Ngân hàng Chính sách Xã hội là một trong các kênh chuyển tải vốn và thực hiện cho vay ủy thác đối với hộ nghèo và các đối tượng khác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội là một phươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THANH HẢI
HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ
XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
VIỆT NAM - CHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
PHAN THANH HẢI
HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ
XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
VIỆT NAM - CHI NHÁNH TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.ĐOÀN THANH HÀ Người h c hi n: PHAN THANH HẢI
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3Tôi tên: Phan Thanh Hải
Sinh ngày 12 tháng 10 năm 1983 tại Vĩnh Phúc
Hiện công tác tại : Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đạtẻh tỉnh Lâm Đồng
Là học viên cao học khóa 16 Tây nguyên của Trường Đại học Ngân hàng
TP Hồ Chí Minh
Mã số học viên : 020116150009
Tôi xin cam đoan đề tài: “Hiệu quả cho vay uỷ thác đối với hộ nghèo thông
qua các tổ chức chính trị xã hội tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Lâm Đồng”
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 11 năm 2016 TÁC GIẢ
Phan Thanh Hải
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô, Anh Chị ở các Phòng ban chức năng đã giúp tôi trang bị tri thức, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới PGS, TS Đoàn Thanh Hà đã khuyến khích, hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp và những người bạn
đã động viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 6 1.1 CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH
1.1.1.1 Khái niệm NHCSXH 6 1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách Xã hội 7 1.1.1.3 Phân loại cho vay chính sách 9 1.1.1.4 Đối tượng chính sách xã hội và trách nhiệm của Chính phủ 9 1.1.1.5 Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội trong xoá đói giảm nghèo 10
1.1.2.1 Khái niệm cho vay ủy thác 12 1.1.2.2 Đặc điểm 13
1.1.3 Cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội 13
1.1.3.1 Quan điểm về hộ nghèo 13 1.1.3.2 Cho vay ủy thác thông qua tổ chức chính trị xã hội 15
1.1.4.1 Khái niệm tổ chức chính trị xã hội 17
Trang 6CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ
1.3 KINH NGHIỆM CHO VAY CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CHO VAY ỦY THÁC HỘ NGHÈO QUA CÁC
TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỘ NGHÈO, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ NGÂN
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế – xã hội ở tỉnh Lâm Đồng 29
2.1.3 Các tổ chức chính trị - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng 34 2.1.4 Khái quát Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng 35
Trang 7Lâm Đồng 35 2.1.4.3 Tổng quan hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lâm Đồng 37
2.2 THỰC TRẠNG CHO VAY ỦY THÁC HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH LÂM
2.2.1 Tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết về cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác 40 2.2.2 Kết quả cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị - xã hội tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng 44 2.2.3 Hiệu quả của phương thức cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội tại tỉnh Lâm Đồng 52
2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 60 2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG 64 3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
Trang 83.1.3 Định hướng hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng 67 3.1.4 Nhất quán một số quan điểm về cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo trong quá trình thực hiện chiến lược cho vay hộ nghèo 68
3.2 GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TẠI NGÂN
3.2.1 Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Chính phủ 70 3.2.2 Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn 71 3.2.3 Hoàn thiện hệ thống nhận uỷ thác huy động vốn đến từng thôn, bản, làng, xã ở những vùng II, vùng III, vùng đặc biệt khó khăn 72 3.2.4 Củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức, màng lưới 74 3.2.5 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế uỷ thác cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị - xã hội 75 3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn, việc sử dụng vốn vay của hộ nghèo 76 3.2.7 Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của chi nhánh và của các tổ chức chính trị - xã hội làm uỷ thác 77 3.2.8 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, củng cố
và nâng cao chất lượng hoạt động của các điểm giao dịch tại xã và các tổ tiết kiệm và
Trang 9KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PH Ụ LỤC 90
Trang 10ĐBDTTS Đồng bào dân tộc thiểu số
HĐND Hội đồng nhân dân
HPN Hội phụ nữ
HND Hội nông dân
HCCB Hội cựu chiến binh
UBND Ủy ban Nhân dân
VBTT Văn bản thoả thuận
XĐGN Xoá đói giảm nghèo
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 11Trang
Bảng 2.1: Tỉ lệ hộ nghèo năm 2011, 2015 và 2016 33
Sơ đồ số 2.1: Mô hình tổ chức NHCS XH tỉnh Lâm Đồng 37
Bảng số 2.2: Một số chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động tín dụng 2011 - 2015 45
Bảng số 2.3: Tăng trưởng dư nợ cho vay ưu đãi 2011 -2015 46
Bảng số 2.4: Một số chỉ tiêu cho vay ưu đãi chủ yếu hộ nghèo 2012 -2015 48
Bảng số 2.5: Ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị – xã hội 2012 – 2015 50
Bảng số 2.6: Cơ cấu uỷ thác cho vay theo địa bàn đến thời điểm 31/12/2015 51
Bảng số 2.7: Một số chỉ tiêu hiệu quả cho vay ưu đãi hộ nghèo tại NHCSXH tỉnh Lâm Đồng từ năm 2012 – 2015 53
Sơ đồ 3.1: Qui trình thu chi tiết kiệm qua ủy thác 73
Phụ lục 1: Dư nợ phân theo các Hội đến 31/12/2015 90
Phụ lục 2: Nợ quá hạn đến 31/12/2015 phân theo Tổ chức Hội 90
Phụ lục 3: Tỷ lệ thu lãi phân theo tổ chức Hội năm 2015 90
Phụ lục 4: Số lượt kiểm tra giám sát giai đoạn 2012-2015 91
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ năm 2002, Đảng và Nhà nước ta đã có một chủ trương lớn về cho vay ưu đãi hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, được cụ thể hoá bằng Nghị định 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ Theo đó, thông qua kênh tín dụng
ưu đãi của Nhà nước do Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam thực hiện, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh, vươn lên làm giàu, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và công bằng xã hội
Ngân hàng Chính sách Xã hội là một trong các kênh chuyển tải vốn và thực hiện cho vay ủy thác đối với hộ nghèo và các đối tượng khác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội là một phương pháp cho vay có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, phát huy sức mạnh cộng đồng
Cho vay uỷ thác thông qua các tổ chức chính trị xã hội có ý nghĩa quan trọng
về mặt thực tiễn, nó thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước của các tổ chức chính trị xã hội đối với các đối tượng được hưởng chính sách Thực tế hơn mười năm qua, hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, trong đó có chi nhánh Lâm Đồng đã chứng minh rằng cho vay uỷ thác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội là phương pháp cho vay hiệu quả đã góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo Đây là một loại hình tín dụng có nét đặc thù, đòi hỏi phải nghiên cứu hoàn thiện nó để phát huy hiệu quả hơn nữa thực hiện nhiệm vụ Đảng
và Nhà nước giao
Bên cạnh đó hiện nay hoạt động tín dụng chính sách xã hội đã, đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội rất quan tâm, đồng tình ủng hộ Trong hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, có chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng triển khai sớm, có hiệu quả và đã rút
ra được một số bài học kinh nghiệm quan trọng về phương thức cho vay ủy thác
Trang 13cho các đối tượng thuộc chính sách thông qua các tổ chức chính trị – xã hội Song thực tiễn cũng đang đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện phương thức cho vay này
Với những lý do nói trên, luận văn lựa chọn đề tài: “Hiệu quả cho vay uỷ
thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội tại Ngân hàng
Chính sách xã hội Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Lâm Đồng” làm mục tiêu nghiên
cứu là xuất phát từ tính cấp bách đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay và có ý nghĩa lâu dài
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay
ủy thác đối với đối hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
2.2 Mục tiêu cụ thể: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn xác định các mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị – xã hội của Ngân hàng chính sách xã
hội nói riêng
- Phân tích và đánh giá thực trạng cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng của Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng, trên cơ sở đó rút ra những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và những nguyên nhân tồn tại
- Luận giải những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động
- Đề xuất, gợi ý các chính sách
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để thực hiện được các mục tiêu nói trên, luận văn xác định các câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Dựa vào những cơ sở lý luận nào để làm cơ sở để đánh giá hiệu
quả của phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội đối với hộ nghèo?
Câu hỏi 2: Tại tỉnh Lâm Đồng thực trạng hoạt động cho vay ủy thác đối với
hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội như thế nào?
Trang 14Câu hỏi 3: Các biện pháp cần thiết gì để hoạt động cho vay uỷ thác qua các
Tổ chức chính trị xã hội tại Ngân hàng Chính sách Xã hội – chi nhánh tỉnh Lâm Đồng đạt hiệu quả hơn?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Hiệu quả cho vay uỷ thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị
xã hội
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng của tín dụng ưu đãi là rất rộng lớn Do điều kiện thời gian có hạn,
đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cho vay uỷ thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ
chức chính trị xã hội của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng
Thời gian chủ yếu từ năm 2012 đến 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
+ Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin để nhìn nhận, đánh giá mọi sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng - lịch sử phát triển của nó
+ Phương pháp tiếp cận: Thực hiện tiếp cận hệ thống đó là những tiếp cận hệ thống có cấu trúc khoa học về phân tích hệ thống
+ Trên cơ sở thực trạng tình hình đầu tư tín dụng ưu đãi hộ nghèo uỷ thác qua các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng để phân tích đánh giá
Trang 15+ Phương pháp thu thập số liệu: trực tiếp tìm kiếm, thu thập số liệu thực tế tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng, thu thập thêm từ sách báo, tạp chí
và internet
+ Phương pháp phân tích số liệu: từ những số liệu thu thập được, báo cáo sử
dụng phương pháp phân tích số liệu để cụ thể vấn đề cần nghiên cứu
+ Phương pháp so sánh và tổng hợp: so sánh số liệu giữa năm này với năm khác, so sánh hoạt động cho vay ủy thác, …từ đó sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra những nhận xét, ý kiến làm rõ vấn đề
6 B ố cục của luận văn
Bố cục của luận văn gồm :
Phần mở đầu:
Trong phần này, tác giả giới thiệu tổng quan về nghiên cứu như: Làm rõ tính cấp thiết của đề tài, các mục tiêu hướng đến của đề tài, đưa ra các câu hỏi để giải quyết vấn đề của đề tài đã đặt ra, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của luận văn
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị xã hội
Chương này trình bày một số lý luận về cho vay ủy thác và lý luận có liên quan đến hiệu quả cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị xã hội đối với hộ nông dân nghèo và tổng quan một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam có liên quan đến đề tài
Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay uỷ thác đối với hộ nghèo thông
qua các tổ chức chính trị - xã hội tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng
Chương này, luận văn giới thiệu khái quát về hoạt động của chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng Tiếp theo, luận văn đi vào phân tích đánh giá thực trạng hoạt động cho vay ủy thác đối với hộ nông dân chủ yếu từ năm 2012 đến 2015; đồng thời rút ra những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và nguyên nhân gây nên tồn tại, hạn chế
Trang 16Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu qủa cho vay ủy thác đối với hộ
nghèo thông qua các tổ chức chính trị – xã hội ở tỉnh Lâm Đồng
Từ cơ sở lý luận của chương 1 và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây; trên cơ sở định hướng hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng, luận văn đề xuất một số giải pháp về nâng cao hiệu quả cho vay ủy thác thông qua các tổ chức chính trị xã hội Nhóm giải pháp dự kiến thực hiện là đối với bản thân ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Lâm Đồng; đối với Hội sở và đối NHNN, các
cấp chính quyền trung ương, địa phương, tổ chức chính trị xã hội
Trang 17C HƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI
HỘ NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1.1 CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍ NH SÁCH XÃ HỘI
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của NHCSXH
1.1.1.1 Khái niệm NHCSXH
Ngân hàng Chính sách Xã hội là một tổ chức tín dụng Nhà nước được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm tập trung mọi nguồn lực tài chính của Nhà nước và của toàn xã hội, để cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi nhằm phát triển sản xuất – kinh doanh – dịch vụ tăng thu nhập, giải quyết việc làm, ổn định đời sống và thực hiện công bằng xã hội [22]
Ngân hàng chính sách là một loại hình ngân hàng chuyên thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ trong từng thời kỳ nhất định Đây
là các khoản cho vay phi thương mại đối với các đối tượng ưu tiên của các chính sách của Chính phủ khó có thể đáp ứng hoặc tiếp cận tới các tiêu chí thương mại Việc thực hiện tín dụng chính sách góp phần quan trọng đối với phát triển kinh tế,
- Ngân hàng chính sách phục vụ một lĩnh vực nhất định (ví dụ: Ngân hàng tài trợ xuất nhập khẩu, ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, );
- Ngân hàng Chính sách Xã hội phục vụ các chính sách xã hội;
Như vậy có thể nói: Ngân hàng Chính sách Xã hội là một tổ chức tín dụng,
là một loại hình ngân hàng chính sách có nhiệm vụ chủ yếu là thực thi tín dụng
Trang 18chính sách của Chính phủ đối với nhóm đối tượng chính sách xã hội
Tuy nhiên, hiện tại còn nhiều quan điểm khác nhau về việc hỗ trợ thông qua tín dụng Ngân hàng Chính sách Xã hội như:
- Có quan điểm cho rằng nên thành lập ngân hàng chuyên phục vụ đối tượng chính sách xã hội; trong khi có ý kiến cho rằng các chương trình tín dụng này có thể giao cho các ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện;
- Có quan điểm cho rằng: đối với đối tượng này cần thực hiện ưu đãi trong
đó nhất thiết phải có ưu đãi về lãi suất (lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất cho vay của NHTM); trong khi đó lại có ý kiến khác: chỉ cần ưu đãi về các điều kiện và thủ tục vay vốn mà không nhất thiết phải ưu đãi về lãi suất cho vay
Việc thực hiện theo quan điểm nào tùy thuộc đặc điểm, quan điểm và chính sách của từng Chính phủ mỗi quốc gia Thực tế cho thấy mỗi quan điểm trên đều có những ưu điểm và hạn chế, tùy theo yêu cầu và từng giai đoạn mà có thể thực hiện theo những quan điểm khác nhau nhằm phát huy tính tích cực và ý nghĩa kinh tế -
xã hội, chính trị của tín dụng chính sách [14]
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) là ngân hàng thành lập với mục tiêu nhằm phục vụ các chương trình tín dụng chính sách góp phần phát triển kinh tế,
ổn định chính trị - xã hội của Chính phủ trong từng giai đoạn, vì vậy so với các NHTM khác, NHCSXH có một số đặc điểm riêng như [18], [14]
- Mục đích hoạt động: Hoạt động của Ngân hàng gắn với người thuộc đối
tượng chính sách xã hội của NHCSXH và không vì mục tiêu lợi nhuận mà là góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo
- Đối tượng khách hàng vay: Là các đối tượng được chỉ rõ trong các chính
sách của Chính phủ, thường là đối tượng không đáp ứng các tiêu chí thương mại để tiếp cận được các dịch vụ tài chính của các NHTM, cần sự hỗ trợ từ Chính phủ và cộng đồng
- Nội dung hoạt động: Cung cấp các dịch vụ cho các đối tượng là những
hộ chính sách xã hội, các tổ chức kinh tế và các hộ sản xuất kinh doanh thuộc
Trang 19khu vực nghèo, vùng sâu, vùng xa; được áp dụng theo một cơ chế ưu đãi do Nhà nước quy định Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà vận dụng cho phù hợp, trên cơ sở xác định các đối tượng đói nghèo [18]
- Sử dụng vốn: Xuất phát trên cơ sở đối tượng cho vay và tính chất, mục
đích cho vay, sử dụng vốn của NHCSXH thường có các đặc điểm chủ yếu như:
+ Địa bàn cho vay rộng, người vay vốn ở phân tán, ở những nơi có điều kiện khó khăn (giao thông, thời tiết, );
+ Phương thức cho vay: thường hay sử dụng hình thức cho vay qua các
tổ, nhóm người vay (đối với cho vay người nghèo), sử dụng hình thức tín chấp cộng đồng;
- Nguồn vốn: Với vai trò làm đầu mối huy động mọi nguồn vốn dành cho
người nghèo thuộc đối tượng chính sách xã hội, NHCSXH cho vay đối với đối tượng chính sách xã hội là tổ chức huy động các nguồn vốn phục vụ cho chương trình XĐGN, là địa chỉ cần thiết để các tổ chức, cá nhân thể hiện mối quan tâm đối với người nghèo thông qua việc gửi vốn có lãi hoặc không lãi để cho người nghèo
vay Thực tế có nhiều tổ chức cá nhân muốn góp phần giúp đỡ người nghèo bằng số
vốn nhàn rỗi của mình nhưng lâu nay không biết gửi ở tổ chức nào Mặt khác, thông qua hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng cho vay người nghèo, vốn được huy động rộng rãi trong cộng đồng dân cư Những hộ nghèo thông qua tổ nhóm tiết kiệm và vay vốn, cộng đồng dân cư cũng như bản thân người nghèo, có tinh thần
Trang 20trách nhiệm đối với sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo, phát huy nội lực bản thân, nội lực từng vùng và khu vực, để thực hiện thành công XĐGN Có thể số lượng huy động trong cộng đồng người nghèo không nhiều Song qua đó cũng hình thành dần
ý thức tích luỹ đầu tư, tạo thói quen tiết kiệm và gửi tiền vào Ngân hàng, đồng thời
sử dụng các dịch vụ Ngân hàng [12]
1.1.1.3 Phân loại cho vay chính sách
Tuỳ theo đặc điểm và đối tượng đầu tư có thể phân thành 3 loại:
Thứ nhất, cho vay nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo đặc biệt là cho vay hộ
nông dân nghèo. Đây là một chương trình kinh tế - xã hội rộng lớn, trở thành mục tiêu của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước Đông Nam Á Do nhiều nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, ở các nước này còn tồn tại một bộ phận dân cư chủ yếu ở khu vực nông thôn có thu nhập rất thấp, sống trong cảnh nghèo đói, không được học hành, chữa bệnh Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do họ thiếu vốn làm ăn Các Chính phủ đều cho rằng cần phải trợ giúp những người nghèo về vốn và điều kiện làm ăn để họ có thể tự đảm bảo được cuộc sống, góp phần ổn định chính trị, xã hội Chính vì vậy, các Chính phủ đã thành lập hoặc trợ giúp thành lập các Ngân hàng chuyên hoặc chủ yếu phục vụ người nghèo và các hộ nông dân như ở Bangladesh, ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Philippines…[18]
Thứ hai, cho vay hỗ trợ các chính sách xã hội, giáo dục, y tế, tạo công ăn
việc làm Chính phủ hỗ trợ các đối tượng thuộc chính sách xã hội thông qua cho vay
với các điều kiện ưu đãi, giúp họ có cơ hội về học tập, học nghề hoặc xuất khẩu lao động
Thứ ba, cho vay các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công
ích không đủ các điều kiện cho vay thương mại Đây là các khoản cho vay theo chỉ
định của Chính phủ nhằm trợ giúp các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế công ích của Nhà nước buộc phải duy trì vì lợi ích quốc gia Ngay cả các nước phát triển vẫn tồn tại loại cho vay này
1.1.1.4 Đối tượng chính sách xã hội và trách nhiệm của Chính phủ
Trang 21Ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, luôn tồn tại nhóm đối tượng có điều kiện sống, mức sống, thu nhập thấp hơn so với các bộ phận dân cư còn lại Họ có thể là người nghèo đói, người có thu nhập thấp hoặc thậm chí thu nhập trung bình hoặc khá nhưng điều kiện sản xuất, kinh doanh không thuận lợi Những đối tượng này thường được phân vào nhóm đối tượng chính sách xã hội Vì, việc thoát khỏi nghèo đói, vươn lên hòa nhập với cộng đồng, phát triển ở những vùng có điều kiện không thuận lợi, không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn
có ý nghĩa: Ổn định về xã hội, chính trị của mỗi quốc gia
Chính phủ cần phải quan tâm tới nhóm đối tượng này thông qua các chính sách, biện pháp hỗ trợ cụ thể Sự quan tâm, ưu tiên của Chính phủ nhằm tới các mục tiêu như:
- Nâng cao mức sống cho nhóm đối tượng này (không chỉ cải thiện và nâng cao thu nhập và còn tạo điều kiện cải thiện các mặt khác như: Tạo công ăn việc làm, học tập, ý tế sức khỏe, điều kiện sống, giao thông, hoạt động văn hóa, ;
- Bảo vệ an toàn cho họ: Các nghiên cứu cho thấy những đối tượng chính sách xã hội có các đặc trưng: Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn, trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm và không ổn định, nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và rủi ro, bệnh tật và sức khỏe yếu kém, không đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp [8]
Đối với các hình thức hỗ trợ cho cá nhân, có thể phân vào thành các nhóm như:
- Trợ cấp: Chính phủ thực hiện trợ cấp (dưới hình thức bằng tiền hoặc hiện
vật) trực tiếp cho đối tượng hưởng lợi, thông qua đó làm tăng thu nhập, cải thiện mức sống và điều kiện sống, sản xuất của đối tượng hưởng lợi
- Trợ giá: Trợ giá cho một số hàng hóa, dịch vụ nhất định (thường là thiết
yếu) tại những vùng nhất định (thường là khó khăn) Đây là hình thức hỗ trợ gián tiếp
1.1.1.5 Vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội trong xoá đói giảm nghèo
Ngay từ thời C.Mác và Ăng Ghen đã chứng minh sự phát triển của giàu
Trang 22nghèo trải qua từng thời kỳ lịch sử là một tất yếu, từ xã hội cộng sản nguyên thuỷ đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra kín đáo và đầy kịch tính hơn và qui luật giá trị là cơ sở quyết định
Như vậy là với sự mở rộng thương mại, với tiền và cho vay nặng lãi, với quyền sở hữu ruộng đất và chế độ cầm cố, sự tập trung của cải vào trong tay một giai cấp ít người đã diễn ra nhanh chóng, cùng một lúc với sự bần cùng hóa ngày càng tăng của quần chúng và sự tăng thêm của đám đông dân nghèo [7]
Theo quan điểm của C.Mác, một bộ phận dân nghèo trong xã hội là thất nghiệp đói, nghèo, nhất là trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu của quá trình phát triển xã hội loài người Chính vì vậy các quốc gia khi đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với việc giải quyết vấn đề xã hội, như giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm tỷ lệ đói nghèo Điều này, xác định vai trò quan trọng của NHCSXH Vai trò này được thực hiện qua vai trò của tín dụng chính sách xã hội
Qua hoạt động cho vay chính sách xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu của Chính phủ vì sự phát triển cân đối của nền kinh tế và vì một xã hội ổn định, dân giàu, nước mạnh
Trong thực tiễn cuộc sống phát triển của xã hội loài người, sự phân hoá giàu nghèo đã diễn ra liên tục trong lịch sử, theo qui luật tự nhiên tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất, đòi hỏi quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi theo để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Đối với các đối tượng chính sách xã hội như: Người nghèo; học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; người có nhu cầu việc làm…thì tín dụng chính sách tạo hiệu quả hơn so với phương thức cấp phát vốn Sở dĩ như vậy là vì:
- Do việc chuyển tải vốn được thực hiện theo phương thức cho vay có hoàn trả nên nguồn vốn được người sử dụng vốn tính toán hiệu quả; vốn được sử dụng quay vòng nhiều lần, giúp nhiều người được hưởng lợi Mặt khác, người vay vốn tìm cách sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh, tạo ra thu nhập để cải thiện đời sống và trả được nợ
Trang 23- Vốn cho vay giúp người vay vốn khắc phục tư tưởng tự ti, ỷ lại khi nhận vốn cấp phát; tự nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của mình, tạo tiền đề hoà nhập sản xuất hàng hoá thị trường
Đương nhiên điều này không có nghĩa là không cần tới phương thức cấp phát Nhà nước vẫn cần phải có các giải pháp đầu tư cấp phát các công trình cơ sở
hạ tầng, phúc lợi công cộng, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp cận với nền sản xuất hàng hoá Tuy nhiên, sử dụng phương pháp cho vay có hoàn trả tỏ ra ưu việt so với phương thức cấp phát, cho không
Cho vay chính sách có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các khu vực sản xuất, các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ, phát triển trong lĩnh vực tài chính công
Trên thực tế, có những ngành, những doanh nghiệp mà bản thân hoạt động không có lãi nhưng lại rất cần cho sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự trợ giúp thông qua việc cho vay vốn với điều kiện ưu đãi
Cho vay chính sách còn tạo tiền đề cho các vùng kinh tế kém phát triển do môi trường và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt có điều kiện tiếp cận với nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam, vai trò của NHCSXH được thể rõ nét trong Nghị định
78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ NHCSXH có vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo là công cụ của Chính phủ để tập trung huy động mọi nguồn lực tài chính trong và ngoài nước đầu tư cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo quy định của Chính phủ giúp họ có vốn sản xuất kinh doanh, làm ăn hiệu quả xoá đói giảm nghèo vươn lên hoà nhập cộng đồng Thông qua hoạt động của NHCSXH nâng cao uy tín của Nhà nước, của Chính phủ
và thể hiện được bản chất ưu việt của chế độ đối với hộ nghèo và cộng đồng chính sách khác, thực hiện công bằng và ổn định xã hội [8]
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm cho vay ủy thác
1.1.2.1 Khái niệm cho vay ủy thác
Trang 24- Cho vay là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền và tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận
- Khái niệm cho vay ưu đãi: Cho vay ưu đãi của ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa ngân hàng với các khách hàng là đối tượng chính sách, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thoả thuận hoàn trả cả gốc và lãi (ưu đãi) trong một thời gian nhất định giữa khách hàng
và ngân hàng
- Cho vay ủy thác là việc ngân hàng uỷ quyền cho tổ chức tín dụng hay tổ chức chính trị xã hội thực hiện toàn bộ hoặc một phần công việc trong quy trình nghiệp vụ cho vay ủy thác của ngân hàng với một mức phí nhất định được thoả thuận giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng hay tổ chức chính trị xã hội
1.1.2.2 Đặc điểm
Loại hình cho vay này có những đặc trưng riêng biệt đó là:
- Tài sản giao dịch chỉ là tiền mặt để cho các đối tượng chính sách vay
- Người đi vay vốn không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo tiền vay
- Món vay nhỏ, lẻ
- Lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất trên thị trường tín dụng thương mại
1.1.3 Cho vay ủy thác đối với hộ nghèo thông qua các tổ chức chính trị
xã hội
1.1.3.1 Quan điểm về hộ nghèo
Quá trình phát triển xã hội loài người, nghèo đói và phát triển luôn là hai vấn
đề có mối quan hệ mật thiết với nhau trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Điều này càng rõ nét khi nền kinh tế thị trường phát triển Giáo sư Dudley Seers đã đặt ra những câu hỏi cơ bản về ý nghĩa sự phát triển của một nước:
“Điều gì đã và đang xảy ra với tình trạng nghèo đói, thất nghiệp và bất bình đẳng? Nếu cả ba hiện tượng trên đều giảm đáng kể, thì rõ ràng đây là một giai đoạn phát triển của đất nước đó Nếu một hoặc hai trong số những vấn đề trọng tâm này lại trở
Trang 25nên trầm trọng hơn đặc biệt nếu cả ba đều xấu đi, thì sẽ là điều kì quặc nếu ai đó gọi tình trạng này là “phát triển”, cho dù thu nhập bình quân đầu người có tăng gấp đôi
đi chăng nữa” [15]
Do vậy, nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà không quan tâm đúng mức đến giải quyết nghèo đói và các vấn đề xã hội thì không tạo được sự phát triển bền vững Đồng thời bản thân tình trạng nghèo đói và các vấn đề xã hội cũng làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng xã hội Song quá nhấn mạnh đến giải quyết nghèo đói và vấn đề xã hội thì sẽ không ưu tiên được phát triển kinh tế một cách đúng mức Vì vậy, giải quyết hai vấn đề sao cho hài hoà
là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia
Nghèo đói là vấn đề có tính chất toàn cầu, tồn tại ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, ở các nước khác nhau, với trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau thì nghèo đói cũng khác nhau và thường là các biện pháp giải quyết nghèo đói khác nhau Nghèo ở các nước phát triển thì có tính chất tương đối Tức là thu nhập của hộ nghèo thấp so với mặt bằng thu nhập chung của xã hội và có khoảng cách xa so với người giàu Ngay từ tháng 9/1993, Hội nghị các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Bangkok bàn về giảm đói
nghèo đã đưa ra khái niệm và định nghĩa đói nghèo như sau: "Đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội
và phong tục tập quán của các địa phương" [20]
Quan niệm cơ bản xác định đói nghèo là ở chỗ con người không được hưởng
và thoả mãn điều thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở Theo đó sự nghèo đói tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là đói
Đói nghèo là một khái niệm có tính động, biến đổi, di chuyển chứ không tĩnh Những nhân tố tạo nên đặc điểm này của hiện tượng nghèo đói là: Sự phát triển của sản xuất, mức tăng trưởng kinh tế, sự tăng lên của nhu cầu con người (cả nhu cầu tồn tại sinh học lẫn nhu cầu phát triển chất lượng xã hội của con người),
Trang 26những biến đổi của xã hội (xét trên bình diện quốc gia, dân tộc lẫn khu vực và quốc tế)
Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo và giàu nghèo luôn thay đổi
Ở một thời điểm, với một vùng, một nước nào đó thì chỉ số đo được là đói, nghèo hoặc giàu nhưng sang một thời điểm khác, so sánh với một vùng khác, nước khác, cộng đồng dân cư khác thì chỉ số đo đó có thể mất ý nghĩa Từ cách hiểu chung này cần thấy sự khác biệt về mức độ đói nghèo có tính chất địa phương và khu vực
Trong xã hội hiện đại ngày nay, những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, công nghệ và chính con người đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất khổng lồ bằng của nhiều thế kỷ trước cộng lại Và chính kỹ thuật công nghệ đang chắp cánh cho con người vươn tới những vì sao xa xôi; đã giúp con người khám phá thế giới đầy bí ẩn, tạo cho chất lượng cuộc sống của con người thực sự được cải thiện Tuy nhiên, bức tranh của thế giới hiện nay phản ánh một trật tự thế giới đầy bất công, hai thái cực giàu nghèo đến mức nghiệt ngã, tình trạng cùng cực đang đè nặng lên 2/3 dân số thế giới
Tăng trưởng kinh tế như một dòng chảy liên tục, càng về sau khối lượng của cải vật chất do tăng trưởng kinh tế đem lại càng lớn, nhưng chính vấn đề nghèo đói
là một trong số những vấn đề toàn cầu đã buộc loài người phải nhìn nhận lại rằng tăng trưởng kinh tế và phát triển là hai khái niệm không đồng nhất Sự tăng trưởng nếu không đem lại những dấu hiệu tích cực trong phát triển bền vững sẽ dẫn đến mâu thuẫn
Thực tế ở một số quốc gia cho thấy: kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân
cư lại càng bức xúc bấy nhiêu, dẫn đến việc xảy ra những xung đột xã hội, chính trị
và cao hơn nữa là xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc Hậu quả khôn lường của những mâu thuẫn cũng có thể làm tiêu tan toàn bộ những thành tựu của quá trình tăng trưởng kinh tế đã đạt được
1.1.3.2 Cho vay ủy thác thông qua tổ chức chính trị xã hội
Trang 27Theo Nghị định 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác thì NHCSXH ngoài việc cho vay trực tiếp đối với một số dự án, còn lại chủ yếu là cho vay uỷ thác qua các tổ chức tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội Riêng đối với cho vay hộ nghèo NHCSXH thực hiện phương thức cho vay uỷ thác qua các tổ chức tín dụng và các
tổ chức chính trị xã hội
Là việc NHCSXH ký kết các văn bản thoả thuận, hợp đồng uỷ thác cho vay
hộ nghèo với các tổ chức tín dụng Theo phương thức này NHCSXH giao vốn cho các tổ chức tín dụng để họ thực hiện giải ngân cho các hộ nghèo vay vốn theo đúng quy định của NHCSXH và tổ chức tín dụng được hưởng phí uỷ thác do NHCSXH trả cho họ Loại hình uỷ thác cho vay này gọi là uỷ thác toàn phần Trong thực tế
trước đây khi NHCSXH chưa ra đời thì Ngân hàng Phục vụ người nghèo Việt Nam
do bộ máy biên chế quá nhỏ bé không thể trực tiếp quản lý được nên đã thực hiện phương thức uỷ thác cho vay hộ nghèo toàn phần cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Phương thức cho vay này có ưu điểm là khắc phục được tình trạng quá tải của Ngân hàng Phục vụ người nghèo do màng lưới định biên
ít không thể trực tiếp quản lý được nhưng nó cũng bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế đó là: Ngân hàng uỷ thác không quản lý được vốn cho nên việc giải ngân vốn đến tay người nghèo được, nay không hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân hàng nhận uỷ thác dẫn đến nhiều khi vốn tồn đọng rất lớn gây lãng phí vốn, một tồn tại nữa là chất lượng hiệu quả tín dụng thấp, nợ quá hạn, nợ xấu chiếm tỷ lệ cao và phí uỷ thác lớn, gây tốn
kém cho ngân sách Nhà nước [8]
Từ khi được thành lập theo Quyết định số: 131/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ, NHCSXH đã tập trung nghiên cứu và chuyển dần việc
uỷ thác cho vay hộ nghèo toàn phần qua các tổ chức tín dụng sang hình thức cho vay uỷ thác bán phần qua các tổ chức chính trị xã hội
- Cho vay hộ nghèo uỷ thác bán phần qua các tổ chức chính trị xã hội là việc NHCSXH uỷ quyền cho các tổ chức chính trị xã hội thực hiện một số công việc (công đoạn) trong quy trình nghiệp vụ cho vay hộ nghèo của NHCSXH và các tổ
Trang 28chức chính trị xã hội được NHCSXH trả một khoản phí uỷ thác theo các văn bản thoả thuận và hợp đồng uỷ thác đã được hai bên ký kết Cho vay uỷ thác bán phần qua các tổ chức chính trị xã hội có những ưu điểm rõ rệt, nó khắc phục được những tồn tại, hạn chế của phương thức cho vay uỷ thác toàn phần qua các tổ chức tín dụng đó là: NHCSXH trực tiếp quản lý nguồn vốn, quản lý dư nợ nên chủ động trong quá trình cho vay không để tồn đọng lãng phí vốn, với phương thức cho vay này hiệu quả tín dụng hộ nghèo được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu rất thấp Đồng thời phương thức cho vay này tiết kiệm được chi phí (phí uỷ thác) cho ngân sách Nhà nước góp phần thực hiện tốt công tác xã hội hoá tín dụng chính sách đối với hộ nghèo, huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công cuộc xoá đói giảm nghèo [23]
1.1.4 C ác tổ chức chính trị xã hội
1.1.4.1 Khái niệm tổ chức chính trị xã hội
Các tổ chức chính trị xã hội là một tổ chức của Hội đoàn thể được thành lập
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên đoàn thể đó phù hợp với Pháp luật của Nhà nước
Tổ TK&VV được thành lập nhằm tập hợp các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn của NHCSXH để sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống; cùng tương trợ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống; cùng liên đới chịu trách nhiệm trong việc vay vốn và trả
nợ ngân hàng
Các TC CT-XH làm dịch vụ uỷ thác từng phần cho NHCSXH có nhiệm vụ chính là cầu nối giữa NHCSXH với người nghèo và các đối tượng chính sách, thông qua tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Tổ TK&VV tại cơ sở có đủ điều kiện trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác tín dụng đến khách hàng Thực hiện Nghị định 78/2002/NĐ – CP của Chính phủ, đến nay NHCSXH đã ký văn bản thoả thuận, uỷ thác cho vay chương trình tín dụng hộ nghèo thông qua 4 tổ chức chính trị - xã hội: Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
1.1.4.2 Đặc điểm
Trang 29Tổ chức chính trị xã hội là một thành viên trong khối đại đoàn kết dân tộc, thành viên vủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật pháp, chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tổ chức chính trị xã hội có đặc điểm là hội viên đông, thuộc mọi tầng lớp nhân dân lao động hoạt động theo điều lệ riêng độc lập với chính quyền, phối hợp cùng chính quyền để lãnh
đạo chỉ đạo nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng đề ra Tổ chức
chính trị xã hội là tổ chức của quần chúng hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện mà mọi người tham gia đều chấp thuận và tự giác chấp hành
1.2 HIỆU QUẢ CHO VAY ỦY THÁC ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO THÔNG QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.2 1 Khái niệm hiệu quả cho vay uỷ thác thông qua các tổ chức chính trị - xã hội
- Hiệu quả cho vay: Xuất phát từ mục đích và cơ chế hoạt động, hiệu quả cho
vay của NHCSXH là việc đạt được những kết quả mà bao hàm trong đó cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội; việc lượng hoá kết quả cho vay được đánh giá thông qua
hệ thống các chỉ tiêu trung gian được xác định trên cơ sở kết quả thực hiện các chính sách xã hội theo các chương trình, dự án và theo từng nhóm đối tượng thụ hưởng và tác động của chính sách
Hiệu quả cho vay của NHCSXH được thể hiện ở việc duy trì và phát triển được nguồn vốn cho vay thực thi chính sách xã hội
1.2 2 Nội dung cho vay uỷ thác thông qua các tổ chức chính trị xã hội của Ngân hàng Chính sách Xã hội
NHCSXH ủy thác cho các TC CT-XH thực hiện chính sách ưu đãi đối với
hộ nghèo và các đối tượng chính sách xã hội qua 06 nội dung chủ yếu sau:
Một là: Tổ chức họp các đối tượng vay vốn thuộc diện thụ hưởng các chính
sách cho vay có ưu đãi của Chính phủ Thông báo và phổ biến các chương trình chính sách cho vay có ưu đãi của Chính Phủ đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
Trang 30Hai là: Hướng dẫn việc thành lập Tổ TK&VV; chỉ đạo và hướng dẫn tổ TK&VV tổ chức họp Tổ, bình xét công khai các hộ có nhu cầu xin vay vốn và đủ điều kiện vay đưa vào Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH theo quy định nghiệp vụ cho vay của từng chương trình, trình Ban xóa đói giảm nghèo cấp
xã xác nhận, Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp xã xét duyệt và đề nghị ngân hàng cho vay
Ba là:Nhận và thông báo kết quả phê duyệt danh sách hộ gia đình được vay vốn cho tổ TK&VV để tổ TK&VV thông báo đến từng hộ gia đình được vay vốn
Bốn là: Kiểm tra, đôn đốc hoạt động của các tổ TK&VV thuộc phạm vi của
tổ chức CT-XH quản lý Giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các hộ Phối hợp với Ban quản lý tổ TK&VV đôn đốc người vay trả nợ gốc, lãi theo định kỳ đã thỏa thuận Thông báo kịp thời cho Ngân hàng nơi cho vay về các trường hợp sử dụng vốn vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chết, mất tích,…) và rủi ro do nguyên nhân chủ quan như: sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay trốn,… để có biện pháp xử lí thích hợp, kịp thời Phối hợp cùng NHCSXH và chính quyền địa phương xử lí các trường hợp nợ chây ỳ, nợ quá hạn
và hướng dẫn hộ vay lập hồ sơ đề nghị xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan (nếu có)
N ăm là: Chỉ đạo và giám sát Ban quản lý tổ TK&VV trong việc:
- Đôn đốc các tổ viên đem tiền đến điểm giao dịch của NHCSXH để trả nợ gốc theo kế hoạch trả nợ đã thỏa thuận;
- Thực hiện việc thu lãi, thu tiền tiết kiệm (đối với các tổ TK&VV được NHCSXH ủy nhiệm thu); chỉ đạo Ban quản lý tổ TK&VV đôn đốc các tổ viên đem
tiền đến các điểm giao dịch của NHCSXH để trả lãi, gửi tiết kiệm (nếu có) theo định kỳ đã thỏa thuận (đối với các tổ TK&VV không được NHCSXH ủy nhiệm thu)
Sáu là:Theo dõi hoạt động của tổ TK&VV, đôn đốc Ban quản lý tổ TK&VV thực hiện hợp đồng ủy nhiệm đã ký với NHCSXH Tổ chức tập huấn nghiệp vụ ủy
Trang 31thác cho cán bộ tổ chức Hội, Ban quản lý tổ TK&VV để hoàn thành công việc ủy
* Nhóm tiêu chí định tính
Bao gồm các tiêu chí sau:
- Quy trình nghiệp vụ hoàn chỉnh, thủ tục đơn giản, khả năng đáp ứng vốn cho người nghèo nhanh chóng, tiện lợi, kịp thời, an toàn, hiệu quả Vì trình độ người nghèo có hạn, hơn nữa món vay nhỏ lẻ nên cần nghiên cứu để đơn giản hoá thủ tục hồ sơ sao cho hộ nghèo dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc cho vay, đảm bảo an toàn vốn Việc giải ngân phải nhanh gọn, chính xác, kịp thời
và thuận tiện cho người nghèo, tạo dựng được lòng tin với họ, nâng cao uy tín NHCSXH với khách hàng đặc biệt là hộ nghèo
- Hiệu quả về mặt kinh tế-xã hội: Thể hiện vai trò mức độ đóng góp của
NHCSXH thông qua việc cho ưu đãi hộ nghèo uỷ thác qua các tổ chức chính trị xã hội đã đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương như thế nào NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, không như các ngân hàng thương mại lấy lợi nhuận ra làm thước đo hiệu quả cho vay được, mà hiệu quả cho vay hộ nghèo được thể hiện qua việc đầu tư vốn của NHCSXH đã giúp cho được bao nhiêu hộ nghèo làm ăn có hiệu quả vươn lên thoát nghèo, hoà nhập với cộng đồng Góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo của địa phương, của quốc gia
- Đối với bản thân các tổ chức chính trị - xã hội: Cho vay hộ nghèo uỷ thác
qua các tổ chức chính trị xã hội đã góp phần tích cực xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị xã hội không ngừng phát triển, lớn mạnh, nâng cao vị thế của các tổ
Trang 32chức chính trị xã hội, củng cố lòng tin của các hội viên vào tổ chức hội, thu hút đông đảo hội viên vào hội, tạo ra nguồn kinh phí lớn cho các tổ chức chính trị xã hội hoạt động và làm cho hoạt động của các tổ chức này ngày càng phong phú hơn, hiệu quả hơn
- Đối với NHCSXH: Phương thức cho vay uỷ thác bán phần qua các tổ chức
chính trị xã hội giúp cho NHCSXH khắc phục được tình trạng quá tải trong khi biên chế còn ít, mạng lưới rộng, địa bàn rộng Đồng thời giúp NHCSXH chuyển tải vốn kịp thời đến đúng đối tượng hộ nghèo không để tồn đọng lãng phí vốn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của đồng vốn; mặt khác cho vay uỷ thác bán phần qua các tổ chức chính trị xã hội giúp cho ngân hàng tiết kiệm được chi phí hơn so với uỷ thác toàn phần qua các tổ chức tín dụng, tăng cường mối quan hệ với cấp uỷ và chính quyền địa phương, từ đó nâng cao vị thế của ngân hàng, thực hiện xã hội hoá hoạt động ngân hàng
- Đối với hộ nghèo: Hộ nghèo là đối tượng thụ hưởng chính sách tín dụng ưu
đãi của Nhà nước để vươn lên xoá đói giảm nghèo làm giàu cho mình và cho xã hội Thông qua phương thức cho vay này đồng vốn đến tay người nghèo được nhanh hơn, kịp thời hơn, thủ tục đơn giản hơn, đi lại gần hơn tiện hơn tiết kiệm được thời gian công sức hơn Mặt khác, qua phương thức vay vốn này người nghèo còn được học tập kinh nghiệm làm ăn, được tập huấn, khuyến lâm, khuyến nông, khuyến công… Từ đó
sử dụng vốn hiệu quả hơn nhanh thoát nghèo vươn lên hoà nhập với cộng đồng
Trang 33Ngoài các chỉ tiêu trên, bổ sung thêm tiêu chí: Mức độ giảm nghèo từ vốn vay NHCSXH
Mức độ giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo nhờ vốn vay từ NHCSXH
Từ vốn vay NHCSXH Tỷ lệ vốn vay từ NHCSXH
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay uỷ thác đối với hộ nghèo qua các tổ chức chính trị xã hội
Thứ nhất, nhóm nhân tố khách quan
Một, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước: Đây là nhân tố quan
trọng vì Đảng và Nhà nước có những chủ trương chính sách đúng đắn giúp đỡ hộ nghèo thì NHCSXH sẽ được hỗ trợ tích cực, hoạt động ngày càng được mở rộng và hiệu quả
Hai, môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên có tác động to lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và của hộ nghèo nói riêng Nếu môi trường thuận lợi “mưa thuận, gió hoà” thì hoạt động sản xuất kinh doanh của người nghèo
sẽ đem lại hiệu quả cao, đồng vốn của NHCSXH cho người nghèo vay sẽ phát huy hiệu quả Ngược lại nếu không thuận lợi, thiên tai dịch bệnh xảy ra thì người nghèo sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, đồng vốn của NHCSXH cho họ vay sẽ không hiệu quả
Ba, môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra an toàn Vì vậy để hoạt động NHCSXH an toàn hiệu quả thì đòi hỏi môi trường pháp lý phải đồng bộ và hoàn thiện
Bốn, năng lực, nhận thức, kinh nghiệm của khách hàng: Năng lực quản lý,
năng lực kinh doanh của khách hàng là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng ưu đãi hộ nghèo của NHCSXH Nếu người nghèo vay vốn NHCSXH mà không có kinh nghiệm, năng lực sản xuất kinh doanh thì đồng vốn khó phát huy hiệu quả, thậm chí còn mất vốn do thua lỗ làm cho người nghèo càng nghèo thêm
Thứ hai, nhóm nhân tố chủ quan
Trang 34Đây là những nhân tố thuộc về nội tại của bản thân NHCSXH và các tổ chức chính trị xã hội Nhóm này gồm các nhân tố cơ bản sau:
Một, mô hình tổ chức mạng lưới của NHCSXH Đối tượng phục vụ chính
của NHCSXH là các hộ gia đình nghèo mà các hộ này lại chủ yếu nằm ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng sâu vùng xa, vùng núi cao, hải đảo cho nên mô hình mạng lưới của NHCSXH phải được thiết lập sao cho phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi nhất phục vụ cho các đối tượng hộ nghèo
Hai, chiến lược hoạt động của NHCSXH: Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới chất lượng, hiệu quả cho vay hộ nghèo và hoạt động của NHCSXH Đòi hỏi NHCSXH phải nghiên cứu, hoạch định một cách khoa học chiến lược phát triển của mình, từ đó đưa ra các phương án thích hợp để hướng tới các đối tượng khách hàng của mình trong ngắn hạn cũng như trung, dài hạn để nâng cao hiệu quả hoạt động
Ba, chính sách cho vay, quy trình nghiệp vụ cho vay ngày càng phải hoàn thiện, phù hợp với thực tế trong từng thời kỳ như mức cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay, v.v có như vậy mới đảm bảo cho cho vay hộ nghèo của NHCSXH ngày càng hiệu quả
Bốn, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên
ngân hàng và các tổ chức chính trị xã hội: Vì đối tượng phục vụ của NHCSXH là người nghèo họ dễ mặc cảm, dễ tự ti vì vậy cán bộ nhân viên ngân hàng, cán bộ Hội đoàn thể phải luôn trau dồi đạo đức phục vụ khách hàng tận tụy, tâm huyết, thường xuyên quan tâm, gần gũi với khách hàng để người nghèo coi NHCSXH thực sự là người bạn thân thiết Đồng thời cán bộ nhân viên, cán bộ Hội đoàn thể phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức ngoại ngành, kinh nghiệm sản xuất – kinh doanh để tư vấn giúp đỡ hộ nghèo sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn
Năm, cơ sở vật chất kỹ thuật: NHCSXH cần phải tập trung đầu tư kiện toàn cơ
sở vật chất kỹ thuật như trụ sở làm việc, máy móc phương tiện đặc biệt là hiện đại hoá công nghệ tin học để đưa ra nhiều sản phẩm mới tiện ích hơn hiệu quả hơn
Trang 35Sáu, sự phối kết hợp của NHCSXH và các tổ chức chính trị xã hội trong việc triển khai thực hiện các văn bản thoả thuận, các hợp đồng uỷ thác uỷ nhiệm đã ký kết Các bên cần nỗ lực phấn đấu làm hết trách nhiệm của mình và phải cùng nhau thường xuyên kiểm điểm, đánh giá rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả đồng vốn cho hộ nghèo vay
1.3 KINH NGHIỆM CHO VAY CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
1.3 1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
* Trung Quốc:
Trong tháng 11/1993, một Ngân hàng chính sách được thành lập trên cơ sở tách khỏi Ngân hàng chuyên doanh Nhà nước Theo đó, NHPT Nhà nước của Trung Quốc (Tên gọi đầu tiên là Ngân hàng phát triển Trung Quốc (CDB) được thành lập tháng 3/1994 theo quyết định của Hội đồng Nhà nước và bắt đầu hoạt động vào tháng 4 năm đó Vào tháng 7/1994, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung Quốc được thành lập trên cơ sở tách khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và được coi là một tổ chức tài trợ chính sách cho nông nghiệp
Nguồn vốn của CDB chủ yếu huy động qua kênh phát hành trái phiếu Ngân hàng Mục đích của việc thành lập CDB là nhằm cấp vốn với lãi suất ưu đãi cho các
dự án quốc gia có qui mô lớn hay những dự án có lợi ích chiến lược dựa trên chính sách quốc gia Ngân hàng thực hiện các chức năng tài trợ chính sách trong khi vẫn duy trì sự độc lập của mình với tư cách là một tổ chức tài chính, Ngân hàng tham gia tài trợ các dư án và tài trợ cho các ngành với phạm vi khá rộng Ngoài ra, Trung Quốc còn có chính sách ưu đãi đặc biệt trong việc xoá đói giảm nghèo cho các vùng nghèo, cả cấp Trung ương và cấp tỉnh đều có chính sách [14]
* Kinh nghiệm ở Băng-la-đét:
Từ khi xuất hiện hình thức cấp tín dụng cho người nghèo vào năm 1976, do Ngân hàng Grameen thực hiện, những người nghèo ở đây được hưởng một chương trình trợ giúp có nhiều hiệu quả Băng-la-đét là một nước có nền kinh tế nông nghiệp, có hơn 80% trong khoảng 120 triệu dân sinh sống tại các vùng nông thôn,
Trang 36chủ yếu bằng nghề nông Tuy nhiên, có hơn 50% số hộ nông dân không có ruộng đất, phần lớn trong số họ có cuộc sống dưới mức nghèo khổ Từ khi giáo sư Yumus, thuộc trường Đại học kinh tế Băng-la-đét, có sáng kiến thực hiện chương trình tín dụng đối với người nghèo thông qua Ngân hàng Grameen đã giúp cho người nghèo
có vốn khai thác nhiều ngành nghề từ đó có thu nhập, ổn định cuộc sống hơn so với trước Đến năm 1995, sau 12 năm hoạt động, Ngân hàng Grameen đã có hơn 2 triệu thành viên, đặc biệt đa số là thành viên nữ chiếm tỉ lệ 94 %, vốn điều lệ của Ngân hàng Grameen tăng lên đạt gần 4 triệu USD
Cơ chế hoạt động của Ngân hàng Grameen cho phép bất cứ người nông dân nào không có đất canh tác, thu nhập dưới 2500 taka/năm (tương đương 100 USD) đều được vay vốn, không cần phải thế chấp, cầm cố tài sản để đảm bảo nợ vay Mức tiền vay thấp nhất là 5000 taka (tương đương 200 USD) Cho vay theo lãi suất thị trường Hoạt động của Ngân hàng Grameen rất kiên trì mục tiêu phục vụ và khai thác triệt để những đặc điểm của người nghèo, khơi dậy tính tích cực từ bản năng vượt nghèo của họ Nhờ vậy số hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo bằng các khoản vay nhỏ từ Ngân hàng Grameen tăng lên ngày một nhiều Điều ngạc nhiên cho giới nghiên cứu lý luận và thực tiễn là nợ khó đòi của Ngân hàng Grameen chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các Ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Băng-la-đét
Với thành tích trên GS Yumus và Grameen bank đã được trao giải thưởng Nobel vì hoà bình năm 2006 [16]
* Kinh nghiệm ở In-đô-nê-xi-a:
Theo lời của Ông Bu-di-xu-lat-gi, Thư ký Bộ trưởng điều phối các vấn đề kinh tế In-đô-nê-xi-a, phát biểu tại hội nghị khu vực về chiến lược xoá đói giảm
nghèo tại các quốc gia ở Đông Á diễn ra vào cuối năm 2001 tại Hà Nội thì “Xóa đói
giảm nghèo từ lâu đã là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ In-đô-nê-xi-a Khởi đầu là chương trình Tám ngả đường bình đẳng”, bình đẳng về cơ hội được giáo
dục, chăm sóc sức khỏe, có việc làm Tiếp đến là chương trình cấp vốn cho làng nghèo, bổ sung khẩu phần ăn cho học sinh nghèo, y tế miễn phí đối với gia đình nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng các làng nghèo Sự nghiệp xoá đói giảm nghèo ở In-đô-nê-xi-a nhờ đó đạt nhiều tiến bộ quan trọng [21]
Trang 37* Kinh nghiệm ở Malaysia:
Trên thị trường chính thức hiện nay của Malaysia, việc cung cấp vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia (BPM) Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia là Ngân hàng Thương mại quốc doanh, được Chính phủ thành lập và cấp 100% vốn tự có ban đầu Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia chú trọng cho vay trung và dài hạn theo các dự án và chương trình đặc biệt Ngoài ra, Ngân hàng còn cho hộ nông dân nghèo qua các
tổ chức tín dụng trung gian khác như Ngân hàng Nông thôn, Hợp tác xã tín dụng Ngoài ra Chính phủ còn buộc các Ngân hàng Thuơng mại khác phải gửi 20% số tiền huy động được vào Ngân hàng Trung ương (trong đó 3% dự trữ bắt buộc) để làm vốn cho vay đối với nông nghiệp, nông thôn Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia không phải gửi tiền dự trữ bắt buộc ở Ngân hàng Trung ương và không phải nộp thuế cho Nhà nước
* Kinh nghiệm ở Thái Lan:
Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác xã tín dụng Thái Lan là Ngân hàng Thương mại quốc doanh do Chính phủ thành lập Nguồn vốn tự có ban đầu của BAAC do Chính phủ cấp 100%, Chính phủ bổ nhiệm Hội đồng quản trị do Bộ trưởng Tài chính làm Chủ tịch
Hàng năm, BAAC được Chính phủ tài trợ vốn để thực hiện chương trình hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo Chuẩn mực phân loại nông dân nghèo được Chính phủ quy định là:
- Những người có thu nhập bình quân dưới 1.000 Bath/năm (tương đương
Ngoài ra, để tăng cường phát triển nông nghiệp, nông thôn Chính phủ quy
Trang 38định các Ngân hàng Thương mại khác phải dành 20% vốn huy động được để cho vay nông nghiệp, nông thôn Số vốn này các Ngân hàng Thương mại có thể cho vay trực tiếp hay gửi vào BAAC [21]
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm quốc tế có thể áp dụng vào Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Lâm Đồng
Qua nghiên cứu trên các mặt hoạt động của các ngân hàng phục vụ cho người nghèo như nêu trên chúng ta có thể áp dụng một số bài học kinh nghiệm vào NHCSXH tỉnh Lâm Đồng:
Một là, nhận thức về người nghèo, họ là những người có lòng tin, tự trọng,
có khả năng vươn lên để thoát khỏi nghèo đói, do đó họ có khả năng trả nợ sòng
phẳng Đánh giá đúng nội sinh người nghèo đã tạo ra một lòng tin và quyết tâm cho
ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo như các nước đã làm;
Hai là, sử dụng bộ máy nhân sự gần gũi với người nghèo, hiểu biết nông thôn và tâm huyết với người nghèo;
Ba là, Ngân hàng phục vụ người nghèo là một thiết chế tín dụng đặc biệt, hoạt động theo qui định riêng, ngoài nguyên tắc chung theo qui định của luật Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác phải điều chỉnh bổ sung một số điều luật cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo;
Thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thực dương, xoá bỏ dần phương thức cấp phát tài trợ cho người nghèo, đồng thời cũng xoá bỏ bao cấp từ ngân sách Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng;
Bốn là, tập trung các nguồn vốn vào một đầu mối để thực hiện mục tiêu hỗ
trợ cho người nghèo theo chương trình của Chính phủ.Người nghèo nước ta cũng như các quốc gia khác, gia tài của họ rất ít Vì vậy, phải cho họ vay bằng biện pháp tín chấp, trả nợ dần bằng kết quả sản xuất và tiết kiệm bắt buộc đối với người vay vốn;
Trang 39Năm là, tín dụng cho người nghèo thường kết hợp lồng ghép với các chương
trình phát triển kinh tế xã hội khác của Chính phủ, thường đem lại những hiệu quả tích cực;
Cuối cùng, về chính sách Nhà nước:
Hỗ trợ vốn cho người nghèo có những đặc điểm khác biệt như, có những chế
độ ưu đãi nhất định của Nhà nước về thuế, lãi suất và thường không có tài sản thế chấp Do vậy, cần phải có sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ kênh cho vay này, nhằm tránh tiêu cực và nâng cao hiệu quả của đồng vốn;
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận án nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận đối với cho
vay ủy thác hộ nghèo đã thực hiện được những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Khẳng định hiệu quả của cho vay hộ nghèo qua các tổ chức chính trị xã hội trong thực hiện chính sách cho vay đối với hộ nghèo; thông qua việc nghiên cứu do yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội
Tiếp đến, luận văn nghiên cứu :
- Vấn đề nghèo đói: khái niệm hộ nghèo, đặc điểm hộ nghèo, nguyên nhân nghèo đói
- Vai trò của NHCSXH và các tổ chức chính trị – xã hội đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo
- Nêu lên khái niệm, đặc điểm của các tổ chức chính trị - xã hội
- Về uỷ thác cho vay hộ nghèo của NHCSXH: Khái niệm, đặc điểm, các loại hình uỷ thác, hiệu quả của uỷ thác cho vay hộ nghèo
- Những kinh nghiệm quốc tế và bài học đối với NHCSXH tỉnh Lâm Đồng
về uỷ thác cho vay hộ nghèo
CHƯƠNG 2
Trang 40THỰC TRẠNG CHO VAY ỦY THÁC HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC
CH ÍNH TRỊ - XÃ HỘI TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH
LÂM ĐỒNG
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỘ NGHÈO, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế – xã hội ở tỉnh Lâm Đồng
* Điều kiện tự nhiên:
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi Nam Tây Nguyên, diện tích 976.479 ha, dân
số 1.160.000 người Phía đông giáp tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, phía tây giáp tỉnh Bình Phước, phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai, phía nam – đông nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc, phía tây bắc giáp tỉnh Đắc Nông Lâm Đồng là tỉnh nằm trong nội địa Việt Nam, không có đường biên giới quốc gia và bờ biển Toàn tỉnh có 12 đơn vị hành chính, gồm: thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và 9 huyện Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Đà Lạt, về hướng bắc cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.500 km, về hướng nam cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km
Căn cứ vào độ cao có thể chia ra làm 4 dạng địa hình: địa hình núi; địa hình cao nguyên; địa hình đồi và địa hình thung lũng Thời tiết ở Lâm Đồng ôn hòa, dịu mát quanh năm; thường ít có biến động lớn trong chu kỳ năm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động 180 – 200C
* Hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh Lâm Đồng
- Hệ thống giao thông: hệ thống đường bộ của Lâm Đồng phân bố đều khắp trong tỉnh với tổng chiều dài 2.039,4 km, trong đó: đường bê tông nhựa nóng 568,72 km, đường cấp phối 523,2 km, đường đất 929,48 km Đường ô tô đến được 100% trung tâm các xã Có các tuyến quốc lộ 20, 27, 28 nối liền Lâm Đồng với vùng Đông Nam bộ, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên, các tỉnh Duyên hải miền Trung Cảng hàng không sân bay Liên Khương hiện có các chuyến bay Đà Lạt - TP
Hồ Chí Minh; Đà Lạt – Hà Nội và đang được đầu tư nâng cấp để trở thành sân bay quốc tế trong tương lai