1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mức độ truyền dẫn lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương TP HCM

143 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 677,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết thúc năm 2013 nền kinh tếViệt Nam đã dần đi vào ổn định, vấn đề lạm pháp được kiểm soát, tuy nhiên nền kinh tế vẫn đang phảiđối mặt với những khó khăn và thách thức như tỷ lệ tăng tr

Trang 1

ĐOÀN DUY KHÁNH

MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG

TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp.Hồ Chí Minh, năm 2014

Trang 2

-ĐOÀN DUY KHÁNH

MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG

TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hoàng Ngân

Tp.Hồ Chí Minh, năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý thuyết của truyền dẫn lãi suất 5

1.1.1 Lập luận của Taylor về cách tính lãi suất danh nghĩa 5

1.1.2 Các khái niệm truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất 6

1.1.3 Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ 6

1.2 Tổng quan về lãi suất cơ bản 10

1.2.1 Lãi suất cơ bản ở Việt Nam 10

1.2.2 Lãi suất cơ bản tại một số quốc gia trên thế giới 11

1.3 Cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Nam 13

1.4 Mối quan hệ truyền dẫn giữa lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay 14

Trang 4

Tóm tắt chương 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN VÀ MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ LÃI SUẤT TIỀN GỬI, LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 23

2.1 Dữ liệu nghiên cứu 25

2.2 Diễn biến lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2007-2013 25 2.3 Diễn biến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với lãi suất cơ bản 28

2.4 Phân tích thống kê mô tả mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản, lãi suất huy động và cho vay 31

2.5 Diễn biến lãi suất huy động và cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với trần lãi suất huy động 35

2.6 Diễn biến lãi suất huy động và cho vay của Vietcombank trong mối tương quan với lãi suất tái chiết khấu 39

Tóm tắt chương 2 43

CHƯƠNG 3: ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 44

3.1 Mô hình nghiên cứu 44

3.1.1 Kiểm định tính dừng và xác định bậc tích hợp 47

3.1.2 Kiểm định đồng liên kết 51

3.1.3 Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình 55

3.2 Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản 55

Trang 5

3.3.1 Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong dài hạn 62

3.3.2 Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong ngắn hạn 63

Tóm tắt chương 3 64

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

CVNH : Lãi suất cho vay ngắn hạn

CVTDH : Lãi suất cho vay trung dài hạn

OLS (Ordinary least square): Phương pháp bình phương bé nhất

PP (Phillips Perron): Kiểm định tính dừng theo phương pháp PP

TG12T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng

TG18T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 18 tháng

TG1T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng

TG24T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 tháng

TG6T : Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng

Vietcombank : Ngân hàng TCMP Ngoại Thương Việt Nam

DANH MỤC CÁC BẢNG

- -

Kết quả

Trang 7

suất cho vay

Ma trận tương

quan giữa lãi

suất cơ bản,

lãi suất tiền

gửi và lãi suất

Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản trong dài hạn

Kế quả truyền dẫn lãi suất cơ bản trong ngắn hạn Kết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong dài hạnKết quả truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu trong ngắn hạn

Trang31334950535555586263

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với trần lãi suất huy động

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với lãi suất tái chiết khấu

Trang21222933

Hình 2.1 Hình 2.2

Hình 2.3

Hình 2.4

Trang 8

CÁC HÌNH

VẼ Biến động lãi suất cơ bản

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với lãi suất cơ bản

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với trần lãi suất huy động

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với lãi suất tái chiết khấu

Trang27283641

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với trần lãi suất huy động

Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan với lãi suất tái chiết khấu

Trang21222933

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã có những tác động tiêu cựcđến nền kinh tế Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn trong nhữngnăm qua như: Hàng tồn kho tăng cao, thị trường bất động sản đóng băng, hệ thống ngânhàng gặp khó khăn về thanh khoản và tỷ nợ xấu tăng cao Kết thúc năm 2013 nền kinh tếViệt Nam đã dần đi vào ổn

định, vấn đề lạm pháp được kiểm soát, tuy nhiên nền kinh tế vẫn đang phảiđối mặt với những khó khăn và thách thức như tỷ lệ tăng trưởng GDP cònthấp (năm 2013 khoảng 5,42%), vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế chưa đạt yêucầu, hàng loạt doanh nghiệp đóng cửa ngừng hoạt động, tăng trưởng tín dụngkhông đạt mục tiêu (12%), hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thấp.Nổi bậc là việc điều hành chính sách lãi suất linh hoạt của ngân hàng nhànước nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát hay hỗ trợ sản xuất nhằm phục hồităng trưởng, tuy nhiên thời gian qua lãi suất huy động và cho vay trên thịtrường tiền tệ đã có những biến động hết sức phức tạp, cụ thể là vào nhữngtháng cuối năm 2008 ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắtchặt nhằm chống lạm phát, do đó ngân hàng nhà nước đã nâng lãi suất cơ bảnlên mức 14%/năm, một số ngân hàng thương mại đã lách luật đẩy lãi suấthuy động lên mức từ 17,5%/năm đến 20%/năm, lãi suất cho vay ở mức từ25%/năm đến 27%/năm, hay vào những tháng giữa năm 2011 khi lạm phát

có dấu hiệu quay trở lại ngân hàng nhà nước đã qui định mức trần lãi suấthuy động là 14%/năm, một số ngân hàng thương mại gặp khó khăn về thanhkhoản đã phá rào trần lãi suất huy động bằng mọi cách như chi hoa hồng, chitiền mặt ngoài sổ sách, nhận ủy thác đầu tư trá hình…Đặc biệt là vào nhữngtháng cuối năm 2013 nổi lên vấn đề một số ngân hàng thương mại cho vayvới mức lãi suất thấp hơn lãi suất huy động

- Với tình hình nền kinh tế Việt Nam như nay nay, việc hoạch định cơ chế điềuhành chính sách tiền tệ hợp lý sẽ có những tác động tích cực đến nền

Trang 10

kinh tế Lãi suất là một công cụ đặt biệt quan trong trong việc thực thi chínhsách tiền tệ Lãi suất vừa là công cụ điều tiết vừa được xem như yếu tố pháttín hiệu định hướng thị trường Sự biến động của lãi suất thị trường tác độngđến quá trình lưu thông và phân bổ vốn đến với các chủ thể của nền kinh Lãisuất hiện là một chỉ báo kinh tế quan trọng luôn thu hút sự quan tâm củacộng đồng doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

- Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ nóichung tuy nhiên vấn đề truyền dẫn lãi suất cơ bản đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vaytại các ngân hàng thương mại chưa thu hút được sự quan tâm nghiên cứu trong thời gianqua Dựa trên bài nghiên cứu của nhóm 3 tác giả Ming Hua Liu - Dimitri Margaritis vàAlireza Tourani Rad (2005) về tính minh bạch của chính sách tiền tệ và cơ chế dẫntruyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường và lãi suất tiền gửi-tiền vay tại NewZealand giai đoạn 1994-2004, tác giả thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm về mức độtruyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất chovay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) nhằm mục đích tìmhiểu sâu hơn về cơ chế truyền dẫn lãi suất và góp phần có thêm những nghiên cứu thựcnghiệm vấn đề này cũng như đưa những kiến nghị nhằm nhằm nâng cao tính hiệu quảcủa truyền dẫn lãi suất tại Vietcombank

- Bên cạnh đó, trong bài luận văn này tác giả cũng đo lường thêm mức độtruyền dẫn lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng nhà nước làm cơ sở để so sánh, đánh giávới mức độ truyền dẫn của lãi suất cơ bản Ngoài ra tác giả còn phân tích đánh giá hiệuquả của cơ chế điều hành trần lãi suất huy động của Ngân hàng nhà nước trong thời gianqua Vì cơ chế điều hành trần lãi suất huy động được xem như sự tiếp nối của cơ chế điềuhành lãi suất cơ bản

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu rõ về cơ chế truyền dẫn từ lãi suất cơ bản vào lãi suất tiền gửi và lãisuất cho vay tại các ngân hàng thương mại

Trang 11

- Đo lường mức độ và phân tích kết quả truyền dẫn lãi suất trong ngắn hạn, trung và dài hạn tại Vietcombank.

- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị về chính sách điều hành lãisuất và một số kiến nghị đối với Vietcombank nhằm nâng cao tính hiệu quả của truyềndẫn lãi suất cũng như hiệu quả hoạt động của Vietcombank

3 Câu hỏi nghiên cứu:

- Cơ chế truyền dẫn từ lãi suất cơ bản vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại hiện nay như thế nào?

- Diễn biến thực trạng lãi suất cơ bản, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Vietcombank thời gian qua ra sao?

- Mức độ truyền dẫn và chiều hướng tác động của lãi suất cơ bản đến lãi suấttiền gửi và lãi suất cho vay trong ngắn hạn, trung dài hạn tại Vietcombank như thế nào?

4 Đối tượng nghiên cứu

- Lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam

- Lãi suất tái chiết khấu chiết khấu của NHNN Việt Nam

- Trần lãi suất huy động của NHNN Việt Nam

- Lãi suất tiền gửi các kỳ hạn tại Vietcombank

- Lãi suất cho vay ngắn hạn, trung dài hạn tại Vietcombank

6 Phương pháp nghiên cứu

- Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định nghiệm đơn

vị, kiểm định đồng liên kết Johansen, chạy mô hình hình ECM (mô hình hiệu

Trang 12

chỉnh sai số) để đo lường mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn, chạy mô hình hồi quy OLS để đo lường mức độ truyền dẫn trong dài hạn.

7 Kết cấu luận văn

Luận văn được kết cấu như sau:

- Chương 3: Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhànước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại

Thương Việt Nam

- Phần kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI

VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý thuyết của truyền dẫn lãi suất

1.1.1 Lập luận của Taylor 1 về cách tính lãi suất danh nghĩa

Một trong những lý thuyết để tính toán lãi suất được đưa ra bởi nhà kinh tếhọc John Taylor Ông đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp vớiđiều kiện tăng trưởng và lạm phát Theo đó các ngân hàng xác định lãi suấttrong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được mục tiêu là ổnđịnh kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn.Khi chínhsách tiền tệ phản ứng đủ mạnh với lạm phát, sự cân bằng của nền kinh tế dầnđược xác định Lãi suất danh nghĩa cần được điều chỉnh đủ lớn với một sựgia tăng trong lạm phát nhằm làm tăng lãi suất thực, do đó lãi suất danhnghĩa phải được điều chỉnh ít nhất là bằng với thay đổi trong tỷ lệ lạm phát(kỳ vọng), nhằm xác định được sự cân bằng nền kinh tế một cách ổn định.Nếu lãi suất danh nghĩa điều chỉnh không đủ lớn thì kỳ vọng về lạm phát giatăng dẫn đến lãi suất thực giảm lúc đó nền kinh tế sẽ biến động và không đạtđược trạng thái cân bằng xác định, xuất phát từ hiệu ứng “tự đáp ứng cácthay đổi kỳ vọng” (self-fulfilling revisions in expectations) Lãi suất giảm sẽlàm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư và tiêu dùng qua đólàm tăng tổng cầu, tổng cầu tăng sẽ làm lạm phát thực tế tăng theo Nguyêntắc Taylor được mô phỏng theo phương trình

it = πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:t+ r*t + aπt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó: (πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:t + πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:t*) + ay (yt - yt*) Trong đó:

_

(1) Dựa theo bài nghiên cứu: Woodford (2003), Interest and prices: Foundations of a theory of monetary policy;Stability, Claudia Kwapil and Johann Scharler, (2006) Interest Rate Pass- Through, Monetary Policy Rules and MacroeconomicStability

Trang 14

it: Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu của Ngân hàng trung ương πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:t: tỷ lệlạm phát thực tế.

r*t: Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường

πt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:t*: Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của Ngân hàng trung ương yt: logarit của tổngsản lượng GDP thực tế

yt*: Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng

aπt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:> 0 và ay> 0, theo Taylor thì aπt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó: = ay = 0.5

Nguyên tắc Taylor hướng dẫn rằng nếu lạm phát tăng 1% thì đòi hỏi Ngânhàng trung ương phải tăng lãi suất danh nghĩa hơn 1% (cụ thể, bằng 1 + aπt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:),

aπt+ r*t + aπ (πt + πt*) + ay (yt - yt*) Trong đó:> 0 có nghĩa khi lạm phát tăng thì lãi suất thực tăng lên để làm giảm bớtnền kinh tế đang tăng trưởng nóng có lạm phát cao, để làm được điều này thìlãi suất phải tăng cao hơn lạm ngược lại đối với trường hợp nền kinh tế suythoái, giảm phát

1.1.2 Các khái niệm truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất

Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập đến trong nhiều lý thuyết kinh tếtrong nhiều năm qua Việc định nghĩa “quá trình truyền dẫn lãi suất” trongnền kinh tế, nhìn chung, nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của các nhànghiên cứu trên thế giới Trong nghiên cứu này, quá trình truyền dẫn lãi suấtđược định nghĩa theo Qayyum và Khawaya (2005) là quá trình mà trong đólãi suất bán lẻ (lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi) của các ngân hàng điềuchỉnh trước sự thay đổi của lãi suất chính sách hay lãi suất thị trường tiền tệ,quá trình này gồm hai yếu tố đặc trưng là mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãisuất bán lẻ

Khái niệm “mức truyền dẫn hoàn toàn” hàm ý rằng khi lãi suất chính sáchtăng lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm thì lãi suất bán lẻ cũng tăng lên(hay giảm đi) bấy nhiêu phần trăm Tương tự, thuật ngữ “mức truyền dẫn

Trang 15

không hoàn toàn” hàm ý rằng lãi suất bán lẻ thay đổi một lượng ít hơn so với

sự thay đổi của lãi suất chính sách

1.1.3 Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ

Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ được định nghĩa là tác động củanhững thay đổi trong các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng trungương đến thay đổi trong mức giá và sản lượng một quốc gia Có nhiều quanđiểm khác nhau về cách thức phân chia các kênh truyền dẫn của chính sáchtiền tệ Theo Mishkin (1996), có ba kênh truyền dẫn cơ bản của chính sáchtiền tệ: kênh lãi suất truyền thống, kênh giá tài sản và kênh tín dụng Tuynhiên, nhiều nhà kinh tế khác lại thống nhất chia làm năm kênh truyền dẫn:kênh lãi suất, giá tài sản, tín dụng, kỳ vọng và tỷ giá hối đoái

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào kênh truyền dẫn lãi suất Tuynhiên, để có thể hiểu rõ hơn quá trình này, chúng ta cần nắm rõ được sự vậnhành của các kênh tác động cụ thể khi lãi suất chính sách thay đổi

Kênh lãi suất

Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tếtrong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong

mô hình IS - LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ

mô hiện nay Có thể khái quát kênh truyền dẫn lãi suất theo sơ đồ:

irY

M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ), do

đó làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ đó dẫn đếntăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y)

Cụ thể, khi chính sách tiền tệ cần được thắt chặt (hay nới lỏng), ngân hàngtrung ương hay nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ sẽ tăng (hay giảm) lãisuất điều hành (lãi suất chính sách) các ngân hàng và các định chế tài chínhkhác sẽ tuân theo bằng cách tăng (hay giảm) lãi suất của các khoản tiền gửi

Trang 16

và lãi suất cho vay của họ Khi đó, để đối mặt với chi phí vốn cao hơn (haythấp hơn), người tiêu dùng và các doanh nghiệp sẽ theo đó điều chỉnh mứctiêu dùng và chi tiêu vốn đầu tư, do đó ảnh hưởng đến sản lượng và mức độlạm phát.

Thay đổi trong lãi suất chính sách sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất trên thịtrường liên ngân hàng đầu tiên Những thay đổi của lãi suất trên thị trườngliên ngân hàng sau đó sẽ gây ra những thay đổi của lãi suất cho vay và lãisuất tiền gửi của các ngân hàng Những thay đổi này có thể được giải thíchmột phần bằng hoạt động quản lý danh mục của các định chế tài chính nhằmmục đích duy trì sự canh tranh và tạo ra lợi nhuận

Tốc độ và mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách và lãi suất thị trường tiền

tệ đến lãi suất bán lẻ của ngân hàng đặc trưng cho mức độ hiệu quả của chínhsách tiền tệ và qua đó ảnh hưởng đến hệ thống giá cả cũng như sự ổn địnhcủa hệ thống tài chính Kênh lãi suất được coi là một kênh hết sức quan trọngtrong việc truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ tới thị trường tiền tệ.Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng để đạt được tác động mong muốn, chỉ tácđộng đến lãi suất thị trường liên ngân hàng hay lãi suất của trái phiếu chínhphủ là chưa đủ mà thay vào đó, cần tác động vào tất cả các loại lãi suất bán lẻkhác nhau của các ngân hàng vì các loại lãi suất này chính là điều kiện cầnthiết để thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư của các chủ thể kinh tế

Như vậy, bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suấtngắn hạn Qua đó tác động đến lãi suất thị trường theo nguyên lý cấu trúc kỳhạn của lãi suất Nhìn chung, hiệu quả kênh truyền dẫn này phụ thuộc vàomức độ phát triển của thị trường tài chính

Kênh tín dụng

Bernanke và Gertler (1995) xác định hai con đường mà qua đó kênh tín dụngvận hành và tác động đến nền kinh tế Con đường thứ nhất thông qua hoạtđộng cho vay của ngân hàng hay cung về vốn vay của các định chế tài chính

Trang 17

nhận tiền gửi Con đường thứ nhất thông qua bảng cân đối kế toán của cáchãng, tức chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán củanhững người đi vay Bernanke và Gertle nhấn mạnh rằng kênh tín dụng cótác dụng bổ trợ và tăng cường tính hiệu quả cho kênh lãi suất.

Khi lãi suất chính sách giảm, các nghĩa vụ nợ của người đi vay giảm đi và do

đó, các ngân hàng sẵn lòng cho vay nhiều hơn vì rủi ro của khách hàng đãgiảm đi nhiều Hệ quả là hoạt động đầu tư tăng lên làm tăng tốc độ phát triểnkinh tế đồng thời cũng gây ra áp lực lạm phát

Kênh tỷ giá

Chính sách tiền tệ có thể gây ra sự thay đổi trong tỷ giá và từ đó dẫn đến sựthay đổi trong giá cả, hoạt động thương mại và đầu tư (Coricelli và cộng sự,2006) Việc giảm lãi suất chính sách sẽ làm các loại lãi suất nói chung giảmxuống Lợi tức thu được từ các khoản đầu tư trong nước giảm tương đối sovới các khoản đầu tư ở nước ngoài, dẫn đến dòng vốn chảy ra nước ngoài

Do vậy, đồng nội tệ sẽ mất giá so với đồng ngoại tệ làm cho xuất khẩu tănglên, nhập khẩu giảm xuống cùng với đó là tổng cầu tăng lên dẫn đến tăngtrưởng kinh tế cao hơn

Kênh tài sản

Lãi suất giảm làm cho việc đầu tư vào các loại cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn

so với việc đầu tư vào các loại trái phiếu hay các loại tài sản hưởng lãi suất

cố định khác Việc mọi người đồng loạt tăng đầu tư vào cổ phiếu sẽ làm tănggiá của loại tài sản này

Kênh kỳ vọng

Kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền

tệ Tác động của chính sách tiền tệ thông qua kênh kỳ vọng là kém chắc chắnnhất trong tất cả các kênh do nó phụ thuộc vào cách hiểu của công chúng về

sự thay đổi trong chính sách tiền tệ Những thay đổi được coi chỉ là tạm thời,diễn ra trong thời gian ngắn sẽ ít có tác động trong khi đó những thay đổi

Trang 18

được cho là kéo dài trong tương lai sẽ có những tác động mạnh đến hành vicủa doanh nghiệp và hộ gia đình (Kazaziovas, 2010).

1.2 Tổng quan về lãi suất cơ bản

Các ngân hàng thương mại (NHTM) ấn định lãi suất kinh doanh (huy động

và cho vay vốn) dựa trên cơ sở cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng nhànước (NHNN), xu hướng cung - cầu vốn thị trường, lạm phát, mức độ rủi ro

và lãi suất thị trường tiền tệ quốc tế Trong những năm gần đây, thị trường tàichính - tiền tệ thế giới có sự phát triển vượt bậc về quy mô và chiều sâu, cơchế điều hành lãi suất của Ngân hàng trung ương (NHTW) các nước thay đổitheo hướng tự do hoá Tuy nhiên, ở mỗi nước, NHTW căn cứ vào luật định,địa vị pháp lý của NHTW, điều kiện bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, thịtrường tài chính - tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ (lạm phát hoặc đamục tiêu) để áp dụng cơ chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳnhằm giúp thị trường tiền tệ ổn định và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động ngân hàng và sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn đến với cácchủ thể trong nền kinh tế

1.2.1 Lãi suất cơ bản ở Việt Nam

Khái niệm lãi suất cơ bản của Việt Nam được định nghĩa theo Khoản 12Điều 9 Luật NHNN (1997) như sau: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNNcông bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”.Luật NHNH (2010) không đưa ra khái niệm cụ thể về lãi suất cơ bản

Như vậy lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam Lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng ViệtNam, do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng

ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãisuất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngânhàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướngbiến động cung - cầu vốn trên thị trường

Trang 19

1.2.2 Lãi suất cơ bản đối với một số quốc gia trên thế giới

- Tại Mỹ: Hiện nay, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đang điều hành lãi suấtthông qua hai công cụ quan trọng là lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ dự trữ liên bang

Mỹ (FFR), cụ thể như sau:

 Lãi suất chiết khấu: Lãi suất FED cho các trung gian tài chính vay để đápứng các nhu cầu đảm bảo thanh khoản và an toàn thanh toán chi trả của mình Lãi suất táicấp vốn của Việt Nam hiện nay có tính chất giống với lãi suất chiết khấu của Mỹ

 Lãi suất quỹ dự trữ liên bang: Là lãi suất FED cho các trung gian tàichính vay qua đêm để đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định Nguồn tiền để cho vaylấy từ quỹ dự trữ liên bang, nguồn tiền này được hình thành bởi số tiền dự trữ bắt buộccủa tất cả các trung gian tài chính có nhận tiền gửi Lãi suất tái chiết khấu của Việt Namhiện nay có tính chất giống với lãi suất quỹ dự trữ liên bang của Mỹ

Lãi suất quỹ dự trữ liên bang là lãi suất thấp nhất mà các trung gian tài chínhnhận tiền gửi có thể vay được từ FED, vì vậy lãi suất này đôi khi được gọi làlãi suất cơ bản hay lãi suất chuẩn Về nguyên tắc, lãi suất liên ngân hàngthông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu không, các trung gian tàichính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để hưởng lãi suất chiếtkhấu thấp hơn Lãi suất chiết khấu thường cao hơn lãi suất quỹ dự trữ liênbang FED giữ lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua việc cho vay chiếtkhấu và giữ lãi suất quỹ dự trữ liên bang thông qua nghiệp vụ thị trường mở.Cách điều hành này của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xuhướng biến động giữa lãi suất quỹ dự trữ liên bang (có vai trò như lãi suấtsàn) và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãi suất trần) mà không phải đặt racác giới hạn về lãi suất bằng các biện pháp hành chính

Căn cứ vào hai loại lãi suất do FED công bố như trên, các NHTM sẽ xác địnhlãi suất cho vay của mình đối với khách hàng trên cơ sở tính toán các chi phíquản lý và mức chấp nhận rủi ro Mức lãi suất cho vay tối thiểu để có

Trang 20

thể bù đắp các chi phí về vốn và quản lý của các NHTM lớn tại Mỹ gọi là lãisuất chủ chốt (prime rate) Trên thị trường liên ngân hàng Mỹ có niêm yết lãisuất cho vay bình quân của hơn 30 ngân hàng lớn nhất của Mỹ áp dụng chocác khách hàng là công ty Lãi suất chủ chốt có tính cả chi phí và rủi ro nên

có sự chênh lệch so với lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ dự trữ liên bang,mức chênh lệch này dao động trong khoảng từ 2% - 3%

- Tại Anh: Hiện nay Ngân hàng Trung ương Anh (BOE) công bố lãi suất chínhthức, đây là lãi suất mà BOE trả cho khoản tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại gửitại BOE Mức dự trữ là tự nguyện và các thành viên xác định mức cân bằng theo mụctiêu riêng của mình nhưng không thấp hơn mức trung bình trong kỳ bắt buộc phải duy trì.Các NHTM được phép vay có bảo đảm hoặc gửi tiền tại BOE với lãi suất nằm trong biên

độ +/-1% so với lãi suất chính thức do BOE công bố BOE sử dụng nghiệp vụ thị trường

mở để tác động nhằm duy trì lãi suất qua đêm, lãi suất các kỳ hạn khác dưới ba thángluôn nằm trong biên độ so với lãi suất chính thức Lãi suất của các khoản vay có kỳ hạn

từ 3-12 tháng được xác định bởi các thành viên và không phụ thuộc vào biên độ so với lãisuất chính thức Lãi suất chính thức mà BOE công bố ở đây là lãi suất mang tính mụctiêu chứ không mang tính ấn định cụ thể và BOE sẽ giữ lãi suất đã công bố bằng nghiệp

vụ thị trường mở

- Tại các quốc gia sử dụng đồng EURO: Ngân hàng Trung ương Châu Âu

(ECB) ấn định 3 mức lãi suất chủ chốt của khu vực đồng tiền Euro gồm:

 Lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn: Đây là mức lãi suất áp dụng cho các khoản vay nhằm đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng

 Lãi suất cho các phương tiện tiền gửi thường xuyên: Được áp dụng chocác khoản tiền gửi qua đêm của các ngân hàng với Cơ quan quan lý ngoại tệ khu vựcđồng Euro

 Lãi suất cho các phương tiện vay giới hạn: Được áp dụng cho các khoản vay qua đêm từ Cơ quan quan lý ngoại tệ khu vực đồng Euro

Trang 21

ECB giữ lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn bằng nghiệp vụ thị trường mởthông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất Cùng với

đó, NHTW của các quốc gia thành viên ECB có trách nhiệm giữ hai lãi suấtchủ chốt còn lại thông qua hoạt động cho vay và nhận tiền gửi để lãi suất chocác phương tiện tiền gửi thường xuyên đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi suấtcho các phương tiện vay giới hạn đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất cho vayqua đêm sẽ dao động trong biên độ này Như vậy, các lãi suất chủ chốt củaECB công bố đều mang tính chất mục tiêu, ECB sẽ bảo vệ lãi suất mục tiêuthông qua các công cụ chính sách tiền tệ của mình để hướng về lãi suất mụctiêu

- Tại Nhật: Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản (BOJ) đặt ra lãi suất định hướngcho hoạt động thị trường tiền tệ Hiện tại, BOJ lấy lãi suất cho vay qua đêm đối vớinhững khoản vay không thế chấp làm lãi suất định hướng

Để điều hành lãi suất định hướng này, BOJ sử dụng các công cụ chính sáchcủa mình để tác động vào các yếu tố hình thành nên lãi suất, chủ yếu lànhững yếu tố tác động đến cung và cầu về nguồn vốn trên thị trường tiền tệ.Các hoạt động trên được thực hiện qua thị trường mở Thông qua thị trường

mở BOJ tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ, qua đó tác động đến các mứclãi suất trên thị trường tài chính khác và lãi suất mà các ngân hàng áp dụngđối với các khoản vay cho các cá nhân và công ty

1.3 Cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Nam

Lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước là một công cụ quan trọng của chínhsách tiền tệ quốc gia, nhắm đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô như thúc đẩytăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, hướng đến nền kinh

tế cân bằng toàn dụng Ngân nhà nước còn sử dụng công cụ lãi suất để địnhhướng hoạt động huy động vốn và cho vay của hệ thống NHTM đối với nềnkinh tế Việc ấn định lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước về bản chất làmột quyết định tài định, phản ánh nhận định của về tình hình kinh tế vĩ môcủa quốc gia, không phải là một tính toán dựa trên chi phí và lợi nhuận

Trang 22

Vì là một công cụ tiền tệ vĩ mô, mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nướcđược các NHTM xem như một tín hiệu rõ ràng nhất của một chính sách tiền

tệ mở rộng (nhằm chống suy thoái, hỗ trợ sản xuất) hay thắt chặt (nhằm kiểmsoát lạm phát)

Trên cơ sở đó, các NHTM sẽ xây dựng cho mình một hệ thống lãi suất riêng,phù hợp với điều kiện huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay của mỗi ngânhàng, với những mức lãi suất khác nhau tùy thuộc vào thời hạn, mức độ rủi

ro cao hay thấp của các khoản huy động và cho vay, mức độ tín nhiệm củamỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình Thị trường huy động tiền gửi

và cho vay của các NHTM là một thị trường có cạnh tranh, nhưng trongkhuôn khổ do ngân hàng nhà nước điều tiết bằng công cụ lãi suất cơ bản,nhằm đảm bảo rằng sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo sự sự antoàn của hệ thống ngân hàng và đồng tiền tiết kiệm của người dân gửi tiền.Hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất cơ bản sang lãi suất huy động và lãi suất chovay là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong việc hoạch định chính sáchcủa Ngân hàng nhà nước, bởi đó chính là nhân tố quan trọng trong quá trìnhtruyền dẫn tiền tệ, và truyền dẫn tiền tệ lại là nền tảng thiết yếu để thực thimột chính sách tiền tệ hiệu quả Do vậy, tính hiệu quả của chính sách tiền tệphụ thuộc vào tính hiệu quả của kênh truyền dẫn về cả mức độ và tốc độtruyền dẫn từ lãi suất chính sách sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay

1.4 Mối quan hệ truyền dẫn giữa lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãi suất

cho vay.

Dựa theo bài nghiên cứa của Ming-Hua Liu và các cộng sự, mối quan hệ dàihạn giữa lãi suất huy động, lãi suất cho vay và lãi suất cơ bản có thể đượcdiễn đạt bằng phương trình sau:

Y t = α 0 + α t X t + ε t (1)

Trong đó:

- Yt : Lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay

Trang 23

- Xt : Lãi suất cơ bản

- εt : Sai số thống kê

- α0 : Trung độ gốc

- αt :Hệ số truyền dẫn trong dài hạn

Dựa theo bài nghiên cứa của Ming-Hua Liu và các cộng sự, mối quan hệngắn hạn giữa lãi suất huy động, lãi suất cho vay và lãi suất cơ bản theo môhình ECM có thể được diễn đạt bằng phương trình sau:

Trong đó:

- yt : Sai phân bậc 1 của biến phụ thuộc là các loại lãi suất huy động và lãi suất cho vay

- yt-i : Sai phân bậc 1 của lãi suất huy động và lãi suất cho vay lấy độ trễ i

- xt : Sai phân bậc 1 của biến độc lập là lãi suất cơ bản hoặc lãi suất táichiết khấu

- xt-i : Sai phân bậc 1 của lãi suất cơ bản hoặc lãi suất tái chiết khấu lấy độ trễ i

điểm (t – 1) và nó là phần dư dài hạn trong phương trình

-: Sai số thống kê: Đo lường mức độ tác động của sự truyền dẫn lãi suất trong ngắn hạn

- & : Hệ số điều chỉnh biến động

-  : Độ điều chỉnh sai số khi lãi suất lệch so với lãi suất cân bằng ( thường mang giá trị âm vì lãi suất có xu hướng trở lại lãi suất cân bằng)

Tuy nhiên, trong thực tế tùy vào điều kiện hoạt động kinh doanh của từngngân hàng mà các NHTM không chỉ huy động vốn từ nguồn tiền gửi củangười dân mà còn có thể vay từ ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chiếtkhấu, tái cấp vốn hoặc vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên

Trang 24

ngân hàng, thường là với một thời hạn ngắn (có khi chỉ qua đêm) theo mộtmức lãi suất liên ngân hàng (interbank rate) thay đổi liên tục mỗi ngày tùythuộc vào nguồn cung cầu vốn ngắn hạn trên thị trường Ngân hàng nhà nướcthường xuyên can thiệp trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhằm hỗ trợthanh khoản cho hệ thống ngân hàng đồng thời duy trì một mức lãi suất liênngân hàng phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ Từ các nguồn vốnhuy động đầu vào này mà các NHTM tính toán, cân đối để công bố lãi suấtcho vay đầu ra đối với từng đối tượng khách hàng nhằm đạt được mức lợinhuận theo kế hoạch của mỗi ngân hàng.

1.5 Nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn lãi suất.

1.5.1 Các nghiên cứu trong nước

Trần Hưng Thịnh và Nguyễn Công Tuấn (2012) nghiên cứu về sự truyền dẫnkhông hoàn toàn đối với lãi suất bán lẻ trong dài hạn sẽ ảnh hưởng như thếnào đến tính cân bằng xác định và ổn định trong nền kinh tế vĩ mô: quan sátthực nghiệm ở Mỹ và khu vực EURO, từ đó vận dụng vào phân tích thựcnghiệm mức độ truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam giai đoạn 2000-2012 Tácgiả sử dụng mô hình ADL, ECM cùng với kiểm định nghiệm đơn vị cácchuỗi thời gian và đồng liên kết Kết quả thực nghiệm cho thấy: Truyền dẫn

từ lãi suất chính sách đến lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm thì caotrong ngắn hạn; tuy nhiên trong dài hạn, sự truyền dẫn ở mức thấp hơn.Truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất liên ngân hàng: Trong ngắnhạn, sự truyền dẫn trực tiếp ở mức khá thấp và không đồng nhất Ngược lại,trong dài hạn, sự truyền dẫn ở mức cao hơn nhưng vẫn chưa hoàn toàn.Truyền dẫn từ lãi suất trái phiếu và lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất bán lẻ:Nhìn chung, sự truyền dẫn ngắn hạn thì khá thấp nhưng sự truyền dẫn dàihạn lại khá cao, gần như hoàn toàn

Nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng,Nguyễn Phi Lân (2010) đã sử dụng mô hình SVAR để phân tích cơ chếtruyền dẫn chính sách tiền tệ Kết quả cho thấy: Thứ nhất, kinh tế tăng

Trang 25

trưởng tốt hơn khi có sự tác động từ cung tiền M2 Tuy nhiên, mức độ tácđộng của cung tiền M2 tới khu vực sản xuất công nghiệp còn chưa lớn mặc

dù cung tiền M2 và tín dụng đã tăng trong một thời gian từ sau khủng hoảngtài chính năm 1997, điều này có thể do một phần tín dụng ngân hàng đãkhông được một số tổ chức kinh tế và dân cư sử dụng đúng mục đích sảnxuất kinh doanh mà thay vào đó là đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi rocao như chứng khoán hay bất động sản ; thứ hai, sự biến động của tỷ giáphụ thuộc rất lớn vào công tác điều hành chính sách tiền tệ thông qua cáccông cụ lãi suất và lượng tiền cung ứng ra lưu thông, các nhân tố bên ngoàinền kinh tế cũng tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng không quá lớn;thứ ba, khu vực tiền tệ - ngân hàng trong nước tương đối nhạy cảm và chịutác động rất lớn bởi các cú sốc bên ngoài nền kinh tế, đặc biệt là sự biến độngcủa giá cả hàng hóa thế giới và dấu hiệu suy thoái hay phục hồi của nền kinh

tế thế giới nói chung và nền kinh tế Hoa Kỳ nói riêng cũng như các động tháiđiều hành chính sách tiền tệ của FED; thứ tư, việc thay đổi lãi suất VND trênthị trường tiền tệ thông qua sử dụng các công cụ tiền tệ như OMO hay tái cấpvốn sẽ mất thời gian khoảng là 3 - 5 tháng để có hiệu lực

Bùi Tá Anh Hoài (2012) nghiên cứu thực nghiệm truyền dẫn lãi suất nhằmxác định mức độ và tốc độ truyền dẫn trong ngắn hạn và dài hạn giai đoạn từtháng 01/2000 đến 06/2012 tại Việt Nam Tác giả tiến hành kiểm địnhnghiệm đơn vị các chuỗi dữ liệu thời gian, kiểm định tính đồng liên kết củacác cặp lãi suất từ đó đưa ra phương pháp phù hợp để xác định hệ số truyềndẫn Cụ thể, tác giả sử dụng mô hình OLS để đo lường hiệu ứng truyền dẫntrong dài hạn và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để ước lượng hệ số truyềndẫn trong ngắn hạn với tất cả các cặp lãi suất Tuy nhiên, đối với cặp lãi suấttái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng, tác giả sử dụng mô hình ADL Kết quảcho thấy hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trườngtiền tệ thì không hoàn toàn, hệ số truyền dẫn trong ngắn hạn lớn hơn trongdài hạn, riêng chỉ có hệ số truyền dẫn từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất thị

Trang 26

trường liên ngân hàng có hệ số truyền dẫn trong dài hạn lớn hơn trong ngắnhạn Hiệu ứng truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ thì hoàntoàn trong dài hạn, tuy nhiên ở mức thấp trong ngắn hạn.

Đinh Thị Thu Hồng và Phan Đình Mạnh (2013) nghiên cứu cơ chế truyềndẫn lãi suất từ lãi suất chính sách qua lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ ởViệt Nam và một số nền kinh tế mới nổi khác ở Châu Á Tác giả sử dụng môhình ECM để kiểm tra tính đối xứng và tính bất đối xứng trong truyền dẫn lãisuất và mô hình ECM-EGARCH-M để kiểm tra tác động của độ bất ổn lãisuất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứng đòn bẩy lêntruyền dẫn Các kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn từ lãi suấtthị trường đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn, với cơ chế truyền dẫn đốixứng hoặc bất đối xứng Trong một số trường hợp, độ biến động của lãi suấtlàm tăng biên độ truyền dẫn, nhưng trong một số trường hợp khác cho thấykết quả ngược lại

1.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới

Bộ ba tác giả Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis và Alireza Tourani-Rad dựatrên mô hình mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất chính sách và lãi suất bán lẻ(lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại) tiếnhành nghiên cứu thực nghiệm mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh lãisuất bán lẻ khi lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản) thay đổi trong giai đoạn1994-2004 tại New Zealand Các tác giả chọn New Zealand để thực hiệnnghiên cứa là do là New Zealand là quốc gia đầu tiên của Tổ chức Hợp tácKinh tế châu Âu (OECD) áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu với cơ chếminh bạch và trách nhiệm giải trình cao Sự minh bạch về chính sách đượcnâng lên bởi trong năm 1999 New Zealand đã chuyển dịch từ phương thứcđiều hành định lượng sang vận hành trên cơ sở lãi suất bằng việc đưa vào ápdụng lãi suất tiền gửi qua đêm (overnight cash interest rate – OCR)

Trang 27

Hệ thống OCR đơn giản và dể hiểu, nó vận hành như sau: Khi OCR đượccông bố, Ngân hàng Trung Ương New Zealand (RB) sẵn sàng trả cho cácđịnh chế tài chính một mức lãi suất dưới mức OCR 0,25% điểm cho cáckhoản tiền gửi của họ tại RB và sẵn sàng cho vay qua đêm đối với các ngânhàng dựa vào tài sản bảo đảm tại mức lãi suất cao hơn OCR 25 điểm cơ bản.Quan trọng hơn, không có giới hạn về lượng tiền mặt sẵn sàng đưa vào haylấy ra tại mức 25 điểm trên hoặc dưới lãi suất OCR Ngân hàng trung ươnggiữ vai trò như một nhà tạo lập thị trường trong thị trường tiền tệ ngắn hạn

mà không có bất kỳ một hạn chế nào áp đặt lên khối lượng giao dịch, khôngmột NHTM có mức lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn đáng kể so với OCR

Vì trong một thị trường tài chính cạnh tranh, các ngân hàng khác sẽ hạ mứclãi suất bởi vì họ vay mượn từ RB Tương tự, một định chế tài chính cũngkhông thể vay ngắn hạn tại mức lãi suất thấp hơn OCR vì nó có thể vay RBtại mức OCR, mà không có bất kỳ một rủi ro tín dụng nào

Bằng cách cho các ngân hàng thương mại vay mượn tiền qua đêm với khốilượng không giới hạn, RB có thể duy trì một mức lãi suất ngắn hạn liên ngânhàng mục tiêu tại mức lãi suất tiền mặt qua đêm ORC Thông qua việc ấnđịnh lãi suất OCR, thì RB có thể tác động một cách đáng kể lên các dạng lãisuất ngắn hạn khác Ví dụ: Hối phiếu 90 ngày, các khoản vay thả nổi… RBcòn có thể tác động đến các loại lãi suất bán lẻ khác của các NHTM và cácđịnh chế tài chính trên thị trường Kết quả là, thay đổi OCR sẽ ảnh hưởngđến các hoạt động của kinh tế và chỉ số lạm phát của một quốc gia

Ming-Hua Liu và các cộng sự đã sử dụng mô hình Phillips Loretan và môhình hiệu chỉnh sai số ECM để đo lường mức độ truyền dẫn của lãi suấtchính sách sang lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàngthương mại New Zealand Kết quả bài nghiên cứu cho thấy rằng hiệu

Trang 28

ứng truyền dẫn dài hạn là hoàn toàn đối với môt số loại lãi suất huy động vàcho vay Mức độ truyền dẫn trong dài hạn của lãi suất thị trường đến nhữnglãi suất bán lẻ khác nhau tùy theo các sản phẩm tài chính khác nhau Một sốlãi suất thì có độ truyền dẫn hoàn toàn, một số thì không Hiệu ứng truyềndẫn ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau cho từng loại sản phẩm.

Việc ngân hàng trung ương New Zealand đưa vào áp dụng lãi suất tiền gửiqua đêm (OCR) làm tăng hiệu ứng truyền dẫn dài hạn của lãi suất tiền gửi cốđịnh và lãi suất tiền gửi thả nổi nhưng không ảnh hưởng đến các lãi suấtkhác Ngoài ra, tác giả đưa còn đưa vào hô mình biến giả D để xem xét sựthay đổi của tốc độ truyền dẫn so với khi chưa thay đổi chính sách OCR Kếtquả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc công bố OCR làm tăng hiệu ứng truyềndẫn đến lãi suất tiền gửi nhưng lãi suất cho vay thế chấp cố định thì không cótác động đáng kể Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả xác nhận rằng lãisuất cơ bản của chính sách tiền tệ có nhiều ảnh hưởng đối với lãi suất bán lẻngắn hạn và khi tính minh bạch ngày càng gia tăng đã góp phần làm giảmtính dễ biến động của các công cụ điều hành và làm tăng hiệu quả của chínhsách lãi suất

De Bondt, G., 2005 “Retail bank interest rate pass-through: New evidence at

the euro erea level” Bài nghiên cứu trình bày mô hình hồ qui hiệu chỉnh sai

số (ECM-erro correction model) của quá trình truyền dẫn lãi suất thị trườngđến lãi suất bán lẻ Dựa trên cơ chế định giá chi phí biên, bao gồm chi phíchuyển tiếp thông tin và chi phí cho sự bất cân xứng thông tin, qua đó trìnhbày kết quả ước lượng với khu vực đồng Euro Bài nghiên cứu cho thấy mức

độ truyền dẫn từ lãi suất thị trường sang lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vayngắn hạn (1 tháng) ở mức 50%, mức độ truyền dẫn lãi suất trong dài hạn thìcao hơn đặc biệt là ở lãi suất cho vay dài hạn mức truyền dẫn gần như hoàntoàn (100%)

Trang 29

Theo Kleimeier và Sander (2006) kiểm tra sự dẫn truyền trong thị trường

bán lẻ của ngân hàng đối với khu vực đồng Euro và thấy rằng lãi suất chovay phản ánh nhanh hơn đối với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ dự đoán.Bài này cũng đã rút ra được một số kết luận như sau: Lãi suất ngân hàng có

“tính cứng” và có sự khác nhau cần xem xét trong sự dẫn truyền giữa lãi suấtcho vay và lãi suất tiền gởi ở các ngân hàng khác nhau, cụ thể là lãi suất chovay sẽ dẫn truyền nhanh hơn Dẫn truyền là hoàn chỉnh nhất trong cho vayngắn hạn doanh nghiệp và có sự khác nhau trong cơ chế dẫn truyền của cácnước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu

Chong và các cộng sự (2005) kiểm tra lãi suất huy động ở các kỳ hạn khác

nhau và lãi suất cho vay ở cả NHTM và công ty tài chính ở Singapore vàthấy rằng định chế tài chính điều chỉnh lãi suất của họ tăng lên chậm hơn sovới điều chỉnh giảm Họ cũng thấy rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau qua cácsản phẩm tài chính và khác nhau giữa các ngân hàng và công ty tài chính Họkhông tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn của lãi suất

Theo Sarno L., Thornton, D.L, (2003) cho thấy có sự ổn định đáng kể

trong mối quan hệ giữa lãi suất quỹ liên bang (lãi suất chính sách) và lãi suấttín phiếu kho bạc (lãi suất thị trường) trong suốt giai đoạn nghiên cứu mặc dùtrải qua các thay đổi trong quy trình hoạt động chính sách tiền tệ Các tác giảcũng lý luận sự hợp lý trong mô hình hiệu chỉnh sai số VECM phi tuyến tính

và bất cân xứng Các tác giả sử dụng mô hình này để định lượng cho mốiquan hệ dài hạn ổn định giữa lãi suất quỹ liên bang và lãi suất tín phiếu khobạc 3 tháng, đồng thời đo lường tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bẳng củalãi suất quỹ liên bang Kết quả bài nghiên cứu cho thấy sự điều chỉnh về mứccân bằng đối với lãi suất ở dưới mức cân bằng thì nhanh hơn so với lãi suất ởtrên mức cân bằng

Trang 30

Phần tiếp theo là trình bày cơ chế truyền dẫn lãi suất cơ bản tại Việt Namcũng như mối quan hệ giữa truyền dẫn lãi suất cơ bản và lãi suất tiền gửi, lãisuất cho vay.

Phần cuối cùng là trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn lãisuất tại Việt Nam, và trình bày kết quả nghiên cứu của Ming-Hua Liu cùngcác công sự (2005) về tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và mức độtruyền dẫn của lãi suất chính sách đến lãi suất bán lẻ cũng như kết quảnghiên cứu của một số tác giả khác trên thế giới về cơ chế và mức độ truyềndẫn của lãi suất chính sách

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DIỄN BIẾN VÀ MỖI TƯƠNG QUAN GIỮA LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ LÃI SUẤT TIỀN GỬI, LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), được thành lập

và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân là CụcNgoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Là ngân hàng thươngmại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phầnhoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân hàng TMCPvào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóathông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009,

cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại

Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đónggóp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huytốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho pháttriển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối vớicộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu

Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombankngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cungcấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vựcthương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn,huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hànghiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngânhàng điện tử…

Trang 32

Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có nhiều lợi thếtrong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngânhàng, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử dựa trên nền tảngcông nghệ cao Các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMSBanking, Phone Banking,…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo kháchhàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, tạo thói quen thanhtoán không dùng tiền mặt cho đông đảo khách hàng.

Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện có gần14.000 cán bộ nhân viên, với hơn 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Vănphòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm 1 Hội sở chínhtại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 1 Trung tâm Đào tạo, 90 chi nhánh và hơn 350phòng giao dịch trên toàn quốc, 2 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con và

1 văn phòng đại diện tại nước ngoài, 6 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh

đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với hơn 2.100 máyATM và trên 49.500 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc.Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.800 ngân hàngđại lý tại trên 155 quốc gia và vùng lãnh thổ

Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có năng lực, nhạy bén với môitrường kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là

sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của đôngđảo khách hàng cá nhân

Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, trên nhiều lĩnh vực hoạt động quan trọng,Vietcombank liên tục được các tổ chức uy tín trên thế giới bình chọn và đánhgiá là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”

Tác giả chọn số liệu lãi suất từ Vietcombank để đo lường mức độ truyền dẫn

vì Vietcombank là ngân hàng cổ phần tuy nhiên nhà nước vẫn còn nắm giữ tỷ

sở hữu khá lớn vì vậy Vietcombank là ngân hàng vừa mang

Trang 33

tính cổ phần vừa mang tính nhà nước, ngoài ra Vietcombank là ngân hàng cóqui mô, thị phần lớn trong nền kinh tế Việt Nam.

2.1 Dữ liệu nghiên cứu

Để đo lường mức độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ mà cụ thể là lãi suất cơbản và lãi suất tái chiết khấu tới lãi suất huy động và lãi suất cho vay, tác giả

sử dụng dữ liệu chuỗi các loại lãi suất hàng tháng từ 03 nguồn:

- Lãi suất cơ bản: Do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố

- Lãi suất tái chiết khấu: Do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố

- Lãi suất huy động, lãi suất cho vay: Lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất chovay do Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam công bố

Như vậy các biến sẽ sử dụng để đo lường mức độ truyền dẫn trong bàinghiên cứu sẽ bao gồm 9 biến gồm: LSCB, LSTCK, TG1T, TG6T,

TG12T, TG18T, TG24T, CVNH, CVTDH Trong đó:

- LSCB : Lãi suất cơ bản

- LSTCK : Lãi suất tái chiết khấu

- TG1T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 1 tháng

- TG6T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng

- TG12T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 12 tháng

- TG18T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 18 tháng

- TG24T : Lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 24 tháng

- CVNH : Lãi suất cho vay ngắn hạn

- CVTDH : Lãi suất cho vay trung hạn

Thời gian lấy mẫu: Từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2013

2.2 Diễn biến lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2007-2013.

Lãi suất cơ bản lần đầu tiên được NHNN công bố vào ngày 2/8/2000, theoquyết định số 242/2000/QĐ-NHNN lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm

Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng theo lãi suất cho vay cố định (fixed) hoặc lãi

Trang 34

suất cho vay có điều chỉnh (floating) nhưng không vượt quá mức lãi suất cơ bản cộng các biên độ như sau:

- Đối với cho vay ngắn hạn: 0,3%/tháng;

- Đối với cho vay trung hạn và dài hạn: 0,5%/tháng;

Đến cuối tháng 5/2002, NHNN lại thay đổi cơ chế cho vay theo hướng không

áp dụng lãi suất cơ bản cộng biên độ, mà cho phép các NHTM áp dụng lãisuất thỏa thuận với khách hàng Lãi suất cơ bản vẫn tiếp tục được duy trì,nhưng chỉ để tham khảo và định hướng đối với lãi suất thị trường

Từ tháng 5/2008 đến tháng 2/2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)

áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản Danh sách các tổ chức tín dụngđược lựa chọn để cung cấp thông tin cho NHNN lên đến 25 ngân hàng, trong

đó có 20 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh và 3 ngân hàng 100% vốnnước ngoài tại Việt Nam, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản được thực hiệnnhư sau:

- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn địnhlãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ.Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM Lãi suất cơ bảnđược xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến

động cung - cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân

tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước

- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường:

 “Trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất tái chiết khấu (5%

-7%/năm) Lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này

 Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiệnviệc “bơm” tiền ra hoặc “hút” tiền về, từ đó tác động đến cung - cầu vốn,

Trang 35

lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.

- Từ tháng 5 – 9/2008, NHNN điều hành chính sách tiền tệ “thắt chặt” chống

lạm phát, các mức lãi suất chủ đạo được điều chỉnh tăng, lãi suất cơ bản từ 12%/năm lên

14%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm lên 15%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ

11%/năm lên 13%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở từ 11,7%/năm lên 15%/năm

- Từ tháng 10/2008 đến tháng 11/2009, NHNN chuyển hướng điều hành chính

sách tiền tệ từ “thắt chặt” để chống lạm phát sang “nới lỏng” nhằm mục tiêu hàng đầu là

ngăn chặn suy giảm kinh tế, điều chỉnh giảm mạnh lãi suất cơ bản từ 14% 13% 11%

-8,5% - 7%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 15% - 13% - 12% - 9,5% - 8% - 7%/năm, lãi suất

tái chiết khấu từ 13% - 11% - 12% - 10% - 7,5% - 6%/năm, lãi suất nghiệp vụ thị trường

mở từ 15% - 14,3% - 13,5% - 11% - 9% - 8% - 7,5% - 7%/năm

- Từ tháng 12/2009 đến tháng 2/2011, do lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại nên

lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng dần từ 7% lên đến 9%

- Từ tháng 3/2011 đến hiện nay lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 9%

LSCB

15 14 13 12 11 10 9 8 7 6

Hình 2.1: Biến động lãi suất cơ bản

Trang 36

Nguồn: Tác giả vẽ từ phần mền Eviews 6.0 2.3 Diễn biến lãi suất huy động tiền gửi và lãi suất cho vay của Vietcombank

trong mối tương quan với lãi suất cơ bản.

18 16 14 12 10 8 6

10 8

6

Trang 37

Hình 2.2: Biến động lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trong mối tương quan

với lãi suất cơ bản

Nguồn: Tác giả vẽ từ phần mền Eviews 6.0

Trước sự biến động động của lãi suất cơ bản, Vietcombank đã có những điềuchỉnh lãi suất huy động, lãi suất cho vay đảm bảo tuân thủ luật các tổ chứctín dụng, các qui định của ngân hàng nhà nước Việt Nam, qui định của Bộluật dân sự về mức lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơbản do ngân hàng nhà nước công bố đồng thời đảm bảo quyền lợi của ngườigửi tiền và người đi vay, cụ thể:

- Trong giai đoạn năm 2007, lãi suất huy động của Vietcombank biến độngtheo quy luật của đường cong lãi suất đó là lãi suất huy động kỳ hạn càng dài thì càngcao, cụ thể lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng và 6 tháng thấp hơn lãi suất cơ bản ở mức từ6%/năm đến 7,56%/năm, riêng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng xấp xĩ lãi suất cơ bản ởmức 8,25%/năm, trong khi đó lãi suất huy động dài hạn trong giai đoạn này cao hơn lãisuất cơ bản ở mức từ 8,4%/năm đến 8,52%/năm Trong giai đoạn này lãi suất cho vayđược

Trang 38

Vietcombank giữ khá ổn định với mức chênh lệch so với lãi suất cơ bản làkhoảng 1,75% đối với cho vay ngắn hạn và 3,75%/năm đối với cho vay trungdài hạn.

- Khoảng thời gian tháng 7-8/2008 là khoảng thời gian đỉnh điểm chính sáchchống lạm phát của ngân hàng nhà nước, lãi suất cơ bản được nâng lên ở mức 14%/năm,trong khoảng thời gian này Vietcombank đã có điều chỉnh chính sách lãi suất thích hợpbằng cách nâng lãi suất huy động lên

17,5%/năm cho tất cả các kỳ hạn (lãi suất huy động đã không biến động theoqui luật đường cong lãi suất), riêng lãi suất cho vay Vietcombank đã nâng lênđến mức trần cho phép là 21%/năm đối với cả cho vay ngắn hạn và cho vaytrung dài hạn Trong giai đoạn này Vietcombank luôn tuân thu qui định củaNgân hàng nhà nước về mức trần lãi suất cho vay không được vượt quá150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, trong khi đó một sốngân hàng thương mại cổ phần nhỏ do thiết hụt thanh khoản đã tăng lãi suấthuy động lên đến 20-21%/năm đồng thời lách luật đẩy lãi suất cho vay lênđến 25-27%/năm bằng hình thức cộng thêm phí các loại phí như: Phí thu xếpvốn, phí tư vấn tài chính, phí phẩm định…

- Trong giai đoạn năm 2009 khi lãi lạm phát có dấu hiệu giảm, lãi suất cơ bảnđược NHNN điều chỉnh giảm xuống còn khoảng 7%/năm, dẫn đến lãi suất huy động vàlãi suất suất cho vay của Vietcombank giảm tương ứng với mức lãi suất huy động ngắnhạn dao động trong khoảng từ 6,6%/năm đến 7,56%/năm, lãi suất huy động trung dài hạnkhoảng 8,04%/năm đến

8,56%/năm, riêng lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 10,44%/năm và lãi suấtcho vay trung dài hạn ở mức 10.5%/năm, chênh lệch khoảng 3%/năm so vớilãi suất cơ bản

- Trong năm 2010 khi lạm phát có dấu hiệu tăng trở lại do đó NHNN đã tănglãi suất cơ bản dần lên 8%/năm và đến cuối năm 2010 là 9%/năm Vietcombank đã điềuchỉnh lãi suất huy động tăng tương ứng lên khoảng từ 10,49%/năm đến 11%/năm Nổibật ở giai đoạn này là lãi suất huy động tất

Trang 39

cả các kỳ hạn của Vietcombank đều cao hơn lãi suất cơ bản kể cả kỳ hạn 1tháng Trong khi đó lãi suất cho vay ngắn hạn được Vietcombank nâng lênmức 13,2%/năm, còn lãi suất cho vay dàn hạn là 14,5%/năm, lãi suất cho vaytrong giai đoạn này chênh lệch khoảng 4,5% trong giai đoạn này.

- Từ tháng 3/2011 cho đến nay lãi suất cơ bản được NHNN giữ cố định ở mức9%, trong giai đoạn này NHNN chuyển sang điều hành theo cơ chế trần lãi suất huyđộng, đặc biệt là vấn đề lạm phát đã được kiềm chế và kiểm soát, ngân hàng đã từngbước hạ lãi suất nhằm hỗ trợ sản xuất giúp phục hồi tăng trưởng, trần lãi suất huy độngđược ngân hàng nhà nước điều chỉnh giảm từ mức 14%/năm xuống còn 7%/năm.Vietcombank đã chủ động điều chỉnh giảm dần lãi suất huy động và cho vay tương ứngtheo mức giảm của trần lãi suất huy động

2.4 Phân tích thống kê mô tả mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản, lãi suất huy

động và cho vay.

Bảng 2.1: Kết quả thống kê mô tô lãi suất cơ bản, lãi suất tiền gửi và lãi

suất cho vay

HS Bất đối

xứng 2.142431 0.376093 0.698289 0.679652 0.922609 0.948299 0.688663 0.467642 (Skewness)

HS độ nhọn 8.221895 1.983287 2.404342 2.658480 4.002952 4.086511 2.101775 1.919341 (Kurtosis)

Trang 40

Thống kê

159.6988 5.598219 8.068340 6.875192 15.43759 16.72156 9.463422 7.149025 Jarque-Bera

- Trung bình của các biến lãi suất huy động thì thấp hơn biến cho vay, trung

bình biến cho vay ngắn hạn thì thấp hơn biến cho vay trung dài hạn

- Hai giá trị thống kê mô tả cần chú ý trong bảng 2.1 là Hệ số bất đối xứng(Skewness) và Hệ số độ nhọn (Kurtosis) Hai giá trị này giúp hình dung về hình dáng củaphân phối Skewness là một đại lượng đo lường mức độ lệch của phân phối, còn gọi là hệ

số bất đối xứng, qui tắc nhận xét hệ số Skewness là:

 Skewness = 0: Phân phối cân xứng

 Skewness > 0: Phân phối lệch phải

 Skewness < 0: Phân phối lệch trái

Kurtosis là một đại lượng đo mức độ tập trung tương đối của các quan sát

quanh trung tâm của nó trong mối quan hệ so sánh với hai đuôi:

 Kurtosis = 3: Phân phối tập trung ở mức độ bình thường

 Kurtosis > 3: Phân phối tập trung hơn mức độ bình thường (hình dáng của

đa giác tần số trông sẽ khá cao và nhọn với 2 đuôi hẹp)

 Kurtosis < 3: Có hình một đa giác tù hơn với hai đuôi dài

Theo đó, lãi suất cơ bản, lãi suất huy động các kỳ hạn và lãi suất cho vay đều

có phân phối lệch phải Lãi suất cơ bản, lãi suất huy động tiền gửi 18 tháng,

24 tháng có hình dáng đa tần trông khá cao và nhọn với 2 đuôi hẹp, trong khi

đó lãi suất huy động tiền gửi 1 tháng, 6 tháng, 12 tháng, lãi suất cho vay ngắnhạn, trung dài hạn có dạng đa giác tù hơn với 2 đuôi dài

Ngày đăng: 01/10/2020, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w