Căn cứ vào Điều 1 của Bộ luật Lao động quy định: “Bộ luật lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
BÀI BÁO CÁO KẾT QUẢ CHƯƠNG I, II, III
MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 02 năm 2020
Trang 2CHƯƠNG I VÀ II: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM
QUAN HỆ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
I LÝ THUYẾT
1 Phân tích đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động Việt Nam
Căn cứ vào Điều 1 của Bộ luật Lao động quy định: “Bộ luật lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.” Qua đó cho thấy, không phải quan hệ nào phát sinh
trong hoạt động lao động cũng đều là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Lao động, như quan hệ lao động giữa viên chức nhà nước sẽ là đối tượng điều chỉnh của Luật Viên chức, rộng ra là đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính Bộ luật Lao động Việt Nam điều chỉnh ba mối quan hệ, đó là: Quan hệ lao động mang tính chất cá nhân; Quan hệ lao động mang tính chất tập thể; Các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động
Cụ thể nội dung của từng đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Lao động như sau:
a Quan hệ lao động mang tính chất cá nhân
- Quan hệ lao động mang tính chất cá nhân cụ thể là quan hệ lao động giữa người
lao động và người sử dụng lao động, quan hệ này được thiết lập trên cơ sở hợp đồng lao động Đây là đối tượng điều chỉnh chủ yếu trong bối cảnh hiện nay và được quan tâm
nhiều nhất trong pháp luật lao động ở nước ta
- Về tính chất, quan hệ lao động cá nhân vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính
xã hội, cả hai tính chất này kết hợp hài hòa với nhau Tính kinh tế được thể hiện qua việc quan hệ này gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ Quá trình này được thực hiện với mục đích hướng đến lợi ích kinh tế Với những giá trị vật chất đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ là những đảm bảo về đời sống của người lao động và cho xã hội, đây là đặc điểm của tính xã hội
- Về quy mô, quan hệ lao động cá nhân không phải chỉ là quan hệ giữa một cá
nhân này với cá nhân kia mà còn là một quan hệ có tính tập thể Quan hệ lao động được thiết lập trên cơ sở cá nhân người lao động với người sử dụng lao động, được thực hiện
Trang 3dưới hình thức tập thể lao động xã hội, tồn tại trong một tập thể nhất định Thể hiện rõ nét trong trường hợp doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể
- Về pháp lý, quan hệ lao động cá nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện,
bình đẳng giữa các chủ thể qua việc giao kết hợp đồng lao động Tuy vậy, thực tế sau khi hợp đồng lao động được giao kết thì người lao động ở vị thế phụ thuộc vào người
sử dụng lao động
- Về lợi ích, quan hệ lao động cá nhân vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn Mâu thuẫn
ở việc trong bối cảnh kinh tế thị trường thì mục tiêu lợi ích của người lao động và người
sử dụng lao động luôn luôn có sự mâu thuẫn Cụ thể người lao động luôn muốn được trả lương cao, giảm giờ làm, còn người sử dụng lao động luôn hướng đến mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, cả hai đều thống nhất ở việc cùng mục tiêu phát triển đem lại lợi ích kinh tế cho xã hội
- Quan hệ lao động cá nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật lao động bao gồm:
+ Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động là các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân sản xuất… có thuê mướn lao động bằng hợp đồng lao động
+ Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, tổ chức có yếu tố nước ngoài
b Quan hệ lao đọng mang tính tập thể
- Là quan hệ lao động giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động; giữa tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở với người sử dụng lao động; giữa tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở với tổ chức đại diện người sử dụng lao động
- Đặc điểm nổi bật nhất của quan hệ lao động tập thể có sự tham gia của công đòg, đây là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động
- Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hôi đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động Công đoàn còn là “cầu nối” trong quan
hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
c Các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động
- Đây là những quan hệ không phải quan hệ lao động, nhưng được hình thành trước khi có quan hệ lao động nhằm mục tiêu tiến tới việc xác lập quan hệ này, hoặc đồng thời tồn tại với quan hệ lao động nhằm duy trì quan hệ lao động lành mạnh, hoặc
Trang 4xuất hiện sau khi có quan hệ lao động hoặc thay thế quan hệ lao động nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là người lao động
- Các quan hệ này gồm có:
+ Quan hệ về việc làm và học nghề
+ Quan hệ về bảo hiểm xã hội
+ Quan hệ về bồi thường thiệt hại
+ Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động và đình công
+ Quan hệ về quản lý nhà nước về lao động
2 So sánh phương pháp thỏa thuận của luật lao động và của luật dân sự
a Giống nhau
- Đều bắt nguồn từ sự tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể với nhau
b Khác nhau
- Sự thỏa thuận trong luật dân sự được dựa trên các chủ thể bình đẳng với nhau trên phương diện pháp lý, điều kiện gắn liền là các chủ thể độc lập về tổ chức và tài sản, không phân biệt thành phần xã hội, không áp đặt quyền uy cho nhau Vì thế, phương pháp thỏa thuận trong luật dân sự được sử dụng triệt để và trên cơ sở đó sự bình đẳng giữa các bên tồn tại từ thời điểm xác lập đến khi chấm dứt quan hệ giữa các bên
- Khác với luật dân sự, trong quan hệ làm công ăn lương, yếu tổ bình đẳng chủ yếu được thể hiện tại thời điểm xác lập quan hệ, cụ thể là việc tự do thỏa thuận các điều kiện làm việc, mức lương,… với nhau Tuy nhiên sau khi xác lập quan hệ lao động thì yếu tố bình đẳng giữa hai bên thì người lao động ở vào vị thế phụ thuộc người sử dụng lao động
3 Phân biệt phương pháp mệnh lệnh trong luật lao động với phương pháp mệnh lệnh trong luật hành chính
- Phương pháp mệnh lệnh là phương pháp điều chỉnh chủ yếu của Luật Hành chính, mang tính bắt buộc chung Xuất phát từ tính chất quyền lực – phục tùng trong mối quan
hệ giữa một bên là chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước và một bên là đối tượng trong quan hệ quản lý nhà nước
- Đối với phương pháp mệnh lệnh trong luật lao động, phương pháp này thể hiện quyền uy của người sử dụng lao động đối với người lao động trong quá trình lao động,
Trang 5là phương pháp không thể thiếu trong quá trình sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ Phương pháp mệnh lệnh được sử dụng trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lao động, phương pháp này thường được dùng để xác định nghĩa vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động Vì địa vị của người lao động với người sử dụng lao động không bình đẳng với nhau thể hiện qua việc người sử dụng lao động sử dụng phương pháp mệnh lệnh để thể hiện quyền uy của mình đối với người lao động
4 Phân tích cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc bảo vệ người lao động Tại sao nói pháp luật lao động thể hiện tư tưởng bảo vệ người lao động một cách tuyệt đối?
a Cơ sở lí luận
- Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của Luật Lao động, vì thực tế người lao động
là người bỏ công sức lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, không phải lúc nào điều kiện làm việc trong quá trình lao động cũng được đảm bảo Cùng với đó, đâ là lực lượng chiếm số đông trong xã hội nhưng luôn ở vị thế lệ thuộc người sử dụng lao động
về kinh tế và địa vị pháp lí Chính vì thế nguyên tắc bảo vệ người lao động của Luật Lao động là nguyên tắc quan trọng nhất nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
b Nội dung
- Thể hiện ở các quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động, làm mọi việc
mà pháp luật không cấm, được nhà nước tạo mọi điều kiện để có việc làm
- Quyền thỏa thuận về tiền lương, nhà nước đảm bảo mức lương cho người lao động bằng việc đưa ra quy định về mức lương tối thiểu, hưởng chế độ trợ cấp
- Quyền được bảo hộ lao động, tham gia công đoàn, tham gia bảo hiểm xã hội…Người sử dụng lao động khi giảm lao động phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục và nội dung luật đinh…
- Họ còn được bảo vệ trong việc xử lý kỷ luật la động, bồi thường vật chất cho người sử dụng lao động
- Người lao động cũng có quyền đình công, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích của mình
c) Tại sao
Trang 6Nói pháp luật lao động thể hiện tư tưởng bảo vệ người lao động một cách tuyệt đối
là dựa trên những cơ sở sau:
- Thứ nhất: Trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, người lao động luôn ở
vị trị yếu thế hơn, có sự phụ thuộc và chịu sự quản lí, điều hành của người sử dụng lao động
- Thứ hai: Xuất phát từ một lí do cũng rất quan trọng là khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động phải trực tiếp thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động Nên vậy, họ phải chấp nhận những điều kiện lao động, môi trường làm việc ngay cả khi không thuận lợi Như vậy, nếu như người lao động không được pháp luật bảo vệ thì sức khỏe, tính mạng của họ sẽ khó có thể được bảo đảm
Vì vậy, để phòng ngừa việc xảy ra hiện tượng lạm quyền của người sử dụng lao động và dẫn tới những thiệt thòi cho người lao động và đảm bảo cho việc tạo ra quan hệ lao động được bình đẳng hơn, pháp luật lao động đã có những quy định để bảo vệ người lao động , qua đó làm hạn chế và phòng ngừa sự lạm quyền của Người sử dụng lao động
5 Phân tích cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
a Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ tầm quan trọng của vai trò quản lý trong quan hệ lao động nói riêng, lực lượng lao động xã hội nói chung đối với sự phát triển kinh tế xã hội và ổn định chính trị Bên cạnh đó, người sử dụng lao động là một bên không thể thiếu để hình thành và duy trì quan hệ lao động Nếu không thu được các quyền và lợi ích cần thiết trong quá trình sử dụng lao động thì họ và các nhà đầu tư tiềm năng khác sẽ không thể tiếp tục đầu
tư, giải quyết việc làm cho người lao động và phát triển kinh tế đất nước Đây là điều
mà Nhà nước luôn khuyến khích người sử dụng lao động nhằm góp phần cùng Nhà nước
trong việc giải quyết việc làm cho người lao động
b Nội dung:
- Trong lĩnh vực lao động, người sử dụng lao động cũng được đảm bảo đầy đủ các quyền đối với tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh, được tự chủ trong quản lý và phân
Trang 7phối sản phẩm Họ cũng có quyền tự do liên kết và phát triển trong quá trình sử dụng lao động
Pháp luật ghi nhận quyền tự do tuyển chọn, thuê mướn lao động, quyền tự chủ sản xuất, quyền quản lý, điều hành, xử lý kỉ luật người lao động, quyền tăng, giảm người lao động theo quy định của luật, được đơn phương chấm dứt hợp đồng theo luật định…
6 Phân tích cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
a Cơ sở lý luận
Luật lao động phải kết họp hai chính sách trên bởi yêu cầu phải phù họp với các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Trong các quan hệ thuộc lĩnh vực lao động vừa có các nội dung kinh tế như tăng trưởng để có thu nhập, lợi nhuận… vừa có các yếu tổ xã hội như việc làm, thất nghiệp, đảm bảo đời sống,… Vì vậy, khi điều tiết các quan hệ này, Nhà nước phải chú trọng cả hai phương diện đó và đặt chúng trong sự phù họp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng thời kì, tương quan với các chính sách xã hội khác
b Nội dung:
Pháp luật lao động được xây dựng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa các chính sách kinh tế và chính sách xã hội thể hiện qua quy định về việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và bảo hiểm xã hội…Nhà nước thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia để tư vấn cho Chính phủ khi công bố mức lương tối thiểu của người lao động cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và thị trường lao động…
7 Tại sao nói TƯLĐTT, nội quy lao động là nguồn bổ sung của luật lao động?
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 73, BLLĐ: “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể.”
Nội quy lao động là văn bản, trong đó có quy định về xử lý kỉ luật lao động của từng doanh nghiệp Nội quy lao động được xây dựng trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động
Các văn bản này chứa đựng những vấn đề cụ thể về trả lương, điều kiện lao động…của doanh nghiệp đó Chúng được xem như là “bộ luật con” của từng doanh nghiệp, có tính bắt buộc chung và được áp dụng nhiều lần trong một thời gian nhất định
Trang 8Thỏa ước lao động tập thể còn là nguồn quan trọng cho việc xây dựng quan hệ pháp luật lao động
8 Phân tích các đặc điểm của quan hệ lao động cá nhân:
Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động: khi giao kết hợp đồng (bằng văn bản hoặc lời nói) thì chính
họ phải thực hiện hợp đồng đó Lao động là một quá trình diễn ra liên tục và kéo dài Việc thực hiện công việc không phải chỉ vì thu nhập mà còn liên quan đến tính cách, trình độ và sức khỏe của người lao động Vì vậy, khi tham gia quan hệ lao động với bất
cứ người sử dụng lao động nào thì người lao động luôn phải tự mình thực hiện quyền
và nghĩa vụ lao động Nếu không có sự đồng ý của người sử dụng lao động thì người lao động không được phép chuyển giao quyền và nghĩa vụ lao động cho người khác
Trong quan hệ pháp luật lao động cá nhân, người lao động phải chịu sự kiểm tra, giám sát, quản lý, điều hành của người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động có
quyền quản lý vì họ là chủ sở hữu tài sản, người mua sức lao động Người lao động với
vị thế phụ thuộc người sử dụng lao động nên phải đặt hoạt động nghề nghiệp của mình
dưới sự kiểm tra, giám sát, quản lý và điều hành của người lao động
Trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ lao động cá nhân, thường
có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở: Cá nhân người lao động
yếu thế hơn người sử dụng lao động, do đó trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ lao động cá nhân, thường có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như tăng cường sức mạnh lao động
cho người lao động
9 Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động mang tính tập thể
- Quan hệ pháp luật lao động tập thể là quan hệ giữa tổ chức công đoàn với người
sử dụng lao động, phát sinh khi tổ chức công đoàn cơ sở được thành lập theo đúng quy định pháp luật hoặc trong trường hợp tổ chức lao động cấp trên tham gia vào quan hệ này, chấm dứt trong trường hợp một hoặc cả hai chủ thể không còn tồn tại nữa
- Đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động mang tính tập thể đó là bên phía đại diện của tập thể người lao động sẽ có quyền đối với người sử dụng lao động và ngược
Trang 9lại bên người sử dụng lao động sẽ có nghĩa vụ đối với đại diện của tập thể người lao động
10 Phân tích điều kiện để giao kết hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài
Người nước ngoài khi tham gia quan hệ pháp luật lao động phải đáp ứng đầy đủ năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Điều này được quy định tại Điều 169 BLLĐ 2012:
“1 Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; c) Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài;
d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ các trường hợp theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật này
2 Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác
và được pháp luật Việt Nam bảo vệ.”
Ngoài ra, họ phải có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý Trước khi tham gia quan hệ lao động, người lao động nước ngoài phải có giấy phép lao động đối với trường hợp làm việc từ ba tháng trở lên, giấy phép lao động phải do cơ quan quản lí nhà nước
về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp
II BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
1 Tình huống 1:
a Quan hệ lao động Quan hệ làm việc giữa ông David Gaham Dillin và trường
Cao đẳng Cetana có thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động
Lí giải: Căn cứ vào Điều 169, BLLĐ quy định:
“1 Lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Trang 10b) Có trình độ chuyên môn, tay nghề và sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; c) Không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài;
d) Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ các trường hợp theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật này
2 Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật lao động Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác
và được pháp luật Việt Nam bảo vệ.”
Qua đó, ông David Gaham Dillin là lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
và ông có đủ các điều kiện quy định tại Điều 169, BLLĐ Đồng thời, trong Hợp đồng thứ nhất, còn có bản đính kèm và đã được ông David Gaham Dillin ký với tên gọi “Các điều kiện làm việc”, và trong bản đính kèm này có quy định các điều khoản tương đương như một hợp đồng lao động Ông David Gaham Dillin được trả lương và phải chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động là Trường Cao đẳng Quốc tế Cetana PSB Intellis, điều này thể hiện trong nội dung bản đính kèm có nêu rõ về thời hạn, phạm vi công việc, lịch chương trình, nhiệm vụ - trách nhiệm, nghiệp vụ chuyên môn, công bố việc tuyển dụng, bảo mật, chấm dứt hợp đồng và luật áp dụng Vì vậy, quan hệ lao động giữa ông David Gaham Dillin với trường Trường Cao đẳng Quốc tế Cetana PSB Intellis
là đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động
b Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
Căn cứ vào lập luận của phía bị đơn:
- Trường Cao đẳng Cetana cho rằng trường “được thành lập có vốn đầu tư 100% nước ngoài Chỉ những người cán bộ là quản lý, người lao động trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của doanh nghiệp mới có quan hệ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động” là chưa hợp lý Căn cứ vào Khoản 2, Điều 170, BLLĐ:
“2 Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu nước ngoài trước khi tuyển dụng lao động là công dân nước ngoài vào làm việc trên lãnh thổ Việt Nam phải giải trình nhu cầu sử dụng lao động và được sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
Do nhu cầu sử dụng lao động trong việc giảng dạy ngoại ngữ nên Trường Cao đẳng Quốc tế Cetana PSB Intellis đã thuê ông David Gaham Dillin vào làm giảng viên ngoại