1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thu ngân sách nhà nước qua hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn

117 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

44 Biều đồ 2.9 Tăng trưởng của GDP/Người và thu NSNN qua các năm 49 Biểu đồ 2.10 Doanh số thu ngân sách nhà nước của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 50 Hình 1.2

Trang 1

ĐẶNG THỊ DIỆU LINH

THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng

Mã số: 60.31.12

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LOAN

TP Hồ Chí Minh - Năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: ĐẶNG THỊ DIỆU LINH

Sinh ngày 09 tháng 09 năm 1987 - Tại: Quảng Ngãi

Quê quán: Nghĩa Phú – Tư Nghĩa – Quảng Ngãi

Hiện công tác tại: NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN

Là học viên cao học khoá: XII của Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LOAN

Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh

Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Ngày tháng 11 năm 2013

Đặng Thị Diệu Linh

Trang 3

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT CHỮ VIẾT

1 ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

2 Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt

Nam

3 ATM Máy rút tiền tự động

4 BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

5 Cơ quan thu Cơ quan thuế, Cơ quan Hải quan

6 DongABank Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

7 Eximbank Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt

Nam

8 Ficombank Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất

9 HDBank Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành phố

Portbank Ngân hàng Bưu điện Liên Việt

14 Maritimebank Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam

15 MBbank Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

16 MHB Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long

Trang 4

STT CHỮ VIẾT

17 Navibank Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

18 NHTM Ngân hàng Thương mại

19 NSNN Ngân sách nhà nước

20 OceanBank Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương

21 Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín

22 SCB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (sau hợp nhất)

23 SCB cũ Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (trước hợp

nhất)

24 SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội

25 Southernbank Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam

26 Techcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam

27 TinNghiabank Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Tín Nghĩa

28 Tienphongbank Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong

29 T-VAN Đơn vị dịch vụ truyền nhận dữ liệu điện tử trung gian

30 Vietcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt

Nam

31 Vietnam Post Tổng công ty Bưu điện Việt Nam

32 Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

33 VIB Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế

34 VPBank Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh

Vượng

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 2.1 Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính chủ yếu năm 2012 của

Bảng 2.4 So sánh số lượng khách hàng của Ngân hàng TMCP Sài

Gòn và các ngân hàng cùng quy mô tài sản 45

Bảng 2.5

So sánh thời gian triển khai các sản phẩm dịch vụ mới

của Ngân hàng TMCP Sài Gòn với ngân hàng thương

mại Việt Nam

58

Biều đồ

2.1

Số dư huy động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn và các

ngân hàng thương mại Việt Nam 33 Biểu đồ

Số dư bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn và các

ngân hàng thương mại Việt Nam 38 Biểu đồ Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng 39

Trang 6

STT TÊN BẢNG, BIỂU, HÌNH Trang

2.6 năm 2012 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Biểu đồ

2.7

Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng TMCP

Sài Gòn và các ngân hàng thương mại Việt Nam 40

Biểu đồ

2.8

Mạng lưới của Ngân hàng TMCP Sài Gòn và các ngân

hàng thương mại Việt Nam 44

Biều đồ

2.9 Tăng trưởng của GDP/Người và thu NSNN qua các năm 49

Biểu đồ

2.10

Doanh số thu ngân sách nhà nước của Ngân hàng Nông

nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 50

Hình 1.2 Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Hải quan 6

Hình 1.3 Mô hình thu ngân sách nhà nước thông qua hệ thống

ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 20

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn 26

Hình 2.2 Hệ thống Corebanking tại các ngân hàng thương mại

trên thị trường hiện nay 42

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1

1.1 KHÁI QUÁT VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1

1.1.1 Thu ngân sách Nhà nước 1

1.1.2 Đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước 1

1.1.3 Các khoản thu ngân sách Nhà nước 2

1.1.4 Các Cơ quan thu ngân sách Nhà nước 4

1.2 DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 7

1.2.1 Vai trò của dịch vụ thu ngân sách Nhà nước quan hệ thống ngân hàng 7

1.2.2 Điều kiện để triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật 10

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai và phát triển dịch vụ thu ngân sách Nhà nước tại ngân hàng 11

1.3 THỰC TẾ TRIỂN KHAI DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM, BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN 18

1.3.1 Thực tế triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế 18

Trang 8

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN24 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN 24 2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương

2.2.1 Thực tế về việc triển khai các sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng thương mại

cổ phần Sài Gòn 31 2.2.2 Phân tích điều kiện triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn theo quy định của pháp luật 41

2.3 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 47

2.3.1 Các nhân tố thúc đẩy việc triển khai và phát triển dịch vụ thu ngân sách Nhà

nước 47 2.3.2 Các nhân tố cản trở việc triển khai và phát triển dịch vụ thu ngân sách Nhà

nước 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TRIỂN KHAI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THÔNG QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN 63 3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU TRIỂN KHAI DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN63

Trang 9

3.2 GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

PHẦN SÀI GÒN 65

3.2.1 Đăng ký triển khai dịch vụ với Kho bạc Nhà nước và các Cơ quan thu 65

3.2.2 Nhóm giải pháp về nội dung và cách thức triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước 66

3.2.3 Nhóm giải pháp hỗ trợ 73

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN 79

3.3.1 Đối với Bộ Tài chính, Tổng Cục thuế và Tổng Cục Hải quan 79

3.3.2 Đối với Hiệp hội ngân hàng 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84

KẾT LUẬN CHUNG 85

DANH SÁCH PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

M Ở ĐẦU

1 Sự cần thiết và ý nghĩa lý thuyết, thực tiễn của đề tài

NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Trong đó thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trước sự phát triển không ngừng của hệ thống công nghệ và đòi hỏi ngày càng cao về các phương tiện thanh toán, việc đẩy mạnh phát triển các khoản thu NSNN qua hệ thống ngân hàng là đòi hỏi tất yếu

Đối với các NHTM, thu NSNN là một trong những loại hình dịch vụ góp phần tăng tỷ trọng nguồn thu phí dịch vụ, phát triển thị phần, mở rộng cơ sở khách hàng, bán chéo các sản phẩm dịch vụ, tăng thêm hình ảnh và thương hiệu ngân hàng, Trong thời gian qua, một số Ngân hàng thương mại đã tích cực hưởng ứng và triển khai dịch vụ thu NSNN Tuy nhiên, dịch vụ này vẫn chưa được triển khai tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Những nội dung phân tích trên, đã gợi mở cho người viết nghiên cứu đề tài:

“Thu ngân sách Nhà nước qua hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn”

nhằm đưa ra giải pháp tối ưu nhất để SCB có thể triển khai dịch vụ thu NSNN một cách hiệu quả

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

2.1 Tô Thiện Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN Tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2015 và tầm nhìn đến 2020, Luận án tiến sĩ kinh tế [3]

Luận án nêu trên đã lý giải những lý luận cơ bản về quản lý NSNN và các hình thức quản lý ngân sách của tỉnh An Giang Đồng thời, trên cơ sở phân tích thực trạng về hiệu quả quản lý ngân sách của tỉnh và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, luận án nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh trong thời gian tới, góp phần đẩy mạnh kinh tế - xã hội của địa phương Trong đó, luận án có đề cấp đến các giải pháp quản lý nguồn thu ngân sách như:

Trang 11

tiếp tục đổi mới công nghệ trong quản lý thu NSNN, thực hiện công khai dân chủ

về quy trình công khai và nộp thuế,… (trang 153, 154 của luận án) Tuy nhiên, vì hướng nghiên cứu của luận án tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý NSNN,

do đó đề tài chỉ mới đưa ra giải pháp chung chung về việc đổi mới quản lý thu NSNN Kế thừa những phân tích, nhận định làm sáng tỏ bản chất, chức năng, vai trò của NSNN, các quan điểm về hiệu quả quản lý NSNN, cơ chế phân cấp quản lý NSNN của luận án, Người viết đưa những nội dung trên vào nhận định trong đề tài nghiên cứu về “Thu NSNN qua hệ thống Ngân hàng TMCP Sài Gòn”

2.2 Phi Nga (2009), Thí điểm thu NSNN qua hệ thống ngân hàng Công thương

Vi ệt Nam, Tạp chí ngân hàng [4]

Bài viết nêu ra các nhận định, đánh giá thực tế sau gần 3 tháng triển khai thí điểm dịch vụ thu NSNN qua hệ thống Vietinbank – ngân hàng đầu tiên triển khai dịch vụ này tại Việt Nam Bài viết thể hiện rõ lộ trình triển khai, công tác chuẩn bị, thuận lợi và khó khăn Vietinbank đã gặp phải trong quá trình thực hiện dịch vụ Đây là những kinh nghiệm quý báu được các ngân hàng thương mại kế thừa và phát huy Đề tài này cũng đã kế thừa kinh nghiệm trên khi áp dụng cho ngân hàng TMCP Sài Gòn

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực tế triển khai dịch vụ tại SCB, từ đó đánh giá điều kiện triển khai dịch vụ thu NSNN và giải pháp thúc đẩy triển khai dịch vụ này thông qua hệ thống SCB

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là ứng dụng việc thu NSNN vào hệ thống SCB dành cho Khách hàng cá nhân và tổ chức của Ngân hàng

Luận văn tập trung vào nghiên cứu thực tế về việc triển khai sản phẩm dịch vụ tại SCB từ đầu năm 2012 (sau thời điểm hợp nhất) đến hết Quý 3 năm 2013 và điều

Trang 12

kiện triển khai dịch vụ thu NSNN tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn trong giai đoạn này

5 Phương pháp nghiên cứu

Tương ứng với những nhiệm vụ được đặt ra trong đề tài, các phương pháp nghiên cứu đã thực hiện để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, bao gồm:

Phương pháp thu thập thông tin: thu thập các tài liệu về việc triển khai dịch vụ

thu NSNN; thực tế triển khai tại các ngân hàng khác, thu thập thông tin về tình hình

hoạt động kinh doanh của SCB

Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: thu thập các số liệu thứ cấp về kết quả

triển khai dịch vụ thu NSNN tại các ngân hàng Việt Nam, số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh của SCB; xử lý các số liệu thu thập được để đưa ra nhận định

Phương pháp so sánh về việc triển khai dịch vụ giữa SCB và các ngân hàng

khác trên thị trường Phương pháp phân tích, tổng hợp và kết luận được sử dụng

nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu bởi 3 chương với nhiều bảng biểu, hình minh họa có liên quan:

Ch ương 1: Tổng quan về dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng

Ch ương 2: Thực trạng về điều kiện triển khai thu NSNN tại Ngân hàng TMCP

Sài Gòn

Ch ương 3: Giải pháp triển khai dịch vụ thu NSNN tại Ngân hàng TMCP Sài

Gòn

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1.1 KHÁI QUÁT VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Thu ngân sách Nhà nước

Theo Điều 1, Luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 [15], NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Thu NSNN là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực Nhà nước, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế xã hội của Nhà nước Về bản chất thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước

Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Mọi khoản thu của Nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước;

Thu NSNN căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiện ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, v.v

Thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu

Trang 14

1.1.3 Các khoản thu ngân sách Nhà nước

Thu thu ế: là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanh

nghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Thuế có những đặc trưng:

- Là hình thức động viên một phần thu nhập của cá nhân, doanh nghiệp cho Nhà nước Cá nhân, doanh nghiệp có nghĩa vụ trích một phần thu nhập nộp cho NSNN, có thể bằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vào thu nhập) hoặc gián tiếp (VAT, thuế xuất nhập khẩu)

- Là khoản đóng góp mang tính bắt buộc vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN

- Người nộp thuế không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếp và không tương đương

L ệ phí: là khoản thu do Nhà nước quy định để Nhà nước phục vụ công việc quản lý

hành chính Nhà nước theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật

- Việt Nam có khoảng 15 loại lệ phí như lệ phí trước bạ, lệ phí đăng ký kinh doanh, lệ phí chứng thư, lệ phí công chứng, lệ phí cấp quota,…

- Tiền lệ phí thu được dùng để bù đắp các khoản chi phát sinh khi giải quyết công việc của bộ phận quản lý trực tiếp và gián tiếp

- Nếu Nhà nước quy định số tiền nộp lệ phí nào đó lớn nhằm tăng thu ngân sách thì không gọi là lệ phí mà gọi là thuế hay thuế mang tính chất lệ phí như thuế môn bài

Phí: là khoản thu do Nhà nước quy định nhằm bù đắp một phần chi phí của NSNN

mà Nhà nước dùng để:

- Đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia

Trang 15

- Tài trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng theo yêu cầu, không mang tính chất kinh doanh

Khác với lệ phí, việc thu phí chỉ nhằm để bù đắp một phần chi phí và gắn với hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng và chỉ thu theo yêu cầu Phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp và bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân do được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ công cộng nào đó do Nhà nước cung cấp Phí có tính chất hoàn trả trực tiếp

Các kho ản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước

- Thu lợi tức từ hoạt động góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước vào các

cơ sở kinh tế có lãi như lãi từ cổ phần Nhà nước giữ lại tại các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa

- Thu tiền sử dụng vốn NSNN từ các doanh nghiệp Nhà nước

- Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế

- Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi) từ các tổ chức, cá nhân trong nước vay qua Tổng cục đầu tư phát triển hoặc qua hệ thống ngân hàng

và từ chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế

Thu t ừ hoạt động sự nghiệp

- Các khoản thu do bán sản phẩm của các Đơn vị sự nghiệp như thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử của các Đơn vị nghiên cứu khoa học, bán sách do trường tự

Trang 16

Ti ền thu sử dụng đất khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất, tiền thuê mặt đất, mặt

nước

Các kho ản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân bổ sung cho vốn đầu tư

xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại địa phương

Các kho ản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước như

đóng góp quỹ an ninh, quỹ phòng chống thiên tai, ủng hộ đồng bào bão lụt,…

Các kho ản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, của các tổ chức, cá

nhân ở nước ngoài cho Chính phủ hoặc trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước

Các kho ản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi cho

đầu tư phát triển và khoản vay của Chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng

Các kho ản thu khác như khoản tiền phạt, tài sản tịch thu, di sản Nhà nước được

hưởng,…

1.1.4 Các Cơ quan thu ngân sách Nhà nước

Theo quy định tại Phần A, Khoản 2, Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 [10], Các Cơ quan thu NSNN bao gồm: Cơ quan Thuế, Hải quan và các

cơ quan khác được Chính phủ, Bộ Tài chính giao nhiệm vụ tổ chức thu NSNN có trách nhiệm phối hợp với KBNN tổ chức thu và quản lý các khoản thu NSNN, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN đầy

đủ, kịp thời

Trong đề tài này, chỉ tập trung nghiên cứu vào hai Cơ quan thu tiêu biểu: Cơ quan Thuế và Cơ quan Hải quan

C ơ quan Thuế

Trang 17

Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thuế

Nguồn: http://www.gdt.gov.vn [35]

Trong đó:

Tổng cục Thuế: là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham

mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhà nước về các khoản thu nội địa trong

phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN; tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật

Cục Thuế: là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức năng tổ chức thực

hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN thuộc phạm

vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn tỉnh/thành phố theo quy định của pháp luật

Chi cục Thuế: là tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện

công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của NSNN thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn các quận, huyện, thị xã, thành phố theo quy định của pháp luật

Trang 18

C ơ quan Hải quan

Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Hải quan

Nguồn: http://www.customs.gov.vn [33]

Trong đó:

General Department of VietNam customs (Tổng cục Hải quan): là cơ quan

trực thuộc Bộ Tài chính, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành về hải quan; thực thi pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước Tổng cục Hải quan phải tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

Local Customs Departments (Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương): là đơn vị thuộc Tổng cục Hải quan, có chức năng tổ chức thực

hiện pháp luật của Nhà nước về hải quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan trên địa bàn hoạt động của Cục Hải quan Cục Hải quan thực hiện Pháp luật về thuế và thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; đảm bảo thu đúng, thu đủ

Trang 19

và kịp thời vào NSNN theo sự hướng dẫn, chỉ đạo thống nhất của Tổng cục Hải quan Hiện nay, Việt Nam có 34 Cục Hải quan trong cả nước

Customs Branchs (Chi cục Hải quan), bao gồm Đội Kiểm soát Hải quan và

đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: là đơn vị trực thuộc Cục Hải quan, có chức năng trực tiếp thực hiện các quy định quản lý Nhà nước về hải quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật Chi cục Hải quan tiến hành thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện việc ấn định thuế, theo dõi, thu thuế nợ đọng, cưỡng chế thuế và phúc tập hồ sơ hải quan; đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào NSNN

1.2 DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

1.2.1 Vai trò của dịch vụ thu ngân sách Nhà nước quan hệ thống ngân hàng

Thu NSNN qua h ệ thống ngân hàng được hiểu là việc thực hiện các khoản

thu thuế, phí, lệ phí, các khoản phạt vi phạm hành chính của các tổ chức, cá nhân

hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ và trách nhiệm nộp NSNN theo quy định của pháp luật thông qua các điểm giao dịch thuộc hệ thống ngân hàng (Quyết định số 2269/QĐ-NHCT12 ngày 07/09/2009 về

việc ban hành Quy trình tạm thời thu NSNN trong hệ thống ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam [21]) Hoặc thu NSNN qua hệ thống ngân hàng được hiểu là việc thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN qua hệ thống giao

dịch của ngân hàng trên cơ sở kết nối, chia sẻ thông tin và dữ liệu về Người nộp thuế và số thuế phải thu của KBNN, Tổng cục thuế và Tổng cục Hải quan với ngân hàng Người nộp có thể lựa chọn hình thức nộp trực tiếp tại quầy, hoặc giao dịch qua ngân hàng trực tuyến của ngân hàng (www.vpb.com.vn [52])

Thu NSNN qua hệ thống ngân hàng có vai trò quan trọng đối với người nộp NSNN, đối với xã hội và đối với ngân hàng

Trang 20

1.2.1.1 Đối với Người nộp ngân sách Nhà nước

Dịch vụ thu NSNN đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán các khoản thu NSNN với nhiều tiện ích:

- Nộp NSNN linh hoạt, nhanh chóng và an toàn với nhiều phương thức thanh toán (tiền mặt, chuyển khoản), các kênh giao dịch đa dạng và hiện đại (tại

quầy, trên Internet Banking, ATM)

- Hỗ trợ kịp thời trong việc theo dõi và cập nhật thông tin liên quan đến các khoản phải nộp ngân sách

- Tiết kiệm thời gian, chi phí, giảm thiểu tối đa rủi ro sai sót các thông tin cơ bản như: mã chương, mã ngành…, có thể điều chỉnh kịp thời các lệnh thanh toán với Cơ quan thu trong trường hợp phát hiện thông tin có sai sót, chênh lệch

- Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, dịch vụ còn giảm thời gian lưu kho bãi, giải phóng hàng hóa nhanh chóng, giảm thiểu tối đa chi phí phát sinh ngoài ý muốn Ngay sau khi khách hàng nộp thuế xuất – nhập khẩu, thông tin nộp thuế

sẽ truyền sang KBNN để hạch toán thuế, đồng thời truyền sang Cơ quan Hải quan để thông quan hàng hóa

1.2.1.2 Đối với xã hội

Dịch vụ góp phần cải cách thủ tục hành chính, góp sức xây dựng một nền tài chính quốc gia minh bạch và hiện đại:

- Giảm thiểu thời gian, khối lượng nhập liệu, dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật đầy đủ, tiết kiệm được biên chế, trang thiết bị, kinh phí trong khâu thanh toán bằng tiền mặt tại các cơ quan, đơn vị Nhà nước có liên quan như KBNN, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,

- Hỗ trợ Nhà nước trong việc tăng cường thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Trang 21

- Phát triển các dịch vụ thu, nộp NSNN hiện đại và từng bước thực hiện chủ trương của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công

1.2.1.3 Đối với ngân hàng

Dịch vụ thu NSNN là một sản phẩm dịch vụ đặc trưng, có nhiều ý nghĩa quan trọng:

- Đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng cho khách hàng tổ chức, cá nhân hiện

hữu của ngân hàng (nộp thuế, phí, lệ phí, các khoản phạt vi phạm hành chính, vào NSNN), giúp ngân hàng mở rộng cơ sở khách hàng thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng tiềm năng khác trên thị trường

- Tăng tỷ trọng nguồn thu phí dịch vụ thông qua phí dịch vụ thu NSNN hoặc phí dịch vụ chuyển tiền, thanh toán có liên quan đến giao dịch thu NSNN Nguồn thu phí này có vị trí quan trọng trong bối cảnh khó khăn chung của thị trường, dư nợ cho vay của các ngân hàng tăng trưởng âm

- Thu hút được nguồn vốn giá rẻ từ các tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng dùng để sử dụng cho các giao dịch thanh toán, trong đó có giao dịch thanh toán cho NSNN Lãi suất ngân hàng chi trả cho các tài khoản này là lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, rất thấp

- Bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác cho khách hàng như sản phẩm tiền gửi

có kỳ hạn, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán khác,… đặc biệt, ngân hàng có thể bán chéo dịch vụ bảo lãnh thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp thông quan hàng hóa nhanh chóng và tiết kiệm chi phí

- Tăng thêm hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng vì để triển khai được dịch

vụ này, ngân hàng phải đáp ứng các chuẩn điều kiện theo quy định của Bộ tài

chính Mặt khác, những ngân hàng có dịch vụ phong phú đa dạng luôn là

những ngân hàng có hình ảnh đẹp và chiếm được lòng tin từ phía khách hàng

Trang 22

- Khi ngân hàng cho phép khách hàng nộp NSNN trực tiếp qua các kênh thanh toán hiện đại (Internet Banking, ATM,…): lượng giao dịch khách hàng trực tiếp thực hiện trên hệ thống công nghệ sẽ tăng cao, ngân hàng sẽ giảm được tối đa nhân sự thực hiện nhập lệnh tại các quầy giao dịch

- Triển khai thu NSNN là bước đệm cơ sở để ngân hàng tiếp cận các dịch vụ thanh toán khác trong khu vực công Đón đầu xu hướng trở thành Đơn vị quản

lý tài khoản thu cho các Cơ quan thu Về lâu dài, việc kê khai, nộp thuế điện

tử là hướng phát triển tất yếu của bất kỳ một quốc gia phát triển nào

1.2.2 Điều kiện để triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật

Theo Thông tư số 85/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu NSNN giữa KBNN - Tổng cục Thuế -

Tổng cục Hải quan và các NHTM [11], để nhận được văn bản chấp thuận của Cơ quan Nhà nước cho phép NHTM phối hợp triển khai dịch vụ thu NSNN, các ngân hàng phải đáp ứng được các điều kiện như:

- Đã cải cách, hiện đại hóa và triển khai hệ thống Corebanking;

- Đã có phần mềm thu NSNN tích hợp với Corebanking và có khả năng kết nối

và trao đổi thông tin với Dự án Hiện đại hóa thu NSNN của Bộ Tài chính;

- Có mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch rộng, số lượng khách hàng giao dịch

lớn để tạo thuận lợi và hiệu quả khi tổ chức phối hợp thu;

- Có đầy đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực đáp ứng tốt yêu cầu tổ chức phối hợp thu NSNN;

- Các văn bản cam kết tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc, quy trình, trách nhiệm trong việc thực hiện phối hợp thu NSNN

KBNN, Tổng cục Thuế hoặc Tổng cục Hải quan sẽ căn cứ vào các điều kiện nêu trên để xem xét và chấp thuận cho phép các ngân hàng triển khai dịch vụ thu NSNN

Trang 23

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai và phát triển dịch vụ thu ngân sách Nhà nước tại ngân hàng

1.2.3.1 Nhân tố khách quan

Khoa học kỹ thuật và công nghệ thanh toán

Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra một bước đột phá trong lĩnh vực thanh toán, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của hệ

thống thanh toán qua ngân hàng, hiện đại hóa hệ thống dữ liệu trong lĩnh vực tài chính công Nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống chính phủ điện tử với xu hướng liên kết Cơ quan Nhà nước và hệ thống ngân hàng trên cơ sở các giải pháp công nghệ nhằm cải cách các thủ tục hành chính công, minh bạch hóa, đổi mới công tác

tổ chức, quản lý các khoản thu NSNN,… khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ công dân và doanh nghiệp dễ dàng hội nhập cùng thế giới

Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ tin học và tự động hóa vào các giao dịch thanh toán, góp phần xử lý nhanh chóng, chính xác các giao dịch, đảm bảo an toàn và tiết kiệm chi phí cho khách hàng, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nền tài chính quốc gia minh bạch

Công nghệ hiện đại cho phép các ngân hàng tự động hóa các giao dịch thanh toán, xử lý nhanh chóng, chính xác các giao dịch, mở rộng phạm vi hoạt động, mang lại nhiều tiện ích cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân thực hiện giao dịch thanh toán

Công nghệ ngân hàng đang được xem là một thứ vũ khí cực mạnh trong cạnh tranh Với chức năng trung gian thanh toán của mình các ngân hàng luôn coi trọng cải tiến đổi mới công nghệ để hoàn thiện hệ thống thanh toán của mình, bởi vì ai cũng ý thức được rằng, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, công nghệ

lạc hậu sẽ dẫn tới chỗ diệt vong

Trang 24

Môi trường kinh tế

Khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các biến số vĩ

mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ làm gia tăng đáng kể các khoản thu NSNN và là cơ hội tốt trong việc đẩy mạnh các hoạt động thanh toán qua ngân hàng

Thu nhập bình quân đầu người và hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế (hay tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế) là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến mức động viên NSNN Thu nhập bình quân đầu người tác động đến các vấn đề

về chi tiêu, đầu tư, tiết kiệm của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư trong xã hội; hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế ảnh hưởng đến nguồn tài chính của quốc gia, hiệu quả đầu tư phát triển càng cao, nguồn thu vào NSNN càng nhiều; nhu cầu sử dụng

dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng theo đó tăng lên đáng kể

Ngoài ra, khi nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá tăng, nhu cầu trao đổi

mở rộng, quá trình mua bán, chi tiêu diễn ra thường xuyên, đòi hỏi công tác thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng phải phát triển kịp thời, các phương tiện thanh toán hiện đại ra đời đa dạng hơn và tiện ích hơn

Môi trường pháp lý

Một trong những giải pháp có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng đó chính là khuôn khổ pháp lý, một sự thay đổi nhỏ của pháp luật sẽ tạo cơ hội và thách thức mới cho các ngân hàng Dịch vụ thu NSNN là một trong những dịch vụ thanh toán của ngân hàng, do đó sẽ chịu những ảnh hưởng lớn từ pháp luật Khi khuôn khổ pháp lý của dịch vụ rõ ràng, đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng tham gia và rút lui khỏi thị trường dịch

vụ Ngược lại nếu khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, rõ ràng, sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc tham gia và triển khai dịch vụ

Trang 25

Môi trường văn hóa – xã hội

Môi trường văn hoá - xã hội được hình thành từ những tổ chức và những nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng, cất trữ tiền tệ và

sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động thanh toán qua ngân hàng Trình độ văn hoá - xã hội cao sẽ giúp hoạt động thanh toán qua ngân hàng phát triển mạnh và ngược lại

Do đó, một trong những yếu tố quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển

dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng nói riêng đó là sự nhận thức, hưởng ứng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp Khi người dân hiểu biết và ưa thích các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng thì họ mới tham gia sử dụng dịch vụ ngân hàng, tham gia sử dụng các kênh thanh toán hiện đại như Internet Banking, Mobile Banking,… Ngân hàng nào

có thể giúp người dân, doanh nghiệp nhận thức, hiểu rõ về các dịch vụ thanh toán hiện đại, ngân hàng đó sẽ nhận được sự hưởng ứng của khách hàng trong việc phát triển các dịch vụ thanh toán

Môi trường dịch vụ

Dịch vụ thu NSNN là một trong những dịch vụ thanh toán mới được triển khai

và phát triển trong những năm gần đây, thị trường dịch vụ tồn tại các rào cản gia

nhập và rút lui, hạn chế các ngân hàng tham gia hoặc ngừng triển khai dịch vụ (để triển khai dịch vụ ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Bộ Tài chính như đã đề cập tại mục 1.2.2; việc ngừng triển khai dịch vụ rất khó xảy ra vì chi phí đầu tư dịch vụ lớn, thương hiệu và uy tín của ngân hàng dễ bị ảnh hưởng khi ngân hàng không tiếp tục triển khai dịch vụ hoặc bị Cơ quan Nhà nước yêu cầu ngừng triển khai dịch vụ) Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho các ngân hàng

có dự định triển khai dịch vụ

Nếu số lượng các ngân hàng triển khai dịch vụ ít, những ngân hàng này có nhiều cơ hội để tăng doanh số và lợi nhuận có được từ dịch vụ Ngược lại nếu số

Trang 26

lượng các ngân hàng tham gia dịch vụ lớn, thị phần dịch vụ bị chia sẻ, nguồn thu từ dịch vụ thấp hơn, chi phí triển khai cao hơn, lợi nhuận thu được bị thu hẹp

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành ngân hàng sẽ có nhiều bước tiến trong việc phối hợp triển khai các dịch vụ thanh toán trong lĩnh vực tài chính công,

số lượng các ngân hàng tham gia triển khai dịch vụ thu NSNN được dự đoán ngày càng gia tăng, thị phần dịch vụ sẽ bị thu hẹp đáng kể theo thời gian, mức độ cạnh tranh ngày càng cao Theo đó, các ngân hàng phải phát triển dịch vụ theo chiều sâu (tăng thêm nhiều tiện ích, nâng cao chất lượng dịch vụ) mới có thể giữ vững được thị phần, tăng khả năng giữ chân và thu hút khách hàng mới sử dụng dịch vụ

1.2.3.2 Nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng

Bên cạnh các nhân tố tiên quyết về điều kiện triển khai dịch vụ, việc triển khai

và phát triển dịch vụ thu NSNN phụ thuộc vào những nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng như sau:

Chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng

Thu NSNN là một trong những dịch vụ thanh toán của ngân hàng Theo đó, để

dịch vụ có thể được triển khai thành công và phát triển liên tục, ngân hàng cần phải

có định hướng và đầu tư đúng mức cho hoạt động nghiên cứu, tổ chức và quản lý dịch vụ Các ngân hàng có đầy đủ những yếu tố trên sẽ trở thành những người đứng đầu trong lĩnh vực của mình với những sáng tạo trong việc triển khai dịch vụ mới mang lại nhiều tiện ích, ưu đãi cho khách hàng, riêng ngân hàng được hưởng lợi thế

về số lượng và doanh số giao dịch, đảm bảo thu được nhiều lợi nhuận hơn so với chi phí đầu tư ban đầu Để làm được những đều trên, các ngân hàng cần có:

- Chiến lược phát triển dịch vụ thu NSNN phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, xu thế phát triển của thị trường và quy định của pháp

luật

- Công tác nghiên cứu phát triển dịch vụ thu NSNN: Công tác nghiên cứu phát triển dịch vụ thu NSNN (bao gồm nghiên cứu phát triển nội dung dịch vụ,

Trang 27

nghiên cứu phát triển công nghệ thanh toán, nghiên cứu phát triển quy trình dịch vụ) là nền tảng cho sự thành công lâu dài của dịch vụ tại ngân hàng Nếu các ngân hàng không chú trọng việc nghiên cứu và hoàn thiện dịch vụ thì những ngân hàng này sẽ luôn đi sau về chất lượng và tiện ích dịch vụ, khó định vị và tồn tại trong điều kiện cạnh tranh ngày càng găy gắt

- Cách thức tổ chức triển khai dịch vụ hiệu quả, xác định và phân chia nhiệm vụ cho các bộ phận, nhân viên một cách cụ thể, chi tiết, công tác phối hợp công

việc cần được thực hiện nhịp nhàng hướng đến mục tiêu chung của ngân hàng

Mạng lưới và các kênh phân phối

Mạng lưới các điểm giao dịch là kênh phân phối truyền thống dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng Mạng lưới giao dịch rộng lớn sẽ tạo ra nhiều cơ hội

để ngân hàng thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ trên một không gian rộng Đặc

biệt đối với dịch vụ thu NSNN, mạng lưới hoạt động của ngân hàng có ý nghĩa quan trọng vì đối tượng nộp NSNN là các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp có thu, các hộ kinh doanh cá thể, cá nhân phân tán tại khắp các địa bàn khác nhau trên

cả nước Đặc biệt các hộ kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ tại các xã/phường/thị trấn hầu như chưa tiếp cận được các kênh phân phối hiện đại của ngân hàng

Riêng đối với nhóm đối tượng nộp NSNN là các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên tiếp cận với dịch vụ ngân hàng hiện đại (dịch vụ ATM, POS, dịch vụ ngân hàng trực tuyến,…) thì việc ứng dụng thu NSNN qua các kênh thanh toán hiện đại (ATM, Internet Banking, mobile banking, ) luôn thu hút sự quan tâm của khách hàng vì các kênh phân phối này luôn mang đến nhiều tiện ích, sự thuận tiện và chủ động trong giao dịch nộp NSNN Theo đó, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các giải pháp thanh toán, các kênh thanh toán điện tử hiện đại là xu hướng phát triển tất yếu được nhiều ngân hàng thực hiện để thu NSNN Tuy nhiên các ngân hàng cần lựa chọn hoặc kết hợp các kênh phân phối dịch vụ phù hợp với khả năng thực tế của ngân hàng về công nghệ, mạng lưới, tiềm lực tài chính,… vì đi kèm với các kênh phân phối hiện đại thì chi phí đầu tư cao hơn

Trang 28

Công nghệ

Dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng là dịch vụ thanh toán hiện đại nằm được thực hiện trên cơ sở kết nối, chia sẻ thông tin và dữ liệu về Người nộp thuế, số thuế phải thu của KBNN, Tổng Cục thuế và Tổng Cục Hải quan với các ngân hàng

Do đó, để triển khai và phát triển dịch vụ tại ngân hàng, yếu tố công nghệ đóng vai trò cực kỳ quan trọng Trong đó:

- Hệ thống Corebanking của ngân hàng phải kết nối được với hệ thống cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, Tổng Cục Hải quan và Trung tâm trao đổi dữ liệu trung ương Nếu hệ thống Corebanking của các ngân hàng hiện đại, linh hoạt, dễ dàng tích hợp với các hệ thống khác, thì ngân hàng đó có thể nhanh chóng triển khai dịch vụ với chi phí đầu tư thấp, tốc độ xử lý giao dịch cao, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ nhân viên ngân hàng tác nghiệp và khách hàng thực hiện giao dịch trực tuyến

- Phần mềm thu NSNN của ngân hàng phải có khả năng kết nối và trao đổi thông tin với dự án hiện đại hóa thu NSNN của Bộ Tài chính Các phần mềm này được tích hợp trên chương trình quản lý Corebanking nên phụ thuộc nhiều vào khả năng hoạt động của chương trình quản lý Corebanking Ngoài ra các phần mềm ứng dụng này cần được ngân hàng chú trọng các yếu tố về khả

năng tích hợp, bảo mật, giao diện,… để hỗ trợ tốt hơn cho nhân viên ngân hàng và phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng

Ngoài ra, công nghệ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các kênh phân phối dịch vụ thu NSNN đến với khách hàng, các ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin vững mạnh, hiện đại sẽ đa dạng hóa các kênh phân phối dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh phát triển các kênh thanh toán hiện đại tại ngân hàng

Nhân sự

Nhân lực được xem là tác nhân chính xây dựng các kế hoạch, đề xuất ý tưởng mới, đảm nhận vai trò chọn lựa và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào việc triển khai

Trang 29

các sản phẩm dịch vụ mới Đồng thời nhân lực là một phần của dịch vụ - tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ cho khách hàng

Chất lượng dịch vụ thu NSNN phụ thuộc nhiều vào chất lượng nguồn nhân lực, khi ngân hàng có nguồn nhân lực tốt, kết hợp với định hướng và mục tiêu phát triển phù hợp, sẽ làm cho công tác nghiên cứu, triển khai dịch vụ đạt hiệu quả cao, ngân hàng cá biệt hóa về nội dung dịch vụ, cách thức triển khai và khẳ năng phục

vụ khách hàng

Để dịch vụ thu NSNN nói riêng, các dịch vụ thanh toán nói chung được triển khai thành công, các ngân hàng cần thực hiện các hoạt động thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của ngân hàng: gồm nguồn nhân lực lãnh đạo, quản trị điều hành, nguồn nhân lực công nghệ thông tin và đội ngũ bán dịch vụ (giao dịch viên, nhân viên kinh doanh, cộng tác viên,…)

chưa từng có thông tin trước khi mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp Như vậy, khả năng cạnh tranh của dịch vụ thu NSNN của ngân hàng bị ảnh hưởng nhiều bởi thương hiệu, nếu thương hiệu của ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến với những thông điệp tốt, khách hàng sẵn sàng mở tài khoản tại ngân hàng để được trải nghiệm những tiện ích và nhận lợi ích theo mong đợi, nếu ngân hàng không xây dựng được một thương hiệu đủ mạnh, ngân hàng đó sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc gia tăng doanh số và phí dịch vụ

Trang 30

1.3 THỰC TẾ TRIỂN KHAI DỊCH VỤ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM, BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

1.3.1 Thực tế triển khai dịch vụ thu ngân sách Nhà nước tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế

1.3.1.1 Thực tế triển khai dịch vụ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công

th ương Việt Nam

Vietinbank được xem là ngân hàng đầu tiên thí điểm triển khai dịch vụ thu NSNN

Ngày 11/12/2007, Vietinbank và KBNN, Tổng cục Thuế đã ký thỏa thuận hợp tác thanh toán và tổ chức phối hợp thu NSNN

Ngày 1/3/2009, Vietinbank thực hiện triển khai giai đoạn I dịch vụ thu NSNN trực tiếp bằng tiền mặt qua ngân hàng tại 4 chi nhánh của ngân hàng ở Hải Phòng

Số lượng giao dịch và doanh số thu qua các tháng 4, tháng 5, tháng 6 tại 4 chi nhánh này tăng nhanh Đến 30/6/2009, tổng số thu đã đạt trên 18.000 giao dịch với 137 tỷ đồng

Ngày 02/04/2009, Vietinbank tiếp tục ký thỏa thuận khung hợp tác tổ chức

phối hợp thu NSNN giữa KBNN và Tổng cục Hải quan

Ngày 09/09/2010, Vietinbank đã ký kết Quy chế phối hợp bảo lãnh thanh toán thuế hàng hóa xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử với Tổng cục Hải quan VietinBank trở thành NHTM đầu tiên phối hợp với Tổng Cục Hải quan thực hiện nghiệp vụ này cho người nộp thuế

Ngày 24/01/2011, Vietinbank chính thức triển khai dịch vụ thu NSNN qua Internet tại 8 chi nhánh giúp khách hàng có thể nộp các khoản thuế nội địa và thuế xuất nhập khẩu ngay tại website của ngân hàng

Trang 31

Tính đến đầu tháng 7/2012, VietinBank đã triển khai phối hợp trực tiếp cho gần 90 chi nhánh trên 50 địa bàn, với trên 1,5 triệu giao dịch và doanh số trên 128 nghìn tỷ đồng mỗi năm

Đến 9/2013, Vietinbank đã triển khai thu NSNN tại tất cả các điểm giao dịch trên toàn quốc, bao gồm các giao dịch thu trực tiếp tại quầy giao dịch, thu qua hệ thống Internet

- Các giao dịch thu NSNN trong ngày sẽ được hạch toán kịp thời, đúng, đủ vào tài khoản của KBNN mở tại các điểm giao dịch của Vietinbank

- Thời gian giao dịch được thực hiện theo giờ giao dịch quy định hiện hành của Vietinbank

Mô hình thu NSNN đang được Vietinbank triển khai: Vietinbank là một trong

4 ngân hàng được phép mở tài khoản chuyên thu cho KBNN, do đó Vietinbank như một điểm thu thanh toán ngang hàng với KBNN theo mô hình sau:

Trang 32

Hình 1.3: Mô hình thu ngân sách nhà nước thông qua hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Nguồn: Dự án triển khai hệ thống thu hộ NSNN qua ngân hàng của FPT [1]

chứng từ, ký đóng dấu lên các liên chứng từ và chuyển trả 01 liên chứng từ cho người nộp NSNN

(3) Cuối ngày, Vietinbank kết xuất và truyền dẫn đầy đủ dữ liệu về số tiền đã thu NSNN cho KBNN, in Bảng kê giấy nộp tiền, chuyển 01 liên cho KBNN Trên cơ sở dữ liệu điện tử về thu NSNN do Vietinbank chuyển đến,

Trang 33

KBNN đối chiếu Bảng kê giấy nộp tiền với dữ liệu tương ứng trong chương trình thu NSNN, hạch toán thu NSNN chi tiết theo từng chứng từ nộp tiền điện

tử

(4) KBNN truyền dữ liệu về số tiền đã thu vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời in Bảng kê chứng từ nộp NSNN và chuyển cho Cơ quan thu

Giải pháp về công nghệ: VietinBank đã nghiên cứu và triển khai các phần

mềm ứng dụng thu NSNN trực tiếp vào hệ thống Corebanking của ngân hàng, bên

cạnh đó Vietinbank nhận được sự hỗ trợ từ Công ty Giải pháp Tài chính công (FPT-

IS PFS) trong quá trình vận hành, kết nối dữ liệu với các Cơ quan thu

1.3.1.2 Thực tế triển khai dịch vụ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế

Ngày 01/11/2011, KBNN, Tổng Cục thuế, VIBBank đã ký kết văn bản hợp tác

về tổ chức thu NSNN (bao gồm các khoản thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN bằng chuyển khoản được thực hiện tại các Đơn vị, tổ chức thuộc hệ thống thuế, KBNN và VIBBank)

Sau 6 tháng triển khai thí điểm tại một số chi nhánh, dịch vụ này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều khách hàng doanh nghiệp, với tổng thu NSNN qua VIBBank đạt trên 5.000 tỷ đồng

Ngày 11/10/2012 VIBBank cùng Tổng cục Hải quan, KBNN tổ chức hội nghị

nhằm tăng cường sự phối hợp về thu thuế - bảo lãnh thuế xuất - nhập khẩu tới doanh nghiệp trên toàn quốc Theo đó, dựa trên cơ sở kết nối trực tuyến với cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan và KBNN, các doanh nghiệp sẽ hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế xuất – nhập khẩu trong vòng 5 phút tại VIBBank Bên cạnh đó, VIBBank cũng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thuế bằng phương thức điện tử giúp doanh nghiệp có thể thông quan hàng hoá khi chưa nộp thuế

Sau hơn 3 tháng triển khai thí điểm dịch vụ thu thuế xuất nhập khẩu, số thu thuế xuất nhập qua VIBBank đạt gần 2.000 tỷ đồng Dịch vụ này nhận được sự

Trang 34

quan tâm và hưởng ứng của đông đảo doanh nghiệp bởi các giá trị mang lại cho doanh nghiệp

VIBBank miễn 100% phí chuyển tiền thanh toán thuế từ ngày 16/07/2012 đến ngày 31/12/2012

VIBBank đã lựa chọn Công ty Giải pháp Tài chính công (FPT- IS PFS) là Đơn

vị hỗ trợ giải pháp về công nghệ để triển khai ứng dụng thu NSNN VIB-Tax và hỗ trợ việc kết nối và trao đổi dữ liệu với Cơ quan thu

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

Từ thực tiễn triển khai dịch vụ thu NSNN tại các ngân hàng TMCP nêu trên,

có thể rút ra một số bài học cho SCB như sau:

Thứ nhất, việc triển khai dịch vụ được các ngân hàng thực hiện theo lộ trình

cụ thể: triển khai thí điểm tại một số điểm giao dịch trên một số địa bàn (phù hợp

với năng lực hoạt động và khả năng kết nối công nghệ của các điểm giao dịch), sau

đó dịch vụ sẽ triển khai mở rộng ra toàn hệ thống ngân hàng Ngân hàng không nên

mở rộng dịch vụ quá nhanh khi chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để đảm bảo

dịch vụ triển khai một cách hiệu quả

Thứ hai, về chương trình công nghệ: mỗi ngân hàng sẽ lựa chọn những giải

pháp về công nghệ khác nhau dựa trên đặc điểm riêng có về cơ sở hạ tầng, năng lực công nghệ và chính sách phát triển dịch vụ của mỗi ngân hàng (Vietinbank tự

nghiên cứu triển khai các phần mềm ứng dụng, chỉ thuê ngoài công ty FPT- IS PFS

hỗ trợ vận hàn, kết nối dữ liệu với các Cơ quan thu; Trong khi, VIBBank thuê ngoài công ty FPT – IS PFS thực hiện cả hai, bao gồm các phầm mềm ứng dụng và hỗ trợ vận hành, kết nối dữ liệu với các Cơ quan thu) Các ngân hàng triển khai dịch

vụ cần cân nhắc và tính toán kỹ giải pháp về công nghệ phù hợp cho ngân hàng mình (có thể thuê trọn gói, thuê một phần)

Thứ ba, các ngân hàng đang cạnh tranh để thu hút khách hàng tham gia sử

dụng dịch vụ dưới nhiều hình thức khác nhau: đa dạng hóa các kênh thanh toán (tại

Trang 35

quầy, Internet Banking, ATM, ) trong đó các kênh thanh toán tại quầy và qua Internet Banking được ưu tiên triển khai nhiều nhất

Thứ tư, bên cạnh dịch vụ thu NSNN, Vietinbank và VIBBank đều chú trọng

triển khai dịch vụ bảo lãnh thanh toán thuế hàng hóa xuất nhập khẩu bằng phương

thức điện tử cho người nộp thuế, trên cơ sở phối hợp thu NSNN giữa ngân hàng và Tổng Cục Hải quan

Thứ năm, các ngân hàng áp dụng nhiều hình thức ưu đãi khác nhau nhằm thu

hút sự quan tâm và chú ý của khách hàng như Vietinbank không thu phí dịch vụ thu NSNN, VIB miễn 100% phí chuyển tiền thanh toán thuế từ ngày 16/07/2012 đến ngày 31/12/2012 Theo đó, các ngân hàng triển khai dịch vụ thu NSNN cần nghiên cứu áp dụng các hình thức ưu đãi phù hợp nhằm thu hút khách hàng tham gia sử

dụng dịch vụ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã trình bày các vấn đề cơ bản nhất về thu NSNN, dịch vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng Trong chương này, luận văn đã tập trung làm rõ khái niệm về thu NSNN, các khoản thu NSNN, các Cơ quan thu NSNN, vai trò dịch

vụ thu NSNN qua hệ thống ngân hàng đối với người nộp NSNN, xã hội và ngân hàng Đồng thời, luận văn cũng đã nêu ra các điều kiện để ngân hàng triển khai dịch

vụ thu NSNN theo quy định của pháp luật, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến

việc triển khai và phát triển dịch vụ thu NSNN tại các NHTM, kinh nghiệm triển khai dịch vụ tại 02 NHTM tiêu biểu là Vietinbank và VIBBank, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho SCB khi triển khai dịch vụ Những nội dung trên là cơ sở phục vụ cho việc phân tích, đánh giá, đề xuất, kiến nghị tại các chương sau của đề tài

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

2.1.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính thức cấp Giấy phép số NHNN về việc thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở hợp nhất tự nguyện ba ngân hàng: ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB cũ), ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiabank) Đây là trường hợp hợp nhất đầu tiên của ngành ngân hàng tại Việt Nam

238/GP-Trước hợp nhất ba ngân hàng nêu trên đều là những ngân hàng TMCP có quy

mô vừa và nhỏ, hiệu quả hoạt động kinh doanh không cao và thường phải đối mặt với nhiều rủi ro Riêng SCB “cũ” đã có nhiều bước đột phá và phát triển hơn so với Ficombank và TinNghiabank như: được xếp hạng A trong khối Ngân hàng TMCP vào năm 2005 và là một trong số ít các ngân hàng đã thành công trong việc chào bán thêm cổ phiếu để tăng vốn

Việc hợp nhất ba ngân hàng liên quan đến những khó khăn về thanh khoản chủ yếu do ngân hàng đã dùng nhiều vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, khi nguồn vốn ngắn hạn không còn dồi dào, cả ba ngân hàng đã mất khả năng thanh toán tạm

thời và phải nhận hỗ trợ thanh khoản từ NHNN Ba ngân hàng đã họp và đi đến quyết định tự nguyện hợp nhất vào ngày 01/01/2012 để phát huy thế mạnh của nhau, tiết giảm chi phí vận hành, tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn, với khả năng tiếp cận thị trường, mạng lưới rộng lớn hơn

Trang 37

Ngân hàng hợp nhất nằm trong nhóm năm ngân hàng cổ phần lớn nhất tại Việt Nam với vốn điều lệ đạt 10.584 tỷ đồng, tổng tài sản khoảng 154.000 tỷ đồng, nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư đạt hơn 110.000 tỷ đồng,

hệ thống mạng lưới (bao gồm trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, và điểm giao dịch) là 230 đơn vị

Năm 2012 là năm đánh dấu quá trình thay đổi mạnh mẽ, để thích ứng và phát triển của SCB, thanh khoản của ngân hàng được duy trì và ngày một cải thiện Hoạt động của ngân hàng tập trung vào công tác củng cố và tái cơ cấu toàn diện ngân hàng Ngày 11/12/2012, SCB chính thức đưa vào hoạt động Công ty TNHH Một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trên cơ sở hợp nhất ba Công ty AMC của các ngân hàng SCB cũ, Ficombank và TinNghiabank

Năm 2013 là năm thứ hai SCB triển khai đề án hợp nhất, bên cạnh việc tiếp tục củng cố và tái cơ cấu toàn diện ngân hàng, SCB đẩy mạnh hoạt động kinh doanh theo hướng phát huy tối đa các sản phẩm huy động vốn đồng thời phát triển các dịch vụ để cải thiện thu nhập

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn

Trang 38

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên năm 2012 của SCB [23]

Với sơ đồ tổ chức ngân hàng hiện tại, việc triển khai các sản phẩm dịch vụ

mới dành cho khách hàng của SCB do các Phòng/Ban Hội sở phụ trách, trong đó có

ba phòng phụ trách chính: Phòng Sản phẩm Doanh nghiệp (triển khai các sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng tổ chức); Phòng Sản phẩm Cá nhân (triển khai các sản

phẩm dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân) và Phòng Tác nghiệp thẻ và Ngân hàng điện tử Trong nhiều trường hợp việc triển khai sản phẩm dịch vụ sẽ do một trong ba phòng làm đầu mối xây dựng phương án chung cho cả khách hàng cá nhân

và tổ chức với các kênh thanh toán tại quầy hoặc các kênh thanh toán điện tử Các phòng nghiên cứu sản phẩm sẽ phối hợp chặt chẽ cùng với các phòng/ban/trung tâm

Trang 39

hội sở liên quan: Phòng Kế toán, Phòng Thanh toán, Ban Pháp chế và Tuân thủ, Ban vận hành Corebanking, Phòng Marketing,… để đánh giá và hoàn chỉnh nội dung phương án trước khi triển khai sản phẩm, dịch vụ mới trong toàn hệ thống Sau khi phương án sản phẩm, dịch vụ mới được Tổng Giám đốc, Hội đồng

Quản trị duyệt thuận thông qua chủ trương triển khai, phòng phụ trách công tác bán hàng (bao gồm: Phòng Phát triển khách hàng Doanh nghiệp; Phòng Phát triển khách hàng Cá nhân, Phòng Kinh doanh thẻ và ngân hàng điện tử) sẽ phối hợp chặt chẽ

với các phòng/ban/trung tâm hội sở liên quan, sở giao dịch/chi nhánh và các đơn vị trực thuộc để tổ chức công tác tiếp thị và bán sản phẩm, dịch vụ Tùy theo mức độ phức tạp và cần thiết của sản phẩm dịch vụ, Trung tâm Đào tạo của ngân hàng sẽ phối hợp với các phòng/ban liên quan lên kế hoạch đào tạo tập huấn cho các cán bộ nhân viên trong toàn hàng Sở giao dịch, các chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết

kiệm, điểm giao dịch chịu trách nhiệm triển khai các sản phẩm dịch vụ mới đến với khách hàng

Sơ đồ tổ chức hiện nay của SCB được thực hiện theo mô hình thị trường khách hàng mục tiêu – chia thị trường thành 2 nhóm chính (nhóm khách hàng cá nhân và nhóm khách hàng tổ chức), đồng thời chuyên môn hóa công tác nghiên cứu triển khai sản phẩm dịch vụ theo các kênh thanh toán điện tử so với các kênh thanh toán truyền thống khác Mô hình này tạo điều kiện thuận lợi cho SCB phát triển các

sản phẩm dịch vụ theo định hướng khách hàng, lấy khách hàng làm trung tâm để phục vụ, thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng Tuy nhiên mô hình này sẽ gây khó khăn nhất định đến công tác nghiên cứu và triển khai dịch vụ thu NSNN dành cho cả khách hàng cá nhân và tổ chức với nhiều kênh thanh toán khác nhau, cụ thể lựa chọn phòng đầu mối nghiên cứu phương án triển khai dịch vụ (phòng Sản phẩm doanh nghiệp hoặc phòng Sản phẩm cá nhân hoặc phòng tác nghiệp thẻ và ngân hàng điện tử), công tác phối hợp giữa các phòng/ban hội sở, công tác đào tạo tập huấn,…

Trang 40

2.1.2 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương

mại cổ phần Sài Gòn

Bước sang năm 2012, SCB hoạt động trên cơ sở hợp nhất của ba ngân hàng,

được sự hỗ trợ của NHNN, cùng với việc tích cực trong công tác huy động thị

trường 1 cũng như nỗ lực xử lý và thu hồi các khoản cho vay, tình hình hoạt động

kinh doanh của ngân hàng hợp nhất đã có nhiều chuyển biến tích cực, SCB đã vượt

qua giai đoạn khó khăn về thanh khoản, ổn định bộ máy tổ chức và cải thiện hoạt

động kinh doanh Cụ thể về kết quả hoạt động kinh doanh của SCB trong năm 2012

tăng giảm

Tốc độ tăng giảm (%)

Ngày đăng: 01/10/2020, 20:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w