Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng phát triển Việt Nam luôn được tăng cường, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÀNH THÁI
KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được các mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của các hoạt động Hệ thống kiểm soát nội bộ có một vai trò quan trọng quyết định
sự thành bại của một ngân hàng Nó giúp cho ngân hàng có thể vận hành hiệu quả trên mọi lĩnh vực hoạt động Cùng với sự phát triển của xã hội và kỹ thuật hiện đại, rủi ro ngày càng phát sinh với mức độ đa dạng hơn, phức tạp hơn Do vậy việc không ngừng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ luôn là vấn đề bức thiết cho các ngân hàng cùng với việc mở rộng và phát triển các hoạt động kinh doanh ngân hàng
Đối với Ngân hàng phát triển Việt Nam vấn đề an toàn trong hoạt động luôn được đặt lên hàng đầu Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng phát triển Việt Nam luôn được tăng cường, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì hai lý do: hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng phát triển Việt Nam chưa hoàn thiện và sự vận động của kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng phát triển Việt Nam Xuất
phát từ những lý do đó mà tôi chọn đề tài “Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam”
Từ những tổng quan cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tác giả thực hiện phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, qua đó nêu ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần được nghiên cứu khắc phục trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, gồm những hạn chế chủ yếu sau:
- Ngân hàng chưa xây dựng và ban hành Quy chế cụ thể về hoạt động KSNB để tạo môi trường pháp lý vững chắc đồng thời làm cơ sở để quy định chi tiết việc tổ chức KSNB của mình;
Trang 4- Về cơ cấu tổ chức; Hiện nay Ban KTNB Hội sở trực thuộc Tổng Giám đốc; Ở cơ sở: phòng KTNB trực thuộc giám đốc các Chi nhánh nên hoạt động chưa thực sự độc lập, khách quan trong việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình;
- Các quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được xây dựng khá chặt chẽ và nghiêm ngặt, song việc phân công thực hiện chưa theo hướng chuyên trách cho từng mảng nghiệp vụ dẫn đến sự chủ quan và giảm tính kiểm soát nghiệp vụ;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa xây dựng được đội ngũ nhân viên mang tính chuyên nghiệp;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa có chế độ đãi ngộ thực sự hấp dẫn và phù hợp đối với cán bộ thực hiện công tác KSNB để kịp thời động viên, tạo động lực tốt cho đội ngũ này thực sự toàn tâm, toàn ý trong công việc;
Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên chủ yếu do điều kiện khách quan:
Ngân hàng Phát triển Việt Nam đi vào hoạt động chính thức chưa được 10 năm, tuy kế thừa từ Quỹ HTPT nhưng dù sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện mô hình ngân hàng mới ở Việt Nam
do vậy việc triển khai các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng trong đó có KSNB không tránh khỏi những khó khăn và hạn chế cần có những giải pháp để hoàn thiện trong những năm sắp tới Mặt khác, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ra đời và hoạt động trong điều kiện chưa hoàn thiện về môi trường pháp lý, chưa có sự hỗ trợ kịp thời
về cơ chế, chính sách của Chính phủ cũng như NHNN về các cơ chế lãi suất, quy định nghiệp vụ tín dụng, xử lý rủi ro
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trên, tác giả đã
đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho công
tác quản trị tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát
- Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin
- Giải pháp hoàn thiện thủ tục kiểm soát
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của mình, cụ thể:
Tôi tên là: Nguyễn Thành Thái
Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1976 - Tại: Bến Tre
Quê quán: huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
Chỗ ở hiện nay: huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
Hiện công tác tại: Ngân hàng Phát triển Việt Nam- Chi nhánh NHPT Khu vực Bến Tre – Tiền Giang
Là học viên cao học khóa XV – chương trình Tây Nam Bộ của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
từ công việc thực tế và nghiên cứu của bản thân cùng với sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Thanh Hà
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi./
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015
Nguyễn Thành Thái
Trang 6Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các bạn học viên lớp, nhóm, cùng các anh, chị đồng nghiệp và gia đình đó nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành tốt đề tài của mình
Trân trọng cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thành Thái
Trang 7MỤC LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIẾM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 6
1.1 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ 6
1.1.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ 6
1.1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ 6
1.1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý 7
1.1.2 Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ 8
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát 9
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro 10
1.1.2.3 Hoạt động kiểm soát 11
1.1.2.4 Thông tin và truyền thông 12
1.1.2.5 Giám sát và sửa chữa những sai sót 12
1.2 Kiểm soát nội bộ trong các tổ chức ngân hàng 13
1.2.1 Rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại 13
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng thương mại ảnh hưởng tổ chức kiểm soát nội bộ 14
1.2.3 Kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng 15
1.2.4 Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại 17 1.2.5 Sự cần thiết hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng 18
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá, nhân tố tác động đến hoạt động kiểm soát nội bộ của ngân hàng 19
Trang 81.3 Kinh nghiệm về tổ chức KSNB tại một số ngân hàng thương mại Việt
Nam và bài học cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam 21
1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế 21
1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 21
1.3.3 Bài học về tổ chức kiểm soát nội bộ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 25
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam 25
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 25
2.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 29
2.1.2.1 Huy động vốn 29
2.1.2.2 Sử dụng vốn 30
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 34
2.2 Hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 37
2.2.1 Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 37
2.2.2 Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 39
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát 39
2.2.2.2 Hệ thống thông tin 47
2.2.2.3 Thủ tục kiểm soát 49
2.2.3 Kết quả hoạt động của Ban KTNB - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 55
2.3 Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 61
Trang 92.3.1 Những kết quả đạt được của kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát
triển Việt Nam 61
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 69
3.1 Phương hướng hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 69
3.1.1 Định hướng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến 2020 69
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 71
3.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 73
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát 73
3.2.1.1 Về quan điểm điều hành của Ban Lãnh đạo Ngân hàng 73 3.2.1.2 Về yếu tố con người 74
3.2.1.3 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý 76
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống thông tin 76
3.2.3 Hoàn thiện thủ tục kiểm soát 77
3.3 Một số kiến nghị thực hiện giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 81
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
COSO Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về
việc chống gian lận báo cáo tài chính KSNB Kiểm soát nội bộ
KTNB Kiểm tra nội bộ HTPT Hỗ trợ phát triển ĐTPT Đầu tư phát triển TDXK Tín dụng xuất khẩu NHNN Ngân hàng Nhà nước TDĐT Tín dụng đầu tư NHTM Ngân hàng thương mại VietinBank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt Nam
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát
Hình 2.2 Tóm tắt bộ máy Ngân hàng Phát triển
Hình 2.3 Tổ chức bộ máy KSNB tại Ngân hàng
Hình 2.4 Quy trình KTNB tại Ngân hàng Phát
Bảng 2.1 Tình hình thực hiện giải ngân tín dụng
tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 34 Bảng 2.2 Tình hình thực hiện thu nợ gốc, lãi vay 35
Biểu đồ 1.1 Doanh số cho vay, dư nợ vay, nợ quá
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng là một trong những hoạt động gắn liền với sự ra đời và phát triển của một tổ chức Trong các hoạt động đó thì chức năng kiểm tra - kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng và được thực hiện chủ yếu bởi kiểm soát nội bộ của từng tổ chức, cơ quan
Hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm vụ quản
lý cho vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng bảo đảm sử dụng vốn an toàn, hiệu quả và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước Đối tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư chủ yếu là các dự án thuộc ngành, vùng kinh tế khó khăn, các chương trình kinh tế có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Với mục đích khuyến khích đầu tư, nâng cao hiệu quả
xã hội nên các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi như: Thời gian vay vốn dài, tài sản thế chấp cầm cố về cơ bản chỉ là tài sản hình thành
từ vốn vay, Do đó, hoạt động cho vay đầu tư chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro Trong
những năm tới, hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam từng bước xây dựng và phát
triển trở thành tổ chức tài chính có uy tín trong và ngoài nước với phương châm hoạt động là phát triển bền vững hiệu quả và hội nhập Với trách nhiệm là Ngân hàng Phát
triển Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển trên cơ sở bảo toàn nguồn vốn
Đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vấn đề an toàn trong hoạt động của Ngân hàng luôn được đặt lên hàng đầu Song, trên thực tế, mặc dù kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam luôn được quan tâm, nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao vì hai lý do:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn chứa đựng những hạn chế nhất định
Trang 13- Sự vận động của kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi có ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trong bối cảnh đó, Đề tài“Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu làm Luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu một cách có
hệ thống về KSNB nói chung và KSNB tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói riêng, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB phục vụ cho công tác quản trị của Ngân hàng
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong điều kiện nền kinh tế chưa ổn định như hiện nay thì kiểm soát nội bộ hoạt động ngân hàng trở nên hết sức cấp thiết và mang tính thời sự Được biết, có nhiều đề tài về kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại tập trung hai hướng là kiểm soát nội bộ ngân hàng và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng như:
- “Hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội” của tác giả Đoàn Văn Phú năm 2012
- “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các ngân hàng thương mại” của tác giả Nguyễn Hoài Nam năm 2011
- “Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam” của tác giả Lê Phương Hồng năm 2013
Nhưng, hiện nay, tác giả chưa thấy có công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chức năng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam có những khác biệt nhất định so với kiểm soát nội bộ của NHTM Do đó, trong luận
văn này sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề “Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam” Luận văn tìm hiểu về thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển
Việt Nam một cách cụ thể hơn để có thể rút ra những ưu điểm và hạn chế của kiểm soát nội bộ, xuất phát từ thực trạng để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế hiện nay
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu hệ thống về kiểm soát nội bộ trong hoạt
động ngân hàng nói chung và kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói riêng, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn
Trang 143.2 Mục tiêu cụ thể: Xuất phát từ nhu cầu bức thiết của việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Luận văn xác định các mục tiêu cần thực hiện như sau:
- Trên nền tảng cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ, người viết sẽ đi sâu phân tích
và đánh giá thực tiễn công tác xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Qua đó, đánh giá được những thành tựu đã đạt được cũng như phân tích những hạn chế còn tồn tại trong hệ thống
- Trên cơ sở đánh giá hoạt động của kiểm soát nội bộ, tác giả đưa ra đề xuất
phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tác quản trị tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
- Kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng có đặc trưng gì?
- Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam có đặc trưng gì?
- Hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam có những mặt mạnh gì? Và còn những hạn chế gì? Nguyên nhân của những hạn chế?
- Những giải pháp cần thiết phải áp dụng để hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam?
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu: Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
+ Thời gian: 2010-2014
+ Không gian: Ngân hàng Phát triển Việt Nam
+ Nội dung: Hoạt động kiểm soát nội bộ tập trung vào 2 mảng hoạt động chức năng:
Huy động vốn
Cho vay
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thống kê, mô tả: sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xử lý các số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Phân tích định tính, dựa trên dữ liệu thứ cấp để đánh giá xu hướng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và những thay đổi trong kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng
Trang 157 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ những tổng quan cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, qua đó tác giả đã nêu ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cần được nghiên cứu khắc phục trong hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, gồm những hạn chế chủ yếu sau:
- Ngân hàng chưa xây dựng và ban hành Quy chế cụ thể về hoạt động KSNB
để tạo môi trường pháp lý vững chắc đồng thời làm cơ sở để quy định chi tiết việc tổ chức KSNB của mình;
- Về cơ cấu tổ chức; Hiện nay Ban KTNB Hội sở trực thuộc Tổng Giám đốc;
Ở cơ sở: phòng KTNB trực thuộc giám đốc các Chi nhánh nên hoạt động chưa thực sự độc lập, khách quan trong việc thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình;
- Các quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được xây dựng khá chặt chẽ và nghiêm ngặt, song việc phân công thực hiện chưa theo hướng chuyên trách cho từng mảng nghiệp vụ dẫn đến sự chủ quan và giảm tính kiểm soát nghiệp vụ;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa xây dựng được đội ngũ nhân viên mang tính chuyên nghiệp;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam chưa có chế độ đãi ngộ thực sự hấp dẫn và phù hợp đối với cán bộ thực hiện công tác KSNB để kịp thời động viên, tạo động lực tốt cho đội ngũ này thực sự toàn tâm, toàn ý trong công việc;
Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên chủ yếu do điều kiện khách quan:
Ngân hàng Phát triển Việt Nam đi vào hoạt động chính thức chưa được 10 năm, tuy
kế thừa từ Quỹ HTPT nhưng dù sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện mô hình ngân hàng mới ở Việt Nam do vậy việc triển khai các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng trong đó có KSNB không tránh khỏi những khó khăn và hạn chế cần có những giải pháp để hoàn thiện trong những năm sắp tới Mặt khác, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ra đời và hoạt động trong điều kiện chưa hoàn thiện về môi trường pháp
lý, chưa có sự hỗ trợ kịp thời về cơ chế, chính sách của Chính phủ cũng như chưa có sự hỗ trợ kịp thời từ NHNN về các cơ chế lãi suất, quy định nghiệp vụ tín dụng, xử lý rủi ro
Trên cơ sở những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trên, tác giả đã đề
xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tác
quản trị tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 168 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.1 Lý luận chung về kiểm soát nội bộ
1.1.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ
1.1.1.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ
Quá trình kiểm soát là hoạt động tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người bên trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội Trong các đơn vị có quy mô lớn, chức năng kiểm soát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quá trình quản lý và được thực hiện bởi KSNB của đơn vị Thứ nhất, theo quan điểm thiên về chính sách thì khẳng định: KSNB
là toàn bộ các quy định có tính pháp lý như hệ thống về pháp luật, chuẩn mực, chế độ về nội quy, quy trình do đơn vị xây dựng Tất cả các quy định đều được tập hợp theo một quy chế cụ thể là quy chế KSNB; Thứ hai, quan điểm thiên về hành vi thì cho rằng
“KSNB chỉ đơn thuần là một hệ thống kỹ thuật, nhằm xây dựng sự kiểm soát trên mọi người và chú trọng các khía cạnh là quy trình, nhiệm vụ và công nghệ”
Định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi là của COSO (Committee of sorning), một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting) Năm 1992, trong Báo cáo của COSO được công bố với tiêu đề: Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (In-ternal control-Integrated framework), COSO đã định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả”
Spon-Theo Từ điển Kinh tế thị trường của Viện Nghiên cứu và Phổ biến tri thức bách khoa, chế độ KSNB là một chế độ quản lý kinh doanh trong nội bộ xí nghiệp được xây dựng để bảo vệ tài sản xí nghiệp an toàn, hoàn chỉnh, tăng độ chính xác và tin cậy của tài liệu kế toán, nâng cao hiệu suất công tác, thúc đẩy các đơn vị trong nội bộ phối hợp công tác nhịp nhàng, bảo đảm quán triệt phương châm kinh doanh của xí nghiệp
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400- Đánh giá rủi ro và KSNB: “Hệ thống KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho các đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để
Trang 18kiểm tra - kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”
Nhìn chung, từ những khái niệm nêu trên về hệ thống kiểm soát nội bộ có thể khái quát được một số nét cơ bản về một hệ thống kiểm soát nội bộ:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được các mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của các hoạt động
- Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị sẽ bao gồm hai phần: Phần thứ nhất là các cơ chế kiểm soát nội bộ bao gồm toàn bộ các cơ chế nghiệp vụ; các quy trình; các quy chế nghiệp vụ công với một cơ cấu tổ chức (sắp xếp, phân công phân nhiệm phân cấp, ủy quyền,…) nhằm làm cho hoạt động của đơn vị được hiệu quả, an toàn Phần thứ hai của hệ thống kiểm soát nội bộ chính là cán bộ kiểm tra giám sát chuyên trách, trong đó có kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo cho việc vận hành các cơ chế kiểm soát nội bộ nói trên được thực hiện nghiêm, có hiệu quả
- Đồng thời hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ gắn liền với mọi bộ phận, mọi quy trình nghiệp vụ và mọi nhân viên trong đơn vị ít nhiều sẽ tham gia vào việc kiểm soát nội
bộ và kiểm soát lẫn nhau (chứ không đơn thuần là chỉ có cấp trên kiểm soát cấp dưới)
1.1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý
Cần có nhận thức đúng đắn, KSNB không thể là hệ thống kỹ thuật đơn thuần cũng không thể cho rằng KSNB chỉ thuộc về các nhà quản lý mà là một hệ thống nhằm huy động mọi thành viên trong đơn vị cùng tham gia kiểm soát các hoạt động của tổ chức, vì chính họ là nhân tố quyết định mọi thành quả
Từ các quan điểm khác nhau về KSNB ta thấy KSNB là một hệ thống chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng phần việc và tìm các biện pháp ngăn chặn nó nhằm đạt được các mục tiêu đơn vị
đã đề ra KSNB là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu lớn của đơn vị Cụ thể KSNB có 4 mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất: Bảo vệ an toàn tài sản của đơn vị
Bảo vệ tài sản là không để xảy ra các rủi ro trong quá trình sử dụng và quản lý tài sản Tài sản trong đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tùy từng loại tài sản đơn vị phải thiết kế hệ thống quản lý phù hợp;
Trang 19Thứ hai: Đảm bảo độ tin cậy của thông tin, đảm bảo thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời:
Hoạt động của đơn vị là liên tục, do đó hàng ngày, hàng giờ có rất nhiều luồng thông tin vào và ra Nhà quản lý cần có những thông tin phục vụ cho việc ra quyết định Vì vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời, tin cậy, đầy đủ và phản ánh khách quan thực trạng hoạt động của đơn vị
Thứ ba: Đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, tuân thủ pháp luật và các quy trình quy định nội bộ:
Hệ thống KSNB cần được thiết kế sao cho các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động của đơn vị phải được tuân thủ đúng mức Theo đó, hệ thống KSNB phải đạt các yêu cầu sau:
- Duy trì việc kiểm tra tính tuân thủ các chính sách có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
- Ngăn chặn, phát hiện kịp thời và xử lý các sai sót, gian lận trong mọi hoạt động của đơn vị
- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, trung thực và khách quan
Thứ tư: Đảm bảo hiệu quả của hoạt động và hiệu năng quản lý: Hệ thống kiểm
soát thiết kế nhằm ngăn chặn sự trùng lặp, tránh gây lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực của đơn vị
Mục tiêu mà hệ thống KSNB hướng đến là rất rộng, bao quát lên mọi mặt hoạt động và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị Do đó, khi thiết kế hệ thống KSNB, nhà quản lý phải biết kết hợp hài hòa bốn mục tiêu trên để tạo được một hệ thống kiểm soát hữu hiệu nhất
1.1.2 Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, thế nhưng bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản Kiểm soát bao gồm các bộ phận sau:
- Môi trường kiểm soát
- Đánh giá rủi ro
- Hoạt động kiểm soát
- Thông tin và truyền thông
Trang 20- Giám sát và sửa chữa những sai sót
1.1.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát tạo ra phong thái của toàn doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến ý thức về kiểm soát của các nhân viên Nó là nền móng cho các yếu tố còn lại của
hệ thống kiểm soát nội bộ các nhân tố chính về môi trường kiểm soát là:
- Tính trung thực và giá trị đạo đức: Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá trình kiểm soát Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có các hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Muốn vậy, nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể chế thích hợp
Một cách khác để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức là phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hay điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực
- Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ năng và hiểu biết để thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu không chắc chắn họ sẽ thực hiện nhiệm
vụ được giao không hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên tuyển dụng các nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao, đồng thời phải giám sát và huấn luyện họ đầy đủ và thường xuyên
- Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán: Một sự lựa chọn của các ngân hàng trong nhiều quốc gia là thiết lập Ủy ban kiểm toán độc lập để giúp Hội đồng quản trị thực hiện những nhiệm vụ của họ Đây là Ủy ban gồm một số thành viên trong và ngoài Hội đồng quản trị nhưng không tham vào việc điều hành đơn vị Ủy ban kiểm toán có thể có những đóng góp quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị, thông qua việc giám sát sự tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nội bộ…Do đó, các chức năng quan trọng trên nên sự hữu hiệu của
Ủy ban kiểm toán và Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát
Các nhân tố được xem xét đế đánh giá sự hữu hiệu của Hội đồng quản trị hoặc
Ủy ban kiểm toán gồm mức độ độc lập, kinh nghiệm và uy tín của các thành viên trong Hội đồng quản trị hoặc ủy ban kiểm toán, và mối quan hệ của họ với bộ phận
Trang 21kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
- Triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: Triết lý quản lý thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý; phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính,
tư cách và thái độ của họ khi điều hành đơn vị Sự khác biệt về triết lý quản lý và phong cách điều hành có thể ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát và tác động đến việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị Triết lý quản lý và phong cách điều hành cũng được phản ánh trong cách thức mà nhà quản lý sử dụng các kênh thông tin và quan hệ với cấp dưới
- Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức thực chất là sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị, nó góp phần rất lớn trong việc đạt được các mục tiêu Cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động
- Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm: Phân định quyền hạn và trách nhiệm được xem là phần mở rộng của cơ cấu tổ chức Nó cụ thể hóa về quyền hạn và trách nhiệm của từng thanh viên trong các hoạt động của đơn vị, giúp cho mỗi thành viên phải hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến người khác trong việc hoàn thành mục tiêu Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau
- Chính sách nhân sự: là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về việc tuyển dụng, huấn luyện, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua tác động đến các nhân tố trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và giá trị đạo đức…
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro
Đó là quy trình của doanh nghiệp để xác định và phân tích các rủi ro đối với việc hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xác định xem các rủi ro đó được quản lý như thế nào Nó bao gồm việc xác định mục tiêu của đơn vị, nhận dạng rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro
Việc đánh giá rủi ro được coi là có chất lượng nếu:
- Ban lãnh đạo đã quan tâm, khuyến khích nhân viên quan tâm phát hiện, đánh giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn
- Doanh nghiệp đã đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thể
Trang 22nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc doanh nghiệp
đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhận
1.1.2.3 Hoạt động kiểm soát
Thủ tục kiểm soát là những cách thức xác định và trình tự cụ thể để duy trì hành
vi kiểm soát một cách thường xuyên trong tổ chức.Việc xây dựng thủ tục kiểm soát phải dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc phân công, phân nhiệm:
Nguyên tắc này không cho phép một thành viên nào được giải quyết mọi mặt của
nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc Nguyên tắc này thể hiện công việc và
trách nhiệm cần được phân chia cụ thể cho nhiều người trong một bộ phận hay nhiều bộ phận khác nhau trong một tổ chức Mục đích việc phân công, phân nhiệm rõ ràng là giúp các nhân viên kiểm soát lẫn nhau, nếu có sai sót xảy ra sẽ được phát hiện nhanh chóng, đồng thời giảm đi cơ hội cho bất kỳ thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có thể gây ra và giấu diếm sai phạm Nguyên tắc này còn có tác dụng tạo ra sự chuyên môn hoá và giúp cho việc kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc;
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm:
Theo nguyên tắc này, người quyết định và người thực hiện không bao giờ là một Nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về trách nhiệm đối với một số công việc như trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ với trách nhiệm ghi sổ kế toán, trách nhiệm xét duyệt với trách nhiệm ghi chép sổ sách Nguyên tắc này đảm bảo về trách nhiệm và công việc cho các bộ phận trong công ty cụ thể và rõ ràng, đảm bảo sự tách biệt thích hợp
về trách nhiệm ngăn ngừa sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn, đảm bảo phạm vị quyền hạn giải quyết công việc trong phạm vi nhất định
- Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn:
Trong quá trình điều hành hoạt động của tổ chức, cấp trên phải uỷ quyền cho cấp dưới một hoặc một số lĩnh vực nhất định để tạo nên sự phân chia trách nhiệm, quyền hạn, tránh sự tập trung quyền lực dễ dẫn đến “độc quyền” Bên cạnh việc uỷ quyền, để tuân thủ tốt các quyết định và giải quyết một số công việc trong phạm vi quyền hạn được giao cần có sự phê chuẩn đúng đắn Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn yêu cầu các nghiệp vụ phát sinh đều phải được uỷ quyền cho cán bộ thực hiện
phê chuẩn một cách thích hợp
Trang 231.1.2.4 Thông tin và truyền thông
Hỗ trợ việc xác định, nắm bắt và trao đổi các thông tin theo một hình thức và khuôn khổ thời gian tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện các nhiệm vụ của mình Hệ thống thông tin và báo cáo, bao gồm cả hệ thống công nghệ thông tin, các cơ chế giao tiếp và các kênh thông tin giữa các cấp và các bộ phận trong đơn vị Hệ thống này có sự phân cấp và bao hàm cả hệ thống cảnh báo rủi ro, hệ thống bảo mật và chống xâm phạm trái phép Sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành hệ thống này sẽ quyết định tính hữu hiệu, tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
Chất lượng hệ thống là tốt khi các nội dung sau được đảm bảo:
- Doanh nghiệp thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng cho ban lãnh đạo và những người có thẩm quyền
- Hệ thống truyền thông của doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền
- Doanh nghiệp có các kênh thông tin nóng cho phép nhân viên báo cáo các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp đã xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng chống thiên tai, hiểm họa và kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu
1.1.2.5 Giám sát và s ửa chữa những sai sót
Là quá trình đánh giá chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ, đảm bảo hệ thống này được triển khai, điều chỉnh và cải thiện liên tục Việc này được thực hiện thông qua việc đánh giá thường xuyên, đánh giá riêng lẻ hay kết hợp hai hình thức
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thực hiện thông qua một
bộ phận độc lập, bộ phân kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ là nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ, nó cung cấp sự quan sát và đánh giá thường xuyên và chuyên nghiệp về toàn bộ hoạt động của đơn vị cũng như tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát nội bộ đơn vị
Việc đánh giá quá trình giám sát và thẩm định hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả hay không được thể hiện qua các tiêu chí:
- Doanh nghiệp có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định
- Những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát hiện bởi kiểm
Trang 24toán nội bộ hoặc kiểm toán độc lập được báo cáo trực tiếp và kịp thời với cấp phụ trách cao hơn, kể cả ban lãnh đạo để điều chỉnh đúng lúc
- Doanh nghiệp đã yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với lãnh đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy định của doanh nghiệp cũng như quy định của luật pháp hiện hành có khả năng làm giảm
uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh tế
1.2 Kiểm soát nội bộ trong các tổ chức ngân hàng
1.2.1 Rủi ro hoạt động của ngân hàng thương mại:
Do tính phức tạp và khối lượng giao dịch lớn Cùng với tính dễ biến động của tiền tệ nên trong hoạt động của mình ngân hàng thương mại thường gặp nhiều rủi ro Các rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng bao gồm:
- Rủi ro tín dụng: Rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn Đây là rủi ro của sản phẩm dịch vụ quan trọng nhất trong ngân hàng, có tồn tại trong toàn bộ phần tài sản chứ không chỉ vốn vay
- Rủi ro về lãi suất: Rủi ro phát sinh trong trường hợp có sự thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến kết quả kin doanh của ngân hàng-bị lỗ do tăng chi phí … ví dụ lãi suất thị trường thay đổi làm giảm giá trị tài sản Hoặc phát sinh sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản Có và tài sản Nợ của Ngân hàng
- Rủi ro ngoại hối: phát sinh khi có sự biến động về tỷ giá và xuất hiện trạng thái hối đoái mở trong kinh doanh ngoại tệ
- Rủi ro thanh khoản: Rủi kho phát sinh khi ngân hàng không có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi đồng thời của khách hàng ngay lập tức do thiếu hụt tiền
dự trữ và việc chuyển đổi các tài sản Có khác sang tiền mặt gặp khó khăn, hoặc chịu ảnh hưởng của các hợp đồng vay
- Rủi ro hoạt động ngoại bảng: mặt dù hoạt động ngoại bảng không được phảnh ánh vào bảng cân đối kế toán nội bảng nhưng các hoạt động này tiềm ẩn nhiều rủi ro và có thể ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối kế toán khi các tài sản ngoại bảng chuyển thành bội bảng
- Rủi ro tác nghiệp: là rủi ro phát sinh từ những sai sót của hệ thống thông tin hoặc kiểm soát nội bộ dẫn đến thất thoát, bao gồm rủi ro an toàn chung, rủi ro giao dịch, rủi ro lạm dụng thông tin, rủi ro kiểm soát, rủi do do các nhà quản lý không nhận
Trang 25được đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin, rủi ro nhân sự, rủi ro hệ thống công nghệ thông tin, rủi ro thay đổi quản lý…
Để kiểm soát và hạn chế rủi ro, Ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại cần quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2.2 Đặc điểm của ngân hàng thương mại ảnh hưởng tổ chức kiểm soát nội bộ:
Xét dưới góc độ ảnh hưởng của nền kinh tế quốc gia, hoạt động kinh doanh của NHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác Trước hết, đó là lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, những lĩnh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực tất “nhạy cảm” nên nó đòi hỏi một sự thận trọng trong hoạt động điều hành ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh
tế xã hội Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà tiền tê là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển
và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó nó được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ
Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:
- Ngân hàng thương mại thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt, chứng từ có giá Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản
và gian lận cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch Do đó, các ngân hàng thương mại thường thiết lập những qui trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạn chế quyền hạn cá nhân và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
- Ngân hàng thương mại thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch
cả về số lượng lẫn giá trị Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập hệ thống kế toán và kiểm soát nộ bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ
- Ngân hàng thương mại thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt địa lý Điều này đòi hỏi việc phân cấp trách nhiệm và quyền hạn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, đặc điểm này cũng ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toàn hệ thống của ngân hàng
Trang 26- Các Ngân hàng thương mại thường phải tuân thủ chặt chẽ các qui định về pháp
lý trong hoạt động Các qui định này cũng thương xuyên được thay đổi và điều chỉnh
1.2.3 Kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng
Trong hoạt động của ngân hàng, việc hạn chế các rủi ro để đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả là vấn đề vô cùng quan trọng Hoạt động giúp cho lãnh đạo ngân hàng thực hiện được điều này là hệ thống KSNB của ngân hàng Nếu hệ thống KSNB không được tổ chức tốt, công tác KSNB không được quan tâm xem trọng thì việc xảy ra rủi ro, tổn thất cho ngân hàng là điều tất yếu Do đó cần thiết phải tăng cường KSNB trong hoạt động ngân hàng
Để thực hiện KSNB trong hoạt động ngân hàng, hệ thống KSNB cần phát huy hiệu lực của các yếu tố cấu thành là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin và các thủ tục kiểm soát
Về môi trường kiểm soát: Việc thiết lập một môi trường KSNB tốt là nhân tố rất
quan trọng trong hoạt động kiểm soát của ngân hàng Môi trường kiểm soát ngân hàng cũng thể hiện được nhận thức, phong cách hành động của người quản lý ngân hàng đối với tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát Môi trường kiểm soát sẽ xác lập việc thiết kế và điều hành hoạt động của chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng bao gồm quan điểm và phong cách điều hành của ban lãnh đạo, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, môi trường bên ngoài
Quan điểm và phong cách điều hành của ban lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng sẽ quyết định các chính sách, kế hoạch, quy chế hoạt động nội bộ của ngân hàng cũng như việc phân công kiêm nhiệm, thẩm quyền trách nhiệm, quy trình nghiệp vụ Quan điểm
và phong cách của lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp và mang tính quyết định đến sự hữu hiệu của hệ thống KSNB Cụ thể: Quan điểm của lãnh đạo cấp cao trong ngân hàng theo chiều hướng nào thì mục tiêu kiểm soát sẽ được triển khai theo chiều hướng đó, xác định mục tiêu kiểm soát đúng đắn là nền tảng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống KSNB trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng nói chung
Về hệ thống thông tin: Hệ thống kế toán là một bộ phận quan trọng không thể
thiếu trong hệ thống KSNB Đây là một khâu rất quan trọng trong hệ thống thông tin của ngân hàng, phản ánh toàn bộ các vấn đề phát sinh trong hoạt động của ngân hàng
Hệ thống kế toán cần được thiết kế phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý đồng thời ngăn ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra Sự kiểm soát chỉ có thể
Trang 27thực hiện tốt nếu thông tin phản ánh trung thực, đáng tin cậy, kịp thời và chính xác
Hệ thống thông tin và truyền thông nội bộ của ngân hàng cần được tổ chức theo yêu cầu đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ, dễ nắm bắt và cung cấp (có thể) đúng với người có trách nhiệm
Thủ tục KSNB: Thủ tục kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng cũng phải được
thiết lập dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc phân công phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc ủy quyền phê chuẩn Với hoạt động nhiều rủi ro thì các nguyên tắc này càng cần được quan tâm
Khi các thủ tục này được vận hành một cách hữu hiệu thông qua việc thực hiện một cách nghiêm ngặt các quy chế quản lý thì các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của ngân hàng sẽ được ngăn chặn hoặc phát hiện một cách đầy đủ, kịp thời
Sử dụng cơ chế kiểm soát thích hợp; Xem xét tính hiệu quả của cơ chế sử dụng hoặc có thể sử dụng một cơ chế hay phối hợp một số cơ chế để kiểm soát một rủi ro Vừa dùng cơ chế kiểm soát để ngăn ngừa vừa để phát hiện rủi ro
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là tập hợp các bộ phận chức năng được phân công nhiệm vụ cụ thể, có trách nhiệm và quyền hạn nhất định trong chuyên môn của mình Các bộ phận này có mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau nhằm thực hiện phối hợp đạt mục tiêu chung trong quản lý Xây dựng cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần có sự phân công rõ ràng chuyên môn hóa từng bộ phận và có sự phối hợp chặt chẽ với nhau Ngân hàng có cơ cấu tổ chức hợp lý không chồng chéo nhiệm vụ
sẽ đảm bảo cho các thủ tục kiểm soát phát huy tác dụng một cách hiệu quả nhất
Tùy theo qui mô, mức độ phạm vi và đặc thù hoạt động của mình, ngân hàng thành lập hệ thống KSNB phù hợp với cơ cấu tổ chức chuyên môn của mình, thành lập
bộ phận kiểm tra KSNB chuyên trách, chịu sự điều hành trước Tổng giám đốc (Giám đốc) Trong trường hợp không có bộ phận kiểm tra KSNB chuyên trách cũng phải thiết lập, duy trì và tổ chức thực hiện hệ thống KSNB
Chính sách nhân sự là vấn đề rất quan trọng trong môi trường kiểm soát Ngân hàng cần có một đội ngũ nhân lực đủ năng lực, có phẩm chất tốt thì quá trình kiểm soát sẽ dễ dàng, thuận tiện hơn và tất yếu hoạt động của ngân hàng sẽ có hiệu quả cao hơn Ngược lại nếu đội ngũ nhân viên của ngân hàng yếu năng lực, phẩm chất đạo đức chưa tốt thì việc kiểm soát sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả mang lại sẽ không cao Xác định được điều đó, Ngân hàng cần có chính sách đãi ngộ, ưu tiên phát triển nguồn
Trang 28nhân lực để tạo điều kiện hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững
KSNB là yếu tố cơ bản trong môi trường kiểm soát, thiết lập Hệ thống KSNB chính là xác lập một cơ chế giám sát bằng những quy định rõ ràng nhằm giảm bớt nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế của ngân hàng, quy định của luật pháp tạo điều kiện sử dụng tối ưu, phát huy các nguồn lực sẵn có, triển khai và đạt được mục tiêu đặt ra của ngân hàng
Với yêu cầu như trên, bộ phận KSNB được xem trọng trong hoạt động của ngân hàng Lãnh đạo của ngân hàng thấy rõ tầm quan trọng, sự cần thiết phải tổ chức hệ thống KSNB, tạo điều kiện về con người, cơ sở vật chất, thông tin liên lạc và các yếu
tố cần thiết để hệ thống này hoạt động
1.2.4 Nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại
- Ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ:
Các thủ tục kiểm soát phải được thiết kế sao cho có thể hướng các nghiệp vụ kinh tế xảy ra đúng nguyên tắc quy định, nhằm ngăn chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay
cố ý có thể gây thất thoát tiền bạc hoặc tài sản của ngân hàng, gây ra thiệt hại trong kinh anh Thí dụ để ngăn chặn thất thoát tiền bạc, ngân hàng quy định mọi khoản thu chi trước khi thủ quỹ thực hiện đều phải qua xét duyệt của kế toán, kiểm soát viên, kế toán trưởng…
do Bảo vệ đơn vị trước những thất thoát tài sản có thể tránh:
Đơn vị phải giữ một lượng tiền mặt lớn đủ loại bao gồm tiền mặt và các phương tiện chuyển nhượng, chúng đòi hỏi phải được quản lý về mặt vật chất cả trong khâu lưu trữ cũng như trong khâu vận chuyển Vì lý do này ngân hàng cần phải thiết lập các quy trình hoạt động, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân và lập ra một hệ thống kiểm soát nội bộ chặc chẽ với tài sản
Ngoài đặc trưng trên, có một bộ phận tài sản rất lớn của ngân hàng không thể kiểm đếm được Những tài sản này phần lớn bao gồm một giá trị lớn các khoản phải thu (phải thu tiền vay, phải thu tiền lãi, khoản dự phòng nợ khó đòi), các tài sản ngoại bảng (cam kết bảo lãnh, cam kết cho vay…) đòi hỏi ngân hàng cần phải đặc biệt chú trọng đến việc thiết lập một quy trình chặt chẽ bảo đảm kiểm soát được đầy đủ các tài sản nợ và có của ngân hàng
- Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh:
Cơ cấu kiểm soát nội bộ cần được thiết lập bao gồm những thủ tục để đảm bảo chính sách kinh doanh của ngân hàng được tất cả các nhân viên ngân hàng chấp hành
Trang 29Chẳng hạn cần phải thiết kế các biện pháp kiểm tra để đảm bảo các cán bộ tín dụng sẽ thực hiện các khoản cho vay đúng theo quy định của ngân hàng; các kế toán giao dịch thực hiện đúng các quy trình ngân hàng đã quy định về mở tài khoản, chuyển tiền…
1.2.5 Sự cần thiết hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng
Xét dưới góc độ ảnh hưởng của nên kinh tế quốc gia, hoạt động kinh doanh của NHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác Trước hết, đó là lĩnh vực kinh doanh của NHTM bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng, những lĩnh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đồi sống kinh tế xã hội Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực rất nhạy cảm nên nó đòi hỏi một sự thận trọng trong hoạt động điều hành để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế xã hội Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó nó được Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ
Xét về góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:
- NHTM thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt, chứng từ có giá Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản và gian lận cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch Do đó, các ngân hàng thường thiết lập những qui trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạn chế quyền hạn cá nhân và duy trì
hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu
- NHTM thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch cả về số lượng lẫn giá trị Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập hệ thống kế toán và kiểm soát nội
bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ
- NHTM thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt địa lý Điều này đòi hỏi việc phân cấp trách nhiệm và quyền hạn lớn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ hệ thống kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, đặc điểm này cũng ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toán hệ thống của ngân hàng
- Các NHTM thường phải tuân thủ chặt chẽ các qui định về pháp lý trong hoạt động Các quy định này cũng thường xuyên được thay đổi và điều chỉnh
Trang 30Vì vậy, đối với các ngân hàng nói chung cũng như các ngân hàng nói riêng, việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống nội bộ hiệu quả, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống đóng một vai trò vô cùng quan trọng
1.2.6 Các nhân tố tác động đến hoạt động kiểm soát nội bộ của ngân hàng
Môi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động
của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường trong đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội
bộ hay không Ví dụ, nhận thức của Ban giám đốc thế nào về tầm quan trọng của liên chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phân công, ủy nhiệm, giao việc rõ ràng, về việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chề, quy trình kinh doanh Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ
Đánh giá rủi ro: Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa
lý, bất kỳ tổ chức nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài tác động mặc khác, trong hệ thống ngân hàng thường có các loại rủi ro sau:
- Rủi ro về lãi suất: rủi ro về lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, tính thanh khoản giữa vốn huy động và việc sử dụng vốn huy động của ngân hàng trong điều kiện lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến, đều này dẫn đến khả năng giảm thu nhập của ngân hàng so với dự tính
- Rủi ro về tín dụng: rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản trong trường hợp khách hàng vay vốn không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nhu74ngh cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng
- Rủi ro về thanh khoản: rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không thể đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên hoặc đột xuất của người gửi tiền cũng như không chi trả được kịp thời các nghĩa vụ tài chính khác Rủi ro thanh khoản bắt đầu từ
sự không phù hợp về quy mô và kỳ hạn giữa các tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng tại thời điểm hiện tại hay trong tương lai Ngoài ra, yếu tố tâm lý, niềm tin của nhà đầu
tư cũng là một nhân tố quan trọng có thể gây nên rủi ro thanh khoản
- Rủi ro luật pháp: ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, một lĩnh vực nhạy cảm, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật,
có quan hệ và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều đối tượng khách hàng, tầng lớp trong xã
Trang 31hội Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới Do vậy hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước không ngừng được chỉnh sửa, bổ sung/ban hành mới để hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốc tế và cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế Việc không áp dụng kịp thời, không đúng các văn bản pháp luật điều chỉnh sẽ dẫn đến rủi ro về mặt luật pháp đối với hoạt động ngân hàng
- Rủi ro khác: Các rủi ro khác như thiên tai, địch họa… xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được hoặc không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép là những rủi ro bất khả kháng, nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản, con người và tình hình hoạt động chung của ngân hàng
Việc thường xuyên đánh giá, xem xét các loại rủi ro trên cũng là một trong những nhân tố tác động đển hiệu quả kiểm soát nội bộ ngân hàng
Các yếu tố bên trong: sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức
nghề nghiệp Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của trang thiết bị hạ tầng cơ sở Tổ chức và cơ sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất Chi phí cho quản lý và trả lượng cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do thiếu quan tâm, điều đó cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Các yếu tố bên ngoài: thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành
Thay đổi thói quen của người tiêu dung làm các sản phẩm và dịch vụ hiện hành bị lỗi thời Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động đến giá cả và thị phần
Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức… Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuất hiện và xác định các biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng
Hệ thống thông tin và truyền thông cần được tổ chức để bảo đảm chính xác, kịp thời, đầy đủ, tin cậy, dễ nắm bắt và đúng người có thẩm quyền Điều đó cũng góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống giám sát và thẩm định: là quá trình theo dõi và đánh giá chất lượng
thực hiện việc kiểm soát nội bộ để đảm bảo nó được triển khai, được điều chỉnh khi môi trường thay đổi, được cải thiện khi có khiếm khuyết Ví dụ thường xuyên rà soát, kiểm tra và báo cáo về chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ,
Trang 32đánh giá và theo dõi việc ban lãnh đạo cũng như tất cả nhân viên có tuân thủ các chuận mực ứng xử của tổ chức sau khi ký cam kết hay không
1.3 Kinh nghiệm về tổ chức KSNB của một số ngân hàng thương mại Việt Nam và bài học cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế:
Tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế, cơ cấu quản trị được xác định rõ ràng giữa Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành, trong đó HĐQT xác định chiến lược và Ban điều hành là người thực thi chiến lược Bên cạnh đó, những Ủy ban độc lập như Ủy ban tín dụng độc lập, được Chủ tịch HĐQT trao quyền và có thành viên HĐQT tham gia, không chỉ giúp HĐQT nắm vững được tình hình thực tế về tình hình tín dụng mà còn đảm bảo tính minh bạch, chất lượng hoạt động tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế
Trên thực tế, quản lý rủi ro tại Việt Nam thường phải đối mặt với vấn đề có quá
ít hoặc quá nhiều dữ liệu nhưng không phù hợp cho quá trình phạn tích đánh giá cơ hội hoặc dự phòng rủi ro Để khắc phục vấn đề này, tại Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế đã có những phòng ban chuyên trách, mô hình đồng nhất, nhất quán từ các đơn
vị kinh doanh đến bộ phận hỗ trợ Mô hình 3 tầng lớp bảo vệ (Đơn vị kinh doanh – Đơn vị quản lý – Kiểm toán nội bộ) giúp Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế tăng cường vai trò quản lý và kiểm tra hoạt động của các đơn vị kinh doanh nói riêng và của toàn hệ thống nói chung, đồng thời phòng ngừa lỗ hổng do các hình thức rủi ro gây ra như: chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố Song song đó, Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế còn nâng cao quy trình quản trị rủi ro và áp dụng công nghệ quản trị rủi ro được chuyển giao từ phía cổ đông chiến lược CBA – top ngân hàng an toàn trên thế giới
1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
VietinBank là một trong những ngân hàng khá mạnh tay đầu tư đồng bộ hệ thống công nghệ hiện đại trong quản trị rủi ro Ngân hàng này đã xây dựng hệ thống phần mềm quản lý tài sản nợ-có Qua đó nâng hiệu quả công tác điều hành vốn, quản
lý rủi ro thanh khoản, lãi suất theo đúng thông lệ quốc tế Hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ của VietinBank tiếp tục được nâng cấp, vận hành phù hợp, linh hoạt với diễn biến thị trường đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn, ổn định cũng như
Trang 33là công cụ hữu hiệu định hướng và tạo động lực kinh doanh cho cả hệ thống Đặc biệt, VietinBank đã triển khai xây dựng thành công bộ khung quy chế, quy định, quy trình QLRR thanh khoản, lãi suất và thị trường cho Chi nhánh tại CHLB Đức theo tiêu chuẩn Marisk của Đức và áp dụng vào hệ thống VietinBank
Về mô hình tổ chức: Cũng giống như ở Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế,
ở VietinBank cũng hình thành mô hình kiểm soát 3 tầng bảo vệ: bộ phận kinh doanh
và tác nghiệp, bộ phận QLRR và bộ phận KTNB, giúp cho VietinBank quản lý tốt hoạt động của toàn hệ thống và phòng ngừa hiệu quả các rủi ro có thể xảy ra
1.3.3 Bài học về tổ chức kiểm soát nội bộ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Tổng kết kinh nghiệm trên đây cho thấy, để hoàn thiện tổ chức KSNB tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, cần chú ý một số vấn đề sau đây:
- Cần xây dựng bộ máy tổ chức KSNB phù hợp với qui mô, tổ chức của tổ chức tài chính để đảm bảo vị thế, tính độc lập khách quan của KSNB KSNB cần được trực thuộc ban lãnh đạo cao nhất trong đơn vị, ví dụ Ủy ban kiểm tra hoặc Hội đồng quản trị Mô hình tổ chức của KSNB cần được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức chung của đơn vị Với các tổ chức tài chính Việt Nam, đặc điểm thường gặp là có cả
bộ phận KSNB và kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách, cần xem xét sự phù hợp, hiệu quả của các hoạt động kiểm soát để có cách thức tổ chức bộ máy KSNB phù hợp
- Về phạm vi KSNB, KSNB cần bao quát tất cả các hoạt động trong đơn vị Về nội dung, KSNB hiện đại cần chú trọng tới kiểm toán hoạt động đánh giá hiệu quả các qui trình kiểm soát, quản trị rủi ro, đánh giá hiệu quả hiệu năng các hoạt động của đơn
vị
- Về phương pháp, qui trình kiểm tra, cần chú trọng thực hiện phương pháp tiếp cận kiểm tra trên cơ sở rủi ro Đặc biệt đối với các Công ty tài chính là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tín dụng, phương pháp tiếp cận này giúp kiểm soát viên nội bộ định hướng các lĩnh vực nhiều rủi ro cần chú trọng Đây là phương pháp tiếp cận còn khá mới và chưa được thực hiện một cách chuyên nghiệp ở Việt Nam, do vậy cần được quan tâm nghiên cứu để áp dụng vào thực tế hoạt động kiểm toán
Tóm lại, KSNB được coi là một công cụ quan trọng của quản lý, một sự đánh giá độc lập trong một tổ chức nhằm làm gia tăng giá trị trong hoạt động của tổ chức
Trang 34Các đánh giá này có thể ở phạm vi rất rộng, bao gồm cả hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu năng của hoạt động quản lý, và hiệu lực của các hoạt động kiểm soát
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở Chương 1, tác giả đã trình bày những lý luận chung nhất về hệ thống kiểm soát nội bộ, giúp cho người đọc thấy được sự cần thiết khách quan về hệ thống kiểm soát nội bộ và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng Tác giả cũng đã giới thiệu hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ ngân hàng theo báo cáo của Ủy ban Basle, về các nguyên tắc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng Đồng thời, chương 1 cũng giới thiệu cho người đọc những kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng
Việc nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ ở Chương 1 sẽ là nền tảng để tác giả phân tích thực trạng xây dựng mô hình kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam ở chương tiếp theo
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 2.1 Tổng quan về Ngân hàng Phát triển Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước phù hợp với lộ trình cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Ngày 19/5/2006, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: The Vietnam Development Bank - VDB) trên cơ sở tổ chức lại Quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước với thời gian hoạt động là 99 năm kể từ ngày Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành Cùng thời điểm đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 về việc phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Phát triển
Ngân hàng Phát triển có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.Ngân hàng Phát triển được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, không phải thực hiện dự trữ bắt buộc và tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn nộp thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước
Với phương châm hoạt động “An toàn-Hiệu quả- Hội nhập quốc tế-Phát triển bền vững”, qua 10 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã được một số thành công nhất định, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Với nhiệm vụ được Chính phủ giao, Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện huy động, tiếp nhận và quản lý vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT và TDXK của Nhà nước Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình thông qua một số hoạt động chính như:
- Huy động, tiếp nhận và quản lý vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng ĐTPT và TDXK Nhà nước theo quy định của Chính phủ
-Thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT: cho vay ĐTPT; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư
- Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu: cho vay xuất khẩu; bảo lãnh TDXK;
Trang 37bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu
- Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận ủy thác
- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định của pháp luật
- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TDXK và tín dụng ĐTPT Bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Ngân hàng Phát triển cụng thực hiện các nhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao trong từng thời kỳ, ví dụ như: quản lý cấp phát, thanh toán các dự án thành phần thuộc dự án Thủy Điện Sơn La, bao gồm: di dân tái định cư, xây dựng nhà máy, làm đường giao thông tránh ngập Từ năm 2008, Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao cho Ngân hàng Phát triển thực hiện cho vay và đầu
tư xây dựng Đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng
Sốlượng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trên toàn
hệ thống hiện naytrên 3.500 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình
độ đại học và trên đại học (chiếm gần 90% tổng nhân sự), có kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng Với đội ngũ cán bộ, nhân viên năng động, nhiệt tình và có trình độ nghiệp vụ, nguồn nhân lực của Ngân hàng Phát triển Việt Nam luôn được đánh giá cao
và là một trong những tiền đề cho sự phát triển của ngân hàng trong tương lai
Hệ thống cơ sở vật chất của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã bước đầu đi vào
ổn định, đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng Mô hình tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam rộng khắp trong cả nước, quy mô vốn lớn, so với các ngân hàng thương mại nhà nước thì Ngân hàng Phát triển Việt Nam có vốn điều lệ ở mức cao, quy mô tín dụng trung dài hạn lớn hơn các NHTM khác
V ề cơ cấu tổ chức: Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức tài chính của
Chính phủ, hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng nên cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam có những nét tương đồng với các ngân hàng khác
Cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân hàng Phát triển Việt Nam là Hội đồng Quản lý do Thủ tướng Chính phủ thành lập và bổ nhiệm các thành viên Hội đồng
Trang 38Quản lý bao gồm các thành viên đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, NHNN và của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Dưới Hội đồng Quản lý là Ban Điều hành và Ban Kiểm soát; giúp việc cho Ban Điều hành là các ban chức năng như: Ban Kế hoạch Tổng hợp; Ban Nguồn vốn, Ban Tín dụng Trung ương; Ban Tín dụng Địa phương; Ban Hỗ trợ sau đầu tư và quản lý vốn uỷ thác; Ban Tín dụng xuất khẩu; Ban Quản lý vốn nước ngoài; Ban Thẩm định; Ban Tài chính Kế toán; Ban Tổ chức Cán bộ; Ban Pháp chế; Ban Kiểm tra nội bộ, Ban Quản lý tài sản và Xây dựng cơ bản nội ngành,Văn phòng đại diện; Sở Giao dịch I; Sở Giao dịch II; Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn có Trung tâm Đào tạo và nghiên cứu khoa học; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trung tâm Xử lý nợ, Trung tâm khách hàng và Tạp chí Hỗ trợ phát triển
Hội sở chính của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đặt tại Thủ đô Hà Nội; Các Sở giao dịch, các Chi nhánh, Văn phòng ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng Quản lý, Ban Kiểm soát và Bộ máy Điều hành Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Điều lệ Tổ chức
và Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Tuy mới được hình thành nhưng được tổ chức lại trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Phát triển Việt Nam hoạt động trước đây nên cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được sắp xếp lại Cơ cấu tổ chức này đảm bảo tầm quản lý rộng lớn, tạo điều kiện cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả, rộng khắp trên cả nước (xem hình 2.1)
Trang 39Hình 2.1: Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ
BAN ĐIỀU
SOÁT
HỘI SỞ CHÍNH
TW
Ban Tín dụng
Ban Tín dụng xuất khẩu
Ban Tài chính
Kế toán
Ban Q
LTS
& XD
CB nội ngành
TT Đào
Tạo &
NCKH
TT Công nghệ
TT
61 Chi nhánh /
64 tỉnh, thành
Sở giao dịch I
Văn
phòn
g đại diện
Trang 40Qua Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, có thể thấy Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức được xây dựng theo mô hình một Ngân hàng với nhiều Chi nhánh Điều này chỉ rõ lợi thế của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao từ Chính phủ và thực hiện các hoạt động nghiệp vụ mang tính truyền thống và cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác
Về mạng lưới Chi nhánh: Khác với các tổ chức tín dụng khác, việc mở rộng
quy mô, tăng cường mạng lưới chi nhánh thường tập trung ở các thành phố lớn, phân chia thành Chi nhánh cấp 1, 2 và thực hiện xuyên suốt trong cả quá trình phát triển
Với quy mô phân bố các chi nhánh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam rộng khắp tại các trung tâm hành chính - kinh tế các tỉnh, thành phố là một trong những yếu
tố quan trọng giúp cho hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam thêm phong phú, tạo khả năng đáp ứng nhanh chóng, kịp thời mọi yêu cầu giao dịch của người dân và các tổ chức kinh tế của đất nước; thuận lợi cho việc hỗ trợ phát triển kinh tế vùng miền
và các lĩnh vực, chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế Đồng thời góp phần hoàn thành nhiệm vụ của Chính phủ giao, gia tăng thêm thị phần của ngân hàng, tạo nên một môi trường cạnh tranh khá sôi nổi, đặc biệt về mặt đầu tư và các chính sách thu hút khách hàng cùng với các tổ chức tín dụng khác
2.1.2 Các hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
2.1.2.1 Huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động chủ yếu của mọi ngân hàng Tuy nhiên, đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam, vấn đề đặt ra trong hoạt động này là huy động được nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện cạnh tranh của các tổ chức tín dụng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững và khả năng tích lũy của nền kinh tế là không cao
Ngoài ra, với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án trung và dài hạn có khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam là phải có nguồn vốn hỗn hợp với lãi suất bình quân tương đối thấp, thời gian sử dụng vốn dài và chấp nhận rủi ro Trong điều kiện thị trường vốn trung, dài hạn kém ổn định, khả năng tích luỹ của nền kinh tế thấp, để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải kết hợp nỗ lực của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp
Trong tình hình đó, để thực hiện gia tăng nguồn vốn, Ngân hàng Phát triển Việt Namđã sử dụng những hình thức huy động vốn như: Huy động vốn từ Chính phủ; huy