1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

208 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 887,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu tác động của danh mụccho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là bàinghiên cứu của chính tôi.Ngoại trừ tài li

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2015

Trang 3

Trước hết, tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu tác động của danh mụccho vay đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là bàinghiên cứu của chính tôi.

Ngoại trừ tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoantất các các nội dung chi tiết của bài luận văn được trình bày theo kết cấu và dàn ýcủa tác giả với sự dày công nghiên cứu, thu thập và phân tích các tài liệu có liênquan, đồng thời được sự góp ý hướng dẫn của PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương đểhoàn tất luận văn

TPHCM, Ngày 08 Tháng 12 Năm

2015 Tác giả

Tạ Thị Nhã Vi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2

1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 2

1.2.2 Nghiên cứu trong nước 6

1.3 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

1.5 Phương pháp nghiên cứu: 8

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8

1.7 Kết cấu của luận văn: 9

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG DANH MỤC CHO VAY ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11

2.1 Tổng quan danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại 11

2.1.1 Khái niệm 11

2.1.2 Phân loại danh mục cho vay 12

2.1.2.1 Phân loại theo thời hạn cho vay 15

2.1.2.2 Phân loại theo tài sản đảm bảo tiền vay 16

2.1.2.3 Phân loại theo lĩnh vực đầu tư 16

2.1.2.5 Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng 17

2.1.2.6 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý 17

Trang 5

2.1.3.1 Thước đo khoảng cách 18

2.1.3.2 Thước đo SE (Shannon Entropy) 18

2.1.3.3 Chỉ số Hirschman-Herfindahl Index (HHI) 19

2.2 Cơ sở lý luận về lợi nhuận của ngân hàng thương mại 19

2.2.1 Khái niệm 19

2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận ròng của ngân hàng 20

2.2.2.1 Mức lợi nhuận tuyệt đối 20

2.2.2.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE- Return on equity) 20

2.2.2.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA: Return on asset) 20

2.3.1 Rủi ro nội tại 21

2.3.2 Rủi ro tập trung 22

2.4 Tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của ngân hàng 23

2.5 Tác động của danh mục cho vay đến rủi ro 24

2.6 Mô hình tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận 26

2.6.1 Mô hình hồi quy của Acharya et al (2004) 26

2.6.2 Mô hình hồi quy của Benjamin M Tabak, Dimas M.Fazio and Daniel O.Cajueiro (2010) 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG DANH MỤC CHO VAY 31

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 31

3.1 Tổng quan tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam 31

3.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ trên phương diện gia tăng số lượng ngân hàng và quy mô tài sản của hệ thống ngân hàng 31

3.1.2 Quy mô tổng tài sản tăng khá nhanh 32

3.1.3 Về tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát 33

3.1.4 Năng lực cạnh tranh và cung ứng dịch vụ ngân hàng ngày càng được cải thiện đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế 37

Trang 6

3.2.1 Cơ cấu danh mục cho vay theo ngành kinh tế 38

3.2.2 Cơ cấu danh mục cho vay theo thời hạn 43

3.2.3 Cơ cấu danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng 44

3.3 Lợi nhuận của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam 45

3.4 Tác động của danh mục cho vay đến rủi ro của Ngân hàng TMCP 53

3.5 Đánh giá thực trạng danh mục cho vay 64

3.5.1 Kết quả đạt được 64

3.5.2 Tồn tại 65

3.6 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 72 4.1 Mô hình của luận văn 72

4.1.1 Biến và mô tả biến 72

4.1.1.1 Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản 72

4.1.1.2 Tỷ lệ vốn chủ sỏ hữu trên tổng tài sản 72

4.1.1.3 Quy mô ngân hàng 73

4.1.1.4 Mức độ tập trung truyền thống chỉ số Hirshmann- Herfindahl 75

4.1.2 Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu 76

4.1.3 Phương pháp nghiên cứu 76

4.1.4 Khảo sát tương quan giữa các biến độc lập 77

4.1.5 Xây dựng phương trình thực nghiệm và lựa chọn mô hình 77

4.1.5.1 Mô hình hồi quy Pool 78

4.1.5.2 Mô hình hồi quy tác động cố định 78

4.1.5.3 Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên 79

4.1.5.4 Lựa chọn mô hình 80

4.1.5.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy đã lựa chọn 81

Trang 7

4.3.1 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản 82

4.3.2 Quy mô ngân hàng 82

4.3.3 Mức độ tập trung của danh mục cho vay 83

4.4 Kết quả nghiên cứu 84

4.4.1 Thống kê mô tả 84

4.4.2 Phân tích tương quan 86

4.4.3 Kiểm tra tự tương quan 87

4.4.4 Kiểm định lựa chọn mô hình 88

4.4.4.1 Kiểm định F để chọn Pooled OLS hay FEM 88

4.4.4.2 Kiểm định Hauman Test để chọn FEM hay REM 89

4.4.5 Kiểm định phương sai thay đổi 90

4.4.6 Kết quả mô hình hồi qui theo FEM 92

4.5 Giải thích kết quả nghiên cứu 93

4.5.1 Biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản 93

4.5.2 Biến quy mô ngân hàng 93

4.5.3 Biến mức độ tập trung của danh mục cho vay 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 96

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ 97

5.1 Kết luận 97

5.2 Định hướng hoạt động của ngành ngân hàng 98

5.2.1 Định hướng hoạt động ngành ngân hàng đến năm 2020 98

5.2.2 Định hướng xây dựng danh mục cho vay đến năm 2020 99

5.2.2.1 Định hướng ngành hàng mục tiêu 99

5.2.2.2 Định hướng khách hàng mục tiêu 100

5.2.2.3 Định hướng hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP Việt Nam 100

5.3 Giải pháp để hoàn thiện danh mục cho vay 102

Trang 8

danh mục cho vay cho phù hợp xu thế phát triển sắp tới 103

5.3.1.3 Những nội dung có tính định hướng chiến lược cho hoạt động quản trị danh mục cho vay của ngân hàng 104

5.3.1.4 Xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay 105

5.3.1.5 Đảm bảo tính độc lập và tập trung của bộ phận quản lý rủi ro trong mỗi ngân hàng 106

5.3.1.6 Xây dựng hệ thống thông tin quản trị hoạt động hiệu quả 107

5.3.1.7 Hoàn thiện và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng 109

5.3.1.8 Xây dựng hệ thống kế toán phù hợp với hệ thống kế toán quốc tế 109

5.3.2 Các kiến nghị khác 110

5.3.2.1 Kiến nghị với Chính phủ 110

5.3.2.2 Kiến nghị với các doanh nghiệp 112

5.4 Hạn chế của luận văn 112

5.4 Hạn chế của luận văn 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 10

dịch vụ cá nhân của nhóm các ngân hàng có quy mô lớn

dịch vụ cá nhân của nhóm các ngân hàng có quy mô trung bình

dịch vụ cá nhân của nhóm các ngân hàng có quy mô nhỏ

Bảng 3.10 : Tăng trương cho vay khach khang

Trang 11

Hình 2.1 : Cơ cấu các loại rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTMHình 3.1 : Cơ cấu danh mục cho vay theo ngành nghề

Đồ thị

Đồ Thị 3.1 : Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát

Trang 12

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Ngân hàng là một loại hình hoạt động kinh doanh nhằm cung cấp nhữngdịch vụ tiện ích phục vụ nhu cầu thiết yếu cho các tổ chức, cá nhân về các hoạtđộng mua bán, giao dịch, tín dụng liên quan đến tài sản tài chính Hoạt độngnày mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân nói riêng, góp phần phát triển kinh tếnước nhà nói chung Ngân hàng được xem là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tếtừng quốc gia và toàn cầu Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng làmột bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng vàthanh toán, trong đó thanh toán giữ vai tròđặc biệt quan trọng Mặc dù khôngtrực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt độngriêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúcđẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc kinh doanh hiệu quả là vấn đềđược các tổ chức kinh tế quan tâm và cạnh tranh là yếu tố không thể tránh khỏi.Một trong những tiêu chí để xác định vị thế đó là hiệu quả kinh doanh của ngânhàng và quan trọng nhất trong kết quả đầu ra của ngân hàng đó là lợi nhuận Nócần thiết cho việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của ngân hàng, đảm bảo đờisống cho nhân viên cũng như khuyến khích họ tận tụy với công việc nói riêng

và phát triển kinh tế nói chung Mặt khác, lợi nhuận cho thấy khả năng tàichính, uy tín của ngân hàng đó với khách hàng Hơn nữa lợi nhuận không chỉphản ánh kết quả sản xuất kinh doanh mà còn là cơ sở để tính ra các chỉ tiêuchất lượng khác nhằm đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả kinh doanh của ngân hàngtrong từng thời kỳ hoạt động Như vậy, lợi nhuận chính là mối quan tâm hàngđầu của ngân hàng

Trong những năm vừa qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phải đối mặtvới nhiều khó khăn và thách thức, nhất là trong hoạt động điều vốn Khủnghoảng kinh tế đã dẫn đến nhiều khó khăn, các doanh nghiệp và cá nhân khó tiếpcận nguồn vốn vay Bên cạnh đó, các ngân hàng đã tập trung danh mục cho vay

Trang 13

của mình đến một số đối tượng khách hàng Điều này đã làm cho nhiều ngânhàng gặp rủi ro do tập trung cho vay cao vượt khả năng chịu đựng của ngânhàng Do đó, cần phân tích và đánh giá các khoản mục cho vay của ngân hàng,đồng thời xem xét sự lựa chọn danh mục cho vay ảnh hưởng như thế nào đến lợinhuận và rủi ro của ngân hàng Tối đa hóa hiệu quả danh mục cho vay đã trởthành một vấn đề quan trọng.

Với mong muốn tìm hiểu về thực trạng danh mục cho vay của các Ngânhàng TMCP tại Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến lợi nhuận của Ngân hàng

như thế nào, tác giả đã chọn đề tài “NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG DANH

MỤC CHO VAY ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM” để làm luận văn nghiên cứu.

1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây

1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài

1.2.1.1 Bài nghiên cứu “German Banks' Loan Portfolio Composition:

Market-orientation vs Specialisation?” của Pfingsten và Rudolph (2002)

Nội dung chính của bài nghiên cứu là tìm hiểu về mức độ đa dạng hóadanh mục cho vay của các ngân hàng tại Đức và xu hướng của thị trường là đadạng hóa hay chuyên môn hóa các khoản vay Bài nghiên cứu phân tích dựa trên

số liệu tổng hợp của 7 nhóm ngân hàng tại Đức giai đoạn từ năm 1970 đến năm

2001, và phân tích dựa trên 16 ngành nghề Các tác giả đo lường đa dạng hóabằng thước đo khoảng cách, định lượng khoảng cách giữa các danh mục cho vaymột nhóm các ngân hàng và danh mục cho vay của thị trường

Pfingsten và Rudolph (2002) là một trong những người đầu tiên sử dụngcác phương pháp đo lường khoảng cách để đo lường mức độ tập trung Họ chorằng các phương pháp đo lường khoảng cách có nhiều ưu điểm hơn các phươngpháp đo lường truyền thống, một trong các ưu điểm đó là sự khác nhau về quy

mô của từng ngành Chúng ta có thể dễ dàng tính toán và không cần thu thậpthêm dữ liệu bổ sung

Trang 14

(2002) thấy rằng các nhóm ngân hàng tăng đa dạng hóa danh mục cho vay của họtheo thời gian Tuy nhiên, kết quả này có thể điều khiển bởi các tập hợp dữ liệu.Tổng hợp số liệu của các ngân hàng chuyên về các ngành công nghiệp khác nhauvẫn có thể dẫn đến một danh mục cho vay ngày càng đa dạng ở cấp độ nhómngân hàng Như vậy, một phân tích của ngân hàng cá nhân là cần thiết để xácnhận hoặc bác bỏ kết quả đa dạng hóa danh mục đầu tư là chiến lược hàng đầutrong hoạt động cho vay của các ngân hàng tại Đức.

1.2.1.2 Acharya et al (2004) “Should Banks Be Diversified? Evidence from Individual Bank Loan Portfolios”

Bài nghiên cứu phân tích những tác động của đa dạng hóa danh mục chovay đến rủi ro và lợi nhuận Họ phân tích 105 ngân hàng Ý trong giai đoạn từnăm 1993 đến năm 1999 dựa trên 23 ngành nghề Acharya sử dụng chỉ sốHirschman-Herfindahl Index (HHI), để tính toán mức độ đa dạng hóa của ngànhcông nghiệp Các HHI công nghiệp (I-HHI) là tổng các bình phương của tỷ trọngtheo phân loại cho các ngành kinh doanh

Kết quả cho thấy rằng đa dạng hóa công nghiệp có liên quan đến việc làmgiảm hiệu suất, suy giảm lợi nhuận và thậm chí tăng rủi ro Việc đa dạng hóangành có ảnh hưởng tích cực đến các ngân hàng có rủi ro vừa phải nhưng làmgiảm hiệu suất của các ngân hàng được đặc trưng bởi một mức độ rủi ro cao.Acharya et al (2004) kết luận rằng "đa dạng hóa không đảm bảo hiệu suất caohoặc sự an toàn của ngân hàng lớn hơn"

Do đó, họ kết luận rằng vấn đề về đa dạng hoá là một câu hỏi rất điển hìnhcủa sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

1.2.1.3 Bài báo khoa học “Do banks diversify loan portfolios? A tentative answerbased on individual bank loan portfolios” do nhóm Andreas Kamp (University of Munster), Andreas Pfingsten (Unversity of Munster), Danek Prath (Deutsche Bundesbank) thực hiện năm 2005.

Trang 15

Bài báo dựa trên nền tảng bài nghiên cứu của Pfingsten và Rudolph (2002).Bài báo tập trung nghiên cứu về mức độ đa dạng hóa danh mục các khoản vay tạicác ngân hàng của Đức và ảnh hưởng của nó đến danh mục cho vay của ngân hàng.Ngoài phương pháp đo lường đa dạng hóa bằng biện pháp khoảng các Da, Dr, bài

nghiên cứu này còn sử dụng chỉ số HHI (Hirschman-Herfindahl Index) và thực hiện một phân tích bảng điều khiển cũng như phân tích chuỗi thời gian.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng tại Đức có xu hướng đa dạnghóa cao, chủ yếu là các hợp tác xã tín dụng và các ngân hàng tiết kiệm Tuynhiên, một số ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài thì lại tập trungcác khoản vay đối với một số lĩnh vực Lưu ý rằng sự gia tăng đa dạng hóa cáchợp tác xã tín dụng và các ngân hàng tiết kiệm không thể giải thích với số lượnglớn của vụ sáp nhập trong các nhóm trên cuối cùng thập kỷ Tất cả các ngân hàngsáp nhập trong thời gian quan sát đã được điều chỉnh như được sáp nhập trong cả

giai đoạn.

1.2.1.4 Bài nghiên cứu “The effects of loan Porfolio Concentration on Brazilian bank’s return and risk” của Benjamin M Tabak, Dimas M.Fazio and Daniel O.Cajueiro (2010)

Tác giả đã sử dụng các phương pháp truyền thống là chỉ số HHI và SE,các biện pháp khoảng cách (Da và Dr) để đo lường mức độ tập trung của danhmục cho vay, rồi từ đó mới xem xét đến tác động của danh mục cho vay đến lợinhuận và rủi ro

Bài nghiên cứu sử dụng một bảng điều khiển dữ liệu tần số cao không cânbằng của 96 ngân hàng thương mại trong thời gian 74 tháng kể từ tháng một năm

2003 đến tháng hai năm 2009, tổng hợp của 5175 quan sát Các dữ liệu của mỗingân hàng được cung cấp bởi Ngân hàng Trung ương Brazil

Bài nghiên cứu phân tích tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuậnbằng cách phân tích hồi quy Trong phân tích hồi quy, với lợi nhuận ngân hàng là

biến phụ thuộc, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tổi thiểu

tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares, FGLS).

Trang 16

hữu có ảnh hưởng đến kết quả về mối quan hệ giữa mức độ tập trung danh mụccho vay và lợi nhuận Danh mục cho vay của ngân hàng Brazil được đánh giá cómức tập trung ở mức độ vừa phải, trung bình và tập trung hơn so với các nướcphát triển như Đức, Ý, và Hoa Kỳ Bài nghiên cứu này đánh giá các ngân hàngnước ngoài có danh mục cho vay tập trung hơn các ngân hàng nhà nước, ngânhàng tư nhân hay ngân hàng công chúng Điều này được giải thích rằng các ngânhàng nước ngoài đã quen thuộc với các điều kiện kinh tế và tài chính thấp hơncủa Brazil, và do đó họ thích hạn chế hoạt động cho vay của mình đến một sốlĩnh vực, để được hưởng lợi nhiều hơn từ việc giảm chi phí giám sát.

Nhìn chung, tập trung dư nợ cho vay dường như cải thiện hiệu suất củacác ngân hàng Brazil trong cả lợi nhuận và rủi ro vỡ nợ Các chỉ số tập trungđược tìm thấy có liên quan tích cực đến lợi nhuận và tiêu cực đến rủi ro Lý do cóthể là tập trung dư nợ cho vay tăng hiệu quả giám sát, kể từ khi ngân hàng có thểchuyên môn hóa trong các lĩnh vực mà họ cho vay, như khẳng định của Winton[1999] Mặt khác, đa dạng hóa làm giảm hiệu quả này, vì nó khó khăn hơn chocác ngân hàng để theo dõi khách hàng tín dụng của họ và họ cũng có thể phải đốimặt với lựa chọn bất lợi, xuất phát từ sự cạnh tranh với các ngân hàng khác

Khi các loại quyền sở hữu ngân hàng khác nhau được đưa vào mô hình,bài nghiên cứu kết luận rằng, đối với ngân hàng tư nhân, càng đa dạng hóa thì lợinhuận càng cao Ngân hàng nước ngoài sẽ đối mặt với rủi ro thấp hơn do danhmục cho vay tập trung, có nghĩa là họ nên chú ý gia tăng tỷ trọng cho vay đối vớimột số lĩnh vực Mặt khác, việc phân bổ các khoản vay chỉ đến một số thànhphần kinh tế dường như làm giảm nguy cơ rủi ro đối với các ngân hàng công Đốivới hai hình thức sở hữu cuối cùng tác động của mức độ tập trung vào lợi nhuận

là không thuyết phục Nói cách khác, lợi nhuận của các ngân hàng này ít bị ảnhhưởng bởi mức độ cho vay tập trung

Trang 17

1.2.2 Nghiên cứu trong nước

Tất cả các đề tài nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu trong điều kiệnViệt Nam đều chưa thấy đề cập nhiều tới danh mục cho vay và tác động của danhmục cho vay đến lợi nhuận của ngân hàng Từ trước đến nay Việt Nam có một sốcông trình nghiên cứu như:

 Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Diệu Anh (2010) “ Quản trị danhmục cho vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” Nội dung đề tàinày nghiên cứu cơ sở lý luận về danh mục cho vay và các phương pháp quản trịdanh mục cho vay

 Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Văn Dương “ Quản lý nhà nước về

đa dạng hóa hoạt động tín dụng của các ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCMđến năm 2020” Luận án bổ sung, hoàn thiện thêm cơ sở lý luận, luận cứ khoahọc về dạng hóa HĐTD và QLNN về đa dạng hóa HĐTD Đặc biệt, vận dụng

ma trận Ansoff vào việc chọn phương hướng và chọn loại đa dạng hóa HĐTD.Lựa chọn các tiêu chí đánh giá kết quả QLNN và xác định các nhân tố tác độngđến kết quả QLNN về đa dạng hóa HĐTD

1.3 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là xem xét danh mục cho vay tácđộng đến lợi nhuận theo hướng nào, làm tăng hay giảm lợi nhuận tại cácngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Căn cứ vào mục đích đã xác định,nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm những nội dung sau:

- Thứ nhất : Nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của Ngân hàng thương mại

cho vay đến lợi nhuận của các Ngân hàng TMCP tại Việt Nam

của Ngân hàng

Trang 18

cho vay đạt được hiệu quả cao nhất trong điều kiện của các Ngân hàng TMCP Việt Nam.

Để đạt dược mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu tổng quát trên đây, mụctiêu của luận văn được thể hiện thông qua việc giải quyết các câu hỏi sauđây:

- Thứ nhất : Về mặt lý luận làm rõ các khái niệm danh mục cho vay, phânloại các loại hình danh mục cho vay Danh mục cho vay bao gồm các loạinào? Thước đo mức độ tập trung của danh mục bao gồm những thước đo nào?Tác động của danh mục đến lợi nhuận và rủi ro như thế nào?

- Thứ hai : Thực trạng danh mục cho vay của các Ngân hàng TMCP tại ViệtNam trong giai đoạn 2004-2014 biểu hiện như thế nào? Ảnh hưởng của danh mục cho vay đến lợi nhuận, rủi ro trong giai đoạn này như thế nào?

- Thứ ba : Mô hình nào dùng để nghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận?

- Thứ tư : Về mặt giải pháp để hoàn thiện danh mục cho vay hiệu quả Khixây dựng giải pháp cần làm rõ định hướng bao gồm nội dung, mục tiêu các giảipháp là gì? Bên cạnh các giải pháp đề xuất đối với ngân hàng TMCP, có cáckiến nghị nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện hoạt động quản trịdanh mục cho vay của các ngân hàng TMCP, nội dung, cơ sở của các kiến nghị

là gì?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là danh mục cho vay và tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại

- Phạm vi nghiên cứu : 28 ngân hàng TMCP tại Việt Nam với dữliệu trong giai đoạn 2004 - 2014 Tác giả sử dụng dữ liệu cho vay của các ngânhàng trong 11 ngành sau: thương mại, nông lâm nghiệp, sản xuất và gia côngchế biến, xây dựng, dịch vụ cá nhân và cộng đồng, kho bãi giao thông vận tải và

Trang 19

thông tin liên lạc, giáo dục- đào tạo, tư vấn và kinh doanh bất động sản, nhàhàng và khách sạn, dịch vụ tài chính, các ngành nghề khác.

- Phương pháp tổng hợp: sử dụng nghiên cứu lý luận về danh mụccho vay đang được áp dụng tại các nước phát triển, để từ đó hình thành cơ sở lýthuyết cho đề tài

hồi quy dữ liệu dạng bảng không cân bằng (Unblanced Panel Data) Phươngpháp nghiên cứu sử dụng các mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình ảnhhưởng cố định (Fixed Effect Result-FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên(Random Effect Result- REM)

Dữ liệu được thu thập từ các NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ2004- 2014 Dữ liệu về các biến nghiên cứu được thu thập từ cục thống kê, ngânhàng nhà nước, các báo cáo tài chính thường niên của ngân hàng được tính toántrước khi đưa vào mô hình Dữ liệu sau khi được thu thập, sàn lọc và được xử lýbằng phần mềm Eviews để đưa ra kết luận về mối quan hệ cũng như ý nghĩathống kê của các biến

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc xây dựng mônghiên cứu tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của NHTM Hiệntại chưa có bất kỳ một ngân hàng TMCP tại Việt Nam thực hiện việc nghiêncứu này để đánh giá đúng vai trò của danh mục cho vay Đặc biệt là nghiêncứu sẽ giúp cho các ngân hàng đánh giá tác động của danh mục cho vay đếnlợi nhuận như thế nào để từ đó thực hiện việc quản trị danh mục cho vay củangân hàng một cách hiệu quả nhất

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là một tham khảo mang tínhkhoa học giúp các nhà quản trị ngân hàng đánh giá được thực trạng danh mụccho vay tại Việt Nam có xu hướng đa dạng hay tập trung và tác động danhmục cho vay đó đến lợi nhuận của ngân hàng tăng hay giảm Để từ đó đề ra

Trang 20

hiệu quả nhất, có nghĩa là một danh mục cho vay mang lại lợi nhuận cao vớimột mức độ rủi ro ngân hàng có thể chấp nhận được.

1.7 Kết cấu của luận văn:

Luận văn chia làm 5 chương

Chương 1 : Giới thiệu

Chương 2 : Cơ sở lý luận về danh mục cho vay tác động đến lợi nhuận tạiNgân hàng thương mại

Chương 3 : Thực trạng danh mục cho vay và tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 4 : Mô hình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

Chương 5 : Kết luận – Kiến nghị

Trang 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tóm lại, chương 1 của luận văn đã phác họa tổng quan các vấn đề cần giảiquyết và đưa ra giải pháp cho các vấn đề đó Xuyên suốt các phần tiếp theo đâycủa luận văn, tác giả sẽ từng bước đi tìm bằng chứng để trả lời cho các câu hỏiban đầu Cuối cùng, kết cấu của nghiên cứu này cũng được đưa ra, phân định rõràng từng bước đi tiếp theo để đạt được mục tiêu cuối cùng

Trang 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG DANH MỤC CHO VAY ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại

Theo nghiên cứu của Andreas Kamp (University of Munster), Andreas

Pfingsten (Unversity of Munster), Danek Prath (Deutsche Bundesbank) năm 2005

thì danh mục cho vay là một khoản đầu tư vào các tài sản rủi ro mà các biến quansát này không nhất thiết phải trực tiếp được áp dụng bởi vì ngân hàng là trung giantài chính

Theo financial-dictionary “ Danh mục cho vay là các khoản vay đã được thựchiện và đang chờ được chi trả Danh mục cho vay là tài sản chủ yếu của các ngânhàng, quỹ tín dụng, và các tổ chức cho vay khác Giá tri của danh mục cho vaykhông chỉ phụ thuộc vào lãi suất cho vay mà còn phụ thuộc vào giá trị và khả năngchi trả các khoản vay đó.”

Theo bách khoa toàn thư Wikipedia thì danh mục (portfolio) là “ tập hợp cáckhoản đầu tư do cá nhân hay tổ chức nắm giữ bao gồm chứng khoán, trái phiếu,chứng chỉ vàng, bất động sản, hợp đồng tương lai, option…nhằm để giảm thiểu rủi

ro trong đầu tư”

Ngân hàng TMCP là một tổ chức kinh doanh, cung ứng nhiều sản phẩm tàichính tiền tệ, vì vậy danh mục tài sản của các ngân hàng rất phong phú, nhưng vớiđặc thù là trung gian tín dụng, các khoản vay của ngân hàng luôn chiếm một tỷ

Trang 23

trọng lớn trên danh mục cho vay Tại các NHTM ở các quốc gia có thị trường tàichính kém phát triển thì lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng rấtlớn trong tổng lợi nhuận nhưng ngược lại tại các quốc gia có thị trường tài chính lớnmạnh thì tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động cho vay thấp hơn, phần còn lại là lợi nhuận

từ hoạt động thu phí Tuy tỷ trọng lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay tại cácNHTM hiện đại không chiếm ưu thế nhưng đây là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi robởi ngân hàng có đòn bẩy tài chính rất cao, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ các khoản vaykhông hoàn trả được thì có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản Chính vì thếdanh mục cho vay đóng một vai trò quan trọng tại các NHTM

Thông qua các khái niệm của những nghiên cứu trước đây, có thể đưa ra kháiniệm về danh mục cho vay như sau: “Danh mục cho vay là tổng hợp tất cả cáckhoản cho vay của ngân hàng được xây dựng tại một thời điểm nhất định Danhmục cho vay là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân hàng, giá trị của mộtdanh mục cho vay không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận thu được của các khoản vay

mà còn thể hiện ở chất lượng của các khoản vay hay chính là khả năng hoàn trả gốc

và lãi của người đi vay.”

Danh mục cho vay có thể hình thành một cách ngẫu nhiên hay hình thành theo

kế hoạch Danh mục cho vay ngẫu nhiên là danh mục hình thành một cách tự pháttheo nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác là bị thị trường dẫn dắt, ngân hàng ởthế bị động

Danh mục cho vay hình thành theo kế hoạch có nghĩa là một danh mục đãđược định hướng với tỷ trọng các khoản vay được thiết kế ngay từ đầu Ngân hàngchủ động hơn trong việc xét duyệt các khoản vay

2.1.2 Phân loại danh mục cho vay

Theo các nghiên cứu thực nghiệm thì danh mục cho vay ở các ngân hàngtrên thế giới có hai loại, đó là danh mục cho vay tập trung và danh mục cho vayđược đa dạng hóa

- Danh mục cho vay tập trung: là tổng hợp các khoản vay của ngân

hàng tập trung cho một hoặc một vài ngành kinh tế Hiện nay, tại một số quốc

Trang 24

gia các ngân hàng quyết định chuyên môn hóa hoạt động cho vay đến các lĩnhvực mà ngân hàng cho là đem lại lợi nhuận cao nhất Điển hình như bài nghiêncứu của Benjamin

M Tabak, Dimas M Fazio and Daniel O, Cajueiro về tác động danh mục chovay đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng tại Brazil năm 2010 Danh mụccho vay của các ngân hàng tại Brazil được đánh giá là tập trung Bài nghiên cứuđánh giá các ngân hàng nước ngoài có danh mục cho vay tập trung hơn cácngân hàng nhà nước hay ngân hàng tư nhân Điều này được giải thích rằng cácngân hàng nước ngoài đã quen thuộc với các điều kiện kinh tế và tài chính thấpcủa Brazil, và do đó họ hạn chế hoạt động cho vay của mình đến một số lĩnhcực, để được hưởng lợi nhiều hơn từ việc giảm chi phí giám sát

- Danh mục cho vay đa dạng hóa: là tổng hợp các khoản vay của ngân hàng

được đa dạng tại nhiều ngành kinh tế khác nhau Một số quốc gia có những qui định

về việc hạn chế tỷ trọng cho vay của ngân hàng đến một đối tượng cho vay duynhất, họ hướng đến việc đa dang hóa danh mục cho vay [BIS, 1991, Morris, 2001]

Có một số bài nghiên cứu cho thấy danh mục cho vay của các ngân hàng tại một sốquốc gia là đa dạng hóa cao Nghiên cứu của Pfingsten và Rudoiph (2002), hayAndreas Kamp, Danek Prath và Pfingster (2005) về danh mục cho vay của các ngânhàng tại Đức giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2001, dựa trên 16 ngành nghề Kếtquả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng tại Đức có xu hướng phát triển đa dạng hóadanh mục cho vay bắt đầu từ các ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng hợp tác, sau đó lanrộng ra các ngân hàng quy mô nhỏ (ngoại trừ các ngân hàng vùng/địa phương, chinhánh /đại lý của các ngân hàng nước ngoài) Bên cạnh đó, Acharya (2004) nghiêncứu về danh mục cho vay của 105 ngân hàng tại Ý giai đoạn từ năm 1993 đến năm

1999 dựa trên 23 ngành nghề, hay nghiên cứu của Elyasiani và Deng (2004) tại cáccông ty dịch vụ tài chính ở Hoa Kỳ cũng đưa ra kết luận danh mục cho vay đều xuhướng đa dạng hóa cao

Cơ cấu cho vay của ngân hàng là tỷ trọng dư nợ cho vay từng bộ phận trongtổng dư nợ, các bộ phận này được xem xét theo nhiều tiêu chí khác nhau (theo địa

Trang 25

lý, theo kỳ hạn, mục đích, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô, mức rủi ro, ) các bộ phận này tạo thành cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng.

Bảng 2.1: Cơ cấu danh mục cho vay của Ngân hàng Thương mại Khoản mục

1 Danh mục cho vay theo thời hạn

Tổng cộng

2 Danh mục cho vay theo TSBĐ tiền vay

2.1 Cho vay không có TSBĐ

Tổng cộng

3 Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư

3.1 Cho vay sản xuất

- Cho vay nông nghiệp

- Cho vay công nghiệp

- Cho vay thương mại

- Cho vay giao thông vận tải

3.2 Cho vay phi sản xuất

- Cho vay kinh doanh chứng khoán

- Cho vay kinh doanh BĐS

- Cho vay tiêu dùng

Tổng cộng

4 Danh mục cho vay theo loại tiền tệ

Tổng cộng

5 Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng

5.2 Công ty TNHH & Cổ phần

Trang 26

5.6 Cá nhân

Tổng cộng

6 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý

6.1 Khu vực miền Bắc

6.3 Khu vực miền Nam

Tổng cộng

7 Danh mục cho vay theo ngành kinh tế

7.4 Cho vay Xây dựng

Tổng cộng

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

2.1.2.1 Phân loại theo thời hạn cho vay

Đối tượng cho vay của ngân hàng rất đa dạng xuất phát từ mục đích vay vốnphong phú của khách hàng Đối tượng cho vay có thể là nhu cầu vốn lưu động thiếuhụt trong quá trình sản xuất, nhu cầu vốn để mua sắm máy móc thiết bị, xây dựngnhà xưởng… Do mỗi đối tượng cho vay có chu kỳ luân chuyển khác nhau do đó yêucầu thời hạn cho vay khác nhau Nhìn chung thời hạn cho vay tại NHTM thườngđược phân làm ba nhóm là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

 Vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng Cáckhoản cho vay này thường dùng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệphay các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

 Vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 13 đến 60 tháng

Thông thường các khoản vay trung hạn dùng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên, mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng của doanh nghiệphoặc mua sắm tài sản có giá trị lớn của cá nhân

 Vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng Đối

tượng tài trợ của các khoản vay dài hạn cũng giống như các khoản vay trung hạn

Trang 27

Phân loại danh mục cho vay theo thời hạn cấp tín dụng giúp ngân hàng quản

lý được nguồn vốn để đáp ứng qua đó nhằm đảm bảo khả năng thanh toán bởi vốn

dĩ ngân hàng còn phải đối mặt với rủi ro do sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có vàtài sản nợ

2.1.2.2 Phân loại theo tài sản đảm bảo tiền vay

Khi phân loại danh mục cho vay theo tiêu thức là tình trạng bảo đảmtiền vay thì danh mục cho vay có thể được phân thành 2 nhóm là không có tài sảnbảo đảm và có tài sản bảo đảm

 Cho vay không có tài sản bảo đảm: ở các khoản vay không có tài sảnbảo đảm, ngân hàng chỉ dựa vào nguồn thu nợ thứ nhất là dòng tiền từ chính

phương án kinh doanh của khách hàng Những khách hàng được vay không cần tàisản đảm bảo thường là khách hàng có uy tín trong quan hệ tín dụng và phương ánkinh doanh thực sự hiệu quả

 Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Bên cạnh nguồn thu nợ thứ nhất từ

dòng tiền của phương án vay vốn, ngân hàng còn bổ sung nguồn thu nợ thứ hai là từtài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hay tài sản của bên thứ babảo lãnh Ngân hàng cho vay có tài sản bảo đảm đối với khách hàng khi còn nghingờ về thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ từ phương án kinh doanh Bên cạnh đóyêu cầu tài sản đảm bảo còn là cách để hạn chế rủi ro đạo đức (moral hazard) và sựlựa chọn bất lợi (adverse selection), (Huỳnh Thế Du, Nguyễn Minh Kiều, 2008)

2.1.2.3 Phân loại theo lĩnh vực đầu tư

Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư thường được chia thành hai lĩnh vựclớn là lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất Trong đó mỗi lĩnh vực lại chia nhỏthành nhiều loại, trong sản xuất thì có ngành nông nghiệp, công nghiệp, thươngmại…trong phi sản xuất thì có cho vay kinh doanh chứng khoán, bất động sản, chovay tiêu dùng Đây là cách thiết kế danh mục nhằm định hướng đầu tư cho vay theonhững lĩnh vực lớn, phù hợp với sự phát triển trong các giai đoạn khác nhau của nềnkinh tế, đảm bảo tuân thủ theo quy định của luật pháp

Trang 28

2.1.2.4 Danh mục cho vay theo loại tiền tệ

Danh mục cho vay theo loại tiền tệ không những thể hiện quan điểm, địnhhướng của ngân hàng trong việc tìm kiếm thị trường mục tiêu trong - ngoài nước,

mà còn giúp ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro tiềm ẩn khi có sự biến động củađồng ngoại tệ so với nội tệ (Bùi Diệu Anh, 2010)

2.1.2.5 Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng

Mỗi đối tượng khách hàng sẽ có những đặc điểm khác nhau (về cơ cấu tổchức, về năng lực chiu trách nhiệm trước pháp luật…) vì vậy để định hướng choviệc đầu tư an toàn và hiệu quả, các ngân hàng luôn có sự phân chia hợp lý tỷ trọngcác khoản mục cho vay theo đối tượng khách hàng, đảm bảo sự an toàn cần thiết ởgóc độ toàn danh mục (Bùi Diệu Anh, 2010)

2.1.2.6 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý

Việc xây dựng tỷ trọng khoản mục cho vay theo khu vực địa lý thể hiệnquan điểm của ngân hàng trong việc hình thành thị trường mục tiêu, phù hợp vớiđiều kiện về cơ sở vật chất, mạng lưới hoạt động cũng như năng lực kiểm soát củađội ngũ nhân viên cho vay Trong quá trình giám sát danh mục cho vay theo khuvực địa lý, ngân hàng sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư của từng khu vực trong tươngquan so sánh với các khu vực khác, từ đó sẽ đưa ra những điều chỉnh thích hợp, đảmbảo mục tiêu đã hoạch định

2.1.2.7 Danh mục cho vay theo ngành kinh tế

Danh mục cho vay theo tiêu thức này có ý nghĩa rất lớn đối với các ngânhàng thương mại, kể cả khâu hoạch định kế hoạch cũng như trong tổ chức thựchiện Danh mục cho vay theo ngành kinh tế hình thành một định hướng cần thiếtcho quá trình đầu tư tín dụng của ngân hàng Những ngành nào cần tập trung, mởrộng, những ngành nào cần tiết giảm… sẽ được thể hiện thông qua tỷ trọng xác địnhcủa từng ngành trong tổng thể dư nợ của danh mục Danh mục cho vay theo ngànhkinh tế bộc lộ rõ quan điểm của ngân hàng: tập trung vào các lĩnh vực ưu tiênchuyên môn hóa hay là đa dạng hóa cho vay

Trang 29

2.1.3 Thước đo mức độ tập trung

2.1.3.1 Thước đo khoảng cách

Định lượng khoảng cách giữa các danh mục cho vay một nhóm các ngânhàng và danh mục cho vay của thị trường Biện pháp đo lường khoảng cách địnhlượng sự phân kỳ giữa tỷ trọng cho vay của ngân hàng đối với từng ngành kinh tế

(r)và điểm chuẩn (x) của các danh mục cho vay Trong trường hợp này, thành phầncông nghiệp của danh mục cho vay thị trường của nền kinh tế được sử dụng nhưmột điểm chuẩn của đa dạng hóa Vì vậy, tỷ trọng cho vay của ngân hàng (ri) cànggần điểm chuẩn xi cho mỗi ngành i thì NH càng được đa dạng hóa Tính toánkhoảng cách tuyệt đối Da và tương đối Dr, như sau:

Da(r, x)bt = ½ |rbti − xbti|

Dr(r, x)bt = 1/n

Có nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn sử dụng thước đo khoảng cách này nhưPfingsten và Rudolph (2002), Andreas Kamp, Danek Prath (2005), BenjaminM.Tabak, Dimas M Fazio and Daniel O Cajueiro (2010) Pfingsten và Rudolph(2002) là một trong những người đầu tiên sử dụng các phương pháp đo lườngkhoảng cách để đo lường mức độ tập trung Họ cho rằng các phương pháp đo lườngkhoảng cách có nhiều ưu điểm hơn các phương pháp đo lường truyền thống, mộttrong các ưu điểm đó là sự khác nhau về quy mô của từng ngành Chúng ta có thể dễdàng tính toán và không cần thu thập thêm dữ liệu bổ sung

2.1.3.2 Thước đo SE (Shannon Entropy)

Shannon Entropy là một công cụ hiệu quả để chỉ ra các cách phân phối khácnhau tại một thời điểm nhất định, và cũng được sử dụng để đo lường sự tập trungcông nghiệp Entropy này được tính như sau:

SE bt = - bti ln(1/r bti )

Nếu SE = 0, danh mục cho vay là cực kỳ tập trung (chỉ cho một khách hàngvay) Ta có đa dạng hóa hoàn hảo khi SE bằng -ln(n)

Trang 30

2.1.3.3 Chỉ số Hirschman-Herfindahl Index (HHI)

Chỉ số HHI được tính được tính bằng tổng bình phương của các tỷ trọng cho vay.HHI của ngân hàng tại thời điểm t có thể được tính như sau:

HHI bt = 2 bt

Với tỷ trọng cho vay của ngân hàng tại thời điểm t cho từng ngành kinh tế i

(r bti) như sau:

Lưu ý giới hạn dưới của HHI là 1/n, thể hiện một danh mục được đa dạnghóa hoàn hảo, có nghĩa là tỷ lệ rủi ro là như nhau với từng lĩnh vực Mặt khác, nếuHHI bằng 1, thì tất cả các khoản vay chỉ được trao cho một ngành, tức là chuyênmôn hóa hoàn hảo Một ưu điểm của chỉ số này là giá trị càng cao thì mức độ tậptrung càng cao

Chỉ số HHI được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường mức độ tập trung củamột danh mục cho vay như Andreas Kamp, Danek Prath (2005), BenjaminM.Tabak, Dimas M Fazio and Daniel O Cajueiro (2010), Acharya (2004),Elyasiani và Deng (2004) Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu Andreas Kamp, DanekPrath , Pfingsten (2005) cho rằng biện pháp khoảng cách là một phương pháp tốt đểđịnh lượng đa dạng hóa hơn so với chỉ số HHI bởi vì có sự so sánh giữa danh mụccho vay của ngân hàng so với danh mục cho vay của thị trường

2.2 Cơ sở lý luận về lợi nhuận của ngân hàng thương mại

Trang 31

2.2.1.1 Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận ròng của ngân hàngMức lợi nhuận tuyệt đối

Mức lợi nhuận tuyệt đối gồm

- Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp và lãi vay

- Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp

- Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (hay còn gọi là lợi nhuận ròng) Tuy nhiên, khi so sánh chất lượng hoạt động kinh doanh chỉ tiêu lợi nhuậntuyệt đối ít được sử dụng, mà nhà quản trị tài chính thường quan tâm hơn tới chỉtiêu về mức lợi nhuận tương đối (chính là tỷ suất lợi nhuận )

2.2.1.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE- Return on equity)

ROE được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu

Số liệu về lợi nhuận ròng được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, còn chỉ tiêu tổngtài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán thường niên của các ngân hàng Chỉ tiêuROE thể hiện tính hiệu quả của việc sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng Kếtquả chỉ tiêu ROE cho biết bình quân cứ một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì thu vềđược bao nhiêu đồng lợi nhuận Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì sử dụng vốncàng có hiệu quả Các loại cổ phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư ưachuộng, do đó chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định của các nhà đầutư

2.2.2.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA: Return on asset)

ROA được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận ròng trên bình quân tổngtài sản Số liệu về lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh cònchỉ tiêu tổng tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán thường niên của các ngânhàng Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt độngsản xuất kinh doanh của ngân hàng Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một

Trang 32

đồng tài sản được sử dụng trong quá trình kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêuđồng lợi nhuận.

2.3 Cơ cấu rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng thương mại

- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tàichính, tiền tệ - một lĩnh vực đa dạng và có độ nhạy cảm cao, nên rủi ro trongkinh doanh ngân hàng rất đa dạng Rủi ro có thể phát sinh từ bất kỳ giao dịchhoặc hoạt động kinh doanh nào có chứa đựng yếu tố không chắc chắn Trong khimọi giao dịch / hoạt động của ngân hàng đều tiềm ẩn một mức độ nhất định củayếu tố không chắc chắn Do vậy, tất cả các giao dịch/ hoạt động mà ngân hàngthực hiện đều góp phần hình thành nên rủi ro tổng thể của ngân hàng

- Trong các loại rủi ro của kinh doanh ngân hàng, rủi ro của hoạt độngcho vay được xem là loại rủi ro chính yếu, xuất phát từ vị trí quan trọng của cho vay trong tổng tài sản cũng như trong nguồn lợi nhuận thu được từ cho vay

- Về cấu trúc thành phần, rủi ro của hoạt động cho vay có thể được chiathành hai loại căn bản: rủi ro giao dịch cho vay và rủi ro danh mục cho vay Rủi

ro giao dịch liên quan đến sự hoàn trả của từng giao dịch cho vay cá biệt, còn rủi

ro danh mục là rủi ro gắn liền với một danh mục cho vay đang hiện hữu củangân hàng thương mại Rủi ro danh mục bao gồm hai thành phần là rủi ro nội tại

và rủi ro tập trung như phân tích dưới đây:

2.3.1 Rủi ro nội tại

Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngànhkinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng Chẳng hạn cho vay ngành nôngnghiệp có thể gặp phải rủi ro xuất phát từ thiên tai bất khả kháng, cho vay ngànhcông nghiệp có thể gặp phải tình trạng sản xuất thừa, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp,hàng hóa bán không được Có thể nói rủi ro nội tại rất đa dạng phong phú và cótính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó thuộc về bản tính vốn có của đối tượng màngân hàng đầu tư Các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ đó hạnchế nó mà thôi Việc thẩm định kỹ lưỡng, quyết định cho vay chính xác, tránh chovay đối với những chủ thể /ngành/ hình thức cho vay có độ rủi ro nội tại cao, quan

Trang 33

tâm cho vay nhiều hơn với những đối tượng có độ rủi ro nội tại thấp, có thể giúpngân hàng tăng mức độ an toàn cho danh mục cho vay của mình.

2.3.2 Rủi ro tập trung

Đây là loại rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh mục cho vay củangân hàng, đi ngược lại nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền tệ Đánhgiá về tầm quan trọng của rủi ro tập trung, ủy ban Basel về giám sát ngân hàng(Basel Committee on Banking Supervision) nhận định “Hoạt động cho vay là hoạtđộng cơ bản của hầu hết các ngân hàng nên rủi ro tập trung trên danh mục cho vaycũng là loại rủi ro cơ bản nhất trong phạm vi một ngân hàng”

Theo định nghĩa của Ủy ban Basel “rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro đơn lẻhoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đến mức vốn củangân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng

Hình 2.1: Cơ cấu các loại rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM

Nguồn: Tham khảo từ sách Quản trị Ngân hàng

Trang 34

2.4 Tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của ngân hàng

- Lý thuyết ngân hàng truyền thống cho rằng các ngân hàng cần đa dạng danh mụcđầu tư cho vay của họ, thông qua việc mở rộng những sản phẩm cho vay của họ đếnnhững lĩnh vực mới, lúc này xác suất vỡ nợ của ngân hàng sẽ được giảm đi.[Diamond, 1984] Diamond cho thấy rằng sự đa dạng hóa cho phép giảm thiểu rủi

ro ngân hàng, rủi ro gánh chịu bởi người gửi tiền và chi phí giám sát ngân hàng Ýtưởng là do thông tin bất cân xứng, đa dạng hóa làm giảm chi phí trung gian tàichính Hơn nữa, các ngân hàng ít đa dạng sẽ dễ bị tổn thương khi suy thoái kinh tếbởi vì họ chỉ được tiếp cận với vài lĩnh vực Nhiều cuộc khủng hoảng ngân hàngtrong 25 năm qua xảy ra, trong số những lý do khác, danh mục cho vay tập trungcủa ngân hàng hỗ trợ quan điểm cho rằng rủi ro là rất cao khi sử dụng chiến lượcnày [BIS,1991] Quan điểm này cũng được chứng minh thực nghiệm bởi các ngânhàng Argentinean về cuộc khủng hoảng tài chính Argentina năm 2001 và 2002[Bebczuck và Galindo, 2008] và của các ngân hàng Austrian trong những năm qua1997-2003 [Rossi et al., 2009]

-Mặt khác, lý thuyết tài chính doanh nghiệp hỗ trợ ý tưởng rằng các công ty nên tậptrung hoạt động của mình trên một lĩnh vực cụ thể hoặc nhóm ngành để có lợi íchcủa chuyên môn hóa khi kinh doanh trong các lĩnh vực này (Jensen, 1986, Denisetal., 1997, Meyer and yeager, 2001, Stomper, 2004, Acharya et al., 2004)

Một lập luận phản đối cho rằng đa dạng hóa danh mục cho vay có thể dẫn đến tăng

sự cạnh tranh với các ngân hàng khác, làm cho chiến lược này kém hấp dẫn Đặcbiệt, Winton (1999) bảo vệ quan điểm cho rằng đa dạng hóa chỉ làm giảm sự thấtbại của ngân hàng trong trường hợp rủi ro vỡ nợ mặc định Khi các rủi ro thấp, ngânhàng có thể hưởng lợi nhiều hơn từ việc chuyên môn hóa hơn từ đa dạng hóa vì khảnăng thất bại thấp Ngược lại, khi xác suất không trả được nợ cao, đa dạng hóa thậmchí có thể làm trầm trọng thêm tình hình vì các ngân hàng sẽ được tiếp cận vớinhiều lĩnh vực và sự suy thoái của một lĩnh vực cũng có thể đủ để dẫn ngân hàngnày đến phá sản Theo nghiên cứu của Acharya (2004) về tác động của danh mụccho vay đến các ngân hàng tại Ý đã nhận xét rằng đa dạng hóa làm suy giảm lợi

Trang 35

nhuận và có nguy cơ làm tăng rủi ro Việc đa dạng hóa có ảnh hưởng tích cực đếncác ngân hàng có rủi ro vừa phải nhưng làm giảm lợi nhuận của các ngân hàng đặctrưng có rủi ro cao Acharya đã kết luận rằng “Đa dạng hóa không đảm bảo làm tănglợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng”.

Đồng quan điểm với Acharya, một nghiên cứu của Elyasiani và Deng (2004) về tácđộng của đa dạng hóa của các công ty dịch vụ tài chính tại Hoa Kỳ cũng kết luận đadạng hóa dẫn tới sự suy giảm lợi nhuận cũng như giảm thu nhập, vấn đề đa dạnghóa là một câu hỏi điển hình của sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận

Bên cạnh đó, Benjamin M Tabak, Dimas M.Fazio and Daniel O.Cajueiro (2010)cũng đưa ra kết luận danh mục cho vay tập trung dường như cải thiện hiệu suất củacác ngân hàng Brazil trong lợi nhuận và rủi ro vỡ nợ Chỉ số đo lường mức độ tậptrung có tác động tích cực đến lợi nhuận và tiêu cực đến rủi ro Lý do là tập trung

dư nợ cho vay tăng hiệu quả giám sát khi các ngân hàng chuyên môn hóa trong cáclĩnh vực mà họ cho vay Đa dạng hóa làm giảm hiệu quả này vì nó gây khó khănhơn cho các ngân hàng trong việc theo dõi khách hàng tín dụng của họ, đồng thờicác ngân hàng cũng có thể đối mặt với việc cạnh trên với các ngân hàng khác

Vì vậy, kết luận chung là mối quan hệ giữa danh mục cho vay của ngân hàng và lợinhuận là mối quan hệ phi tuyến tính trong rủi ro ngân hàng (Đảo ngược hình chữU) Để được chính xác, đa dạng hóa các ngành vay giúp lợi nhuận của ngân hàngcao nhất khi các khoản vay có tiếp xúc vừa phải với suy thoái ngành (rủi ro giảmgiá); khi các khoản vay có rủi ro đi xuống thấp, đa dạng hóa có lợi ích rất ít, khi cáckhoản vay có rủi ro giảm giá đủ cao, đa dạng hóa thực sự có thể làm giảm lợi nhuậncủa mình

2.5 Tác động của danh mục cho vay đến rủi ro

Trong lý thuyết về danh mục hiện đại, sự đa dạng hóa được xem là chìa khóa quantrọng để giảm thiểu rủi ro tập trung Đa dạng hóa phải thỏa mãn hai điều kiện cơbản:

Trang 36

Thứ nhất danh mục bao gồm một số lượng lớn những khoản vay có giá trị tương đối

nhỏ, sao cho biến cố rủi ro nếu xảy ra thì tổn thất mà một khoản vay mang lại khôngtác động quá lớn đến giá trị danh mục

Thứ hai những khoản vay trên danh mục phải có tính độc lập, ít phụ thuộc với nhau,

tức là khả năng vỡ nợ của một khoản vay trên danh mục không ảnh hưởng tới khảnăng vỡ nợ của các khoản vay còn lại

Có thể thấy rằng, hạn chế rủi ro giao dịch là công việc bắt buộc của tất cả các ngânhàng trong quá trình cho vay, nhằm giảm thiểu hiện tượng không thu hồi được gốc

và lãi của từng khoản cho vay Tuy nhiên đứng ở góc độ toàn danh mục cho vay, rủi

ro danh mục không chỉ phụ thuộc vào rủi ro cá biệt của từng khoản vay với tư cáchtồn tại độc lập mà còn phụ thuộc vào sự tương quan giữa các khoản cho vay trêndanh mục Độ tương quan giữa các khoản vay trên danh mục càng cao, thì mức độrủi ro của sự tập trung càng lớn, khả năng tổn thất xảy ra có thể đem lại hậu quả hếtsức nặng nề cho ngân hàng Do vậy trong hoạt động cho vay, bên cạnh rủi ro giaodịch các ngân hàng thương mại đồng thời phải quan tâm đến rủi ro danh mục chovay

Vào những năm đầu thập niên 90 tại nhiều quốc gia trên thế giới, xuất hiện nhiềubài nghiên cứu, các cuộc hội thảo khoa học về tác động của chiến lược tập trunghoặc đa dạng hóa trên danh mục cho vay đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàngthương mại Đã có nhiều cuộc khảo sát trên bình diện rộng diễn ra tại các quốc gianhư Úc, Đức, Mỹ … liên quan đến vấn đề này

Tại Úc cũng có tình trạng tương tự như tại Đức: xuất hiện những cuộc tranh luậnkhoa học kéo theo sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản trịngân hàng Trong số các nghiên cứu đó, nổi bật là của nhóm tác giả Stefania P.S.Rossi, Markus S Schwaiger, Gerhard Winkler năm 2009 Nhóm này đã sử dụng các

mô hình toán để kiểm chứng các giả thuyết liên quan đến mức độ ảnh hưởng của đadạng hóa trên danh mục cho vay của ngân hàng đối với rủi ro, hiệu quả hoạt động

và mức độ vốn hóa tại các ngân hàng thương mại Úc Đối tượng khảo sát là 96 ngânhàng thương mại lớn nhất nước Úc (xét theo quy mô tài sản) trong vòng 7 năm từ

Trang 37

1997 - 2003 Kết luận công bố sau nghiên cứu cho thấy những lợi ích rõ rệt của việc

đa dạng hóa danh mục cho vay đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cụ thể đadạng hóa (nhất là đa dạng về ngành nghề cho vay) sẽ làm giảm dự phòng nợ xấutrong tương lai, đồng thời ngân hàng có thể hoạt động với mức vốn thấp hơn, từ đógiảm chi phí, tiết kiệm nguồn lực, gia tăng hiệu quả lợi nhuận cho ngân hàng Theonghiên cứu này, các ngân hàng Úc nhất trí rằng quản trị danh mục yếu kém lànguyên nhân chính làm giảm chất lượng danh mục cho vay Từ đó các ngân hàngcho rằng cần phải áp dụng biện pháp đa dạng hoá trong quản trị danh mục, đặc biệtviệc tăng cường giám sát theo ủy ban Basel (thông qua các tiêu chuẩn an toàn cũngnhư quy trình giám sát) là điều kiện hết sức cần thiết để quản trị thành công danhmục cho vay tại các ngân hàng

2.6 Mô hình tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận

Nhiều bài nghiên cứu, các cuộc hội thảo khoa học đã sử dụng mô hình hồiquy để phân tích tác động của chiến lược tập trung hoặc đa dạng hóa trên danh mụccho vay đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Điển hình là haibài nghiên cứu dưới đây về tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận của cácngân hàng tại Ý và Brazil

2.6.1 Mô hình hồi quy của Acharya et al (2004)

Acharya et al (2004) “Should Banks Be Diversified? EvidencefromIndividual Bank Loan Portfolios” phân tích những tác động của đa dạng hóadanh mục cho vay đến rủi ro và lợi nhuận Họ phân tích 105 ngân hàng Ý trong giaiđoạn từ năm 1993 đến năm 1999 dựa trên 23 ngành nghề là: (1) Nông nghiệp, Lâmnghiệp, và các thủy sản, (2) các sản phẩm năng lượng, (3) Sắt và phi sắt Chất liệu vàquặng, (4) Quặng và các sản phẩm dựa trên khoáng sản không kim loại, (5) Hóachất, (6) Sản phẩm kim loại, ngoài máy móc, phương tiện vận chuyển, (7) Nôngnghiệp và máy móc công nghiệp, (8) Văn phòng, EDP Máy móc, và những ngườikhác, (9) vật liệu điện, (10) Giao thông vận tải, (11) Thực phẩm sản phẩm, đồ uống,

và thuốc lá dựa trên sản phẩm, (12) Dệt may, da, giày, và các sản phẩm may mặc,(13) giấy, xuất bản, và các sản phẩm in ấn, (14) Cao su và các sản phẩm nhựa, (15)

Trang 38

sản phẩm công nghiệp khác, ( 16) Xây dựng (17) Dịch vụ thương mại và tương tự,

(18)Khách sạn và các công ty công, (19) Dịch vụ vận chuyển nội bộ, (20) Đườngbiển và hàng không, (21) Dịch vụ vận tải liên quan, (22) Dịch vụ truyền thông, và

(23) Kinh doanh dịch vụ liên quan khác

Bài nghiên cứu này, Acharya sử dụng chỉ số Hirschman-Herfindahl Index

(HHI), để tính toán mức độ đa dạng hóa của ngành công nghiệp Các HHI côngnghiệp (I-HHI) là tổng các bình phương của tỷ trọng theo phân loại cho các ngànhkinh doanh

Tác động của việc đa dạng hóa đến lợi nhuận và rủi ro được phân tích bằngcách sử dụng mô hình hồi quy Trong đó,

Return= αi0 + α1 ∗ I–HHIit−1 + α2 ∗ A–HHIit−1 + ∑1999 X s=1995 κsTIMEs + it (1)

Return đại diện bởi chỉ số ROA (return on asset) và SR ( Stock return)

Bài nghiên cứu phân tích tác động của danh mục cho vay đến lợi nhuận bằngcách phân tích hồi quy Trong phân tích hồi quy, với lợi nhuận ngân hàng là biến

phụ thuộc, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tổi thiểu tổng quát

khả thi (Feasible Generalized Least Squares, FGLS) Những ưu điểm của mô

hình này là cho phép hiện tượng phương sai thay đổi và hệ số tự tương quan bậc

Trang 39

nhất (first order autocorrelation) Điều này là do phương sai thay đổi giữa các nhóm

và phương sai không đổi trong nhóm, đây chính xác là một trong các giả định của

mô hình FGLS Kiểm tra giả thuyết này bằng cách sử dụng kiểm định Wald đượcsửa đổi với giả thuyết không (H0) là không có hiện tượng phương sai thay đổi Nếugiả thuyết bị bác bỏ, chúng ta có thể kết luận rằng mô hình FGLS có kết quả tốt

Câu hỏi cơ bản nhất liên quan đến chủ đề này là liệu rằng mức độ tập trungdanh mục cho vay có làm tăng lợi nhuận hay không Nó có thể được trả lời bằngcách dùng phương pháp đo lường mức độ tập trung để hồi quy lợi nhuận,như trongphương trình hồi quysau:

- CMbt-1, một cách riêng biệt, là một trong những biện pháp đo lường mức

độ tập trung đã được giải thích trước đó của NH b tại thời điểm t;

- tlà biến giảthời gian.Biến giảthời gianđược thểhiệncác điều kiện kinh

tế vĩ mô của Brazil trong từng thời kỳ phân tích

- bt là giá trị còn lại

Nếu 1>0, lợi nhuận ngân hàng cao hơn nếu danh mục cho vay tập trung và

chuyên môn hóa Nếu không, 1<0 có nghĩa là lợi nhuận ngân hàng cao hơn nếu danh mục cho vay đa dạng giữa các ngành.Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong trường hợp này không kiểm soát rủi ro trong hồi quy.

Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng quan tâm kiểm tra xem kiểm soát quyền sởhữu có ảnh hưởng đến kết quả về mối quan hệ giữa mức độ tập trung danh mục chovay và lợi nhuận Do đó, bài nghiên cứu đã ước tính phương trình thể hiện ảnh

Trang 40

hưởng của mức độ tập trung của danh mục cho vay và lợi nhuận từ một mô hình baogồm các tương tác của các biện pháp đo lường mức độ tập trungvới hai biến giả,như trong phương trình sau:

Return bt = β b0 + β 1. CM bt-1 j. CM bt-1 Owner Dummy j +µ V bt-1

Trong đó j thể hiện loại hình sở hữu ngân hàng: ngân hàng thuộc sở hữu nhà

nước, ngân hàng tư nhân hoặc ngân hàng nước ngoài.

Các bài nghiên cứu trên thế giới về tác động danh mục cho vay đến lợi nhuận củangân hàng đều sử dụng mô hình hồi quy để phân tích Trong số 3 mô hình hồi quy

đã đề cập như trên (mô hình (1), (2), (3)), thì mô hình hồi quy số (3) đề cập đến loạihình sở hữu của ngân hàng Đây là mô hình phân tích đầy đủ nhất tác động của danhmục cho vay đến các loại hình sở hữu ngân hàng Tuy nhiên, tại Việt Nam việc thuthập dữ liệu khó khăn nên tác giả lựa chọn mô hình hồi quy loại bỏ biến sở hữungân hàng

Ngày đăng: 01/10/2020, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w