1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA

28 423 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác phát hành và thanh toán trái phiếu chính phủ tại kho bạc nhà nước Lạng Sơn trong thời gian qua
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Lạng Sơn
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 44,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói rằng, mặc dù là một tỉnh miền núi, Lạng Sơn đã gặp không ítnhững khó khăn trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế, song do sự nỗ lực cố gắngcủa Đảng bộ cũng như nhân dân các dâ

Trang 1

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG

THỜI GIAN QUA.

2.1 Vài nét về KBNN Lạng Sơn.

2.1.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội Tỉnh Lạng Sơn.

Lạng Sơn là một tỉnh niềm núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc Việt Nam,nằm cách Hà Nội 154 km về phía Bắc Là một trong những tỉnh có vị trí chiến lượcđặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, An ninh Quốc phòng của cả nước

Với tổng diện tích tự nhiên là 8127,25 km2, có độ cao trung bình so với mặtbiển là 252m, có đường biên giới Việt - Trung chạy dài 253 km Hiện nay LạngSơn có 1 thị xã và 10 huyện với 206 xã và 19 phường , thị trấn Dân số toàn tỉnh làhơn 800.000 người trong đó ở thị xã gần 300.000 chiếm khoảng 33%, bao gồm 34dân tộc anh em trong đó dân tộc Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất là 43,86%, dân tộc Tàychiếm 35,4%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 15,26%, dân tộc Dao chiếm khoảng3,54% còn lại là các dân tộc thiểu số khác sống xen kẽ với nhau Địa bàn dân cưphân bố không đồng đều, địa hình phức tạp có nhiều đỉnh núi cao, trong đó caonhất là đỉnh núi Mẫu Sơn cao 1.541m, sông, suối có nhiều thác ghềnh độ dốc lớn.Địa hình bị chia cắt thành nhiều vùng với nhiều đặc điểm khác nhau về độ cao,thời tiết, khí hậu

Là một tỉnh miền núi với địa hình phức tạp, có nhiều xã thuộc vùng cao,vùng sâu, xa, phương tiện đi lại khó khăn cho nên kinh tế của Lạng Sơn chậm pháttriển, sản xuất nông nghiệp là một vụ, mang nặng tính tự cấp tự túc, nền sản xuấthàng hoá chưa phát triển Tuy nhiên, trong những năm gần đây do chính sách mởcửa quan hệ giao lưu buôn bán với Trung Quốc nên kinh tế của Lạng Sơn đã có sựthay đổi nhờ vào sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên cơ sở hạ tầng cũng được

Trang 2

chú trọng để tạo điều kiện để phát triến kinh tế Cùng với sự cố gắng tích cực thựchiện việc đổi mới trên các lĩnh vực nên Lạng Sơn đã đạt được một số kết quả sau:

* Về kinh tế:

Năm 1996 độ tăng trưởng GDP đạt 12,12%, năm 1997 đạt 10,26%, năm

1998 đạt 8,26% Trong đó nhịp độ tăng trưởng GDP của ngành Nông, lâm nghiệpbình quân trong 3 năm là 6,75% vượt mục tiêu Đại hội 12 đảng bộ tỉnh đề ra là 5,5-6%, ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản là18,14% không đạt mục tiêu Đại hội 12

đề ra là 25-30% GDP bình quân đầu người năm 1996 là 2.041 ngàn đồng, năm

1997 là 2.232 ngàn đồng , năm 1998 là 2462 ngàn đồng Cơ cấu ngành trong GDP

đã chuyển dịch trong hướng tiến bộ, giảm tỷ trọng ngàng Nông lâm nghiệp, tăngngành công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ Ngoài ra quán triệt quan điểm củaĐảng ta là phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theohường XHCN Trong những năm qua Tỉnh Uỷ Lạng Sơn đã tập trung chỉ đạo sắpxếp, củng cố xây dựng các DNNN Doanh thu thu sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp tăng bình quân hàng năm là 5,5% song đại bộ phận các DNNN còn

bé, vốn ít, việc phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế còn hạn chế Kinh tế hợptác xã(HTX) cũng được quan tâm củng cố, toàn tỉnh hiện có 146 HTX trong đó

108 HTX nông nghiệp, 2 HTX lâm nghiệp, 4 HTX xây dựng, 13 HTX tiểu thủcông nghiệp, 14 HTX vận tải, bên cạnh đó các công ty trách nhiệm hữu hạn, cácdoanh nghiệp tư nhân, kinh tế trang trại cũng phát triển Nền kinh tế ngày càng ổnđịnh và phát triển hơn

* Về văn hoá xã hội

Trong những năm qua trong những lĩnh vực như xoá mà chữ, phổ cập tiểuhọc, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xoá đói giảm nghèo, sắp xếp lao động giải quyếtcông ăn việc làm, định canh định cư, phủ sóng phát thanh truyền hình đã có nhiều

Trang 3

tiến bộ, đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã từngbước được cải thiện và ổn định đặc biệt là các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Sự nghiệp đào tạo và giáo dục, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhândân được quan tâm thoả đáng và tiếp tục phát triển

Có thể nói rằng, mặc dù là một tỉnh miền núi, Lạng Sơn đã gặp không ítnhững khó khăn trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế, song do sự nỗ lực cố gắngcủa Đảng bộ cũng như nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nền kinh tế của tỉnh đãngày một phát triển vững vàng hơn, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, và sự phát triển nền kinh tế đất nước

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của kho bạc Nhà nước Lạng Sơn.

Ngày 01/04/1990 KBNN Lạng Sơn được ra đời cùng với sự ra đời của hệthống kho bạc trong cả nước theo quyết định số 07/ HĐBT của hội đồng Bộ trưởng( hay là Chính phủ) KBNN tỉnh Lạng Sơn nằm trên địa bàn đừờng Lê Lợi- thị xãLạng Sơn, bao gồm 10 KBNN huyện trực thuộc và văn phòng kho bạc tỉnh Đó làcác KBNN huyện Tràng Định, Văn Quan, Văn Lãng, Bình Gia, Bắc Sơn, Cao Lộc,Hữu Lũng, Chi Lăng, Lộc Bình, Đình Lập Mặt khác do nằm trên đại bàn thị xãnên KBNN tỉnh kiêm luôn vai trò của KBNN thị xã vì thế hoạt động của KBNNtỉnh rất phong phú và phức tạp

Với tổng số cán bộ,viên chức từ hệ thống Ngân hàng và tài chính chuyểnsang, được KBNN TW cấp kinh phí hoạt động cũng như được sự giúp đỡ của cácngành, các cấp chức năng trong tỉnh , KBNN Lạng Sơn đã đi vào hoạt động theo

cơ cấu tổ chức chặt chẽ thống nhất từ KBNN tỉnh đến KBNN các huyện và đã dầndần trưởng thành qua năm tháng, cho đến nay đã có đội ngũ cán bộ vững mạnhtrên dưới 192 cán bộ, trong đó số cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng chiếm tỷ

lệ khá cao Tuy nhiên việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ công

Trang 4

tổ chức cán bộ

Phòng thanh tra

Phòng thanh toán vốn ĐTXDCB

Phòng

kế toán (tổvi tính)

Phòng kho quỹ

KBNN

Đình

lập

KBNN Tràng Định

KBNN Văn Lãng

KBNN Văn Quan

KBNN Bình Gia

KBNN Bắc Sơn

KBNN Chi Lăng

KBNN Hữu Lũng

KBNN Cao Lộc

nhân viên chức trong toàn bộ hệ thống KBNN của tỉnh vẫn luôn là vấn đề quantâm của ban lãnh đạo KBNN Lạng Sơn để hoàn thành tốt hơn những công việc màKBNN đảm nhiệm trong công việc quản lý quỹ NSNN

Bên cạnh công tác chuyên môn, các công tác ngoại khoá như công tác Đảng,đoàn thể cũng được định hướng một cách rõ nét Với cương vị là một đơn vị hànhchính sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài Chính, KBNN tỉnh Lạng Sơn chịu sự chỉ đạotrực tiếp của KBNN TW Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tại KBNN tỉnh gồm 7 phòng và vàmột tổ nghiệp vụ trực thuộc ban lãnh đạo của KBNN Lạng Sơn, đứng đầu là giámđốc KBNN tỉnh, ta có thể minh họa bằng sơ đồ sau:

Hơn 10 năm ra đời và trưởng thành KBNN Lạng Sơn đã khẳng định vị trí vàvai trò không thể thiếu của mình trong việc phát triển kinh tế- xã hội của đất nướcnói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng

KB NN

Lộc

Bình

Trang 5

Lạng Sơn là một tỉnh có địa bàn khó khăn và phức tạp, có vị trí quan trọngnên nhiệm vụ của KBNN Lạng Sơn cũng hết sức nặng nề và quá trình thực hiệngặp không ít những khó khăn Nhận thức được vấn đề đó , nhìn chung KBNNLạng Sơn đã cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao nhằm góp phần hoànthành nhiệm vụ chính trị, kinh tế văn hoá xã hội , an ninh Quốc phòng trên địa bàntỉnh Cụ thể về công tác chuyên môn như sau:

- Về công tác quản lý quỹ NSNN: Đây là một công tác trọng tâm và thườngxuyên nên luôn luôn được cấp uỷ Đảng và Chính quyền tỉnh quan tâm và chú trọnglãnh đạo chỉ đạo các ngành chức năng thực hiện mọi biện pháp thu từ mọi nguồnvào NSNN, đồng thời quản lý chi tiêu theo dự toán được duyệt theo luật NSNNqua các năm, cụ thể :

+ Thu NSNN qua các năm như sau: năm 1990 thu được 17.021 triệu đồng,năm 1991 thu được 21.037 triệu đồng, năm 1992 thu được 64.093 triệu đồng, năm

1993 thu được 188.678 triệu đồng, năm1994 thu được 240.375 triệu đồng, năm

1995 thu được 292.124 triệu đồng, năm 1996 thu được 288.678 triệu đồng, năm

1999 thu được 433.280 triệu đồng, năm 2000 thu được 832.718 triệu đồng

+ Chi NSNN qua các năm như sau: năm 1990 chi 45.214 triệu đồng,năm

1991 chi 52.768 triệu đồng, năm 1992 chi 107.511 triệu đồng, năm 1993 chi233.454 triệu đồng, năm 1994 chi 239.051 triệu đồng, năm 1995 chi 299.091 triệuđồng, năm 1996 chi 304.608 triệu đồng, năm 1997 chi 310.700 triệu đồng,năm

1998 chi 375.294 triệu đồng, năm 1999 chi 440.290 triệu đồng, năm 2000 chi694.193 triệu đồng

- Về công tác kế toán: Thực hiện hệ thống quản lý quỹ NSNN theo luật định,

do đó trong quá trình thực hiện luôn có sự bổ sung, sửa đổi cho hoàn chỉnh đồng

Trang 6

thời từng bước hiện đại hoá bằng máy vi tính để nhằm hạch toán và quản lý quỹNSNN có hiệu quả.

- Công tác tiền tệ, kho quỹ, thường xuyên chú ý tổ chức học tập các chế độquy định của Nhà nước, tập huấn tay nghề nhằm kiểm nhận, quản lý phải an toàntuyệt đối

- Về công tác tín dụng Nhà nước: Qua 10 năm triển khai, công tác tín dụngcủa KBNN Lạng Sơn đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trong công tác pháthành và thanh toán tín phiếu, công trái XDTQ Từ các nguồn vốn huy động được,KBNN thực hiện triển khai các hình thức tín dụng tài trợ theo mục tiêu chỉ địnhcủa Chính phủ nhằm giải quyết việc làm cho người lao động( như chương trình120), đầu tư phát triển kinh tế như đường dây tải điện 500 kv, chương trình 135,trung tâm cục xã và đường ra biên giới Để hoàn thành nhiệm vụ trong công táchuy động vốn từ nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư thông qua việc phát hành TPCP,KNNN Lạng Sơn đã làm tốt công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tinđại chúng, tổ chức các bàn bán, phục vụ nhiệt tình người mua Do vậy, trong 10năm qua KBNN Lạng Sơn đã huy động được với tổng doanh số là: 434,22 tỷ đồng

- Về công tác thanh tra kiểm tra: chấp hành thực hiện công tác thanh trakiểm tra thường xuyên, phát hiện và xử lý kịp thời hiện tượng vi phạm, từ đó cáchoạt động KBNN được chấn chỉnh kịp thời đi vào nề nếp, hạn chế những sai sóttiêu cực

Nhìn lại một cách khái quát nhất về hoạt động từ khi ra đời đến nay ta thấyrằng KBNN Lạng Sơn đã và đang từng bước trưởng thành

2.2 Công tác tổ chức và quản lý huy động vốn

2.2.1 Bộ máy thực hiện:

Trang 7

Trong quá trình huy động vốn, mỗi bộ phận thực hiện một nhiệm vụ riêngbiệt và kết hợp chặt chẽ với nhau hoàn chỉnh một chu trình phát hành hay thanhtoán TPCP.

Giám đốc KBNN điều hành chung mọi hoạt động của đơn vị, Phó giám đốcphụ trách kế toán trực tiếp chỉ đạo công tác phát hành và thanh toán TPCP: bố chícán bộ, phương tiện, quán triệt các quyết định của Chính phủ, các công văn, thông

tư về phát hành và thanh toán TPCP

Bộ phận kế toán là bộ phận trực tiếp phát hành TPCP, hạch toán vay dân,điều tiết cho NSTW, kê bảng kê phát hành TPCP theo từng loại mệnh giá và sêri.Trực tiếp tiến hành thanh toán TPCP theo từng lạo kì hạn và lãi suất tương ứngđồng thời lưu giữ chứng từ theo đúng quy định

Bộ phận kho quỹ: trực tiếp thực hiện thu tiền bán trái phiếu, kiểm tra đúng

số tiền, niêm phong tiền và cất tiền vào kho, thực hiện chi trả trái phiếu chính xác,đồng thời quản lý trái phiếu trắng nhận từ Trung ương về và phân phối cho các đơn

vị liên quan, làm báo cáo ấn chỉ nhập xuất kho theo từng đợt phát hành

Bộ phận kế toán tổng hợp, tổng hợp số liệu báo cáo lãnh đạo và báo cáo vềKBNN TW Tổng hợp tình hình phát hành và thanh toán TPCP một cách chungnhất

2.2.2 Quy trình phát hành:

Trang 8

4

25

Sơ đồ 1: Quy trình thu bán trái phiếu Chính phủ.

Quy trình được thực hiện tuần tự theo 5 bước:

1 Người mua viết các yếu tố quy định trên phiếu mua trái phiếu, kí tên lênchỗ quy định rồi chuyển cho kế toán kho bạc

2 Kế toán kiểm tra các yếu tố trên phiếu mua và tiến hành:

- Viết các yếu tố quy định trên tờ khai phiếu kho bạc ( phần cuống + thân)

- Yêu cầu người mua kí chữ kí mẫu vào cuống trái phiếu

- Giao tờ trái phiếu và phiếu mua cho thủ quỹ

3 Thủ quỹ kiểm tra các yếu tố trên tờ trái phiếu, phiếu mua trái phiếu đảmbảo khớp đúng, hợp lệ thì tiến hành :

- Thu tiền của người mua trái phiếu

- Kí tên vào chỗ quy định trên tờ trái phiếu và phiếu mua trái phiếu

- Đóng dấu “ĐÃ THU TIỀN” lên tờ mua trái phiếu

- Thủ quỹ giao tờ trái phiếu và phiếu mua trái phiếu lại cho kế toán và ghinhật ký quỹ

4 Nhận được trái phiếu và phiếu mua trái phiếu kế toán tiến hành:

- Kí tên vào chỗ quy định trên tờ trái phiếu và phiếu mua trái phiếu

- Giao tờ trái phiếu cho người mua

Trang 9

Thủ quỹ

Kế toán

35

- Cuối ngày căn cứ vào số liệu trên bảng kê chi tiết bán trái phiếu và phiếumua trái phiếu , tiến hành hạch toán, lập sổ chi tiết tài khoản 90, và lưu chứng từtheo quy định

5 Cuối ngày kế toán và thủ quỹ đối chiếu số tiền thu về bán trái phiếuKBNN

2.2.3 Quy trình thanh toán, chi trả trái phiếu:

Sơ đồ 2: Quy trình thanh toán chi trả trái phiếu.

1 Người có trái phiếu tự ghi các yếu tố quy định trên phiếu thanh toán, kítên sau đó nộp cho kế toán, kí tên sau đó nộp cho kế toán: tờ trái phiếu, phiếuthanh toán, chứng minh thư, giấy uỷ quyền (nếu có)

2 Nhận được các chứng từ trên kế toán tiến hành ;

- Kiểm tra tờ trái phiếu, phiếu thanh toán trái phiếu, các chứng từ liên quanđảm bảo hợp lệ

- Đối chiếu chữ kí mẫu ở phiếu thanh toán và ở cuống trái phiếu

- Đối chiếu tờ trái phiếu với bảng kê phát hành trái phiếu số khai báo mấttrái phiếu Trường hợp gốc trái phiếu đang bị phong toả do người mua dùng tờtrái phiếu để thế chấp hoặc đã báo mất thì phải xử lý theo những quy định chotừng trường hợp cụ thể

4

Trang 10

- Tính toán lại số tiền gốc, lãi phải trả để ghi số tiền thanh toán vào tráiphiếu.

-Rút cuống trái phiếu đó ghim kèm với tờ trái phiếu và phiếu thanh toán Chuyển cho thủ quỹ tờ trái phiếu, cuống trái phiếu và phiếu thanh toán

3 Thủ quỹ kiểm tra số tiền phải thanh toán ghi tên trái phiếu và phiếu thanhtoán trái phiếu, kí tên vào trái phiếu, yêu cầu người nhận kí tên vào tờ trái phiếu vàtrả tiền, đóng dấu “ ĐÃ CHI TIỀN” vào phiếu thanh toán , cắt góc và đóng dấu “

ĐÃ CHI TIỀN ” vào tờ trái phiếu đã thanh toán và ghi sổ quỹ

4 Nhận được các chứng từ này, kế toán kí tên vào chỗ quy định trên tờ tráiphiếu và thanh toán trái phiếu

- Ghi bảng kê chi tiết thanh toán gốc, lãi trái phiếu

- Cuối tháng căn cứ vào bảng kê thanh toán trái phiếu , phiếu thanh toán tráiphiếu, lập sổ chi tiết tài khoản 90, 61 và lưu chứng từ theo quy định

5 Cuối ngày, kế toán và thủ quỹ đối chiếu số tiền thanh toán trái phiếu saucùng, thủ quỹ bàn nộp tiền đã niêm phong theo bó cho bộ phận kho quỹ, gửi tráiphiếu trắng còn tồn cuối ngày vào kho, kí xác nhận về số tiền , chủng loại tiền vớithủ kho Kế toán nộp chứng từ lên bộ phận kế toán, chịu trách nhiệm về các số liệu

đã ghi chép Số liệu này sẽ được kiểm tra một lần nữa trước khi đưa vào máy vàtruyền về trung tâm (KBNN) vào cuối ngày

2.3 Thực trạng phát hành và thanh toán trái phiếu chính phủ tại KBNN Lạng Sơn trong thời gian qua.

Huy động vốn là một chính sách tài chính có rất nhiều ưu điểm được Nhànước ta sử dụng phổ biến và khá liên tục trong thời gian qua Nó vừa huy độngđược nguồn vốn nội lực trong dân, vừa “đánh tan” những đồng tiền “ đóng băng”

Trang 11

trong nền kinh tế, vừa tăng nguồn lực tài chính cho NSNN và thực hiện mục tiêukinh tế - xã hội, thúc đẩy sự phát triển của đất nước, mặc dù mới trải qua hơn 10năm hoạt động, xong KBNN Lạng Sơn đã góp một phần không nhỏ vào sự pháttriển kinh tế nói chung và kinh tế của tỉnh Lạng Sơn nói riêng Đặc biệt là trongcông tác huy động vốn, đã huy động được một lượng vốn không nhỏ thông quaphát hành TPCP góp phần bù đắp thiếu hụt NSNN và đầu tư phát triển kinh tế, cụthể là trong 10 năm qua KBNN Lạng Sơn đã huy động được với tổng doanh số là434.220 triệu đồng Song song với công tác phát hành trái phiếu, KBNN Lạng Sơncũng tổ chức tốt công tác chuẩn bị nguồn vốn , tiền mặt để thanh toán các loại tráiphiếu cho người mua khi đến kì hạn thanh toán Ngay từ những năm đầu mới đivào hoạt động, KBNN Lạng Sơn đã làm tốt công tác huy động vốn, hoàn thànhnhiệm vụ được giao cụ thể:

Theo quyết định số 384 TC/KBNN ngày 14/09/1992 và quyết định số 414TC/KBNN của Bộ Tài Chính về việc phát hành tín phiếu kho bạc 6 tháng lãi suất2,9%/ tháng KBNN Lạng Sơn đã huy động được 4.470 triệu đồng, con số nàychưa phải là lớn, song nó đánh dấu một sự khởi đầu tốt đẹp trong công tác huyđộng vốn ở KBNN Lạng Sơn bước sang năm 1993, tiếp tục phát hành tín phiếuloại kì hạn 6 tháng, và tín phiếu đường dây 500 kw, đồng thời phát hành loại tínphiếu kho bạc loại kỳ hạn 12 tháng, lãi suất 2%/ tháng trả lãi trước, theo quyết định

số 782-TC/KBNN ngày 8/11/1993 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính kết quả thu vềđược 33.000, 5 triệu đồng, như vậy ta thấy rằng năm 1993 KBNN Lạng Sơn đãhuy động được gấp 8 lần so với năm 1992, một kết quả đáng mừng, có được kếtquả trên là do kho bạc đã mở rộng phạm vi phát hành và lãi suất tín phiếu hấp dẫnnên đã thu hút được người mua, song song với việc phát hành đó là công tác thanhtoán và năm 1993 số đã thanh toán là 27.497,217 triệu đồng

Trang 12

Năm 1994 thực hiện quyết đính số 432- TC/KBNN ngày 28/5/1994 của Bộtrưởng Bộ Tài Chính, KBNN Lạng Sơn tiếp tục phát hành loại tín phiếu kì hạn 6tháng, lãi suất 1,7 %/ tháng, đã thu về 58.513 triệu đồng, đồng thời thanh toán79.507,59 triệu đồng, như vậy mặc dù trong năm 1994, KBNN Lạng Sơn chỉ pháthành loại tín phiếu kì hạn 6 tháng nhưng số thu về đã tăng 25.512,5 triệu đồng sovới năm 1993, có được kết quả trên là do việc trả lãi trước đã thu hút được ngườidân, bên cạnh đó KBNN Lạng Sơn đã thực hiện thanh toán các loại tín phiếu đếnhạn kịp thời nên đã mang lại niềm tin cho nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Theo công văn số 141 TC/KBNN ngày 22/2/1995 về việc phát hành trái phiếu

kì hạn 1 năm, lãi suất 21%/ năm, trong năm 1995 KBNN Lạng Sơn đã huy độngđược 43.401 triệu đồng Đây là một kết quả rất khả quan, với mức lãi suất 21%/năm loại trái phiếu này đã dặc biệt hấp dẫn nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là ở địabàn thị xã, chỉ trong 6 tháng mà văn phòng KBNN tỉnh đã huy động được 37.000triệu đồng, các kho bạc huyện huy động được ít hơn, với con số khiêm tốn 6.000trệu đồng Bên cạnh việc phát hành trái phiếu kỳ hạn 1 năm, KBNN Lạng Sơn còntiếp tục phát hành tín phiếu kì hạn 6 tháng, kết quả toàn tỉnh về việc phát hành cả 2loại trên là 40.113,320 triệu đồng

Bước sang năm 1996, 1997, KBNN Lạng Sơn tiếp tục thực hiện công tác huyđộng vốn, nhưng chỉ phát hành trái phiếu loại 2 năm được thể hiện như sau:

Bảng 1: Tổng kết tình hình phát hành và thanh toán năm 1996,1997.

Đơn vị: Triệu đồng

Loại Năm

Trái phiếu KB kỳ hạn 2 năm

Số phát hành Số thanh toán

Trang 13

1997 63.745,7 6.268,9

(Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết hoạt động KBNN Lạng Sơn năm 1996, 1997 )

Sở dĩ năm 1996, số thu về giảm 44.153 triệu đồng so với năm 1995 là do năm

1996 chỉ phát hành loại trái phiếu kỳ hạn 2 năm, thêm vào đó thời gian phát hànhchỉ 4 tháng từ tháng 9 năm 1996 đến tháng 12 năm 1996, nhưng nếu như cũng loạitrái phiếu này sang năm 1997 đã tăng 20.387,7 triệu đồng (180%) Mặc dù năm

1997 số vốn huy động được đã tăng 180% so với năm 1996 nhưng đó là một con

số chưa phải là cao, có lẽ đây là giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng tài chính khuvực, nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng ít nhiều làm giá trị đồng tiền bất ổn định.Dân chúng có tâm lý “ăn chắc, mặc bền” và giữ tiền trong túi sợ tình cảnh của đầunăm 1980 Do đó việc huy động vốn gặp không ít khó khăn

Năm 1998:

Đây là một năm khá bận rộn đối với kho bạc Lạng Sơn Năm 1998 chỉ pháthành một đợt trái phiếu kho bạc kỳ hạn 2 năm nhưng lãi suất huy động được điềuchỉnh liên tục kéo dài từ đầu năm đến cuối năm theo quyết định số 133/1998 QĐ-BTC ra ngày 14/2/1998 về việc phát hành trái phiếu, ngày 2/3/1998 cùng với 605kho bạc tỉnh thành phố, quận huyện trên cả nước, KBNN Lạng Sơn đã phát hànhloại trái phiếu 2 năm lãi suất 12% / năm và lãi suất trước hạn là 11%/năm Ngày15/4/1998 theo quyết đinh số 384/ 1998/ QĐ- BTC ra ngày 30/3/1998 lãi suất đượcnâng lên từ 12%/ năm thành 13%/năm và lãi suất trước hạn là 12%/năm Đây làtình hình phát hành trái phiếu chung của cả nước, khi mà tác động của cuộc khủnghoảng Tài chính - tiền tệ đang ngấm dần vào nền kinh tế , làm cho không chỉ dânchúng mà cả các nhà kinh tế rất lo sợ và khó dự đoán cho sự ổn định của đồng tiềntrong tương lai Quyết định 1063/1998/ QĐ- BTC ra ngày 19/8/1998 tiếp tục điềuchỉnh lãi suất từ 13%/năm lên 14%/năm và lãi suất trước hạn là 13% bằng lãi suất

Trang 14

huy động khi chưa điều chỉnh Quyết định này bắt đầu từ ngày19/1/1998 tiếp tụcđiều chỉnh lãi suất là một chủ trương của Nhà nước nhằm hấp dẫn hơn nữa nguồnvốn tiền tệ nhàn rỗi trong quần chúng, tránh tình trạng một số người lo sợ cuộckhủng khoảng sẽ làm mất giá đồng tiền, họ lập tức bỏ tiền vào lưu thông chỉ đểtiêu dùng thông thường Và điều này chỉ làm cho tình hình khó khăn hơn mà thôi.Khi cơn bão qua đi, nền kinh tế khắc phục dần hậu quả để trở về trạng thái trướcđây, người dân bớt âu lo và TPCP lại khẳng định niềm tin với dân chúng Ngày1/12/1998 theo quyết định số 1661/ 1998/ QĐ- BTC ra ngày 23/11/1998, lãi suấtgiảm từ 14% xuống 13%/ năm, lãi suất trước hạn là 12%/ năm, đây là dấu hiệu khảquan cho nền kinh tế.

Nhưng các cán bộ kho bạc thì thật sự vất vả, chỉ trong một thời gian ngắn màlãi suất thay đổi liên tục khiến cho họ phải liên tục trả lời và giải thích cho mọingười dân hiểu được sự biến động của lãi suất Nhiều người cho rằng, chính sáchNhà nước không nhất quán, thay đổi quá nhiều trong thời gian ngắn Dù sao, đâycũng là điều không ai mong muốn, Nhà nước phải căn cứ vào nhu cầu vốn và tìnhhình thực tế của nền kinh tế để đưa ra quyết định phải thay đổi như thế nào chohợp lý, việc tăng lãi suất đồng nghĩa với việc tăng nợ của Nhà nước, nhưng vì mụcđích huy động đủ số vốn cần thiết và tránh tình trạng sử dụng tiền tràn lan trongdân chúng, Nhà nước sẵn sàng chấp nhận một số nợ lớn hơn, làm như vậy cũng là

để Nhà nước thực hiện chức năng của mình là quản lý vĩ mô nền kinh tế

Có thể nói đây là đợt phát hành mang nặng tính phân đoạn, đòi hỏi trình độquản lý cao và tính chuẩn xác trong công việc Cán bộ KBNN Lạng Sơn luôn pháthuy năng lực và trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ, có thái độ hoà nhã vớikhách hàng làm cho khách hàng ngày càng quan tâm và tin tưởng vào TPCP Bêncạnh việc phát hành kho bạc cũng thanh toán nhanh gọn, chính xác cho những

Ngày đăng: 21/10/2013, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quy trình thu bán trái phiếu Chính phủ. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Sơ đồ 1 Quy trình thu bán trái phiếu Chính phủ (Trang 8)
Sơ đồ 2: Quy trình thanh toán chi trả trái phiếu. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Sơ đồ 2 Quy trình thanh toán chi trả trái phiếu (Trang 9)
Bảng 1: Tổng kết tình hình phát hành và thanh toán năm 1996,1997. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 1 Tổng kết tình hình phát hành và thanh toán năm 1996,1997 (Trang 12)
Bảng 2: Kết quả phát hành và thanh toán trái phiếu năm 1998 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 2 Kết quả phát hành và thanh toán trái phiếu năm 1998 (Trang 15)
Bảng 3 : Kết quả phát hành thanh toán TPCP năm 1999 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 3 Kết quả phát hành thanh toán TPCP năm 1999 (Trang 17)
Bảng 4: Kết quả phát hành công trái XDTQ năm 1999 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN QUA
Bảng 4 Kết quả phát hành công trái XDTQ năm 1999 (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w