cơ cấu kinh tế HàNội chiếm 36,2% và đang có chiếu hướng gia tăng
Trong cơ cấu ngành công nghiệp Thủ đô hình thành 4 nhóm ngành then chốtlà: Cơ khí (20%-23%); Dệt - da - may (22%-25%); Lương thực- thực phẩm (16%-18%); Đồ điện - điện tử (5%-8%); Đáng chú ý là sản phẩm của công nghiệp Thủ
đô chất lượng ngày càng cao, có trên 40 sản phẩm được tiêu dùng rộng rãi trên cả
Trang 6nước Công nghiệp Hà Nội đóng góp khoảng 40% tổng thu Ngân sách và 70% kimngạch xuất nhập khẩu của Thành phố.
* Dịch vụ: Lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch của Hà Nội phát triển
nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường Bình quân năm 1995 tốc độ tăng trưởngcủa lĩnh vực dịch vụ đạt 13,4%/ năm và bình quân năm 1998 đạt 11,7%, tỷ lệ GDPcủa ngành dịch vụ chiếm từ 59%-60% trong cấu thành GDP của kinh tế Thủ đô
- Hoạt động du lịch phát triển mạnh cả khu vực kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh Năm 1998 trên địa bàn Thành phố có 280 khách sản nhỏ lớn
trong đó có: 91 khách sản quốc doanh, 13 khách sản liên doanh và 176 khách sảnngoại quốc doanh và đã có 20 khách sản được xếp hàng từ 1 đến 5 sao
- Thương mại được nâng mở rộng và nâng cao chất lượng Tổng mức bán
lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường xã hội, tăng bình quân năm 1998 là 28,3%
Hà Nội là nơi phát triển luồng phúc vụ phần lớn nhu cầu hàng hoá dịch vụ cho cáctỉnh Bắc Bộ Tổng kim ngạch tăng 370 triệu USD năm 1998
- Các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng: Nhìn chung đã vượt qua giai
đoạn lúng túng, từng bước mở rộng và cơ bản đáp ứng được nhu cầu về sản xuất vàđời sống Các ngân hàng Trung ương và ngân hàng địa phương đã đi vào nề nếp cókhá nhiều ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Hà Nội Đến năm 1997 trên địabàn Thành phố có74 tổ chức tín dụng và chi nhánh tổ chức tín dụng, 23 chi nhánhngân hàng và các tổ chức ngân hàng thương mại quốc doanh, 15 ngân hàng và chinhánh ngân hàng thương mại cổ phần, 1 quỹ tín dụng Trung ương, và 9 quỹ tíndụng ở cơ sở, 1 ngân hàng phúc vụ người nghèo và 9 chi nhánh Mạng lưới dịch
vụ ngân hàng tài chính, ngân hàng đã thực sự trở thành nhân tố quan trọng phúc vụphát triển kinh tế - xã hội
* Nông nghiệp: Nhờ tác động của chính sách mới, 5 năm qua nông - lâm
nghiệp và nông thôn ngoài thành có chuyển biến sâu sắc Cơ cấu nông - lâmnghiệp và nông thôn ngoài thành chuyển dịch theo hướng : Phát triển mạnh kinh tếngoại quốc doanh, nâng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và các loại nông sản thực
Trang 7phẩm có chất lượng cao như: Thịt lợn nạc, trứng, sữa, hoa, cây cảnh, thuỷ đặcsản Hà Nội đang dẫn đầu cả nước về phát triển rau sạch Năm 1998 tỷ lệ diện tíchtrồng rau sạch ở Thành phố đạt 12% tổng diện tích trồng rau Tốc độ tăng giá trịsản xuất nông nghiệp qua các thời kỳ.
2.1.2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chươngtrình quốc gia “ Xoá đói giảm nghèo” Trong những năm qua cùng với sự đẩymạnh tăng trưởng kinh tế của Thủ đô, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân Thành phố HàNội đã tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, hội đoàn thể triển khai tích cực đồng
bộ các giải pháp và đã đạt được kết quả toàn diện về các chương trình chính sách
Trong giai đoạn từ năm 1999-2000 Sở Lao động Thương binh - Xã hội HàNội đã tập trung chỉ đạo các quận huyện, xã, phường điều tra rà soát, xác lập danhsách hộ nghèo (theo chuẩn quy định thống nhất của cả nước) Kết quả điều tra đãphản ánh được thực trạng tình hình đói nghèo trên địa bàn Thành phố và nguyênnhân dẫn đến đói nghèo của Thành phố Trên cuộc cơ sở điều tra đói nghèo sẽ giúpcho việc đánh giá, phân tích những biến động của đói nghèo trên địa bàn Thànhphố từ đó giúp cho địa bàn chính quyền địa phương đề ra những giải pháp thíchhợp để đẩy nhanh công tác xoá đói giảm nghèo
Trang 8Tại thời điểm tháng 1/1999, toàn bộ Thành phố Hà Nội có 11.338 hộ nghèovớí 41.653 nhân khẩu (chiếm 1,9% tổng số hộ toàn Thành phố), trong đó có 2525
hộ tàn tật ốm đau quanh năm, 108 hộ chính sách Theo báo cáo của quận, huyệnhết tháng 10/2000 Thành phố Hà Nội giảm hộ nghèo được 3849 hộ nghèo, 24 hộnghèo thuộc diện chính sách Thể hiện ở bảng như sau:
Trang 9Mặc dù số hộ nghèo của Thành phố không lớn so với tỷ lệ hộ đói nghèo của
cả nước song chương trình xóa đói giảm nghèo lại tập trung vào những nội dungsau:
- Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng: Đây là giải pháp quan trọng nhằm tạo điều
kiện cho hộ nghèo sớm có khả năng vươn lên thoát nghèo của Thành phố Trongnhững năm qua, Thành phố đã tập trung vào một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng ngoàithành như sau: Hệ thông thuỷ lợi, các đường giao thông liên huyện, liên xã, điệnthoại nông thôn, chương trình nước sạch nông thôn, dự án trồng rừng (theo chươngtrình 5 triệu ha rừng của Chính phủ)
Ngoài ra, còn có các dự án khác như là dự đường giao thông liên xã thuộchuyện Sóc Sơn và hỗ trợ ổn định việc di dân theo dự án do Chi cục điều động Laođộng dân cư Thành phố triển khai
- Cho vay vốn để hộ nghèo phát triển sản xuất: Thêm canh lứa, hoa mầu,
chăn nuôi bò, lợn, gia cầm, nuôi cá lồng và phát triển ngành nghề, dịch vụ vì các
hộ nghèo đói đa số là do thiếu vốn sản xuất, chính vì vậy Thành phố đã có chươngtrình huy động vốn và tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo vay, ngoài nguồnvốn của Chính phủ, các tổ chức trong nước Thành phố còn huy động từ các tổ chứcquốc tế
- Hướng dẫn cách làm ăn, phổ biến kiến thức, kỹ thuật cho người nghèo:
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói, bởi các hộ nghèo đóikhông biết cách làm ăn để giúp các nhóm người này có được kiến thức, biết cáchlàm ăn thì không chỉ hỗ trợ về vốn mà phải hướng dẫn về cách làm ăn, giúp họ tiếpcận thị trường, khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
- Hỗ trợ người nghèo về giáo dục, y tế:
+ Về giáo dục: Miễn giảm học phí cho các học sinh, sinh viên nghèo, tiền
đóng góp xây dựng, hỗ trợ sách vở, đồ dùng học tập đối với học sinh nghèo
+ Về y tế: Miễn giảm viện phí đối với hộ nghèo đói Phương pháp tổ chức
thực hiện xoá đói giảm nghèo của Thành phố Hà Nội
Trang 10- Hỗ trợ vốn với lãi suất ưu đãi: để người nghèo phát triển sản xuất đồng
thời hướng dẫn cách sử dụng vốn có hiệu quả từ các nguồn như:
+ Quỹ hỗ trợ nông dân và người nghèo
+ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm
+ Quỹ ngân hàng người nghèo
+ Quỹ của các hội đoàn thể như quỹ tiết kiệm vì phụ nữ nghèo, quỹhội cựu chiến bình
- Có biện pháp tạo việc làm tại chỗ: ưu tiên cho các hộ nghèo không có khả
năng vay vốn có việc làm để nâng cao đời sống
- Các quận, huyện lập danh sách: Đề nghị Thành phố cấp thể bảo hiểm y tế
cho toàn bộ người nghèo và đối tượng cứu trợ xã hội, trẻ tàn tật do chất độc hoáhọc đang hưởng chính sách trợ cấp hàng tháng tại cộng đồng và tổ chức trao thẻcho đối tượng
- Đối với học sinh nghèo.
+ Xác nhận thuộc hộ nghèo
+ Đề nghị nhà trường miễn giảm học phí, tiền đóng góp xây dựng.+ Hộ trợ vở, đồ dùng học tập
- Đối với huyện ngoại thành: Căn cứ vào điều kiện chăn nuôi của địa
phương, lập danh sách hộ nghèo có khả năng chăn nuôi bò sinh sản để trình Thànhphố giao vốn theo hình thức “ Ngân hàng bò” (theo quy chế vay của Thành phố)
- Rà soát, trợ cấp thường xuyên và vận động đỡ đầu cho đối tượng tàn tật ốmđau quanh năm, gia đình không có khả năng thoát nghèo, trong đó đặc biệt quantâm những hộ có trẻ em tàn tật
Nhìn một cách tổng thể bức tranh nghèo đói ở Thành phố Hà Nội, ta thấyhiện nay, tỷ lệ nghèo đói ở Thành phố Hà Nội vẫn còn cao và tiềm ẩn nhiều vấn đềmâu thuẫn bên trong cần giải quyết như phân hoá giàu nghèo, các vấn đề xã hội.Muốn xây dựng Thành phố Hà Nội mạnh, công bằng văn minh thì trong thời gian
Trang 11tới chính quyền các cấp Thành phố cần có chính sách hết sức cụ thể để xoá đóigiảm nghèo.
2.1.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÓI NGHÈO CỦA THÀNH PHỐ
2.1.3.1 NGUYÊN NHÂN DO THIẾU KINH NGHIỆM SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THIẾU CẢ KẾ HOẠCH CHI TIÊU TRONG GIA ĐÌNH
Ở Thủ đô Hà Nội hiện nay có khoảng 32%/ tổng số hộ nghèo là do nguyênnhân này Có thể nói trong việc sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm đóng vai tròquan trọng, nó càng thể hiện rõ sự quan trọng đó nếu một người có đủ điều kiệnsản xuất như có vốn, có đất sản xuất Nhưng không có kinh nghiệm làm ăn,không có kiến thức sản xuất thì sẽ dễ chọn sai lĩnh vực, cách thức sản xuất kinhdoanh, không tính được đầu ra cho sản phẩm hoặc rơi vào tình trạng làm ăn luẩnquẩn, không có lãi mà vẫn đầu tư vào sản xuất Như thế dễ dàng dẫn đến phá sản
và nghèo khổ luôn luôn đe doạ họ
2.1.3.2 NGUYÊN NHÂN DO THIẾU SỨC LAO ĐỘNG, ĐÔNG NGƯỜI ĂN THEO.
Có thể nói sức lao động là yếu tố đầu tiên để quyết định đến thu nhập củacon người Kể cả lao động chân tay và lao động trí óc Trong một gia đình nếu sức
Trang 12lao động bị thiếu thì chắc chẵn sẽ bị hạn chế rất nhiều về thu nhập, thầm chí cònkhông đủ phúc vụ nhu cầu tối thiểu như: Ăn, mặc, ở đối với hộ nông nhân khẩu.
Ở Thành phố Hà Nội có tới 49%/ tổng số hộ nghèo là do nguyên nhân này.Thực tế cho thấy nhiều hộ có nhâu khẩu là người già và trẻ em nên không có sứclao động hoặc có nhưng chất lượng không cao Ví dụ người già chỉ có thể bán lẻvài mặt hàng, trẻ em bỏ học đi làm thuê số tiền thu được không đủ đáp ứngnhững bứa ăn đạt mức tối thiểu về nhu cầu dinh dưỡng, ngoài ra không đủ tiền đểmua sắm cải thiện đời sống và suốt đời họ phải sống trong cảnh nghèo nàn
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương để tuyên truyền, vậnđộng hạn chế sinh đẻ Song vẫn còn không ít những hộ gia đình nghèo vẫn sinhđông con, do đó đời sống của họ đã nghèo càng khó khăn hơn Ngoài việc lo bữa
ăn cho gia đình hàng ngày lại còn phải lo học phí cho con đi học, ăn mặc và cứthế các họ nghèo khổ lại nảy sinh bệnh tật kéo dài Trong thời buổi này, những giađình kiểu ấy chỉ lo cho đủ ăn, không thể có cơ hội nào để tích luỹ phát triển kinh tếgia đình được Nhiều gia đình không đủ đề con cái đến trường mà buộc các emphải đi kiếm sống cùng gia đình
2.1.3.3 NGUYÊN NHÂN DO THIẾU VỐN ĐẦU TƯ SẢN XUẤT:
Hà Nội là nơi có nhiều loại hình vay vốn để dân sản xuất kinh doanh, nhưnglại có tới 68%/ tông số hộ đói nghèo là do nguyên nhân này Điều đó cho thấy,thiếu vốn sản xuất là một vấn đề nổi cộm, là một trong những yếu tố làm ngăn cảncác hộ nghèo phấn đấu vươn lên Có những hộ nghèo học được nghề, có hướng sảnxuất nhưng do không có vốn , lại không dám vay vốn, bởi hộ lo ngại vay vốn, mởrộng sản xuất, liệu có mang lại hiệu quả kinh tế không? Hoặc gặp rủi ro, hoặckhông kịp hoàn trả vốn vì các dự án cho vay chỉ kéo dài trong 1 năm là phải hoàntrả Nếu các hộ nông dân triển khai trồng cây ăn quả và cây công nghiệp khác thìchắn chắn không hoàn trả được vốn, hay chăn nuôi gia cầm, gia sức cũng trongtình trạng như vậy, Cũng có hộ vay được vốn nhưng kết quả kinh doanh không đủ
Trang 13để trả lãi không đủ để trang trại chi phí nên cũng bị bại dần, thậm chí còn mang nợhơn trước.
2.1.3.4 NGUYÊN NHÂN DO GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI ỐM ĐAU, TÀN TẬT QUANH NĂM.
Đói nghèo thường đi đôi với suy kiệt sức lực, phát sinh các loại bệnh tật Đôikhi chỉ cần một người trong gia đình bị ốm đau kéo dài là có thể kéo theo sự sụp vềkinh tế Ngoài những chi phí tốn kém để chữa trị thì phần mất mất mát nhiều hơn
là những người trong gia đình phải xếp công việc lại để phúc vụ bệnh nhân Bệnhnhân càng ốm đau kéo dài ngày thì người phúc vụ càng phải bỏ việc lâu dài, kếtquả là thu nhập kém sút hoặc không còn thu nhập mà vẫn phải chi tiêu Thực tếqua điều tra hiện nay toàn Thành phố có khoảng 32%/ tổng hộ nghèo là do nguyênnhân này
2.1.3.5 NGUYÊN NHÂN DO LƯỜI BIẾNG, MẮC TỆ NẠN XÃ HỘI, RỦI RO.
- Bất kỳ một xã hội nào cũng đều tồn tại một nhóm người lười biếng và cóthói quen hư tật xấu khác như: rượu chè, cờ bạc, nghiệm hút và đó là một nhómnguyên nhân dẫn đến một nhóm người trong cộng đồng xã hội đi phá sản cơnghiệp, chấp nhận cảnh bần cùng đói sách
- Gặp rủi ro cũng là một trong những nguyên nhân khách quan khó tránh, cónhiều loại rủi ro khác nhau Rủi ro do nhiều thiên tai khắc nghiệt gây lên tình trạngtrắng mùa ở một số nơi, rủi ro do tai nạn lao động trong lúc đi đường làm mất khảnăng lao động, một phần hay vĩnh viễn, thậm chí mất mạng gây nên những khókhăn không sao bù đắp được Qua số liệu điều tra hiện nay ở toàn Thành phố HàNội có 03%/ tổng số hộ nghèo Số liệu trên được biểu hiện trong bảng sau đây:
BẢNG 03: TỶ LỆ NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Nhóm
Thiếu kinh nghiệp SXKD
Thiếu sức lao động- đông người
ăn theo
Thiếu vốn ĐTSX
Gia đình
có người già tàn tật quanh năm
Nghèo do lười biếng, mặc nạn xã hôi, rủi ro
Trang 14(1) (2) (3) (4) (5) (6)
(Nguồn Sở LĐ TB-XH Hà Nội )
* Sự tác động qua lại giữa các nguyên nhân:
Qua phân tích các nhốm nguyên nhân trên ta có thể thấy rằng có hàng chụcnguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo Các hộ đói nghèo đa số đều chịu sự chiphối của nhiều nguyên nhân chứ ít gặp cá nguyên nhân đơn nhất một nguyên nhân.Đặc biệt có những hộ nghèo phải chịu sự ảnh hưởng của tất cả các nguyên nhân.Các nguyên nhân này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau làm chocông tác xoá đói giảm nghèo trở nên phức tạp Giữa các nguyên nhân cũng tồn tạimỗi quan hệ, sự gia tăng của nguyên nhân này làm sâu sắc thêm tác động củanguyên nhân kia, tất cả các mỗi quan hệ đó sẽ tạo thành một vòng luẩn quẩn của sựđói nghèo Lấy ví dụ như: Nghèo do thiếu vốn dẫn đến đầu tư thấp, dẫn đến thiếuđiều kiện sản xuất kinh doanh, dẫn đến năng suất thấp, dẫn đến tích luỹ thấp và nóilại là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo
Từ trên cho thấy việc xoá đói giảm nghèo không chỉ tiến hành riêng rẽ mộtgiải pháp nào đó mà phải đồng thời giải quyết tất cả các giải pháp trọng tâm, trọngđiểm, xử lý hợp lý giữa các giải pháp trước mặt và lâu dài, thông qua sự phân tíchmối quan hệ trên giữa nguyên nhân gây nên tình trạng đói nghèo
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC XOÁ ĐÓI GIẢM CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chương trình “xóa đói giảm nghèo” được Nhà nước phát động từ năm 1990nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đến năm 1994 Thành phố
Hà Nội mới được chính thức thành lập ban chỉ đạo “ trợ giúp người nghèo”