LÊ HOÀNG MAIPHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH CỦA DU KHÁCH KHI ĐẾN THAM QUAN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... LÊ HOÀNG MAIPHÂ
Trang 1LÊ HOÀNG MAI
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH CỦA DU KHÁCH KHI ĐẾN THAM QUAN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2LÊ HOÀNG MAI
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU DU L ỊCH CỦA DU KHÁCH KHI ĐẾN THAM QUAN DU LỊCH TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã ngành: 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRƯƠNG ĐĂNG THỤY
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3du lịch của du khách khi đến tham quan du lịch tại thành phố Châu Đốc, tỉnh AnGiang” do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Trương Đăng Thụy, các
dữ liệu thu thập và tổng hợp, phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùngvới bất cứ đề tài nghiên cứu nào khác
Châu Đốc, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Hoàng Mai
Trang 4Để thực hiện hoàn chỉnh đề tài, tôi xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trườngĐại học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quíbáo trong thời gian qua Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến TS TrươngĐăng Thụy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến quí cơ quan ,ban, ngành và hai phường Châu Phú
A và phường Núi Sam thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã tận tình giúp đỡ,cungcấp thông tin có liên quan đến đề tài trong cuộc phỏng vấn thu thập dữ liệu; đồngthời, tôi xin gởi lời cảm ơn đến các anh chị em đồng nghiệp tạo mọi điều kiện thuậnlợi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Châu Đốc, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Hoàng Mai
Trang 5Bảng 3.1 Mô tả về các biến 17
Bảng 4.1 Phân loại giới tính của du khách 26
Bảng 4.2 Trình độ học vấn của du khách 27
Bảng 4.3 Độ tuổi của du khách 27
Bảng 4.4 Nghề nghiệp của khách du lịch 28
Bảng 4.5 Mức thu nhập của khách du lịch 29
Bảng 4.6 Mục đích chuyến đi 30
Bảng 4.7 Phương tiện sử dụng 30
Bảng 4.8 Thời gian tham quan của du khách 31
Bảng 4.9 Kênh thông tin về du lịch 31
Bảng 4.10 Các điểm tham quan 32
Bảng 4.11 Số ngày lưu trú của du khách 32
Bảng 4.12 Kết quả của hàm hồi quy nhu cầu du lịch 34
Bảng 4.13 Mức độ hài lòng của du khách 38
Bảng 4.14 Mức độ hài lòng của du khách 41
Trang 6LÒI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1.Địa bàn nghiên cứu 4
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
Chương II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5 2.1 Lược khảo lý thuyết 5
2.1.1 Các khái niệm chủ yếu 5
2.1.1.1 Du lịch 5
2.1.1.2 Khách du lịch 5
2.1.1.3 Sản phẩm du lịch 6
2.1.2.1 Động lực du lịch 8
2.1.2.2 Phân loại động lực du lịch 8
Các động cơ chính cho sự lựa chọn du lịch và lữ hành: 8
2.1.3 Mô hình hành vi người mua 9
2.1.4 Sự hài lòng 10
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách 10
2.1.6.1.Chi phí du hành theo vùng (ZTCM) 11
2.1.6.2 Chi phí du hành cá nhân (ITCM) 11
2.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm liên quan 12
Trang 7Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Khung phân tích 16
3.2 Mô hình phân tích 16
3.2.1.Hàm cầu du lịch 16
3.3 Trình bày dữ liệu 19
3.3.1 Giới thiệu bảng câu hỏi 19
3.3.2 Đối tượng khảo sát, thời điểm khảo sát, cách chọn mẫu 20
Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21 4.1 Thực trạng ngành du lịch của Châu Đốc 21
4.1.1 Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên 21
4.1.1.1 Vị trí địa lý 21
4.1.1.2 Diện tích tự nhiên 21
4.1.1.3 Dân số 22
4.1.1.4 Khí hậu 22
4.1.1.5 Thủy văn 22
4.1.1.6 Tài nguyên rừng 23
4.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch 23
4.2 Mô tả thống kê 26
4.2.1 Mô tả sơ lược về khách du lịch 26
4.2.1.1 Giới tính 26
4.2.1.2 Trình độ học vấn 26
4.2.1.3 Độ tuổi 27
4.2.1.4 Nghề nghiệp 27
4.2.1.5 Thu nhập 28
4.2.2 Mô tả hành vi của du khách 29
4.2.2.1 Mục đích chuyến đi du lịch 29
Trang 84.2.2.5 Các điểm tham quan được du khách lựa chọn 31
4.2.2.6 Số lần đến Châu Đốc trong 3 năm qua 32
4.2.2.7 Số ngày lưu trú lại tại Châu Đốc 32
4.2.3 Mô tả chi phí của du khách sử dụng khi đến tham quan tại Châu Đốc 32
4.3 Kết quả ước lượng hàm cầu du lịch cá nhân 33
4.3.1.Chi phí du lịch 34
4.3.2 Thu nhập 34
4.3.3 Giới tính 34
4.3.5 Nghề nghiệp 35
4.3.6.Tuổi 35
4.4 Đánh giá sự hài lòng của du khách về các dịch vụ du lịch tại Châu Đốc 36
4.4.1 Mức độ hài lòng của du khách thể hiện qua các yếu tố tại Miếu Bà Chúa Xứ 36
4.4.2 Mức độ hài lòng của du khách thể hiện qua các yếu tố tại chợ Châu Đốc 38 Chương V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42 5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 43
5.3 Hạn chế của đề tài 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Chương I GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Khi cuộc sống ngày càng phát triển, bản thân mỗi con người hiện đại lại càngbắt nhịp theo xu thế mới thì lại càng có nhu cầu nâng cao hơn nữa đời sống tinhthần Nhu cầu giao tiếp về mặt xã hội và thiên nhiên là một trong những giải phápgiúp con người giải phóng nhiều áp lực từ cuộc sống, công việc nên đã làm cho dulịch trở thành một nhu cầu cần thiết và đại chúng Hiện nay, du lịch là một hình thứckhá phổ biến trong cuộc sống của mỗi người vì du lịch giúp thư giãn, khám pháthiên nhiên hùng vĩ và mang lại những kiến thức về văn hóa hay giúp ta trải lòngvới các di tích lịch sử hào hùng của dân tộc Ngoài ra, đối với một số địa điểm dulịch về tâm linh còn giúp cho con người càng tin tưởng hơn vào cuộc sống Đối vớimột quốc gia, du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nhiều lợi ích quantrọng góp phần phát triển bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường cho quốcgia đó, dựa vào thế mạnh và tiềm năng vốn có của du lịch Sự phát triển của du lịch
sẽ góp phần cải thiện tình hình kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập và góp phần giảiquyết công ăn việc làm cho người dân và du lịch còn thúc đẩy các ngành khác pháttriển, đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và du lịch phát triển sẽ tạo thêmnguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơquan nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư giữ gìn, phát triển disản văn hoá
An Giang nằm ở phía Tây Nam tổ quốc nơi đầu nguồn sông Mê Kông vớihai con sông Tiền và sông Hậu đi qua tạo nên mùa nước nổi vào khoảng tháng 7, 8
và 9 (âm lịch) hàng năm và phía Tây Bắc giáp Campuchia với 97km đường biêngiới Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên cùng với tiềm năng du lịch đa dạng vàphong phú, hấp dẫn về vẻ đẹp sinh thái với Núi Cấm, Núi Két, Núi Tô, Núi Sam, rấtphù hợp để phát triển du lịch về tham quan, mua sắm tại các trung tâm thương mại
và truyền thống lịch sử lâu đời Ngoài ra, sự phong phú về di sản văn hoá, các làng
nghề và các lễ hội truyền thống gắn với các nhóm dân tộc cũng là một nét văn hóa
Trang 10đặc sắc mà du lịch có thể khai thác Hoạt động du lịch đã phát huy tổng hợp cácnguồn lực xây dựng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, đẩy mạnh liên doanh, liên kếtvới các đơn vị làm du lịch trong nước và quốc tế, phát triển các tuyến du lịch nộitỉnh: Long Xuyên - Chợ Mới - Phú Tân - Tân Châu - An Phú; Long Xuyên - ChâuThành - Châu Phú - Châu Đốc - Tịnh Biên - Tri Tôn - Thoại Sơn; các tuyến du lịchngoại tỉnh và nước ngoài Phát triển đa dạng các loại hình du lịch như: du lịch thamquan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, gắn dulịch với mua sắm sản phẩm lưu niệm thủ công mỹ nghệ và ẩm thực; bảo tồn và pháttriển các làng nghề truyền thống gắn với du lịch và bảo vệ môi trường trong hoạt
động thương mại và du lịch Từ những yếu tố trên cho thấy việc phát triển du lịch sẽ
mang nhiều lợi ích to lớn và còn nhiều tiềm năng phát triển nhưng chưa được khaithác hết, đây là một vấn đề còn yếu kém của du lịch tỉnh An Giang nói chung và củathành phố Châu Đốc nói riêng
Thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang nằm trong vùng đồng bằng sôngCửu Long, là trung tâm du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh và nhiều khu di tíchvăn hóa cấp quốc gia của tỉnh An Giang được nhiều du khách trong và ngoài nướcbiết đến với nhiều phong cảnh, chùa chiền đậm dấu ấn văn hóa - lịch sử cách mạng.Bên cạnh đó, thành phố Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câuchuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam, cũng như những sự kiện trong công cuộc gìngiữ đất nước như huy động sức dân đào kênh thủy lợi, quân sự Vĩnh Tế; chiến đấutrong các thời kỳ Pháp, Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam Châu Đốc còn là nơi cóthể tìm hiểu về văn hóa, dân tộc Chăm và Khmer cùng với các thánh đường Hồigiáo phục vụ cộng đồng dân cư người Chăm
Thành phố Châu Đốc là đô thị ảnh hưởng phát triển các trục hành lang kinh
tế - quốc phòng dọc biên giới của tỉnh An Giang và của vùng, đồng thời cũng là đôthị trong vùng phát triển du lịch, liên kết các tuyến, điểm du lịch trong nước và quốc
tế Bên cạnh đó, thành phố Châu Đốc đã tận dụng tốt điều kiện tự nhiên, như các hồnước, các danh lam thắng cảnh để tạo nên bản sắc đô thị du lịch đặc trưng vùng
Trang 11Với đặc thù của một thành phố trẻ có non xanh nước biếc với những danhlam thắng cảnh cùng với truyền thống năng động, phóng khoáng, hiếu khách, ngườidân Châu Đốc đang tham gia các hoạt động du lịch nhằm vực dậy các tiềm năng từlợi thế tài nguyên thiên nhiên về du lịch từ các hoạt động văn hóa, lễ hội Du lịchChâu Đốc trong những năm gần đây phát triển khá mạnh mẽ, là ngành kinh tế mũinhọn của thành phố được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phốqua các lần Đại hội Phần lớn khách đến Châu Đốc đều đến tham quan và cúng lễMiếu Bà Chúa Xứ, chiếm khoảng 95% tổng lượt khách đến với Châu Đốc TheoBan Quản Trị Lăng Miếu Núi Sam, bình quân hàng ngày Miếu Bà đón gần 10.000người, nếu tính riêng những ngày cuối tuần lượng khách bình quân mỗi ngàykhoảng 12.000 – 15.000 người Tháng cao điểm diễn ra lễ hội, Núi Sam đón trêndưới 1 triệu lượt du khách Có thể nói, đây là một ngành du lịch nội địa hành hươngđồng thời cũng là điều kiện, là động lực phát triển kinh tế của địa phương nói chung
và của ngành du lịch Châu Đốc nói riêng Theo phân viện Văn hóa Nghệ thuật ViệtNam TP.HCM tại hội thảo khoa học “quản lý, tổ chức lễ hội cổ truyền ở các tỉnhphía Nam, nghiên cứu lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” (5/2012), điều đáng quantâm là chỉ số khách đáo lệ quay lại với Châu Đốc khá cao (đa số khách là ngườingoài tỉnh An Giang) nhưng phần lớn khách đến và đi về trong ngày Vì vậy, ChâuĐốc chưa khai thác được nhiều dịch vụ từ khách du lịch nhất là vui chơi, giải trí vàmua sắm trên mức chi tiêu bình quân của khách.Thời gian qua, ngành du lịch củathành phố Châu Đốc có những bước phát triển nhưng so với lợi thế thì mức độ khaithác và phát triển chưa cao do công tác quản lý còn nhiều bất cập, nội dung chươngtrình du lịch chưa phong phú, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chất lượng phục vụ vàkhả năng cạnh tranh chưa cao, nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thấp nên chưagiữ chân được khách du lịch và du lịch vẫn chưa nhận được quan tâm đúng mức để
nó có thể phát triển đúng với tiềm năng sẵn có của địa phương
Từ những vấn đề trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch của du khách khi đến tham quan du lịch tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang” nhằm đánh giá được chi phí du hành cá
Trang 12nhân của du khách để thu hút và giữ chân du khách khi đến với du lịch của vùng đấtnày đồng thời phát triển kinh tế xã hội và bền vững nền kinh tế của địa phương.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch tại ChâuĐốc, từ đó đề ra các chính sách nhằm thu hút và giữ chân du khách đến tham quantại Châu Đốc
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đốc
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1.Địa bàn nghiên cứu
Tại thành phố Châu Đốc, chủ yếu tập trung vào hai phường trung tâm cókhách du lịch đến tham quan tại các địa điểm du lịch chủ yếu Cụ thể phường Châuphú A và phường Núi Sam
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Du khách đến Châu Đốc hiện nay chủ yếu là khách hành hương và đây lànhóm du khách có tác động trực tiếp đến nhu cầu du lịch của Châu Đốc Vì vậy, đốitượng nghiên cứu chính là du khách đến tham quan du lịch tại Châu Đốc Tập trungđối với khách lẻ, cá nhân
Trang 13Chương II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lược khảo lý thuyết
2.1.1 Các khái niệm chủ yếu
Hội nghị lần thứ 27 (1993) của tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa rakhái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: Du lịch là hoạt động về chuyến
đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (usual environmant) củacon người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đíchkhác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm
Trong Luật Du lịch (2005) - Điều 4, chương I có định nghĩa: Du lịch là cáchoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyêncủa mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định
Tại Điều 34, chương V quy định: Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa vàkhách du lịch quốc tế
Trang 142.1.1.3 Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách dựa trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gianthú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụcần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm hai bộ phận là dịch vụ du lịch (dịch vụ
lữ hành, vận chuyển lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, mua sắm) và tài nguyên dulịch (tự nhiên, nhân văn)
Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hàilòng Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi ta mua sắm một hàng hóa vậtchất, mà ở đây sự hài lòng do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tạitrong ký ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch
2.1.1.4 Vai trò của du lịch đối với kinh tế - xã hội và môi trường
Theo Tuệ.N.M, Thông.L, (2012), “Địa lý dịch vụ”, Nhà xuất bản Đại học SưPhạm
Góp phần tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất đồ lưuniệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất - kỹ thuật), làm tăng thêmtổng sản phẩm quốc nội
Góp phần tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập giữa các vùng Nóicách khác, du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cơ cấu của thu nhập và chitiêu của nhân dân theo các vùng (các vùng có tiềm năng du lịch thường là nhữngvùng có trình độ sản xuất kém dẫn đến thu nhập của người dân rất thấp)
Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Cơ cấu nền kinh tếthế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng đang có sự chuyển dịch ngày càng trởnên hợp lý hơn Đó là sự tăng dần tỷ trọng ở khu vực dịch vụ trong cơ cấu nền kinh
tế, trong đó có du lịch Có thể khẳng định rằng du lịch là một lĩnh vực kinh doanhđầy hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao
Trang 15vì vốn đầu tư ít (so với ngành công nghiệp nặng, giao thông, vận tải, xây dựng), thờigian thu hồi vốn nhanh kỹ thuật không phức tạp.
Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Đây là ngành tạo
ra rất nhiều việc làm Số lao động trong ngành du lịch và các lĩnh vực liên quanchiếm 10,7% tổng số lao động toàn thế giới Cứ 2,5 giây du lịch tạo thêm một việclàm mới và hiện nay cứ 8 lao động thì có 1 người là trong ngành du lịch
Du lịch góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của các vùng có hoạt động dulịch Thông thường, tài nguyên du lịch tự nhiên thường hay tập trung ở các vùng xaxôi, vùng ven biển Việc khai thác nguồn tài nguyên này đòi hỏi phải đầu tư về mọimặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa, xã hội Do vậy mà việc phát triển dulịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm thiểu sự chênhlệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thờigóp phần làm giảm sự tập trung dân cư quá mức ở những đô thị lớn
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho nước đónkhách mà không phải trả tiền Du khách được làm quen tại chỗ với những mặt hàngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, từ
đó họ sẽ tuyên truyền cho bạn bè, người thân Bên cạnh đó, du lịch còn là phươngtiện tuyên truyền quảng cáo hữu ích về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, giới thiệu về con người, phong tục tập quán của các quốc gia
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn nâng cao truyềnthống dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, hành hương, khách
du lịch có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đóthêm yêu đất nước mình
Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn góp phần khai thác, bảo tồn các di sản vănhóa dân tộc, thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phầnbảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, xã hội
Trang 16Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môitrường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe và các hoạt động của con người Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động
du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưuhóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Đến lượt mình, quá trình nàykích thích việc tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên và đảm bảo điều kiện sửdụng chúng một cách hợp lý
Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch của đông đảo quần chúng đòi hỏi phải hình thànhcác kiểu cảnh quan được bảo vệ giống như các công viên quốc gia Từ đó hàng loạtcông viên thiên nhiên quốc gia (vườn quốc gia) đã được thành lập vừa để bảo vệ cáccảnh quan thiên nhiên có giá trị, vừa tổ chức các hoạt động giải trí du lịch
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ.Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác phải bảo
vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của các dòng khách du lịch cũng nhưviệc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ du lịch Như vậy giữa du lịch vàbảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau
2.1.2 Hành vi của khách hàng và hành vi mua hàng du lịch
Xu hướng đi du lịch lý giải mức độ nhu cầu nảy sinh trong những quốc giakhác nhau, nhưng chúng không giải thích được việc lựa chọn những sản phẩm đặcbiệt của những kiểu khách hàng khác nhau Trong hoàn cảnh bị quyết định bởinhững yếu tố rộng lớn bên ngoài, chúng ta cần phải hiểu biết những quy trình tâm lýbên trong có ảnh hưởng đặc biệt như thế nào đến việc lựa chọn giữa điểm đến dulịch và các sản phẩm du lịch khác nhau
2.1.2.1 Động lực du lịch
Hành vi chịu ảnh hưởng bởi quá trình tâm lý: Các ảnh hưởng tâm lý hoặc nội
bộ tác động đến sự lựa chọn của cá nhân, thường được gọi là động lực (motivation)
2.1.2.2 Phân loại động lực du lịch
Các động cơ chính cho sự lựa chọn du lịch và lữ hành:
Động cơ liên quan đến kinh doanh/ công việc
Trang 17Động cơ vật lý/ sinh lý
Động cơ văn hóa/ tâm lý/ giáo dục cá nhân
Động cơ xã hội/ đạo đức và tương tác cá nhân
Động cơ giải trí/ niềm vui/ trò tiêu khiển
Động cơ tôn giáo
Phân loại tổng thể về mục đích đi du lịch được phát triển bởi WTO để sửdụng trong các cuộc điều tra quốc tế của ngành du lịch và lữ hành
2.1.3 Mô hình hành vi người mua
Trong hàng thế kỷ, du lịch được gắn liền với sự mở rộng nhận thức và tựphát triển bản thân thông qua kiến thức và tiếp xúc với những nền văn hóa và hoàncảnh của con người khác Kỳ nghỉ, gắn với nghỉ ngơi giải trí, đã luôn có tác dụngkích thích trí con người, và rõ ràng gắn liền với tự phát triển Những căng thẳng củacuộc sống thường gắn liền với khao khát thoát khỏi hiện thực trong một khoảng thờigian, dưới hình thức tự đam mê cũng như tự phát triển, thường với gia đình hoặcbạn đồng hành, những người có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mục tiêu cá nhân.Nhiều cá nhân luôn đặt sự hài lòng của người khác lên trên trước, xem đây là mụctiêu của họ
Đặc điểm kinh tế xã hội và nhân khẩu học: đây là những đặc điểm địnhlượng một cách dễ dàng như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, khu vực cư trú, hộ giađình và tầng lớp xã hội
Các thuộc tính tâm lý: còn được gọi là đặc điểm tâm lý, chỉ ra những loại cánhân và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các loại sản phẩm đã mua Những thuộc tính cũngxác định các loại quảng cáo và thông điệp truyền thông khác mà người mua đápứng
Thái độ: tất cả mọi người có thái độ có ý thức và vô thức đối với các ý tưởng,cộng đồng và những điều ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Một thái độ được xácđịnh bởi Allport là “Một trạng thái tinh thần có sự sẵn sàng, tổ chức thông qua kinhnghiệm, thể hiện một tác động có định hướng của đáp ứng cá nhân đến tất cả các đốitượng và tình huống mà nó có liên quan” (Allport, 1935) Thái độ mở rộng niềm
Trang 18tin và kiến thức về sản phẩm cũng như về con người và các sự kiện Thái độ nàycũng bao gồm những cảm xúc, chẳng hạn như thích và không thích, và một tìnhtrạng có hành động hay không vì niềm tin và cảm xúc như vậy Cần nhấn mạnh rằngkhông có gì là nhất thiết đúng hay sai hoặc hợp lý về thái độ, và cũng có ngườikhông cần phải có kinh nghiệm trực tiếp của các sản phẩm để tạo thành một thái độ.Đối với một số người hành trình bằng tàu thủy là một hình thức của kỳ nghỉ lýtưởng, trong khi những người khác thích đi bộ hoặc câu cá ở những khu vực nôngthôn xa xôi.
2.1.4 Sự hài lòng
Sự hài lòng là cảm giác vui thích hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ
sự so sánh cảm nhận với mong đợi về một sản phẩm (Kotler, 2000, dẫn theo Lin,2003)
Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như là kết quả của sự cảm nhận
và nhận thức, ở đó vài tiêu chuẩn được so sánh với sự thực hiện cảm nhận được
Nếu cảm nhận về sự thực hiện một dịch vụ thấp hơn mong đợi, khách hàng không
hài lòng Ngược lại, nếu cảm nhận vượt quá mong đợi, khách hàng sẽ hài lòng Sự
phán đoán hài lòng có liên quan đến tất cả kinh nghiệm về sản phẩm, quá trình bánhàng và dịch vụ hậu mãi của doanh nghiệp (Lin, 2003) Hài lòng là hàm số củamong đợi, cảm nhận cùng với khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi (Oliver,
1980, dẫn theo King, 2000)
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách
Tribe va Snaith (1998), đưa ra mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòngcủa du khách như sau:
(1)- Tài nguyên thiên nhiên và điều kiện vật chất
(2)- Các dịch vụ ăn uống, tham quan, giải trí, mua sắm
(3)- Di sản và văn hoá
(4)- Chỗ ở
(5)- Môi trường
(6)- Điều kiện vật chất
Trang 192.1.6 Nhu cầu du lịch và phương pháp chi phí du hành
Mỗi cá nhân đến du lịch tại một điểm nào đó phải chịu một chi phí nhất định.Các cá nhân khác nhau du lịch đến một địa điểm phải chịu những chi phí du lịchkhác nhau Phương pháp Chi phí du hành ước lượng giá trị của một điểm du lịchdựa trên phản hồi của khách du lịch với những chi phí khác nhau Có 2 mô hình sửdụng cho chi phí du hành là chi phí du hành theo vùng và chi phí du hành cá nhân
Ci: là chi phí du hành từ vùng i tới điểm vui chơi giải trí
Xi: thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội của vùng i như: thu nhập, chi tiêu, giới tính, tuổi tác
2.1.6.2 Chi phí du hành cá nhân (ITCM)
Đường cầu trong mô hình thể hiện mối quan hệ giữa số lần tham quan hàng năm của cá nhân với chi phí của chuyến đi
Vi = f(TCi,Xi)
Trong đó:
Vi: là số lần tham quan trong một khoảng thời gian nhất định
TCi: là chi phí chuyến đi của mỗi cá nhân đến điểm du lịch
Xi: là tất cả các yếu tố khác quyết định số lần tham quan của mỗi cá nhân i (thu nhập, thời gian, các điều kiện về kinh tế xã hội)
Trong hai mô hình của chi phí du hành thì đề tài này áp dụng chi phí du hành
cá nhân để ước lượng nhu cầu đối với du lịch tại Châu Đốc
Trang 202.2 Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.2.1.Về giải pháp cho du lịch
Theo Quảng Văn Tú (2010), đề tài “Giải pháp marketing cho khu du lịch
sinh thái rừng tràm Trà Sư” thì cho rằng du lịch An Giang vẫn còn nhiều tiềm năng
phát triển và được nhiều du khách biết đến trong đó có lễ hội Vía Bà Chúa Xứ NúiSam tại thành phố Châu Đốc Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tíchđịnh tính thông qua các số liệu thứ cấp và phương pháp phân tích định lượng bằngviệc phỏng vấn 50 quan sát mẫu Qua phân tích đề tài đã nêu lên một số nhân tốkhách quan và chủ quan có tác động đến hoạt động marketing bao gồm kinh tế,chính trị - pháp luật, tự nhiên, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng Tác giả cũng rút rađược những cơ hội cho ngành du lịch hiện nay như nhu cầu du lịch nội địa ngàycàng tăng, các tour du lịch về đồng bằng sông Cửu Long ngày càng đa dạng vàphong phú, sự quan tâm của chính quyền địa phương đến việc phát triển du lịch.Bên cạnh đó, đề tài cũng đã nêu lên những thách thức chính như sự thương mại hóacủa các lễ hội du lịch, môi trường sinh thái dễ bị phá hủy Kết quả nghiên cứu cũng
đã chỉ ra rằng nếu có sự kết hợp tốt giữa khu du lịch rừng tràm Trà Sư cùng du lịchChâu Đốc nói chung và lễ hội Vía Bà nói riêng sẽ ngày càng thu hút thêm nhiềulượt du khách đến tham quan và lưu trú
Phan Xuân Hòa (2011), đề tài “Các giải pháp phát triển ngành du lịch
Khánh Hòa đến năm 2020” đã sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả để
tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng của ngành du lịch Khánh Hòa qua cácnăm qua đó đề ra các giải pháp về liên kết vùng, sản phẩm du lịch, đào tạo nguồnnhân lực và thu hút vốn phát triển du lịch Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch bao gồm: các yếu tố bên ngoài (tình hìnhkinh tế - chính trị, tình hình phát triển kinh tế, nhu cầu của du khách và tài nguyên
du lịch) và các yếu tố bên trong (quản lý ngành, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, côngtác xúc tiến, đầu tư phát triển du lịch, hoạt động liên kết trong ngành và vùng).Nguồn số liệu của đề tài được thu thập từ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Kế
Trang 21hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến thương mại, Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa vàcác tư liệu có liên quan.
Các nghiên cứu trên chủ yếu thông qua việc đánh giá thực trạng dựa trên những số liệu báo cáo hoặc bảng câu hỏi khảo sát đánh giá nhưng không đưa ra
các nhân tố ảnh hưởng cụ thể đến khách du lịch.
2.2.2 Về thực trạng du lịch
Bài nghiên cứu của Nguyễn Phước Quý Quang (2013),“Du lịch làng nghề ở
đồng bằng sông Cửu Long - Một lợi thế văn hoá để phát triển du lịch”cho thấy du
lịch làng nghề ở vùng đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều tiềm năng nhưng chưađược khai thác tốt nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do nguồn nhân lực thiếu
và yếu Các yếu kém chủ yếu của các làng nghề hiện nay của vùng là thiếu vốn,thiếu thông tin, thiết bị - máy móc lạc hậu và sản phẩm ngày càng khó tìm “đầu ra”
do tính cạnh tranh kém Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê
mô tả và từ đó đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm giúp cho du lịch làngnghề ở vùng đồng bằng bằng sông Cửu Long ngày càng hấp dẫn và đạt hiệu quả cao
hơn Trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2010), “Du lịch văn hóa Làng
Chăm An Giang” cũng cho thấy ở An Giang có làng Chăm Châu Phong và Đa
Phước là hai làng Chăm có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, đặc biệt là làng ChămChâu Phong đã thu hút được một lượng lớn du khách quốc tế đến tham quan và muasắm Tác giả đã đưa ra những thuận lợi cơ bản khi phát triển du lịch làng Chăm AnGiang như: tài nguyên du lịch có sẳn, đa dạng và phong phú, lễ hội, nghề dệt truyềnthống, người Chăm thân thiện và mến khách, nhận được sự quan tâm của cơ quanban ngành; đồng thời tác giả cũng đưa ra một số khó khăn tồn tại: cộng đồng ngườiChăm chưa nhận thức được lợi ích do loại hình du lịch này mang lại, trình độ họcvấn và chuyên môn của người Chăm chưa cao, khả năng giao tiếp đặc biệt là ngoạingữ còn nhiều hạn chế Thông qua kết quả phân tích tác giả đề ra một số giải phápphát triển du lịch văn hoá làng Chăm An Giang về tổ chức quản lý, về sản phẩm dulịch, liên kết trong phát triển du lịch và về đào tạo nguồn nhân lực đồng thời đưa racác kiến nghị đối với Sở, Ban, Ngành hữu quan
Trang 22 Các nghiên cứu trên đã cho thấy du lịch Việt Nam và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là du lịch làng nghề
nói chung và làng nghề người Chăm An Giang nói riêng, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về hệ thống giao thông, chất lượng nguồn nhân lực, thiếu vốn và sản phẩm du lịch Các bài nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả nhằm phân tích khái quát thực trạng chung và chưa đi sâu vào phân tích các nhân tố tác động.
2.2.3 Về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của du khách
Nghiên cứu chuyên đề của Lưu Thanh Đức Hải (2012), “Thực trạng và giải
pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại Thành phố Cần Thơ” được thực hiện
bằng phương pháp thống kê mô, phân tích tần số, phân tích bảng chéo và phân tíchnhân dựa trên số liệu sơ cấp thu được bằng cách phỏng vấn trực tiếp 350 du kháchđến tham quan thành phố Cần Thơ theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng theo địabàn các Quận, Huyện Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng của du lịch Cần Thơ
đó là chưa tạo được sự hấp dẫn đối với du khách và chưa có những sản phẩm du lịchđộc đáo mang sắc thái riêng của địa phương, thời điểm du lịch chủ yếu là vào dịpcuối tuần, kênh thông tin chủ yếu là thông qua bạn bè người thân giới thiệu, mụcđích du lịch chủ yếu là du lịch thuần tuý Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra
05 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách về chất lượng du lịch đólà: (1) Khả năng cung cấp dịch vụ, (2) Cơ sở vật chất, (3) Đặc trưng địa phương, (4)
Sự an toàn và (5) Con người Từ kết quả phân tích nghiên cứu cũng đã đưa kết luận
và những vấn đề trọng tâm cần giải quyết
Nghiên cứu của Lưu Thanh Đức Hải và ctg (2011), “Phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch ở Kiên Giang” được thực
hiện với số liệu được thu thập từ kết quả khảo sát 295 du khách và được xử lý bằngphần mềm thống kê SPSS, kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha, mô hìnhphân tích nhân tố khám phá (EFA) Kết quả phân tích cho thấy sự hài lòng của dukhách đến du lịch tại Kiên Giang có liên quan đến năm thành phần: (1) tiện nghi cơ
sở lưu trú, (2) phương tiện vận chuyển thoải mái, (3) thái độ hướng dẫn viên, (4)
Trang 23hạ tầng cơ sở và (5) hình thức hướng dẫn viên, thông qua 14 biến quan sát Theo Vũ
Văn Đông (2012) trong nghiên cứu “Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài
lòng của du khách đến du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu” thông qua kết quả khảo sát
295 du khách và số liệu được phân tích theo phương pháp Cronbach’s Alpha vàphân tích nhân tố (EFA) đã đưa ra 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng dukhách bao gồm: (1) sự tiện nghi của cơ sở lưu trú, (2) phương tiện vận chuyển tốt,(3) thái độ hướng dẫn viên, (4) ngoại hình của hướng dẫn viên và (5) hạ tầng cơ sởphục vụ du lịch
Trang 24Chương III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung phân tích
Từ mục tiêu cụ thể của đề tài là:
Y = f(chi phí, thu nhập, các yếu tố khác)
Trong đó:
trong 3 năm qua nhân cho số ngày đi trong một chuyến đi Đây là biến phụ thuộc
Từ hàm ước lượng trên, đường cầu khách du lịch được xây dựng mối quan
hệ giữa tổng số ngày du lịch tại Châu Đốc và tổng chi phí để thực hiện hoạt động dulịch
Ước lượng chi phí du lịch là chi phí đến thăm một địa điểm bao gồm:
Chi phí phát sinh trực tiếp từ việc đến và rời khỏi địa điểm, thông thường là chi phí xe cộ, bao gồm tiền xe, xăng dầu, thuê mướn xe
Chi phí ăn uống, nghỉ ngơi phát sinh trong một chuyến tham quan Là mức chi phí phải bỏ ra để đáp ứng nhu cầu cá nhân của một du khách
Chi phí mua sắm là khoản tiền bỏ ra để mua các loại hàng đặc sản vùng miền, các mặt hàng tiêu dùng cá nhân mà du khách đến tham quan và mua sắm
Trang 25Chi phí du lịch là chi phí trung bình được tính toán dựa trên tổng cộng cho tất
cả các loại chi phí mà du khách bỏ ra khi đến tham quan chia cho số ngày đến thamquan tại Châu Đốc
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu khách du lịch
Các biến sử dụng cho việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cầu khách
du lịch tại Châu Đốc được trình bày như sau Hồi quy OLS được sử dụng, trong đó
trở xuống
các trường hợp nghề nghiệp là cán bộ, côngchức; nhà doanh nghiệp; hưu trí và khác
3.2.2 Phương pháp khảo sát mức độ hài lòng
Sử dụng thang đo SERVPERF để đánh giá mức độ hài lòng của du khách.Thang đo này là một biến thể của thang đo SERVQUAL, do Cronin & Taylor(1992) đưa ra Thang đo này có thủ tục đo đơn giản, dễ thực hiện để đo lường chấtlượng dịch vụ
Trang 26Thang đo này gồm 5 thành phần:
-Phương tiện hữu hình (Tangibles): sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, nhân sự và công cụ truyền thông
chính xác
vụ kịp thời
khả năng làm cho khách hàng tin tưởng
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến tham quan: trên
cơ sở lý thuyết về sự hài lòng, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách
và dựa vào đặc điểm du lịch của địa phương, đề tài đưa ra được 4 nhân tố Cụ thể:
Nhân tố 1: Cảnh quan thiên nhiên;
Trang 273.3 Trình bày dữ liệu
3.3.1.Giới thiệu bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được thiết kế, xây dựng để thu thập thông tin về chi phí du lịchcủa du khách tới Châu Đốc, từ đó xây dựng hàm cầu du lịch Ngoài ra, trong bảngcâu hỏi cũng khảo sát về mức độ hài lòng của du khách khi đến tham quan Trongbảng câu hỏi các nội dung chính như sau:
Thông tin cá nhân của du khách: tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp Các điều
kiện về kinh tế, xã hội như tình trạng hôn nhân, thu nhập, trình độ học vấn Từnhững thông tin này mô tả sơ lược về du khách và là những biến giải thích để xâydựng hàm cầu về du lịch Những thông tin này giúp cho kết quả điều tra có tínhchính xác cao hơn
Thông tin về hành vi của du khách: khảo sát về thời gian, mục đích,
phương tiện, số lần, số ngày, thông tin đến Châu Đốc Từ những nội dung này chobiết hành vi của du khách để làm căn cứ xây dựng các chính sách, chiến lược nhằmthu hút và giữ chân du khách
Thông tin về chi phí du lịch: trong bảng câu hỏi để phục vụ cho chi phí du
hành cá nhân nhằm ước lượng hàm cầu du lịch thì chi phí du lịch là thông tin quantrọng Các câu hỏi về chi phí du lịch được thiết kế bao gồm nhưng thông tin về chiphí đi lại từ các nơi về Châu Đốc, chi phí đi lại là tiền vé xe hoặc tiền thuê xe ô tôhoặc cũng có thể tiền xăng dầu cho xe máy của du khách Chi phí ăn uống, nghỉngơi, mua sắm phục vụ nhu cầu cá nhân khi đến Châu Đốc Ngoài ra, về chi phí thờigian cũng được xây dựng để xác định thời gian du khách mất đi khi đến tham quantại đây Tuy nhiên, chi phí về thời gian ít được du khách quan tâm do chuyến đithường ngắn ngày và nghề nghiệp của du khách ít ảnh hưởng đến loại chi phí này
Thông tin về sự hài lòng của du khách: trong bảng câu hỏi nhằm khảo sát
mức độ hài lòng của du khách đối với các hoạt động và dịch vụ tại hai điểm chínhcủa Châu Đốc là Miếu Bà Chúa Xứ (Núi Sam) và chợ Châu Đốc (phường Châu PhúA) Bảng câu hỏi liệt kê các nhân tố ảnh hưởng đến chuyến tham quan của ChâuĐốc như cảnh quan, môi trường an ninh trật tự, chất lượng phục vụ và tình trạng
Trang 28mua bán của người dân địa phương đối với du khách Bảng câu hỏi được thiết kế ở
Tóm lại, các thông tin về cá nhân, hành vi của du khách và chi phí cho
chuyến đi nhằm phục vụ cho mục tiêu xây dựng hàm cầu du lịch; thông tin khảo sát
về sự hài lòng của du khách nhằm phục vụ cho mục tiêu khảo sát mức độ hài lòngcủa du khách
3.3.2 Đối tượng khảo sát, thời điểm khảo sát, cách chọn mẫu
Đối tượng khảo sát: là khách du lịch đến tham quan tại Châu Đốc, tập trung
chủ yếu là khách lẻ (không khảo sát theo đoàn hoặc hộ gia đình)
Thời điểm khảo sát: do thời gian nghiên cứu có hạn nên chỉ phỏng vấn vào
thời điểm giao thời giữa cuối năm và chuyển sang năm mới Tuy nhiên, đây cũng làthời điểm bắt đầu chuẩn bị cho một mùa lễ hội mới nên việc khảo sát cũng đáp ứngđược mục tiêu của đề tài
Cách chọn mẫu: do số lượng mẫu dự kiến là 150 quan sát nên chọn mẫu
theo cách ngẫu nhiên, chọn khách lẻ và chia ra làm hai nơi Một là chọn quan sát tạikhu vực Núi Sam nơi có Miếu Bà Chúa Xứ, hai là khu vực chợ Châu Đốc để thuậntiện cho việc khảo sát
Trang 29Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng ngành du lịch của Châu Đốc
4.1.1.Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Châu Đốc là thành phố thuộc tỉnh An Giang, giáp biên giới Campuchia; cách
Phía Đông Bắc tiếp giáp huyện An Phú;
Phía Tây Bắc giáp Campuchia;
Phía Đông giáp huyện Phú Tân và thị xã Tân Châu;
Phía Nam giáp huyện Châu Phú; Phía Tây giáp
huyện Tịnh Biên
Châu Đốc có vị trí địa lý khá đặc biệt nằm ở ngã ba sông, nơi sông Hậu vàsông Châu Đốc gặp nhau; giữa 3 cửa khẩu kinh tế sầm uất là: cửa khẩu quốc tế TịnhBiên - huyện Tịnh Biên, cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương - thị xã Tân Châu và cửakhẩu quốc gia Khánh Bình - huyện An Phú
Từ vị trí này, thành phố Châu Đốc được xem là cửa ngõ giao thương quantrọng của tỉnh An Giang với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là nơi tập trung hànghoá buôn bán với Vương quốc Campuchia qua cả hai đường thủy và đường bộ
Thành phố Châu Đốc thuộc vùng đồng bằng của tỉnh An Giang do phù sasông Hậu bồi đắp Địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Ở trung tâm
có Núi Sam đột khởi lên giữa đồng bằng, tạo nên cảnh quan độc đáo Phía Đông cósông Châu Đốc và sông Hậu chảy theo chiều Bắc - Nam Phía Tây có kênh Vĩnh Tếchạy song song với biên giới Campuchia, nối liền với thị xã Hà Tiên Địa hình chiacắt bởi các kênh rạch ngang dọc Với địa hình đa dạng, Châu Đốc có điều kiện pháttriển về thương mại, dịch vụ, du lịch và nông nghiệp
Trang 304.1.1.3 Dân số
Quy mô dân số của thành phố Châu Đốc là 157.298 người, trong đó dân số thường trú 113.012 người, dân số quy đổi là 44.286 người
Dân số nội thị:
công tác, chữa bệnh ngắn ngày).
Cơ cấu dân số thay đổi theo hướng tỷ lệ dân số nội thị tăng, tỷ lệ dân sốngoại thị giảm
Mức tăng dân số là 1,4% (trong đó tăng tự nhiên là 1,2%, tăng cơ học là0,2%)
4.1.1.4 Khí hậu
Châu Đốc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mang những đặc tính chungcủa khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ bình
mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trùng với gió mùa Tây Nam; mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trùng với gió mùa Đông Bắc; lượng mưa trungbình hàng năm khoảng 1.500mm
4.1.1.5 Thủy văn
Chế độ thủy văn ở Châu Đốc chủ yếu là bán nhật triều, số ngày có chế độnhật triều trong tháng hầu như không đáng kể Cứ khoảng nửa tháng có 3 - 5 ngàytriều cường, sau đó triều giảm dần kéo dài khoảng 5 - 6 ngày, tiếp đó là 3 - 5 ngàytriều lên, xuống rất yếu gọi là kỳ nước kém Các kỳ con nước ở đây lặp lại một cáchtuần hoàn nhưng khác nhau về cường độ Trong một năm, biên độ triều của các trạmsông Hậu có những biến động mạnh mẽ Vào mùa kiệt, biên độ triều tăng dần và đạttrị số lớn nhất vào tháng 4 hoặc tháng 5 Tiếp đó mùa lũ về, nước sông lên,
Trang 31biên độ triều giảm và đạt trị số nhỏ nhất vào tháng 9 hoặc tháng 10 Hằng năm từtháng 7 đến tháng 11 là mùa nước nổi Đây cũng là thuận lợi cho du lịch Châu Đốctrong việc phát triển nhiều hình thức du lịch mùa nước nổi ngoài du lịch chủ đạo làtâm linh, tín ngưỡng.
4.1.1.6 Tài nguyên rừng
Rừng ở thành phố Châu Đốc đa phần là rừng đồi núi với diện tích 210 ha, tậptrung chủ yếu ở Núi Sam Trong đó, rừng trồng khoảng 99ha, còn lại là rừng tựnhiên thuộc rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với 154 loài cây quý hiếm, thuộc
54 họ
4.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch
Châu Đốc là trung tâm du lịch của tỉnh An Giang, các điểm như Miếu BàChúa Xứ - Núi Sam, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Hang, Châu Đốcnằm trong tổng thể du lịch của tỉnh An Giang, là tỉnh đồng bằng đặc biệt có núi cósông với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn và nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếphạng, địa điểm du lịch phong phú đa dạng được trải đều và liên hoàn trên toàn thànhphố Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư khá, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, thunhập bình quân đầu người tăng, đời sống nâng cao, nhu cầu vui chơi giải trí phátsinh tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển Du lịch tâm linh hấp dẫn thu hút dukhách ngày càng đông Châu Đốc là thành phố có tiềm năng phát triển du lịch tâmlinh và du lịch mua sắm, du khách đến Châu Đốc phần lớn là viếng Miếu Bà Chúa
Xứ, hằng năm có gần 4 triệu lượt khách đến du lịch ở thành phố Châu Đốc
Ngoài ra, nhiều công trình du lịch, thiết chế văn hóa lớn được đưa vào sửdụng, tạo điểm nhấn quan trọng để thành phố Châu Đốc tổ chức các sự kiện chínhtrị, kinh tế, xã hội gắn với các hoạt động quảng bá và phát triển du lịch của thànhphố Từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại tạo bước đột phá mới,đảm bảo đồng bộ trong quy hoạch phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế - xãhội địa phương Phát huy lợi thế giá trị văn hóa, Châu Đốc đã, đang chủ động tăngcường mở rộng liên kết tour, tuyến, hình thành không gian du lịch rộng lớn, giữacác huyện, thị xã, thành phố trong khu vực, trong nước và quốc tế Trong đó, trọng
Trang 32tâm là hoàn thiện hơn nữa cung cách phục vụ, văn minh thương mại, nhất là đa dạnghóa các sản phẩm văn hóa du lịch, quà lưu niện đặc trưng của Châu Đốc Đồng thời,đầu tư tôn tạo, phát triển các cảnh quan, di tích, điểm vui chơi, giải trí nhằm thỏamãn nhu cầu của du khách và kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu của du khách
và đảm bảo du lịch phát triển bền vững
Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, tập trung nguồn nhân lực, huy động xãhội tham gia phát triển mới các sản phẩm loại hình du lịch Nâng cao nhận thức củangười dân, người mua bán về việc xây dựng nếp sống văn minh, lịch sự, làm hàilòng du khách và tăng thu nhập từ du khách Chỉnh trang, làm mới, làm đẹp từ hìnhảnh con người Châu Đốc lan tỏa đến du khách khi đến Châu Đốc Châu Đốc đangtriển khai và hoàn thiện Đề án Công viên văn hóa Núi Sam, kết hợp xúc tiến nhanhcác hạng mục đầu tư xây dựng, chỉnh trang khu du lịch Núi Sam, hạ tầng du lịchsinh thái Vĩnh Mỹ và các công trình giao thông, đô thị trọng điểm Qua đó, tạokhông gian, môi trường du lịch tốt nhất để phát triển, khai thác có hiệu quả loại hình
du lịch tâm linh kết hợp du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái
Hàng năm, trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều lễ hội lớn nhỏ khác nhau, thuhút khá đông khách hành hương từ các nơi đổ về Tuy nhiên, bên cạnh những giá trịvăn hóa tín ngưỡng tốt đẹp, các lễ hội này vẫn có những “điểm trừ” không đáng có
Những tháng hành hương, Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam trở nên nhộn nhịp vớihàng triệu du khách tìm đến chiêm bái, lễ cúng Đó cũng là lúc những người laođộng tại địa phương có điều kiện nâng cao thu nhập vào các dịch vụ phục vụ lễ hội.Tuy nhiên, do một bộ phận người dân có tư tưởng thu lợi bất chính bằng cách lừagạt du khách nên xuất hiện hiện tượng tiêu cực như bói toán, xin xăm, hay móc túi,trộm vặt… dẫn đến tình hình an ninh trật tự diễn biến phức tạp khó lường ảnhhưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến tham quan tại nơi đây
Nhận thức về bảo vệ môi trường cảnh quan du lịch của cộng đồng dân cư vàmột bộ phận du khách chưa cao đã dẫn đến cảnh mất vệ sinh tại khu di tích lịch sửNúi Sam, khu trung tâm chợ Châu Đốc Vấn đề trật tự còn hạn chế, tình trạng muabán lấn chiếm lòng lề đường vẫn còn Có thể nói với lượng khác thập phương như
Trang 33vậy việc giữ gìn an toàn, trật tự, vệ sinh công cộng cho địa phương và du khách nơiđây là cần thiết.
Nhận định về cảnh quan du lịch ở Châu Đốc thì cho là tốt vì đi cúng, viếngmột số điểm chùa rồi về hoặc ghé mua sắm tại chợ hoặc đến các huyện bạn lân cậnnhư Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn vàcác huyện khác vì năm nào đi cũng vậy không
có gì mới, lạ để khám phá thêm
Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên thừa và thiếu, thiếu vì hầu hết nhân viênphục vụ nơi đây đều chưa qua đào tạo do đó chất lượng phục vụ thấp không chuyênnghiệp theo đúng yêu cầu Mỗi năm đều tổ chức nhiều khóa đào tạo, nhưng nguồnnhân lực hiện có chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch
Các công trình giao thông cầu đường nối các khu vực du lịch trọng điểm nhưthành phố Hồ Chí Minh về An Giang cũng như tại An Giang đến các khu điểm dulịch chậm thực hiện và đầu tư không đồng bộ đã làm hạn chế việc thu hút du khách
và thu hút đầu tư như quốc lộ 1 thuộc địa phận tỉnh Đồng Tháp, quốc lộ 91 (ChâuĐốc - Tịnh Biên và Tịnh Biên - Tri Tôn) Điều đáng chú ý hiện nay thường xảy rakẹt phà tại điểm phà Vàm Cống, nhất là các ngày nghỉ và vào dịp vía Bà Chúa Xứ
Một số công trình tại các khu, điểm du lịch còn đang quy hoạch và trong giaiđoạn xây dựng chưa hoàn chỉnh, hoặc đầu tư nâng cấp chưa kịp để đưa vào phục vụ
du khách, tiến độ thi công chậm do thiếu vốn, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản phảitốn nhiều thời gian, giải ngân chậm Do đó, nhiều tiềm năng còn bỏ ngõ, nhiều tàinguyên du lịch chưa được khai thác, một số năng lực du lịch chưa được phát huy.Hoạt động quảng bá tuyên truyền, xúc tiến du lịch còn phân tán, không thườngxuyên và chưa mang tính chuyên nghiệp cao Các doanh nghiệp ít có khả năng tiếpcận các thị trường tiềm năng;
Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này là: sản phẩm dịch vụchưa phong phú, chưa hấp dẫn; Các điểm du lịch chưa thật sự hấp dẫn; Việc khaithác và quản lý cũng chưa thật sự hiệu quả; chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng vớinhu cầu của du khách
Trang 34Bảng 4.1 Phân loại giới tính của du khách (ĐVT: người)
Trong 150 người được phỏng vấn thì cấp 1 là 8 người chiếm 5,33%; cấp 2 là
chiếm 16,67%; đại học là 33 người chiếm 22% và sau đại học là 6 người chiếm 4%
Qua phân tích này cho thấy muốn đưa ra các chiến lược du lịch phải phù hợp với trình độ của các nhóm du khách
Trang 35Bảng 4.3 Độ tuổi của du khách (ĐVT: người)
Qua thống kê thì khách du lịch là cán bộ công nhân viên chức là 26 ngườichiếm 17,33%; nhà doanh nghiệp là 7 người chiếm 4,67%; buôn bán là 54 ngườichiếm 36%; hưu trí là 13 người chiếm 8,67% và nghề khác là 50 người chiếm33,33%
Trang 36Bảng 4.4 Nghề nghiệp của khách du lịch (ĐVT: người)
là 6 người chiếm 4%
Tình hình thu nhập của du khách được phỏng vấn thể hiện trên 10 mức thunhập từ 0 triệu cho đến trên 50 triệu Tuy nhiên, nhóm du khách đến tham quan ởChâu Đốc chủ yếu tập trung ở 5 mức đầu của thu nhập (từ 0 triệu cho đến 25 triệuđồng), còn lại các mức thu nhập trên 25 triệu thì không thể hiện Vì vậy việc ướclượng đường cầu du lịch thể hiện qua thu nhập sẽ giúp cho chính quyền địa phươngđịnh vị được các chính sách để thu hút hơn đối với từng loại đối tượng có thu nhậpcao đến tham quan, khi mức sống của họ càng cao thì đòi hỏi càng cao về dịch vụ,sản phẩm du lịch và làm thỏa mãn nhu cầu của họ hơn chứ không chỉ phụ thuộc vàoyếu tố tâm linh
Trang 37Bảng 4.5 Mức thu nhập của khách du lịch (ĐVT: người)
Việc du khách đến Châu Đốc tập trung cho mục đích chuyến đi là hànhhương, cúng bái tâm linh Đây cũng là một trong các yếu tố quyết định sự thu hútcủa du khách Do tín ngưỡng nên du khách thường tìm đến Châu Đốc vì nơi đâyngoài Miếu Bà Chúa Xứ còn có quần thể các chùa, lăng và đình cũng tạo nên mộtkhu du lịch về tâm linh Ngoài ra, đối với việc du khách chọn lý do khác cũng làmột vấn đề cần được quan tâm có thể du khách vừa đến tham quan, vừa hành hương
và mua sắm tại các chợ Như vậy, việc phân tích mục đích chuyến đi sẽ giúp chonhà hoạch định các chính sách du lịch nhằm thu hút du khách đến càng nhiều hơnnửa tạo nguồn thu cho địa phương
Trang 38Bảng 4.6.Mục đích chuyến đi (ĐVT: người)
4.2.2.2 Phương tiện đã sử dụng cho chuyến đi
Do Châu Đốc nằm ở khu vực gần biên giới, xa khu vực trung tâm thành phố
Hồ Chí Minh và không có đường bay nên du khách đến đây chủ yếu bằng xe ô tô là
có du khách đến bằng tàu du lịch và các phương tiện khác Điều này phản ánh đúngvới hiện trạng giao thông của Châu Đốc
Bảng 4.7 Phương tiện sử dụng (ĐVT: người)
4.2.2.3 Khoảng thời gian được lựa chọn để đến tham quan
Qua phỏng vấn 150 du khách đa số du khách đi vào các dịp khác là 75 ngườichiếm 50% và vào dịp cuối tuần là 42 người chiếm 28% Còn lại vào các dịp lễ, tết
là 21 người chiếm 14% và nghỉ hè là 12 người chiếm 8% Như vậy qua khảo sát chothấy khách du lịch chủ yếu đi vào thời gian thuận tiện nhất mà du khách có thể đi
Và điều này cũng thể hiện rõ thực trạng du lịch của Châu Đốc vì du khách thườngtập trung vào các tháng đầu năm khi công việc còn nhàn hạ và một số du khách cótâm lý đi cúng bái và cầu nguyện vào dịp Vía Bà (tháng 4 âm lịch)