Mô hình nghiên cứu sự tác động của nhóm yếu tố vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát và nhóm yếu tố vi mô gồm tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
- -
TRIỆU TRƯỜNG ĐĂNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
TRIỆU TRƯỜNG ĐĂNG
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HẠ THỊ THIỀU DAO
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần do
đó với nghiên cứu về "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam" trong giai đoạn 2006 - 2015
Mô hình nghiên cứu sự tác động của nhóm yếu tố vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát và nhóm yếu tố vi mô gồm tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước khách hàng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên,
tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản và khả năng thanh khoản thể hiện qua 2 chỉ
số là chỉ số thanh khoản tài sản và chỉ số liên ngân hàng
Sử dụng số liệu của 21 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ 2006 đến
2015, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản và tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng có tác động dương với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên và tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động
có tác động âm đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Các yếu tố như lạm phát, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước khách hàng, chỉ số thanh khoản tài sản và chỉ số liên ngân hàng không có ý nghĩa thống kê Sau khi phân tích kết hợp với tình hình các ngân hàng Việt Nam cho thấy hoạt động cho vay vẫn là hoạt động chính của hầu hết các ngân hàng và đòn bẩy tài chính của các ngân hàng thực hiện sẽ kém hiệu quả với tỷ lệ thu nhập lãi thuần khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản có tác động dương với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Triệu Trường Đăng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi trân trọng cảm ơn PGS TS Hạ Thị Thiều Dao đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm và bảo vệ luận văn,
Tôi chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, Thầy Cô trường Đại học Ngân hàng Tp
Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức trong gần 2 năm học vừa qua Đặc biệt là Thầy, Cô thuộc Khoa đào tạo Sau Đại Học đã hỗ trợ và thông tin kịp thời để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Và để đạt được những gì như ngày hôm nay, tôi luôn biết ơn Ba Mẹ, anh chị trong gia đình đã luôn động viên trong suốt thời gian qua Sự hỗ trợ từ bạn bè, các anh chị đồng nghiệp, Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh đã giúp tôi hoàn thành luận văn này, tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến mọi người
Triệu Trường Đăng
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Đóng góp của đề tài 4
1.8 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN CỦA NGÂN HÀNG 6
2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần 6
2.2 Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần 8
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế 8
2.2.2 Lạm phát 9
2.2.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng 10
2.2.4 Tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động 10
2.2.5 Quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản 11
2.2.6 Khả năng thanh khoản 12
Trang 72.2.7 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên 13
2.3 Các công trình nghiên cứu trước đây 15
2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 15
2.3.2 Nghiên cứu trong nước 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 21
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Mô hình nghiên cứu 23
3.2 Các biến nghiên cứu 24
3.2.1 Biến phụ thuộc 24
3.2.2 Các biến độc lập 25
3.3 Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp ước lượng 26
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 26
3.3.2 Các mô hình phân tích dữ liệu bảng 26
3.3.3 Các bước lựa chọn mô hình 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 30
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam với các yếu tố nghiên cứu giai đoạn 2006–2015 31
4.1.1 Tăng trưởng kinh tế và lạm phát 31
4.1.2 Lạm phát 33
4.1.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng 35
4.1.4 Tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động 37
4.1.5 Quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản 37
Trang 84.1.6 Khả năng thanh khoản 39
4.1.7 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên 40
4.2 Mô hình các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015 41
4.2.1 Thống kê mô tả các biến 42
4.2.2 Lựa chọn mô hình hồi quy 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 55
5.3 Hạn chế của đề tài 58
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 65
Phụ lục 1: Đối tượng nghiên cứu 65
Phụ lục 2: Kết quả hồi quy theo mô hình Pooled OLS 66
Phụ lục 3: Kết quả mô hình hiệu ứng cố định – FEM 67
Phụ lục 4: Kết quả mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên – REM 68
Phụ lục 5: Kết quả kiểm định Hausman 69
Phụ lục 6: Kết quả kiểm định LM 70
Phụ lục 7: Kết quả kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi mô hình REM 71
Phụ lục 8: Kết quả hồi quy mô hình GLS 71
Trang 9i
DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 BCTN Báo cáo thường niên
3 FEM Fixed Effects Model – Mô hình tác động cố định
4 GLS Generalized Least Squares (GLS) – Phương pháp bình phương
tối thiểu tổng quát
5 IFS International Financial Statistics
6 IMF International Monetary Fund
7 NHNN Ngân hàng Nhà nước
8 NHTM Ngân hàng thương mại
9 NIM Net interested margin – Tỷ lệ thu nhập lãi thuần
10 OECD Organization for Economic Co-operation and Development -
Trang 10ii
DANH M ỤC BẢNG
Bảng 4.1: Tóm tắt thống kê mô tả các biến nghiên cứu 42 Bảng 4.2: Kết quả kiểm định tương quan của các biến nghiên cứu 44
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy theo mô hình Pooled OLS 46 Bảng 4.5: Kết quả mô hình tác động cố định – FEM 47 Bảng 4.6: Kết quả mô hình tác động ngẫu nhiên REM 48
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định hiện tượng tương quan chuỗi mô hình REM 51 Bảng 4.10: Kết quả hồi quy theo phương pháp GLS 51
Trang 12tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam để có cái nhìn tổng quát và giúp cải thiện được lợi nhuận và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
Khởi đầu với nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) và các nghiên cứu sau này nhằm hoàn thiện đánh giá có thể kể đến như McShane và Sharpe (1985) với đánh giá tác động cơ bản của rủi ro thị trường, của Hawtrey và Liang (2008) với đối tượng nghiên cứu thuộc các nước trong khối OECD Các nghiên cứu trong nước trước đây cũng đặt ra nhiều vấn đề xung quanh việc xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tuy nhiên về khung thời gian nghiên cứu cũng như sự đa dạng về các yếu tố nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, một mặt đề tài xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ 2006-2015, đây
là khoảng thời gian bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2009 và 2007 năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, giai đoạn này đánh dấu nhiều thay đổi trong nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Mặt khác, đề tài cũng đánh giá lại một số yếu tố mà các nghiên cứu trước đây đã xem xét
Trang 132
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Rose (1999), mục tiêu dài hạn của một số ngân hàng mong muốn tăng trưởng nhanh hơn và đạt được các mục tiêu tăng trưởng dài hạn Ngược lại, có ngân hàng thích sự ổn định - tối thiểu hóa rủi ro, đảm bảo sự lành mạnh cho ngân hàng nhưng với mức thu nhập khiêm tốn cho các cổ đông Tất cả các mục tiêu trên đều có những vấn đề cần xem xét, những nguyên tắc cơ bản về quản trị tài chính đã khẳng định chắc chắn rằng tối đa hóa giá trị cổ phiếu của ngân hàng là một mục tiêu then chốt cần được ưu tiên hơn các mục tiêu khác Nếu giá trị cổ phiếu không thể tăng như mong đợi, các nhà đầu tư hiện đại có thể tìm cách bán cổ phiếu và ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc huy động thêm vốn mới để hỗ trợ cho sự tăng trưởng trong tương lai Rõ ràng là khi đó ngân hàng nên theo đuổi mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ phiếu Lợi nhuận
và rủi ro là hai lựa chọn đánh đổi lẫn nhau trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào Hoạt động cho vay vẫn là hoạt động kinh doanh chính của các ngân hàng, thu nhập chủ yếu cũng từ hoạt động này Tỷ lệ thu nhập lãi thuần từ 2006-2015 của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam biến động khá mạnh trong hoàn cảnh nền kinh tế thế giới trong và sau khủng hoảng tài chính thế giới, với sự sụp đổ của rất nhiều của các định chế tài chính lớn trên thế giới và trong nước với hàng loạt các chính sách ban hành để vực dậy nền kinh tế trong, sau khủng hoảng hoàn thiện hoạt động của các ngân hàng
Chưa khi nào hệ thống ngân hàng Việt Nam lại có nhiều sự biến động nói chung
và tỷ lệ thu nhập lãi thuần nói riêng và đối với nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam hiện nay thì kênh huy động vốn từ ngân hàng vẫn chiếm phần lớn khi mà thị trường tài chính chưa đáp ứng được nhu cầu Do đó, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò trọng yếu cho trong hoạt động của nền kinh tế, và hoạt động tín dụng vẫn là hoạt
động mang lại lợi nhuận cao nhất Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập
lãi thuần, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố Kết quả nghiên cứu sẽ xác định những yếu
Trang 143
tố mới và đánh giá lại các yếu tố mà các nghiên cứu trong nước trước đây đã phân tích
về sự tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM cổ phần Việt Nam
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam với nhóm yếu tố vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát và nhóm yếu tố vi mô gồm tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước khách hàng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên,
tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ
lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản và khả năng thanh khoản thể hiện qua 2 chỉ số là chỉ số thanh khoản tài sản và chỉ số liên ngân hàng trong giai đoạn 2006 - 2015
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2006-2015
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, nghiên cứu tìm cách trả lời các câu hỏi sau:
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như thế nào?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là 21 NHTM cổ phần Việt Nam có đầy đủ số liệu trong giai đoạn 2006-2015 (phụ lục 1) Thời gian nghiên cứu của đề tài trong giai đoạn 2006-2015 vì trong khoảng thời gian bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2007-2009 và 2007 năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, giai đoạn này đánh dấu nhiều thay đổi trong nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng
Trang 154
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thu thập và xử lý số liệu để mô
tả mẫu nghiên cứu, phân tích thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2015 Sau đó, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, đề ra mô hình kinh tế lượng các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006-2015 Trong đó, biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập lãi thuần, các biến độc lập gồm nhóm biến vĩ mô và biến vi mô
Nhằm xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy mô hình GLS từ đó đánh giá tác động của các yếu tố
1.7 Đóng góp của đề tài
Xác định và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2006-2015, từ đó giúp cho các ngân hàng sẽ có định hướng trong việc cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng Đề tài có nghiên cứu về mức độ tác động của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, khả năng thanh khoản của ngân hàng thể hiện qua chỉ số thanh khoản tài sản
và chỉ số liên ngân hàng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
1.8 Kết cấu luận văn
Đề tài nghiên cứu có 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng Chương này trình bày về các yếu tố dự kiến được xem xét nghiên cứu như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát, tăng trưởng và rủi ro tín dụng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận
Trang 165
biên, tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động và khả năng thanh khoản
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố
Chương 5: Kết luận, kiến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài Trình bày tóm tắt kết quả đạt được và các khuyến nghị Đưa ra các hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 176
C HƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN CỦA
NGÂN HÀNG 2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) về tỷ lệ thu nhập lãi thuần là khung tham chiếu cho những nghiên cứu về những yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Mô hình mở rộng và tích hợp phương pháp bảo hiểm rủi ro và tối đa lợi ích dự
kiến (Pyle, 1970) Ngân hàng được xem hoạt động theo hướng ngại rủi ro giữa tiền gửi
và tiền vay, điều này đến một cách ngẫu nhiên với xác suất phụ thuộc vào mức biên lợi nhuận ngân hàng xác định và độ co giãn của cầu khoản vay so với cung tiền gửi, sự ngẫu nhiên này cho thấy ngân hàng chịu rủi ro về lãi suất Giả sử cung tiền gửi mới vào ngân hàng nhưng cao hơn nhu cầu vay, thì ngân hàng sẽ đầu tư trên thị trường tiền tệ điều này tương ứng ngân hàng sẽ chịu rủi ro tái đầu tư Mặt khác nếu cầu cho vay lớn hơn cung tiền gửi thì ngân hàng phải huy động trên thị trường và cho vay lại tức là sẽ chịu rủi ro tái cấp vốn và trong cả hai trường hợp ngân hàng đều chịu rủi ro tín dụng
Do đó, một ngân hàng ngại rủi ro sẽ yêu cầu mức biên lợi nhuận cao hơn Mức chênh lệch lãi suất thuần được tính như sau:
s = R L - R D = (a + b)
Trong đó: R L là lãi suất cho vay, R D là lãi suất tiền gửi, a là phí tính bởi ngân hàng để cung cấp khoản vay, b là phần bù rủi ro bù đắp cho rủi ro tái đầu tư
Ho và Saunder cho rằng mức lãi suất tiền gửi và tiền vay phụ thuộc vào 4 yếu tố
đó là: mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường ngân hàng, kích thước bình quân những giao dịch ngân hàng, sự biến động lãi suất, thể hiện qua công thức như sau:
s = (a + b) = α/β + 1/2Rσ i 2 Q
Trong đó:
- α/β: đo lường độ co giãn của cung và cầu vốn;
- R: đo lường mức độ ngại rủi ro;
Trang 187
- Q: đo lường quy mô giao dịch;
σi2: đo lường phương sai lãi suất
Bản chất của một ngân hàng thương mại ban đầu là huy động và cho vay, sau này phát sinh thêm các hoạt động khác như bảo lãnh, phát hành chứng khoán, các dịch
vụ thẻ, bảo lãnh thanh toán, giao dịch ngoại hối, chứng khoán… để tăng khả năng sinh lời, phân bổ rủi ro
Theo Rose (1999), tỷ lệ thu nhập lãi thuần đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đổi các nguồn vốn có chi phí thấp Công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) như sau:
NIM = Thu nhập lãi thuần trong kỳ
Tổng tài sản sinh lời bình quân Thu nhập lãi thuần của ngân hàng: Theo Nguyễn Thị Loan (2012), doanh thu
của các ngân hàng thương mại được hình thành từ lãi, phí các hoạt động cấp tín dụng, kinh doanh đầu tư chứng khoán, từ kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ ngoại bảng khác Trong đó, thu nhập lãi chiếm tỷ trọng chủ yếu trong doanh thu của các ngân hàng thương mại trong khoảng giai đoạn từ 2006 – 2015 là khoảng 70% – 90% tổng thu nhập hoạt động của các ngân hàng Chi phí của Ngân hàng thương mại bao gồm các khoản chi trả lãi tiền gửi của khách hàng, chi trả lãi tiền vay, chi kinh doanh ngoại
tệ vàng bạc đá quý, chi quản lý Trong đó chi trả lãi tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất Để hạ thấp chi phí nhằm đảm bảo kinh doanh có lãi phải có biện pháp giám sát hợp lý với từng loại chi phí Ngân hàng thương mại áp dụng nguyên tắc dồn tích để hạch toán dự thu và dự trả lãi Nếu chỉ xem xét con số tuyệt đối mà chưa xem xét đến quy mô tài sản, cụ thể là tài sản sinh lãi của ngân hàng đó có thể không đánh giá chính xác khả năng tạo ra thêm lợi nhuận từ lãi vay ròng từ một đồng tài sản sinh lời
Tài sản sinh lãi: các khoản tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi và cho vay
Trang 198
ở các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán nợ đầu tư, cho vay khách hàng, các công cụ tài chính phái sinh và tài sản tài chính khác, Mỗi loại tài sản
do đặc thù rủi ro và lợi nhuận khác nhau mà cho sinh lãi suất khác nhau
Một ngân hàng có khả năng phân bổ tài sản vào các tài sản sinh lãi tốt nhất, cho thu nhập lãi trong kỳ tốt nhất trong việc huy động nguồn và sử dụng nguồn vào những nơi hiệu quả nhất sẽ cho chỉ số NIM cao, bền vững Đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi suất, tùy theo chu kỳ tín dụng, chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước ở từng thời kỳ, bản thân ngân hàng ở chính sách cho vay ồ ạt hay thận trọng mà chỉ số NIM ở các thời kỳ khác nhau có thể khác nhau (ở cùng một ngân hàng) và giữa các ngân hàng khác nhau trong ngành
2.2 Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Theo Mankiw (2014), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất
cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định GDP (ký hiệu là Y) được chia thanh bốn thành phần: tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu của Chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX):
Y = C + I +G + NX
GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế GDP thực là sản lượng hàng hóa và dịch vụ được định giá theo mức giá cố định GDP thực chỉ phản ánh sự thay đổi của số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất, vì vậy GDP thực là thước đo sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế
Bernake và Gertler (1990) cho rằng sự tăng trưởng kinh tế sẽ làm tăng giá trị ròng của người đi vay, do đó làm giảm mức lãi biên Gelos (2009) tìm được sự nghịch biến giữa tăng trưởng GDP và mức lãi biên Trong nền kinh tế tăng trưởng nhu cầu về vốn tín dụng cho chi tiêu tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ… sẽ tăng, mặt khác
Trang 209
nguồn tiền tạo ra từ các thành phần kinh tế cũng tăng từ đó tạo ra nguồn huy động lớn cho các ngân hàng Do đó, nếu ngân hàng kiểm soát được chi phí huy động vốn và lãi suất cho vay sẽ tác động tốt đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần và ngược lại Điều này cho thấy cần thiết đề xuất vào mô hình nghiên cứu để đánh giá sự tương quan giữa tốc độ tăng trưởng GDP với tỷ lệ thu nhập lãi thuần tại Việt Nam
2.2.2 Lạm phát
Theo Mankiw (2014), lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch
vụ theo thời gian Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một thước đo chi phí tổng quát của các hàng hóa và dịch vụ được mua bởi một người tiêu dùng điển hình Tính toán tỷ lệ lạm phát bằng cách sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính toán tỷ lệ lạm phát, đó là phần trăm thay đổi của chỉ số giá so với kỳ trước Tức là, tỷ lệ lạm phát giữa hai năm liên tiếp được tính như sau:
Tỷ lệ lạm phát năm t = * 100
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được thể hiện thông qua hiệu ứng Fisher:
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Lạm phát
Ngoài ra, khi nền kinh tế trong tình trạng lạm phát, công cụ đầu tiên mà các ngân hàng trung ương thực hiện là chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm tăng lãi suất và ngược lại, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn số tiền
có trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm, cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế Do đó, giữa lãi suất cho vay và huy động vốn
sẽ có mối quan hệ với lạm phát Như vậy, lãi suất và tỷ lệ lạm phát có mối liên hệ,
nghiên cứu của Honohan (2003) và Gelos (2009) cho thấy sự tương quan thuận chiều giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng
Trang 2110
2.2.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của các ngân hàng, do đó biến động tăng giảm trong hoạt động tín dụng sẽ ít nhiều tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng
Theo Rose (1999), một số tài sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản Một trong những chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất trong việc đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng là
tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay và cho thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu
Theo Bùi Diệu Anh (2013), rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận, trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đối với các khách hàng rủi ro cao, thì ngân hàng sẽ áp dụng lãi suất cao hơn để cân bằng giữa lợi ích mang lại và rủi ro từ phía khác hàng, mà rủi ro tín dụng được coi như là tất yếu, do đó nếu rủi ro tín dụng càng cao thì lãi suất cho vay
sẽ càng cao, trường hợp này sẽ tác động dương đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Angbazo (1997) đã nghiên cứu về mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tỷ lệ thu nhập lãi thuần
và dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước khách hàng Nhiều nghiên cứu khác cũng đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa rủi ro tín dụng
và tỷ lệ NIM như nghiên cứu của Maudos và Guevara (2004)
2.2.4 Tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động
Theo Rose (1999), kiểm soát chi phí là sự khác biệt quan trọng nhất giữa những ngân hàng đứng đầu và các ngân hàng khác Các ngân hàng có lợi nhuận cao kiểm soát chi phí hoạt động tốt hơn về chi phí lãi cũng như chi phí ngoài lãi trung bình - chi phí nhân sự, chi phí gián tiếp và các khoản vay thất thu được duy trì ở mức thấp Nhìn
Trang 2211
chung, tỷ số giữa chi phí hoạt động trên tổng thu hoạt động thấp hơn đáng kể so với tỷ
số này của các ngân hàng có lợi nhuận thấp Khi tỷ lệ tài sản sinh lời giảm, hội đồng quản trị và nhân viên của ngân hàng phải làm việc tích cực hơn để có thể duy trì mức thu nhập hiện tại
Angbazo (1997) và Maudos & Guevara (2004) cho rằng chất lượng quản lý tốt chọn tài sản chất lượng cao (nguy cơ thấp và các tài sản lợi nhuận cao) và chi phí nợ phải trả thấp Khi tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động tăng có nghĩa là một sự suy giảm chất lượng quản lý và sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần Theo Maudos và Solis (2009) có mối quan hệ tiêu cực kể từ mức cao của sự thiếu hiệu quả có thể hàm ý các ngân hàng lựa chọn tài sản ít lợi nhuận cao nợ phải trả chi phí (tăng biên độ lãi suất) Nghiên cứu của Garcia (2010), cho rằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động có tác động ngược chiều với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.5 Quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài
sản
Theo Rose (1999), tỷ trọng vốn chủ sở hữu là một phương pháp đo lường trực
tiếp mức đòn bẩy tài chính của ngân hàng - bao nhiêu đồng giá trị tài sản được tao ra trên cơ sở một đồng vốn chủ sở hữu và ngân hàng phải dựa vào nguồn vay nợ là bao nhiêu Bởi vì vốn chủ sở hữu có chức năng bù đắp thua lỗ nên tỷ trọng này càng nhỏ thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng cao Và điều này cũng có nghĩa rằng, tiềm năng
về thu nhập của cổ đông càng lớn Đòn bẩy tài chính là một trong những nhân tố làm tăng thu nhập Nhìn chung các ngân hàng đứng đầu về thu nhập thường hạn chế việc sử
dụng vốn chủ sở hữu với chi phí cao và chủ yếu dựa vào tác động đòn bẩy tài chính của khoản nợ dài hạn và ngắn hạn chi phí thấp Do đó, nếu dùng nhiều vốn chủ sở hữu
và làm cho tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản cao thì chi phí sử dụng vốn hay tỷ suất sinh lời yêu cầu sẽ cao hơn, đồng nghĩa với mức lãi suất áp dụng cũng sẽ cao hơn
Đề tài nghiên cứu các tỷ lệ về cơ cấu tài sản và nguồn vốn là tỷ lệ vốn chủ sở
Trang 2312
hữu/tổng tài sản, tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản Nguồn vốn của ngân hàng gồm nhiều nguồn nhưng chủ yếu vẫn từ huy động trong nền kinh tế và vốn đầu tư của chủ sở hữu Việc phân bổ nguồn vốn vào các tài sản sẽ tác động đến thu
nhập, rủi ro của từng ngân hàng Nhìn chung, cơ cấu tài sản vẫn tập trung chủ yếu vào cho vay đối với nền kinh tế, tuy nhiên cơ cấu này có sự thay đổi qua từng thời kỳ, cũng như các ngân hàng đã và đang đa dạng hóa danh mục sử dụng nguồn thông qua cho vay trên thị trường liên ngân hàng, đầu tư và kinh doanh chứng khoán, mua bán nợ…
nhằm tối đa hóa việc sử dụng vốn Do đó, cần đánh giá cơ cấu nguồn vốn cũng như việc sử dụng nguồn tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần để các ngân hàng có thể phân
bổ tài sản một cách hợp lý nhằm cải thiện và gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi thuần Theo nghiên cứu của Maudos và Guevara (2004) cho thấy tỷ lể vốn chủ sở hữu/tổng tài sản
có tác động dương với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.6 Khả năng thanh khoản
Theo Rose (1999), một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý
phải thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu Khả năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang trong tình trạng có
vấn đề về tài chính Lượng tiền gửi của ngân hàng có vấn đề thường giảm dần, làm
giảm nguồn cung ứng tiền và buộc ngân hàng phải bán dần các tài sản có tính thanh khoản cao Những ngân hàng khác sẽ không muốn cho vay đối với ngân hàng có vấn
đề nếu như không có sự bảo đảm bổ sung hay lãi suất không được nâng lên và điều này
sẽ làm giảm thu nhập, đe dọa sự tồn tại của ngân hàng Đảm bảo khả năng thanh khoản
hợp lý là một vấn đề không bao kết thúc đối với hoạt động quản lý và mang ý nghĩa to
lớn đối với khả năng sinh lời của ngân hàng Giải quyết các vấn đề thanh khoản luôn
gắn với chi phí, bao gồm chi phí trả lãi vốn vay, chi phí giao dịch (về thời gian và tiền)
Trang 2413
cho việc tìm kiếm vốn thanh khoản và cả chi phí cơ hội tồn tại dưới hình thức những khoản thu nhập trong tương lai sẽ bị bỏ qua khi ngân hàng phải bán đi những tài sản sinh lời để đáp ứng yêu cầu thanh khoản Nếu một ngân hàng quá tập trung quản lý thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản ngắn hạn, với suất sinh lời thấp, thậm chí
bằng không như gửi tiền ở Ngân hàng Nhà nước, lợi nhuận mà ngân hàng nhận được sẽ thấp và kém hấp dẫn, so với việc ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn, bằng cách nắm
giữ các tài sản đáo hạn dài hạn hơn, nhưng cho suất sinh lợi cao hơn như chứng khoán
nợ doanh nghiệp, tiền gửi ở các định chế tổ chức tài chính Ngược lại, nếu ngân hàng quá liều lĩnh nắm giữ các tài sản có rủi ro cao, cho suất sinh lợi cao, ngân hàng có thể
bị rơi vào tình huống mất vốn, mất thanh khoản Đây chính là tính đánh đổi của việc
quản trị thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng Khi ngân hàng tăng huy động
tiền gửi, ngân hàng có thể trả chi phí tài trợ vốn thấp hơn so với huy động tiền gửi trên
thị trường liên ngân hàng Bù lại, để gia tăng sự uy tín, thu hút tiền gửi từ khách hàng, ngân hàng buộc phải mở rộng và duy trì một mạng lưới các chi nhánh giao dịch, tăng lượng nhân sự, có thể làm cho chi phí lương, chi phí thuê hoạt động tăng lên, và có thể khiến thanh khoản lại giảm
Luận vận nghiên cứu hai chỉ số là chỉ số thanh khoản tài sản và chỉ số liên ngân hàng Trong đó, chỉ số thanh khoản tài sản nhằm đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng và chỉ số liên ngân hàng thể hiện mối quan hệ giữa một ngân hàng bất kỳ
với thị trường liên ngân hàng, thông qua việc xem xét tỷ lệ tương quan giữa tiền gửi, cho vay mà ngân hàng ấy sở hữu, đem đi gửi, cho vay ở các tổ chức tín dụng khác, so
với tiền gửi, cho vay ngân hàng ấy vay mượn từ các tổ chức tín dụng khác Nghiên cứu
của Angbazo (1997), Peria và Mody (2004) cho kết quả là chỉ số khả năng thanh khoản
có tác động dương đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
2.2.7 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên
Theo Rose (1999), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch
Trang 2514
giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn thất tín dụng) Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng gia tăng và các khoản vay kém chất lượng ngày càng nhiều thì một số lớn các ngân hàng đã chú trọng vào việc tăng nguồn thu ngoài lãi Những khoản phí này củng cố tổng nguồn thu, giúp tăng thu nhập ròng cho cổ động của ngân hàng
Thu nhập ngoài lãi gồm các nguồn thu khác ngoài những khoản thu từ cho vay
và chứng khoán và bao gồm thu phí từ hoạt động cung cấp các dịch vụ tín thác, thu phí
từ cá dịch vụ tiền gửi, thu phí từ các dịch vụ khác của ngân hàng Gần đây, các ngân hàng đã hướng tới mục tiêu thu ngoài lãi và đây là một nguồn thu quan trọng trong tương lai Chi phí ngoài lãi gồm tiền lương, chi phí khấu hao nhà cửa, thiết bị ngân hàng cùng chi phí pháp lý và giấy tờ cần thiết khác Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên thường có tác động ngược chiều về tỷ lệ thu nhập lãi thuần Các ngân hàng có xu hướng giảm thu nhập lãi thay vào đó họ gia tăng các khoản thu nhập ngoài lãi Tuy nhiên, có hai loại tương quan giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi Trong một thị trường ngân hàng cạnh tranh cao, nơi mà các ngân hàng có thể không hoàn toàn ảnh hưởng đến thị trường, thu nhập ngoài lãi được dự kiến thay thế cho thu nhập lãi (Kalluci, 2010) Trong trường hợp này, sự tương quan sẽ ngược chiều Ngược lại, nếu các ngân hàng có thế mạnh nhất định (như là sự chuyên môn về một số loại sản phẩm hay dịch vụ), họ có thể cố định các lãi suất Trong trường hợp này, thu nhập ngoài lãi
và thu nhập lãi sẽ được bổ sung cho nhau và mối tương quan giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi sẽ thuận chiều nhau (Estrada, 2006)
Xu hướng của ngân hàng ngày càng giảm sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay, ngân hàng hướng đến mức biên lợi nhuận tiền vay giảm và bù lại là sẽ gia tăng thu nhập ngoài lãi thông qua các khoản phí, hoa hồng nhằm cân bằng và tối đa lợi ích thu được Mô hình đưa vào nghiên cứu yếu tố này nhằm đánh giá mối tương quan giữa tỷ
lệ thu nhập ngoài lãi cận biên và tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Trang 2615
2.3 Các công trình nghiên cứu trước đây
2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) đã tạo nền móng cho các nghiên cứu sau này, Ho và Saunders còn tiếp tục phát triển thêm về mô hình, theo đó, tỷ lệ thu nhập lãi thuần bao gồm chênh lệch lãi suất thuần và chênh lệch lại suất bù đắp cho chi phí lãi suất ngầm, chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc và rủi ro tín dụng
Sau Ho và Saunders, McShane và Sharpe (1985) đã phát triển mô hình, theo đó rủi ro gắn liền với sự thay đổi ngắn hạn của lãi suất trên thị trường tiền tệ chứ không gắn với lãi suất huy động và cho vay Allen (1988) xem xét đến tính đa dạng của các khoản vay và tiền gửi và cho thấy tỷ suất sinh lời lãi thuần túy có thể bị giảm do kết quả của sự đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng Và theo nghiên cứu vào
1997 của Angbazo, bên cạnh các yếu tố như vị thế ngân hàng, rủi ro vỡ nợ, biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ, Angbazo còn xem xét ảnh hưởng của biến tương tác giữa rủi ro vỡ nợ và biến động lãi suất đến chênh lệch lãi suất thuần
Nghiên cứu của Maudos và Guevara (2004) đã xem xét thêm yếu tố chi phí hoạt động Và một nghiên cứu gần đây của Hawtrey và Liang (2008) về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi thuần với các nước trong khối OECD trong giai đoạn từ 1987-
2001, tỷ lệ thu nhập lãi thuần chịu ảnh hưởng chủ yếu từ sức mạnh thị trường, chi phí hoạt động, độ ngại rủi ro, biến động lãi suất, rủi ro tín dụng, giá trị những khoản vay, chi phí lãi suất ngầm và chất lượng quản lý
Nghiên cứu của Garcia (2010), xác định các yếu tố quyết định chính của biên độ lãi suất ròng cho một nhóm phát triển và nước đang phát triển Phương pháp GMM hồi quy dữ liệu bảng và cũng áp dụng chỉ số Lerner Các kết quả được chia thành ba gồm toàn bộ mẫu, nhóm các nước phát triển và nhóm các nước đang phát triển Kết quả chính cho rằng yếu tố quyết định chính của biên độ lãi suất ròng ở các nước phát triển bao gồm chi phí vận hành, an toàn vốn, rủi ro lãi suất, kích thước của các ngân hàng, tỷ
lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế và mức thuế Trong khi đó, các yếu tố quyết định chính
Trang 2716
của NIM ở các nước đang phát triển bao gồm an toàn vốn, rủi ro tín dụng, thanh toán lãi suất ngầm định, chi phí dự trữ, mức độ hiệu quả và mức độ của các loại thuế và trong đó chi phí hoạt động là biến quan trọng nhất
Nassar (2014), nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng ở Honduras Kết quả cho thấy chi phí hoạt động là những yếu tố quyết định quan trọng nhất, dự phòng cho vay khách hàng và khả năng thanh khoản có sự tác động cao đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Ngoài ra, tỷ lệ cho vay khách hàng/tiền gửi và lạm phát cũng có tác động tích cực Ngược lại, độ tập trung của ngân hàng có tác động tiêu cực đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần, tốc độ tăng trưởng kinh tế không có tác động đến
tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Nghiên cứu Raharjo (2014) về các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng tại Indonesia trong giai đoạn 2008-2012, gồm các biến nội tại và bên ngoài ngân hàng thông qua hồi quy mô hình FEM Kết quả cho thấy các yếu tố nội tại như tăng trưởng tài sản của ngân hàng, lợi nhuận, hiệu quả hoạt động và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, khả năng thanh khoản có tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần, trong khi các yếu tố bên ngoài như sức mạnh thị trường, lạm phát và lãi suất thì chỉ có lạm phát là có tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu ngoài nước
1 Tăng trưởng tài sản -
Maudos và Guevara (2004); Kunt (2004); Liebeg và Schwaiger (2006); Raharjo (2014)
Trang 28lãi/thu nhập hoạt động - Irini Kalluci (2010)
10 Chi phí lãi suất ngầm +
Maudos và Solis (2009); Saunders và Schumacher (2000); Maudos và Guevara (2004)
Brock và Suarez (2000); Bennaceur và Omran (2011); Raharjo (2014); Gelos (2009)
12 Tăng trưởng kinh tế
Trang 2918
2.3.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu, Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 – 2011 Đối tượng nghiên cứu gồm 5 NHTM nhà nước (State-owned commercial bank – SOCBs), 34 NHTM cổ phần (Joint-stock commercial banks – JSCBs) Tác giả sử dụng mô hình FEM cho chạy hàm hồi quy tuyến tính không có biến giả và sử dụng mô hình REM để kiểm tra ý nghĩa thống kê của biến giả Kết quả nghiên cứu cho thấy mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí lãi suất ngầm có quan hệ tỷ lệ thuận trong khi chất lượng quản lý có mối quan hệ tỷ lệ nghịch, biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất không có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thu nhập lãi thuần, ngoài ra ý nghĩa thống kê cũng không cho thấy sự khác biệt giữa các NHTM nhà nước và các NHTM cổ phần ở Việt Nam Với nghiên cứu này, chủ yếu
là đánh giá những yếu tố vi mô ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần, chưa đánh giá
sự tác động của các yếu tố vĩ mô đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2013 của 27 NHTM cổ phần Việt Nam bằng cách sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng Tác giả dùng mô hình FEM để giải thích, kết quả nghiên cứu cho thấy các biến có tác động cùng chiều với tỷ lệ thu nhập lãi thuần theo tác động giảm dần là rủi ro tín dụng (CR), tỷ lệ lãi suất (IR), quy mô vốn chủ sở hữu (CAP), quy
mô cho vay (LAR), quy mô ngân hàng (SIZE) Biến có tác động ngược chiều là tăng trưởng GDP (GDP), hiệu quả quản lý (CTI) Nghiên cứu cho thấy có sự kết hợp giữa yếu tố vĩ mô và vi mô trong đánh giá sự tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần Với chỉ
có một biến yếu tố vĩ mô trong nghiên cứu cho thấy sự cần thiết trong việc mở rộng nghiên cứu đối với các yếu tố khác để đánh giá một cách tổng thể trong sự tác động đa chiều của các yếu tố, đồng thời nghiên cứu chưa đánh giá đến tác động của chính sách tiền tệ và các hoạt động liên ngân hàng
Trang 3019
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và cộng sự (2014), với nghiên cứu “Phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong hệ thống NHTM Việt Nam“ trong giai đoạn 2008 – 2013 của 30 NHTM cổ phần Việt Nam Tác giả sử dụng hồi quy mô hình tác động cố định FEM để giải thích, kết quả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thu nhập lãi thuần trong giai đoạn này phụ thuộc vào 7 nhân tố gồm 3 nhân tố vĩ mô ngân hàng là sự phát triển ngành ngân hàng (BSD), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF) và 4 nhân tố vi mô là tỷ lệ nắm giữ vốn của vốn chủ sở hữu (CAP), rủi
ro tín dụng (CR), tính thanh khoản (LIQ), chi phí hoạt động (OC) Trong 7 nhân tố chỉ
có GDP tác động ngược chiều với NIM Như vậy, nghiên cứu có sự kết hợp với các yếu tố vi mô và vĩ mô, với số lượng biến vĩ mô được gia tăng so với các nghiên cứu khác trong nước và chưa đánh giá đến tác động của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, chính sách tiền tệ và hoạt động liên ngân hàng
Nghiên cứu của Hoàng Trung Khánh, Vũ Thị Đan Trà (2015), kết quả nghiên cứu cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM Việt Nam gồm chi phí hoạt động (OpEx), chất lượng quản lý (MQ), mức ngại rủi ro (RA), tỷ lệ lạm phát (IF) có tác động cùng chiều và biến độ tập trung của thị trường (MQ) có tác động ngược chiều
Bảng 2.2: Tóm tắt các nghiên cứu trong nước
động Nghiên cứu
1 Vị thế ngân hàng
Tỷ trọng tài sản của ngân hàng đó trên tổng tài sản của toàn
bộ các ngân hàng VN
+
Nguyễn Kim Thu (2014)
2 Rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro cho
vay trên tổng dư nợ +
Nguyễn Kim Thu (2014); Nguyễn Thị
Trang 3120
Mỹ Linh (2015) ; Nguyễn Minh Sáng (2014)
3 Chi phí lãi suất
ngầm
Chi phí ngoài lãi trừ
đi thu nhập ngoài lãi, rồi chia cho tổng tài sản
-
Nguyễn Kim Thu (2014); Nguyễn Thị
Mỹ Linh (2015) ; Hoàng Trung Khánh (2015)
5 Quy mô ngân
hàng
Logarit tự nhiên của
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015)
6 Quy mô cho vay Dư nợ cho vay/tổng
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015)
8 Lãi suất Lãi suất tiền gửi bình + Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trang 3221
quân kỳ hạn 12 tháng (2015)
9 Tăng trưởng GDP
GDP năm nay trừ GDP năm trước/GDP năm trước
-
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015); Nguyễn Minh Sáng (2014)
10 Tỷ lệ lạm phát Chỉ số lạm phát CPI +
Nguyễn Minh Sáng (2014); Hoàng Trung Khánh (2015)
12 Tính thanh khoản Tài sản có tính thanh
khoản/tổng tài sản +
Nguyễn Minh Sáng (2014)
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đưa ra cơ sở để đánh giá tỷ lệ thu nhập lãi thuần cùng với các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần, chi tiết như sau:
- Nhóm yếu tố vĩ mô gồm tăng trưởng kinh tế, lạm phát
- Nhóm yếu tố vi mô tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước khách hàng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản và khả năng thanh khoản thể hiện qua 2 chỉ số là chỉ số thanh khoản tài sản và chỉ
số liên ngân hàng
Trang 3322 Tóm tắt về các nghiên cứu trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ thu nhập lãi thuần
Trang 34[(Cho vay và ứng trước khách hàng)t - (Cho vay và ứng trước khách hàng)t -1]/
(Cho vay và ứng trước khách hàng)t -1
- BCTC
Dự phòng cho vay và ứng trước khách hàngt/Dư nợ cho vay và ứng trước khách
+ BCTC
Trang 35(Tổng thu nhập hoạt động - thu nhập lãi thuần)t/tài sản sinh lãi bình quânt
- BCTC
Tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động
Chi phí hoạt độngt/thu nhập hoạt độngt
Trang 3625
3.2.2 Các biến độc lập
Nhóm yếu tố vĩ mô, tác giả đề xuất đưa vào mô hình gồm 2 biến là GDP (tốc độ
tăng trưởng kinh tế), INF (lạm phát) Kỳ vọng tác động âm của GDP và tác động dương của lạm phát đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Nhóm yếu tố vi mô, tác giả đưa ra các nhóm biến như sau:
- Tăng trưởng tín dụng của mỗi NHTM: hoạt động cho vay vẫn là hoạt động
chính của các ngân hàng, do đó, cần thiết đánh giá tác động hoạt động này đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
- Tỷ lệ dự phòng cho vay và ứng trước khách hàng/cho vay và ứng trước
khách hàng: thể hiện chất lượng tín dụng của các ngân hàng, đây là một trong những thực trạng hiện hữu trong giai đoạn 2006-2015 khi các khoản
nợ cần trích lập dự phòng tăng khá mạnh Do đó, cần phải xem xét chất lượng tín dụng đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần, với kỳ vọng về tác động dương đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần
- Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên: theo Rose (1999) khi cạnh tranh trên thị
trường tín dụng gia tăng và các khoản vay kém chất lượng ngày càng nhiều thì một số lớn các ngân hàng đã chú trọng vào việc tăng nguồn thu ngoài lãi Những khoản phí này củng cố tổng nguồn thu, giúp tăng thu nhập ròng cho
cổ đông của ngân hàng Do đó, cần đánh giá tác động của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần và kỳ vọng tác động âm trong mối quan hệ này
- Tỷ lệ chi phí hoạt động/thu nhập hoạt động: yếu tố này thể hiện chất lượng
quản lý của ngân hàng Theo nghiên cứu của Angbazo (1997) và Maudos & Guevara (2004), khi tỷ lệ này tăng có nghĩa là một sự suy giảm chất lượng quản lý và sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần Do đó, cần đánh giá yếu tố này để tỷ lệ thu nhập lãi thuần của NHTM cổ phần Việt Nam
Trang 3726
trong 2006-2015
- Cơ cấu nguồn vốn: mô hình đề xuất đưa vào biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng
tài sản và tỷ lệ cho vay và ứng trước khách hàng/tổng tài sản, nhằm xem xét việc sử dụng đòn bẩy tài chính và đánh giá hoạt động cho vay đối với tỷ lệ thu nhập lãi thuần và kỳ vọng về tác động dương đối với tỷ lệ thu nhập lãi
thuần
- Khả năng thanh khoản: đề xuất vào mô hình chỉ số khả năng thanh khoản và
chỉ số liên ngân hàng, kỳ vọng mức độ tác động ngược chiều đối với NIM
3.3 Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp ước lượng
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được tác giả trích từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các ngân hàng tạo thành dữ liệu
bảng
3.3.2 Các mô hình phân tích dữ liệu bảng
Theo Gujarati (2011), dữ liệu bảng còn có những cách gọi khác như dữ liệu kết hợp (kết hợp các quan sát theo chuỗi thời gian và theo không gian), kết hợp các dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian, dữ liệu vi bảng, dữ liệu theo chiều dọc (nghiên cứu theo thời gian đối với một biến hay một nhóm đối tượng), phân tích lịch sử biến cố, phân tích nhóm Tất cả các tên gọi này về thực chất đều tiêu biểu cho sự biến thiên theo thời gian của các đơn vị chéo theo không gian Đối với dữ liệu bảng có các mô hình hồi quy như sau:
Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled OLS): mô hình này có các hệ số không
biến đổi Trong bối cảnh không tồn tại những hiệu ứng đặc thù theo không gian hay thời gian, thì có thể gộp chung toàn bộ số liệu chéo và chuỗi thời gian rồi chạy mô hình hồi qua bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) Tuy nhiên, trên thực tế không thể đồng nhất không gian và thời gian Vì vậy trong mô hình Pooled
Trang 3827
OLS rất dễ vi phạm các giả định về mô hình hồi quy cổ điển như tự tương quan, phương sai thay đổi và đa cộng tuyến
Mô hình các tác động cố định (Fixed Effects Model, FEM) hay mô hình hồi
quy biến giả bình phương tối thiểu (Least Square Dummy Variable, LSDV): Các hệ số
độ dốc là hằng số tức là bất biến theo thời gian nhưng tung độ gốc thay đổi theo không gian
Yit= β1i+ β2 X2it + β3 X3it+ + βk Xkit+ uit
Mô hình các thành phần sai số (Error Components Model, ECM) hay mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM)
Yit= β1i+ β2 X2it + β3 X3it+ + βk Xkit + uit
Thay vì xem β1i là cố định, giả định đó là một biến ngẫu nhiên với một giá trị trung bình là β1 (không có ký hiệu i ở đây) Và giá trị tung độ gốc cho một công ty riêng lẻ có thể được biểu thị là:
vị Mặt khác, trong REM, tung độ gốc β1tiêu biểu cho trị trung bình của tất cả các tung
độ gốc và số hạng sai số εitiêu biểu cho sự sai lệch (ngẫu nhiên) của từng tung độ gốc
so với trị trung bình này
Sự khác biệt cơ bản này của hai cách tiếp cận:
- Nếu T (số thời đoạn của dữ liệu chuỗi thời gian) lớn và N (số đơn vị theo không gian) nhỏ, giá trị của các thông số ước lượng bằng FEM và REM có thể sẽ không khác nhau nhiều Vì thế, việc chọn lựa ở đây dựa vào sự thuận tiện trong tính toán, FEM thường được lựa chọn hơn
Trang 3928
- Khi N lớn và T nhỏ, các giá trị ước lượng thu được bằng hai phương pháp có thể khác nhau đáng kể Trong mô hình REM, β1i = β1 + εi, trong đó εi là thành phần ngẫu nhiên theo không gian, trong khi trong mô hình FEM, ta xem β1i là cố định và không ngẫu nhiên Trong trường hợp mô hình FEM, suy luận thống kê được lập điều kiện theo các đơn vị được quan sát trong mẫu Mô hình này sẽ phù hợp nếu không gian trong mẫu không phải được rút ra ngẫu nhiên từ một mẫu lớn hơn Trong trường hợp đó, mô hình FEM
là phù hợp Tuy nhiên, nếu các đơn vị trong mẫu được xem là rút ra ngẫu nhiên, thì REM sẽ thích hợp
- Nếu thành phần sai số cá nhân εi và một hay nhiều biến độc lập tương quan với nhau, thì ước lượng REM sẽ bị chệch, trong khi ước lượng thu được từ
mô hình FEM sẽ không chệch
- Nếu N lớn và T nhỏ, và nếu các giả định làm nền tảng cho mô hình REM được thỏa thì ước lượng REM sẽ hiệu quả hơn so với ước lượng FEM
3.3.3 Các bước lựa chọn mô hình
Theo Park (2011), các bước lựa chọn mô hình đối với dữ liệu bảng như sau:
Bước 1: Chạy mô hình Pooled OLS theo dữ liệu bảng thu thập
Bước 2: Chạy hồi quy mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động
ngẫu nhiên (REM)
Bước 3: Kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình FEM hay REM Nếu p-value
< 0.05 thì chưa đủ cơ sở chấp nhận giả thuyết Ho, mô hình được chọn là FEM và ngược lại
Bước 4:
- Nếu sau kiểm định Hausman, mô hình REM được chọn thì tiến hành kiểm định LM để lựa chọn mô hình REM hay Pooled OLS Nếu p-value <0.05 thì
Trang 40Bước 5: Trường hợp mô hình xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi và tương
quan chuỗi thì sẽ tiến hành hồi quy theo mô hình GLS, mô hình GLS sẽ được chọn để phân tích và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần
Các phương pháp kiểm định lựa chọn mô hình gồm:
Kiểm định Hausman do Hausman xây dựng vào năm 1978 giúp chọn lựa giữa
mô hình FEM và REM Giả thiết làm nền tảng cho kiểm định Hausman là các ước lượng FEM và REM không khác nhau đáng kể Nếu giả thiết không bị bác bỏ, kết luận
là REM không thích hợp và chọn mô hình FEM, trong trường hợp đó, các suy luận thống kê sẽ lập điều kiện theo εitrong mẫu
Ho: Không có tương quan giữa biến giải thích và các sai số ngẫu nhiên (chọn mô hình REM)
H1: Có tương quan giữa biến giải thích và các sai số ngẫu nhiên (chọn mô hình FEM)
Nếu P-value < 0.05, chưa đủ cơ sở chấp nhận giả thuyết Hotức là chọn mô hình FEM và ngược lại chọn mô hình REM
Kiểm định LM: là kiểm định nhằm lựa chọn mô hình REM hay Pooled-OLS,
dựa trên giả định phương sai của các sai số ngẫu nhiên εi bằng 0
Ho: Phương sai các sai số ngẫu nhiên εibằng 0 (chọn mô hình Pooled - OLS)
H1: Phương sai các sai số ngẫu nhiên εi khác 0 (chọn mô hình REM)
Nếu P-value < 0.05, chưa đủ cơ sở chấp nhận giả thuyết Hotức là chọn mô hình REM và ngược lại chọn mô hình Pooled – OLS