1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới tại huyện xuân lộc, đồng nai

84 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DẠY KINH TẾ FULBRIGHTĐÀO DUY NGỌC SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG TP... Để cải thiện sự tham gia của n

Trang 1

DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

ĐÀO DUY NGỌC

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

ĐÀO DUY NGỌC

SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi tiến hành khảo sát, tham khảo tài liệu và viết Cácđoạn trích dẫn, số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích nguồn và có độ chính xác caonhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểmcủa Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tếFulbright

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2015

Người thực hiện

Đào Duy Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin cảm ơn những người đã xây dựng nên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright để tôi

có một môi trường tuyệt vời cho học tập và trải nghiệm

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Phạm Duy Nghĩa về những kiến thức đã truyềnthụ và những lời khuyên bổ ích để hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, các anh chị công tác tại Trường Fulbright đã hếtlòng hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi cũng xin cám ơn đến anh Võ Thanh Duy MPP5, anh Nguyễn Xuân Tuân MPP5 đãhướng dẫn, hỗ trợ các tài liệu nghiên cứu và đưa ra những lời khuyên, chỉnh sửa các lỗi đểtôi có thể hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, chuyên viên ở Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Xuân Lộc, Phòng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn huyện Xuân Lộc, UBND xã và người dân tại các xã vì sự giúp đỡ tận tình trongviệc trả lời phỏng vấn và cung cấp thông tin cho việc hoàn thành khóa luận này

Trang 5

TÓM TẮT

Chương trình Nông thôn mới (NTM) được thực hiện triển khai trên quy mô rộng lớn từtrung ương đến địa phương huy động cả hệ thống chính trị tham gia Mặc dù đã có nhữngthành công nhất định như tình huống Xuân Lộc là địa phương đầu tiên trong cả nướcđược thủ tướng chính phủ ký quyết định công nhận danh hiệu huyện nông thôn mới Tuy

nhiên thực tế vẫn có những tồn tại làm ảnh hưởng đến chất lượng và tính bền vững của

chương trình Một trong điểm quan trọng chính là sự tham gia của cộng đồng trong cáchoạt động xây dựng NTM, nhà nước chỉ nên có vai trò hỗ trợ, là động lực để người dântham gia một cách tự nguyện

Tuy nhiên thực trạng về sự tham gia của người trong khảo sát nghiên cứu tại huyện XuânLộc cho thấy người dân được thông tin về chương trình NTM còn thấp, thông tin chỉ dừnglại ở mức khẩu hiệu, kêu gọi Các hoạt động được quy định cần có sự tham gia của ngườidân như: quy hoạch, chọn việc ưu tiên làm trước… rất ít được tham vấn ý kiến của ngườidân, người dân hầu như chỉ biết khi bắt đầu xây dựng hoặc đưa xuống các cuộc họp dân,họp ở địa phương khi cần kêu gọi đóng góp Mức độ tham gia của người dân theo thang

đo “biết, bàn, làm, kiểm tra” có chiều hướng giảm dần, chỉ những hoạt động liên quan trực tiếp tới đời sống người dân và họ phải đóng góp chi phí để xây dựng thì người dân

mới tham gia một cách chủ động và tích cực

Qua khảo sát, có thể nói sự thành công của chương trình xây dựng NTM tại huyện XuânLộc chỉ dựa trên số tiêu chí đạt được (19/19 tiêu chí) mà không đến từ sự tham gia củangười dân Nguyên nhân thành công có thể nằm ở những nguyên nhân khác nằm ngoàiphạm vi bài nghiên cứu

Để cải thiện sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng NTM, người viết đưa

ra một số kiến nghị: (1) có quy định thống nhất về sự tham gia của người dân ở từng địaphương; (2) mỗi địa phương sẽ nhận một khoản ngân sách như nhau, người dân tại địaphương sẽ quyết định thực hiện công việc gì trước phù hợp với nguồn lực của mình; (3)thực hiện các biện pháp truyền thông thống nhất và các lớp học về vai trò quan trọng củaviệc tham gia từ cộng đồng; (4) công khai, minh bạch các hoạt động NTM từ việc lên quyhoạch, lên kế hoạch thực hiện và tài chính của các hoạt động; (5) người dân phải có quyền

tự quyết đối với những công việc tại địa phương

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HÌNH VẼ vi

DANH MỤC HỘP vii

TỪ KHÓA vii

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Cấu trúc dự kiến của đề tài 4

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NTM 5

2.1 Giới thiệu về chính sách xây dựng NTM 5

2.2 Chương trình NTM tại Đồng Nai 7

2.3 Vai trò của người dân trong việc xây dựng NTM 8

CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

3.1 Các lý thuyết về sự tham gia của người dân 10

3.2 Kinh nghiệm của các nước 13

3.3 Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân vào các lĩnh vực 15

CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO XÂY DỰNG NTM TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI 17

4.1 Quá trình thực hiện chương trình NTM tại huyện Xuân Lộc 17

Trang 7

4.2 Thực trạng tham gia của người dân

4.2.1 Thông tin về Chính sách xây dựng NTM

4.2.2 Người dân tham gia bàn, ý kiến trong xây dựng NTM

4.2.3 Người dân tham gia thực hiện trong xây dựng NTM

4.2.4 Người dân tham gia giám sát, quản lý, vận hành, bảo dưỡng các công trình NTM 33 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1 Kết luận

5.2 Khuyến nghị chính sách

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Xuân Lộc

Phụ lục 2: Chọn điểm nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu

Phụ lục 3: Phiếu khảo sát ý kiến người dân

Phụ lục 4: Kết quả khảo sát ý kiến người dân

Phụ lục 5: Danh sách những người được phỏng vấn

Phụ lục 6: Các tiêu chí về NTM của huyện Xuân Lộc so với Bộ tiêu chí quốc gia và Bộ tiêu chí tỉnh Đồng Nai về NTM

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tên tiếng Việt

CLB NSC Câu lạc bộ năng suất cao

GTNT Giao thông Nông thôn

OVOP One Village One Product

Oxfam Oxford Committee for Famine Relief

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Bộ máy chỉ đạo và điều hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM .7

Hình 3.1 Các mức độ tham gia của người dân 11

Hình 3.2 Thang đo về sự tham gia của người dân 12

Hình 4.1 Tỷ lệ người dân biết về những thông tin cơ bản trong xây dựng NTM 20

Hình 4.2 Tỷ lệ người dân biết về chương trình NTM 21

Hình 4.3 Tỷ lệ khảo sát người dân được thông báo về các vấn đề trong việc xây dựng NTM 22

Hình 4.4 Tỷ lệ khảo sát các mức độ người dân cần được tham gia trong xây dựng NTM 23 Hình 4.5 Tỷ lệ khảo sát các yếu tố quyết định cho việc lập kế hoạch cho các hoạt động xây dựng NTM 24

Hình 4.6 Tỷ lệ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch phát triển nông thôn 25

Hình 4.7 Sự tham gia quyết định và vai trò trong việc đưa ra các mức đóng góp trong việc xây dựng NTM 25

Hình 4.8 Tỷ lệ người dân tham gia vào hoạt động xây dựng NTM 26

Trang 9

Hình 4.9 Tỷ lệ khảo sát các hình thức đóng góp xây dựng NTM 27

Hình 4.10 Tỷ lệ người dân tham gia giám sát các hoạt động của xã 34

Hình 4.11 Lý do người dân không tham gia các hoạt động giám sát 35

Hình 4.12 Đánh giá chính quyền xã có tạo điều kiện cho người dân tham gia kiểm tra,giám sát 36

DANH MỤC HỘP

Hộp 4.1 Trường hợp huyện Nhơn Trạch thành lập Tổ tư vấn hỗ trợ các xã trên địa bàn

huyện thực hiện công trình giao thông nông thôn 29

Hộp 4.2 Mô hình Câu lạc bộ Năng suất cao và Liên hiệp Câu lạc bộ Năng suất cao tạihuyện Xuân Lộc 31

Hộp 4.3 Mô hình chuyển đổi cơ cấu cây điều tại huyện Xuân Lộc 33

TỪ KHÓA

Nông thôn mới, Sự tham gia của người dân

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH

1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Qua hơn 6 năm kể từ khi có chủ trương và hơn 3 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới(NTM), NTM đã được thực hiện ở 9.025 xã trên toàn quốc (Thanh Duy, 2014) Theo báocáo sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM, số xã đạt chuẩn NTM 19/19 tiêuchí là 185 xã, 622 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí, tương ứng với 2,05% và 6,9% số xã tham giachương trình.1 Nhìn chung hoạt động NTM chủ yếu thông qua tuyên truyền và thực tế xâydựng NTM tại địa phương lại không như những gì được chính quyền báo cáo Người dânthường chỉ biết đến khái niệm NTM chứ chưa thực sự hiểu và chủ động trong các hoạtđộng, chủ yếu chỉ chờ có chủ trương, hỗ trợ của nhà nước để thực hiện Ngày cả khi thựchiện quy hoạch, lập đề án vai trò của người dân tham gia nếu được chú ý thì đa phầnngười dân lại không hiểu biết về quy hoạch (Thiên Hương, Thanh Xuân, 2014)

Tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, từ một vùng đất nghèo nàn, lạc hậu, mang đầy thươngtích của bom đạn chiến tranh và cũng là huyện nghèo nhất tỉnh, nhưng sau gần 40 năm xâydựng và phát triển, đến nay Xuân Lộc là một huyện có nền kinh tế - văn hóa - xã hội pháttriển.2 Trong 5 năm thực hiện NTM, Xuân Lộc đã huy động gần 14.000 hộ dân hiến700.000 m2 đất, với gần 200.000 lượt ngày công thực hiện các công trình xây dựng NTM.Theo báo cáo của huyện Xuân Lộc trong công tác xây dựng NTM giai đoạn 2009-2014huyện có 13/14 xã đạt chuẩn NTM, đạt 92,86% (UBND huyện Xuân Lộc, 2014) Vào ngày24/1/2015, huyện Xuân Lộc và thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai được thủ tướng NguyễnTấn Dũng trao danh hiệu Nông thôn mới, đây là hai huyện đầu tiên trên cả nước đạt đượcdanh hiệu này (Thành Chung, Nhật Bắc, 2015)

Có thể thấy NTM tại huyện Xuân Lộc là một mô hình tốt để các địa phương khác có thể thựchiện Tuy nhiên theo cuộc điều tra Dư luận xã hội về công tác tuyên truyền NTM thực hiệntheo Kế hoạch số 223 - KH/BTGTU ngày 06/5/2013 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy trên địa bàntỉnh Đồng Nai năm 2013 cho thấy các hình thức tuyên truyền, tư vấn và tiếp nhận

1 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự và chỉ đạo Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chương trình ngày 16/5/2014.

2 Thông tin thêm về huyện Xuân Lộc tại Phụ lục 1.

Trang 11

thông tin về NTM ở huyện Xuân Lộc còn thấp, mức độ tham gia của người dân giảm dần

theo thang đo “biết, bàn, làm, kiểm tra”.

Như vậy mặc dù là huyện đầu tiên trong cả nước đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của mộthuyện NTM, nhưng sự tham gia của người dân huyện Xuân Lộc vẫn còn thấp Thực tế nàyphản ánh sự vênh nhau trong chủ trương phát triển nông nghiệp dựa vào sự tham gia củacộng đồng và các chính sách của nhà nước Rõ ràng, cải thiện sự tham gia của người dânvừa là hành động vừa là mục đích của chính sách xây dựng NTM Khi sự tham gia củangười dân được cải thiện, không chỉ nguồn lực đầu tư cho xây dựng NTM tăng lên mà cònthúc đẩy người dân tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến và tham gia tích cực để tạo ra mộtNTM năng động hơn

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại huyệnXuân Lộc tỉnh Đồng Nai Qua phân tích thực trạng sự tham gia của người dân, đề tài sẽđưa ra những kiến nghị giúp tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựngNTM cho từng cấp chính quyền cụ thể Để tạo cơ sở cho nghiên cứu, đề tài tìm hiểu về vaitrò của người dân trong việc xây dựng NTM và mức độ tham gia của người dân trong việcphát triển các chính sách xây dựng NTM

Do đó, đề tài đưa ra câu hỏi chính sách như sau:

Câu hỏi 1: Tại sao phát triển NTM lại cần có sự tham gia của người dân?

Câu hỏi 2: Vai trò thực tế của người dân trong việc tham gia xây dựng NTM tại huyện

Xuân Lộc?

Câu hỏi 3: Làm thế nào để cải thiện sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM nhìn

từ trường hợp huyện Xuân Lộc

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại huyện

Xuân Lộc.

Trang 12

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Xuân Lộc 8 xã trên

14 xã của huyện.3 Bên cạnh đó, các thông tin, dữ liệu còn được thu thập tại các xã, SởNông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Xuân Lộc và Ban Chỉđạo xây dựng NTM tỉnh Đồng Nai

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, nghiên cứu tại bàn, nghiên cứu thực địacùng với phân tích, so sánh và thống kê mô tả sẽ được sử dụng để đạt trả lời cho các câuhỏi nghiên cứu đề ra ở trên

Để trả lời cho câu hỏi 1 về sự tham gia của người dân, đề tài sẽ giới thiệu về chính sách

xây dựng NTM và chương trình NTM tại Đồng Nai Thông qua lý thuyết về sự tham giacủa người dân, người viết minh họa bằng nghiên cứu của André, Pierre (2012) các thang

đo của Ladder (Wilcox, 2003) Đồng thời, liên hệ thực tế thông qua các nghiên cứu về sựtham gia của người dân trong các lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam và kinh nghiệm vềNTM của Hàn Quốc và Nhật Bản để làm căn cứ khẳng định vai trò quan trọng từ sự thamgia của người dân trong việc xây dựng NTM

câu hỏi 2, để đánh giá sự tham gia của người dân tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai, tác giả

thực hiện khảo sát tại địa phương bằng cách thu thập ý kiến của người dân thông qua bảnghỏi và thực hiện phỏng vấn sâu đại diện của Ban quản lý xây dựng NTM cấp xã, Ban Chỉđạo xây dựng NTM cấp huyện, tỉnh Qua đó, tiến hành đối chiếu so sánh với các quy định,quy chế trong các văn bản có liên quan để xác định những vấn đề còn tồn tại cũng như mặttích cực trong quá trình xây dựng NTM tại Xuân Lộc

Câu hỏi 3 thông qua các phân tích ở các chương trước, các quy định pháp luật, kinh

nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở một số nước và các nghiên cứu trước,

đề tài sẽ đề xuất một số kiến nghị và giải pháp cải thiện sự tham gia của người dân trongchính sách xây dựng NTM

3 8 xã được khảo sát là: Xuân Hòa, Xuân Trường, Xuân Định, Xuân Phú, Xuân Thọ, Xuân Bắc, Suối Cao, Lang Minh.

Trang 13

1.5 Cấu trúc dự kiến của đề tài

Đề tài có kết cấu gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan và vấn đề chính sách;

Chương 2: Giới thiệu về chính sách xây dựng NTM;

Chương 3: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu;

Chương 4: Nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong Chương trình xây dựng NTM

tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.

Trang 14

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NTM

Xây dựng NTM không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hộitrường mà bản chất là qua cách làm này tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung,

ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra mộtNTM năng động hơn Đây không phải là đề án đầu tư của Nhà nước mà việc người dâncần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước tham gia chỉ thúc đẩy và hỗ trợ một phần

2.1 Giới thiệu về chính sách xây dựng NTM

Từ Nghị quyết 26-NQ/TW ban hành ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành trung ương Đảngthể hiện những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xácđịnh vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình phát triển đấtnước Đồng thời nhìn nhận mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân, xemnông dân là chủ thể của quá trình xây dựng, phát triển NTM Nghị quyết xác định sự tựchủ, tự lực, tự cường của nông dân trong phát triển Văn bản này tạo nền móng vững chắccho chính sách xây dựng NTM Sau đó, vào ngày 30/12/2008, Ban Bí thư ban hành Quyếtđịnh 205- QĐ/TW thành lập Ban chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng NTM và lựachọn 11 xã điểm xây dựng NTM

Năm 2009, để làm căn cứ đánh giá xây dựng NTM, Thủ tướng Chính Phủ ban hành bộ tiêuchí Quốc gia về xây dựng NTM dựa trên Quyết định số: 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009.Sau đó là thông tư số 54/2009/TT - BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM

Đến năm 2010, Chương trình xây dựng NTM chính thức trở thành Chương trình mục tiêuquốc gia dựa trên Quyết định 800/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia vềxây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 Khác với những chương trình phát triển nông thôntrước đây, Chương trình xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế

- xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn

Chương trình gồm 11 nội dung, mỗi nội dung bao gồm 1 hoặc 1 số tiêu chí của Bộ tiêu chíquốc gia NTM, gồm có 19 tiêu chí phân thành 5 nhóm bao gồm:

Trang 15

Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)

Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - Xã hội (có 08 tiêu chí)

Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)

Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí)

Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)

Thực tế việc thực hiện các nội dung này tùy thuộc vào nguồn lực của địa phương, khôngphải địa phương nào cũng có điều kiện để thực hiện hết các tiêu chí Việc thực hiện các nộidung sẽ ưu tiên về quy hoạch, đào tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng

Các địa phương đạt chuẩn NTM phải đảm bảo các điều kiện: có đăng ký xã đạt chuẩnNTM và được UBND cấp trên xác nhận và có 100% tiêu chí thực hiện trên địa bàn đạtchuẩn theo quy định dựa theo Quyết định 372 QĐ/TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2014) Cáctiêu chuẩn này có sự thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương.Hiện nay, bộ tiêu chí đánh giá NTM căn cứ trên Quyết định 491/QĐ-TTg – Quyết định vềviệc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định 342/QĐ-TTg – Quyết định sửađổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

Ngoài ra, theo Quyết định 800/QĐ-TTg và Thông tư BTC – Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg, Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng NTM còn bao gồm một số nội dung: Chương trình được điều hành,quản lý bởi các Ban Chỉ đạo được thành lập từ trung ương đến huyện, Văn phòng điềuphối là cơ quan giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp Trung ương, cấp tỉnh/thành phố, Cơ quanthường trực điều phối là cơ quan giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp huyện Ở cấp xã, vì là đơn

26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-vị triển khai Chương trình nên vừa có Ban Chỉ đạo vừa có Ban quản lý Và cấp quản lýcuối cùng là Ban phát triển thôn Ban Chỉ đạo tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp,

toàn diện về chất lượng, tiến độ, hiệu quả Chương trình trên địa bàn của mình (Hình 2.1).

Trang 16

Hình 2.1 Bộ máy chỉ đạo và điều hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên Quyết định số 1013/QĐ-TTg và Thông tư 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC

2.2 Chương trình NTM tại Đồng Nai

Đồng Nai là một tỉnh công nghiệp, cơ cấu ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng 6%, nhưngnông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn đóng một vai trò hết sức qụan trọng với hơn 60%dân cư sống vùng nông thôn (Ban chỉ đạo Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn và xây dựngNTM tỉnh Đồng Nai, 2014) Nông nghiệp Đồng Nai có nhiều vùng chuyên canh cây côngnghiệp, cây ăn quả với qui mô lớn, chăn nuôi khá phát triển, đóng góp quan trọng cho sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Bên cạnh đó, tình hình nông nghiệp, nông dân,nông thôn vốn nhiều hạn chế, bất cập, luôn gặp nhiều rủi ro, nên trong quá trình phát triểnkinh tế-xã hội, người nông dân luôn là đối tượng chịu nhiều tổn thương nhất Chính vì vậy

Trang 17

mà nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là một vị trí chiến lược quan trọng, là cơ sở vàlực lượng để phát triển kinh tế bền vững.

Trước khi có Nghị quyết 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chươngtrình xây dựng NTM, Đồng Nai đã chủ trương xây dựng nông thôn 4 có: (1) có kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội đồng bộ, (2) có đời sống kinh tế được cải thiện, (3) có đời sống vănhoá tốt, (4) có môi trường sinh thái được tốt Sau đó, UBND tỉnh ban hành Quyết định số74/2008/QĐ-UBND về Đề án xây dựng NTM tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2008- 2010 và tầmnhìn đến năm 2015 Đề án này dựa trên nền tảng công nghiệp hóa có sẵn và thế mạnh củacác ngành công nghiệp có lợi thế so sánh ở địa phương như: công nghiệp chế biến nôngsản - thực phẩm gắn với nguồn nguyên liệu tại chỗ Chính nhờ điểm xuất phát sớm này,Đồng Nai có những thuận lợi nhất định trong việc thực hiện chương trình NTM

Thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Quyết địnhphê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM, tỉnh Đồng Nai đã ban hànhQuyết định số 2418/QĐ-UBND về Chượng trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM trênđịa bàn vùng nông thôn giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 Từ thời điểm

đó đến nay, chính quyền Đồng Nai tập trung vào mục tiêu xây dựng NTM mục đích cảithiện dân sinh, nâng cao dân trí và tạo nguồn lực cho việc phát triển của tỉnh

Để cụ thể hóa nội dung Nghị quyết của Trung ương và Kế hoạch của Tỉnh ủy, các cấp ủyđảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị-xã hội từ tỉnh đến huyện, xã trên địa bàn triểnkhai, xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể hàng năm và 5 năm Căn cứ vào bộ tiêu chí quốcgia về NTM, tỉnh Đồng Nai đã xây dựng bộ tiêu chí NTM tỉnh Đồng Nai So với Trungương, bộ tiêu chí của tỉnh nhiều hơn về số lượng các tiểu tiêu chí: có 54 tiểu tiêu chí so vớitrung ương có 39 tiểu tiêu chí.4

2.3 Vai trò của người dân trong việc xây dựng NTM

Trong các văn bản xây dựng NTM được triển khai từ trung ương đến địa phương đều thực

hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”.Vai trò của người

dân trong việc xây dựng NTM được thể hiện khác nhau ở từng cấp văn bản

4 Xem thêm tại Phụ lục 6 về Bộ tiêu chí Quốc gia và Bộ tiêu chí của tỉnh Đồng Nai về NTM.

Trang 18

Ở cấp trung ương, tỉnh, các văn bản từ cấp trung ương như pháp lệnh thực hiện dân chủ

cơ sở, Nghị quyết 26-NQ/TW đều khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng,phát triển NTM, quy định về những vấn đề người dân được biết, bàn bạc, ý kiến, thựchiện Quyết định 800/QĐ-TTg, với những quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng trong quyhoạch, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa,thông tin và truyền thông, cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và mức đóng góp xây dựngNTM Vai trò của người dân chỉ dừng lại ở cấp độ đóng góp ý kiến

Ở cấp địa phương các văn bản được thực hiện chi tiết hơn dựa trên các tiêu chí và yêu cầucủa văn bản cấp trên để thực hiện Ở Đồng Nai, Quyết định số 2418/QĐ-UBND vềChương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn vùng nông thôn giai đoạn

2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, so với 39 tiểu tiêu chí của trung ương, bộ tiêuchí của tỉnh Đồng Nai có 54 tiểu tiêu chí phù hợp với hoàn cảnh và sự tham gia của ngườidân tại địa phương Chi tiết và đầy đủ hơn về vai trò của người dân trong xây dựng NTM

là sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã năm 2010 Dựa trên các tiểu tiêu chí mà ngườidân có thể tham gia với nhiều vai trò và cấp độ khác nhau Ở mức độ thấp, người dân thamgia với vai trò là người đóng góp công sức, tiền của xây dựng các công trình công cộng,chỉnh trang nơi ở Ở các mức độ cao hơn, vai trò của người dân thể hiện thông qua việccho ý kiến vào các đề án, bản đồ quy hoạch NTM cấp xã hay việc lựa chọn những côngviệc cần thực hiện trước, việc gì làm sau để phù hợp với điều kiện của địa phương Ở từngcông việc vai trò của người sẽ thay đổi, như khi tham gia ý kiến người dân đóng vai trò làngười tham vấn, khi tham gia lựa chọn công việc, quyết định mức độ đóng góp trong xâydựng các công trình công cộng của thôn, xã, người dân đóng vai trò là người được quyếtđịnh; Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoànthành, người dân đóng vai trò là người quản lý

Chưa bàn đến vai trò quan trọng của người dân như thế nào khi tham gia trong việc xâydựng NTM nhưng khi căn cứ trên Quyết định 800 QĐ/TTg, văn bản liên quan trực tiếp và

có giá trị pháp lý cao đối với Chương trình xây dựng NTM, thì người dân chỉ được thamgia với vai trò là người được tham vấn, lấy ý kiến Các văn bản ở những cấp thấp hơn cóchi tiết và đầy đủ hơn về vai trò của người dân, tuy nhiên vẫn dựa trên cơ sở của quyếtđịnh 800 QĐ/TTg Như vậy, thực tế vẫn còn một khoảng trống pháp lý cho những quyđịnh về vai trò của người dân trong xây dựng NTM

Trang 19

CHƯƠNG 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Từ thực tế về chính sách xây dựng NTM tại Việt Nam, bối cảnh tại huyện Xuân Lộc tỉnhĐồng Nai cho thấy để đạt được NTM cần nhiều yếu tố từ chính sách của chính quyền,ngân sách thực hiện đến sự tham gia của người dân Trong đó vai trò thực sự của ngườidân trong việc xây dựng NTM đang ở đâu và tại sao phát triển NTM lại cần có sự tham giacủa người dân là câu hỏi sẽ được trả lời thông qua các phân tích từ lý thuyết về sự thamgia của người dân, các nghiên cứu và kinh nghiệm của các nước trong chương này

3.1 Các lý thuyết về sự tham gia của người dân

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự tham gia của dân tùy thuộc vào lĩnh vực vào góc độtiếp cận của vấn đề Theo Florin, Paul (1990) sự tham gia của người dân là "một quá trìnhtrong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình vàmôi trường ảnh hưởng đến họ"

Trong một định nghĩa khác của Pierre André (2012) “Sự tham gia của người dân là mộtquá trình mà trong đó những người dân thường tham gia - trên cơ sở tự nguyện hoặc bắtbuộc và hành động một mình hoặc trong một nhóm - với mục tiêu ảnh hưởng đến quyếtđịnh sẽ tác động đến cộng đồng của họ” Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bênngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hộihay người ra quyết định (André, P; P Martin và G Lanmafankpotin, 2012) Tùy thuộc vàotrình độ nhận thức, văn hóa, điều kiện địa lý của từng vùng miền khác nhau, mức độ thamgia của người dân vào các công việc phát triển cộng đồng thể hiện ở các cấp độ khác nhau,như một tiến trình liên tục và chia thành 6 cấp độ:

(1) Tham gia thụ động (Passive participation): trong các hoạt động người dân thụ động

tham gia, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định

(2) Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributors): thông

qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham

dự vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin

Trang 20

(3) Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants): Tgười dân được tham vấn

và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương

(4) Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation): Trong các hoạt

động người dân thành lập nhóm để thực hiện những chương trình hay các dự án tạiđịa phương, tuy nhiên ở cấp độ này họ không tham dự vào quá trình ra quyết định

(5) Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision - making): Người

dân chủ động tham gia vào các quá trình phân tích và lập kế hoạch, họ tham giatrực tiếp vào quá trình ra quyết định tại địa phương

(6) Tham gia tự nguyện (Self- mobilization): Người dân tự thực hiện từ đầu mọi công

việc, lên ý tưởng, lập kế hoạch và đánh giá các hoạt động, việc này được thực hiệnkhông có sự hỗ trợ, định hướng từ bên ngoài

Hình 3.1 Các mức độ tham gia của người dân

Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên các mức độ tham gia của người dân.

Trong một nghiên cứu khác của Sherry R Arnstein (1969) lại chú trọng đến phân chia mức

độ tham gia của người dân thông qua việc đưa ra 8 mức độ (Vancouver CommunityNetwork, 2014) Thang đo 8 mức độ này được David Wilcox phân chia từ cao đến thấp và

Trang 21

mô tả như sau: Ở hai nấc thấp nhất là Sự vận động (manipulation) và Liệu pháp (Therapy)

hoàn toàn chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia Ở nấc thang

Cung cấp thông tin (Informing), đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham

gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi Ở mức Tham

vấn (Consultation) sẽ thực hiện các bước khảo sát, tổ chức các cuộc họp khu dân cư và

tham khảo ý kiến người dân, tuy nhiên ở mức độ này chỉ là những nghi thức Nấc thang kế

tiếp Động viên (Placation) người dân sẽ bầu và đưa những thành viên xứng đáng vào một nhóm để thực hiện chương trình, thường là một ủy ban Ở mức độ Hợp tác (Partnership)

có sự phân phối lại quyền lực giữa người dân và nhà cầm quyền, cả hai đều phải có trách

nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định Ở nấc thang thứ 7 Ủy quyền (Delegated Power)

người dân thường nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định, ở mức độ

này người dân đã có thể chịu trách nhiệm Nấc thang cuối cùng Người dân quản lý

(Citizen Control) cộng đồng thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính

sách và quản lý một chương trình (Wilcox, 2003)

Hình 3.2 Thang đo về sự tham gia của người dân

Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên mô tả thang đo của Ladder (Wilcox, 2003).

Trang 22

Như vậy theo các lý thuyết về sự tham gia của người dân thì người dân sẽ tham gia vàonhững hoạt động có tác động đến đời sống cộng đồng cũng như từng cá nhân, theo nhữnghình thức và mức độ khác nhau Vì vậy, khi xem xét các nội dung của Chương trình xâydựng NTM, ta nhận thấy 11 nội dung này đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cộngđồng dân cư nông thôn nên đây là cơ sở cho người dân tham gia vào các hoạt động xâydựng NTM.5 Cụ thể hơn, người dân nông thôn là người thụ hưởng những thành quả trongxây dựng NTM nên chỉ có họ mới là người hiểu rõ nhất nhu cầu của mình Từ những nhucầu đó, người dân biết cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được mục tiêu đề ra.

3.2 Kinh nghiệm của các nước

3.2.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Trong một nghiên cứu của Phạm Xuân Liêm (2011), Seamaul theo nghĩa tiếng Hàn là sựđổi mới của cộng đồng và undong có nghĩa là phong trào Phong trào đổi mới được hình

thành từ 3 nhân tố “Chăm chỉ - Tự lực – Hợp tác” Chăm chỉ là động cơ tự nguyện của

người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, Tự lực là ý chí bảnthân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và vận mệnh của bản thân và Hợptác là nhận thức về mong muốn phát triển cộng đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể.Trong hành động thì phong trào Semaul Undong lại phát huy tối đa sự tham gia của ngườidân, khuyến khích người dân tham gia từ những việc đơn giản rồi đến những việc phứctạp

Tổ chức phát triển nông thôn được thành lập chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở Mỗi làngbầu ra "Uỷ ban Phát triển Làng mới" gồm từ 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiến hành

dự án phát triển nông thôn

Nguyên tắc cơ bản của phong trào làng mới: Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng gópcông của Nhân dân quyết định loại công trình nào ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệmquyết định toàn bộ thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Sự giúp đỡ của Nhànước trong những năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau, tỷ lệ hỗ trợ của Nhànước giảm trong khi quy mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần

5 11 nội dung của Chương trình xây dựng NTM được nêu trong Quyết định 800QĐ/TTg ngày 4 tháng 6 năm

2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020.

Trang 23

Khi so sánh ta có thể thấy kinh nghiệm phát triển nông thôn Hàn Quốc với chính sách xâydựng NTM, ta nhận thấy chủ trương phát triển nông thôn của 2 phong trào là giống nhau,người dân đóng vai trò chính trong phát triển nông thôn, giúp người dân trở nên tự tin đểxây dựng cuộc sống của mình.

3.2.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Lợi (2013) về nông thôn tại Nhật Bản, từ năm 1979, ở

tỉnh Oi-ta đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (One Village

One Product viết tắt là OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực nàymột cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Trong đó, ba nguyên tắcchính xây dựng phong trào OVOP: (1) địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; (2) tự chủ,

tự lập, nỗ lực sáng tạo; (3) phát triển nguồn nhân lực

Ở mô hình của Nhật Bản, vai trò của nhà nước đóng vai trò chủ đạo đặc biệt là trong cácgiai đoạn đầu từ việc hỗ trợ kinh phí, trợ giá nông phẩm, xây dựng các quỹ rủi ro về giánông phẩm… Tuy nhiên xây dựng NTM nếu chỉ dựa vào Chính phủ sẽ không thể đủ, cầnphải có sự tham gia tích cực của người nông dân - đội ngũ những người được hưởng lợitrong công cuộc này Chính vì vậy, chính phủ Nhật Bản đã tìm mọi cách để nâng cao tínhtích cực, sáng tạo của người nông dân, để họ thực sự trở thành đội quân chủ lực trong côngcuộc xây dựng phát triển nông thôn Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xâydựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochulúa mạch, chanh Kabosu cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công

mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến, tự đem đi bán mà không phải quathương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâutrung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào “Mỗi làng,một sản phẩm” của Nhật Bản đã tạo ra 329 sản phẩm như nấm, cam, cá khô, chè, măngtre với chất lượng và giá bán rất cao

So sánh với chủ trương phát triển NTM của nước ta cũng có nhiều điểm tương đồng, ngườidân nước ta đều rất ủng hộ công cuộc xây dựng NTM, tuy nhiên người nông dân vẫn thiếu

ý thức chủ thể, tiêu cực, bị động, trông chờ, ỷ lại vào chính quyền Một nhiệm vụ quantrọng trong công cuộc xây dựng NTM là phải dựa vào sức mạnh của truyền thông, cơ chế,

Trang 24

chính sách để kêu gọi, gợi mở cho người nông dân, khích lệ người nông dân phát huy tinhthần tự lực cánh sinh, hình thành nên động lực nội tại cho công cuộc xây dựng NTM.

3.3 Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân vào các lĩnh vực

Sự tham gia của người dân đóng một vai trò và tác động đến hầu hết các lĩnh vực Cácnghiên cứu về sự tham gia của người dân khá nhiều và đa dạng từ giảm nghèo, giao thông,đất đai, sản xuất đến các vấn đề về hội nhập và phát triển kinh tế Các nghiên cứu chỉ ra vaitrò của cộng đồng ảnh hưởng đến sự phát triển và các hình thức đóng góp, tham gia củangười dân sẽ ảnh hưởng đến sự thành công của chương trình như thế nào

Một nghiên cứu của Công ty Tư vấn Mekong Economics (2005) về Sự tham gia của Cộngđồng trong Giao thông Nông thôn nêu lên những vấn đề về đóng góp và tham gia củangười dân nhằm đánh giá hình thức và mức độ đóng góp của người dân tại hai tỉnh VĩnhLong và Phú Thọ cũng như tác động của các khoản đóng góp đến đời sống của họ

Trong lĩnh vực Nông ngư nghiệp, Ngân hàng thế giới, Bộ Thủy sản, Trung tâm phát triển

và hội nhập, Viện kinh tế Việt Nam (2006) thực hiện một nghiên cứu về sự tham gia củacộng đồng ngư dân nghèo để xác định nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy sảncũng chỉ ra vai trò của cộng đồng ngư dân trong việc phát triển

Một nghiên cứu của Ủy ban Oxford cho cứu trợ nạn đói (Oxford Committee for FamineRelief – gọi tắt là Oxfam) về vấn đề sử dụng đất nêu ra sự ảnh hưởng của cộng đồng trongviệc thay đổi quyền sử dụng đất như thế nào Nghiên cứu chỉ ra tăng cường tiếng nói cộngđồng để lựa chọn đúng đắn về vấn đề sử dụng đất và thay đổi quyền sử dụng đất ở 3 tỉnhQuảng Trị, Quảng Bình và Nghệ An Thông qua 3 tình huống tại 3 địa phương, nghiên cứu

đã chỉ ra sự phản ứng khác nhau của cộng đồng và chính quyền về vấn đề này Các cộngđồng tham gia tích cực đã giành lại quyền sử dụng đất cho mình như trường hợp ở QuảngBình hay từ chối chuyển quyền sử dụng đất ở Quảng Trị

Từ những nghiên cứu này ta có thể thấy vai trò của người dân trong nhiều lĩnh vực khácnhau ở từng mức độ tham gia cũng khác nhau và có những tác động khác nhau đối với cáchoạt động Khi người dân có sự hiểu biết, tham gia và đóng góp ý kiến cũng như tham giagiám sát thì hiệu quả rõ ràng được cải thiện, người dân không còn thụ động trong các hoạtđộng mà trở nên tích cực, chủ động Ngoài ra, ở các nghiên cứu này ta còn thấy được sự

Trang 25

tương đồng với một số nội dung của Chương trình xây dựng NTM (19 tiêu chí và 11 nộidung).

Như vậy, qua các lý thuyết về sự tham gia của người dân cho đến các nghiên cứu về sựtham gia của người dân trong mọi lĩnh vực và kinh nghiệm về phát triển NTM của NhậtBản, Hàn Quốc đều cho thấy người dân có một vai trò thực sự quan trọng trong việc pháttriển bền vững về nông nghiệp Người dân là chủ thể và là người hiểu rõ các nhu cầu thực

tế khi họ có ý thức, chủ động tích cực sẽ có một tác động tích cực đến chương trình mà họtham gia Do đó, vai trò tham gia của người dân và mức độ tham gia đến đâu sẽ quyết địnhmức độ thành công và bền vững của chương trình

Trang 26

CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN VÀO XÂY

DỰNG NTM TẠI HUYỆN XUÂN LỘC, ĐỒNG NAI

Qua các phân tích ở chương trước cho thấy vai trò quan trọng của người dân trong việctham gia chương trình xây dựng NTM Tuy nhiên, thực tế vai trò của người dân trong việcxây dựng NTM tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai như thế nào? Sự tham gia của ngườidân ở các mức thang đo “biết, bàn, làm, kiểm tra” đến đâu sẽ được phân tích từ cuộc khảosát của người viết trong chương 4 này

4.1 Quá trình thực hiện chương trình NTM tại huyện Xuân Lộc

Chương trình NTM tại huyện Xuân Lộc được triển khai thông qua kế hoạch số 60-KH/HUngày 18/12/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Xuân Lộc và thành lập Ban Chỉ đạothực hiện Kế hoạch số 60-KH/HU Theo đó, UBND huyện Xuân Lộc xây dựng Kế hoạch

số 27/KH-UBND ngày 24/3/2009 để cụ thể hóa và triển khai thực hiện Đồng thời, căn cứhướng dẫn của Trung ương và tỉnh, UBND huyện đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạoxây dựng NTM

UBND huyện đã có Kế hoạch số 26/KH-UBND ngày 27/04/2010 về chỉ đạo xây dựng môhình NTM năm 2010 đối với các xã điểm Đồng thời chỉ đạo 5 xã điểm gồm: Xuân Định,Xuân Phú, Bảo Hòa, Xuân Thọ, Suối Cao xây dựng kế hoạch NTM trình UBND huyện phêduyệt để triển khai thực hiện

Theo báo cáo đột phá của huyện Xuân Lộc trong công tác xây dựng NTM giai đoạn

2009-2014 huyện có 13/14 xã đạt chuẩn NTM, đạt 92,86% Trong cả huyện Xuân Lộc chỉ còn

xã Xuân Trường đạt 18/19 tiêu chí, 53/54 chỉ tiêu, 1 chỉ tiêu chưa đạt là tỷ lệ km đườnghuyện quản lý được nhựa hóa, bê tông hóa Đến hết năm 2014 xã Xuân Trường cũng đãđạt chuẩn NTM;

Về kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM trên địa bàn huyện giai đoạn 2009-2014:(UBND huyện Xuân Lộc, 2014b)

Trang 27

- Nguồn vốn vay: 173,1 tỷ đồng (Trong đó: Tỉnh vay là 120.923 triệu

đồng, huyện vay 52.180 triệu đồng)

- Doanh nghiệp tự đầu tư: 2.490 tỷ đồng

- Vốn dân cư tư nhân: 8.209,4 tỷ đồng

Thực tế quá trình thực hiện NTM của huyện Xuân Lộc thể hiện qua cuộc điều tra Dư luận

xã hội về công tác tuyên truyền NTM năm 2013 Cuộc điều tra được thực hiện theo Kếhoạch số 223 - KH/BTGTU ngày 06/5/2013 của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy về việc tuyêntruyền về xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2013 Phạm vi cuộc điều trađược tiến hành tại 11 điểm thuộc tỉnh Đồng Nai: thị xã Long Khánh, Cẩm Mỹ, Định Quán,Long Thành, Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Xuân Lộc, Tân Phú, Nhơn Trạch và khảosát học viên Lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên truyền về NTM do Ban Tuyên giáoTỉnh ủy phối hợp tổ chức tại TP Biên Hòa

Qua cuộc điều tra cho thấy về công tác tuyên truyền, tư vấn và giới thiệu việc xây dựng

NTM tại các địa phương có kết quả khảo sát đạt kết quả tốt với 44,8%, trong đó cao nhất là

đơn vị huyện Cẩm Mỹ (62%), thấp nhất đơn vị huyện Tân Phú và Xuân Lộc (25%) Hình

thức tuyên truyền xây dựng NTM tại các địa phương chiếm ưu thế là việc tiếp nhận thông

tin tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh với 24,3%, trong đó cao nhất là đơn vịhuyện Vĩnh Cửu (24,1%), thấp nhất thuộc các đơn vị huyện Tân Phú và Xuân Lộc (22%).Tiếp nhận thông tin qua sinh hoạt hội họp 23,1%, trong đó cao nhất là đơn vị huyện NhơnTrạch (24%), thấp nhất đơn vị huyện Tân Phú và Xuân Lộc (21,5%)

Như vậy đối chiếu số liệu từ Báo cáo về NTM tại huyện Xuân Lộc và điều tra Dư luận xãhội về công tác tuyên truyền NTM năm 2013, ta thấy các công tác về tuyên truyền, tư vấn

và giới thiệu việc xây dựng NTM tại huyện Xuân Lộc còn thấp Qua các khảo sát của tácgiả, các hoạt động xây dựng NTM dễ nhận ra trên địa bàn huyện chỉ là các công trình điện

Trang 28

đường, các công trình NTM khác người dân chỉ được biết khi đã hoàn thành hoặc đó làchuyện của chính quyền địa phương Có thể thấy quá trình triển khai chương trình xâydựng NTM tại huyện Xuân Lộc vẫn còn những tồn tại về sự tham gia của cộng đồng.

4.2 Thực trạng tham gia của người dân

Khảo sát thực trạng tham gia của người dân về NTM tại huyện Xuân Lộc được thực hiệndựa trên điều tra thông qua phiếu khảo sát và phỏng vấn sâu Phiếu khảo sát được thựchiện dựa trên 4 nội dung: (1) thông tin về chương trình NTM, (2) người dân tham gia bàn,

ý kiến trong xây dựng NTM, (3) người dân tham gia thực hiện trong xây dựng NTM, (4)người dân giám sát, kiểm tra các công trình NTM.6 Kết quả phỏng vấn được thu thập trongquá trình khảo sát đối với người dân tại địa phương và thực hiện phỏng vấn sâu đối vớixóm trưởng, thôn trưởng, lãnh đạo tại các xã và cán bộ phụ trách NTM huyện Xuân Lộc

và tỉnh Đồng Nai.7

4.2.1 Thông tin về Chính sách xây dựng NTM

Trong báo cáo về NTM của UBND huyện Xuân Lộc giai đoạn 2009-2014 huyện thực hiện

18 kịch bản tuyên truyền (3 kịch bản/năm) thông tin lưu động về chủ đề xây dựng NTM,

an toàn giao thông, giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống tội phạm Đồng thời thực hiện1.086 buổi tuyên truyền lưu động; 18.132m băng rôn, 11.100 lá cờ các loại; Thực hiện hơn2.015m2 pano, tuyên truyền thường xuyên trên hệ thống Đài truyền thanh từ huyện đến xã,thị trấn được trên 6.240 giờ Như vậy có thể thấy việc thông tin về Chinh sách xây dựngNTM của huyện Xuân Lộc khá bài bản, có kế hoạch và thống kê cụ thể

Tuy nhiên khi thực hiện khảo sát về mức độ hiểu biết của người dân đối với chính sách vàcác kênh thông tin người dân tiếp nhận các chính sách xây dựng NTM thì kết quả khôngnhư kỳ vọng

Khi được hỏi về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM chỉ có 59,8% người dântrong quá trình khảo sát nghe đến và biết tại xã, huyện mình đang ở đạt được danh hiệunày Tuy nhiên, tỷ lệ người biết về các thông tin cơ bản trong việc xây dựng NTM chỉ ởmức trung bình Khi được hỏi có được biết về Bộ tiêu chí đánh giá thì chỉ có 56,5% trả lời

6 Chi tiết Phiếu khảo sát tại Phụ lục 4.

7 Xem thêm thông tin về việc chọn điểm khảo sát tại Phụ lục 3.

Trang 29

được biết và đa phần người dân không biết được số tiêu chí cụ thể mà địa phương đạtđược và thời gian nào đạt được danh hiệu đó Cũng như khi được hỏi về thời gian cụ thểbắt đầu xây dựng NTM thì tỷ lệ này cũng chỉ 58,8%.

Mặc dù trung bình khoảng thời gian ở tại địa phương của những đối tượng được khảo sát

là trên 10 năm (tổng số năm/số lượng khảo sát)

Hình 4.1 Tỷ lệ người dân biết về những thông tin cơ bản trong xây dựng NTM

l Chương trình mục tiêu 2 Bộ tiêu chí đánh giá 3 Thời gian bắt đầu

quốc gia xây dựng NTM việc xây dựng NTM Chương trình xây dựng

NTM

Có Không

Hai kênh thông tin người dân tiếp nhận các chính sách NTM mới nhiều nhất là qua loa

phát thanh và truyền hình, qua khảo sát cho thấy người dân nghe đến cụm từ “Nông thôn

mới” nhiều nhất là qua đài phát thanh địa phương, thông tin từ các chuyên mục về Nông

thôn của Đài truyền hình và qua các cuộc họp dân cư

Sau đó là các kênh thông tin trực tiếp từ chính quyền như qua các tổ chức đoàn thể, cácbuổi tiếp xúc cử tri và các tài liệu được phát về NTM của chính quyền Các cuộc họp khudân cư là kênh thông tin quan trọng để người dân tham gia sâu hơn vào các hoạt động xây dựng NTM

Trang 30

Hình 4.2 Tỷ lệ người dân biết về chương trình NTM

0

Tuy nhiên khảo sát cho thấy số người không tham gia vào các hoạt động tuyên truyềnNTM hoặc tham gia rất ít chiếm đến hơn 80% trong vòng 5 năm từ khi có NTM tại XuânLộc (không hoạt động nào 34,3% và 1 hoặc 2 hoạt động chiếm 46,3%)

Về hoạt động hỗ trợ sản xuất, kinh doanh thuộc chương trình xây dựng NTM trên địa bànthôn/xã qua khảo sát số người không được biết thông tin về các hoạt động hỗ trợ sản xuất,kinh doanh chiếm 44,5% trong đó số người không được biết và không quan tâm chiếm36,5% trên tổng số người được khảo sát Điều này cho thấy sự sự tiếp nhận thông tin củangười dân về các chính sách xây dựng NTM là có tuy nhiên thụ động và còn thấp, chỉdừng lại ở việc tham gia cho có

Bên cạnh tình trạng thông tin chung về chính chính sách xây dựng NTM từ chính quyềncho người dân còn nhiều hạn chế thì những thông tin cụ thể về việc lập quy hoạch cũng ởtrong tình trạng tương tự, chỉ khoảng 1/2 dân được hỏi biết về các thông tin về quy hoạch,lập đề án xây dựng cũng như việc quản lý, sử dụng các khoản đóng góp của dân trong việcxây dựng NTM hay như thông tin về nguồn vốn, chi phí của các công trình NTM Hơn50% không được thông báo và không quan tâm về những thông tin này Từ đây có thểnhận thấy hoạt động lập quy hoạch không chỉ không đúng theo quy định pháp lý ở Quyếtđịnh 800/QĐ-TTg - quy định lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư trong công tác quyhoạch mà còn thiếu cơ sở thực tiễn vì không có sự tham gia của người dân Quy hoạch có

sự tham gia của cộng đồng ngoài hiệu quả cho quy hoạch khi xuất phát từ nhu cầu thực tế

Trang 31

của người dân thì việc làm còn cho thấy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựngNTM hay đơn giản cũng làm cho người dân cảm nhận về vai trò của mình trong xây dựngNTM.8

Hình 4.3 Tỷ lệ khảo sát người dân được thông báo về

các vấn đề trong việc xây dựng NTM

200

150 100

50

0

Có, được thông báo Không được thông báo nhưng rất quan tâm Không quan tâm

Đi vào bản chất, mục đích cuối cùng của việc xây dựng NTM là nâng cao đời sống ngườidân Tuy nhiên, kết quả khảo sát khi đánh giá về cơ sở hạ tầng và điều kiện sống ở khu dâncư/xã hiện tại và nhận xét về sự thay đổi về điều kiện sống và cơ sở hạ tầng trong 5 nămtrở lại đây như điện, nguồn nước, thoát nước, vệ sinh, rác thải, trạm y tế, đường giaothông, chợ, cơ cấu sản xuất tại địa phương thì đến 70%-80% người được hỏi đánh giá làhài lòng Chính vì cơ sở hạ tầng và điều kiện sống của người dân tốt, nên họ không quantâm và có sự ỷ lại vào chính quyền Điều này cũng thể hiện khi được biết về các hoạt độngsản xuất kinh doanh thuộc chương trình NTM trên địa bàn các xã thì có đến 44,2% ngườidân không được biết và không quan tâm đến việc này

8 Phỏng vấn ông Ba Quýnh, xóm trưởng xóm 2, xã Xuân Bắc.

Trang 32

4.2.2 Người dân tham gia bàn, ý kiến trong xây dựng NTM

Đây là mức độ tham gia cao hơn của người dân trong hoạt động xây dựng NTM Ở mức độ

này người dân cần có hiểu biết nhất định về chương trình để có thể tham gia tích cực và

chủ động Mục đích của phần khảo sát này đánh giá về nhận thức của người dân về vai trò

của mình trong việc xây dựng NTM cũng như nhận thức về nhu cầu và nguyện vọng để

thực hiện các kế hoạch NTM

Khi được hỏi về mức độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM thì những người được hỏi

đều nhận thấy mức độ tham gia từ đơn giản như “được thông báo” đến mức độ cao nhất “ra quyết

định” Kết quả khảo sát cho thấy người dân chú trọng đến việc tham gia bàn và đóng góp

ýkiến, tỷ lệ này chiếm 59,3% số người được hỏi Tuy nhiên người dân chưa cảm nhận hết vai

trò của mình trong xây dựng NTM khi chỉ có 13,4% lựa chọn rằng người dân cần phải tham

gia vào việc ra quyết định

Hình 4.4 Tỷ lệ khảo sát các mức độ người dân cần được tham gia trong xây dựng NTM

Rõ ràng chỉ khi nào người dân cảm nhận được vai trò của mình thì việc tham gia xây dựng

NTM đối với họ mới trở thành nhu cầu tự thân Đây chính là cơ sở quyết định việc xây dựng

NTM thành công và bền vững

Kết quả khảo sát tiếp theo cho thấy người dân cảm nhận được vai trò của mình khi được

hỏi về yếu tố nào quyết định cho việc lập kế hoạch cho các hoạt động xây dựng NTM có

đến 51,9% số người được hỏi nhận thấy nhu cầu và nguyện vọng của người dân là yếu tố

Trang 33

quyết định đến việc lập kế hoạch các hoạt động xây dựng NTM Tuy nhiên, khi nhìn lại tathấy tỷ lệ người dân cho rằng kế hoạch của chính quyền các cấp mới là yếu tố quyết địnhchiếm tỷ lệ lên tới 49,1%.

Hình 4.5 Tỷ lệ khảo sát các yếu tố quyết định cho việc lập kế hoạch cho các hoạt động xây dựng NTM

Tình trạng này phần nào phản ánh thực tế xây dựng nông thôn mới đang diễn ra tại XuânLộc là người dân có nhu cầu và nguyện vọng trong việc tham gia xây dựng NTM tuy nhiênvẫn luôn trông chờ vào chính quyền hoạch định các kế hoạch cho mọi hoạt động

Sự hiểu biết của người dân về những thông tin quy hoạch, khi người viết thực hiện khảosát lần đầu tiên 100% người được hỏi đều không biết và cho rằng đây là việc của xã,huyện Đến lần khảo sát chính thức khi được hỏi về sự tham gia của người dân trong vấn

đề quy hoạch, lập đề án sau đó là quản lý và sử dụng các khoản đóng góp, nguồn vốn, tỷ lệkhảo sát cho thấy số lượng người dân được hỏi chưa tham gia vào việc lập kế hoạch pháttriển NTM lên tới 65,7% Nguyên nhân chính của việc chưa tham gia là không có thời gianchiếm 47,2% và không được lựa chọn chiếm 23,1% Như vậy có thể thấy sự hiểu biết vàtham gia vào từ đầu trong các dự án xây dựng cho thấy rất ít người dân được tham gia ýkiến trong công tác lập quy hoạch hay có thể nói yêu cầu lấy ý kiến cộng đồng cho quyhoạch chưa được xem trọng

Trang 34

Hình 4.6 Tỷ lệ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch phát triển nông thôn

Đã tham gia;

34,3%

Chưa tham gia; 65,7%

Việc người dân tham gia, bàn và được tham vấn trước khi thực hiện có một ý nghĩa quantrọng Khi được hỏi về sự tham gia quyết định và vai trò trong việc đưa ra các mức đónggóp trong việc xây dựng NTM thì có đến 51,4% người được hỏi cho rằng việc này nên đểdân bàn và dân quyết định Có thể thấy nếu các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợicủa người dân cụ thể trong trường hợp khảo sát là mức đóng góp về tiền, đất đai và cônglao động, người dân sẽ chủ động tham gia Như vậy, nếu sự tham vấn cộng đồng này đượcthực hiện tốt thì các quá trình sau như việc triển khai và quản lý sau quy hoạch sẽ có sựgiám sát của người dân

Hình 4.7 Sự tham gia quyết định và vai trò trong việc đưa ra

các mức đóng góp trong việc xây dựng NTM

Trang 36

Thực tế khảo sát cho thấy, người dân thường được hỏi ý kiến khi chính quyền cho rằngvấn đề đó cần lấy ý kiến Việc phụ thuộc vào các chính sách từ chính quyền làm giảm sựtham gia của người dân trong các chính sách xây dựng NTM Do đó, cần có những quyđịnh ràng buộc về việc tham vấn ý kiến cộng đồng trong xây dựng NTM để cải thiện tìnhtrạng hiện tại Khi hoạt động tham vấn được cải thiện, chất lượng các hoạt động xây dựngNTM sẽ tăng lên và người dân có sự tự tin để đầu tư sản xuất, kinh doanh lâu dài.

4.2.3 Người dân tham gia thực hiện trong xây dựng NTM

Theo báo cáo của UBND huyện Xuân Lộc tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM trong 5năm qua là 12.754,2 tỷ đồng trong đó người dân tham gia là 8.335,6 tỷ đồng Với hơn 65%nguồn vốn đóng góp cho việc xây dựng NTM có thể thấy vai trò của người dân khi thamgia đóng góp vào việc xây dựng NTM chiếm một phần quan trọng

Tuy nhiên kết quả khảo sát phản ảnh một bức tranh khác, tỷ lệ người dân được hỏi thamgia vào các hoạt động xây dựng NTM chưa cao, trong số 216 người được hỏi chỉ có 38%trả lời là có tham gia vào việc xây dựng NTM

Hình 4.8 Tỷ lệ người dân tham gia vào hoạt động xây dựng NTM

Không quan tâm 11,1%

Không tham gia nhưng quan tâm 12,5%

0,0% 20,0% 40,0% 60,0% 80,0% 100,0%

Trong số người tham gia vào việc xây dựng NTM thì tỷ lệ chủ yếu là góp tiền, tỷ lệ nàychiếm 41,2% hình thức đóng góp Hầu hết những người dân tham gia đóng góp đều chorằng hình thức đóng góp bằng tiền là đơn giản nhất và nghe thông báo từ chính quyền sốtiền họ đóng góp Việc góp ngày công hầu hết là các cán bộ chuyên trách tại xã, huyệnhoặc một số người dân hỗ trợ việc xây dựng

Trang 37

Việc góp đất hầu hết là do các hoạt động điện đường, chính quyền xã sẽ xuống vận động

và yêu cầu người dân hỗ trợ Nếu người dân hỗ trợ bằng hình thức góp đất sẽ không phải

góp tiền hoặc góp ít cho việc xây dựng đường Đa phần người dân trong quá trình khảo sát

đều cho rằng mức đóng góp này là chấp nhận được, tỷ lệ khảo sát có đến 88,9% người

được hỏi có nhận xét này

Hình 4.9 Tỷ lệ khảo sát các hình thức đóng góp xây dựng NTM

100,0% 90,0% 80,0% 70,0% 60,0% 50,0% 40,0% 30,0% 20,0% 10,0% 0,0%

Theo tìm hiểu của người viết có thể giải thích được điều này trong nguồn vốn nội lực huy

động trong dân, người dân đóng góp trực tiếp thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng chỉ

khoảng 234,4 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng nguồn vốn đầu tư Phần còn lại là đầu tư

phát triển sản xuất là 8.101,1 tỷ đồng do nguồn vốn dân cư và tư nhân trong đó, bao gồm

phần tiết kiệm của dân và phần tích lũy của doanh nghiệp dân doanh, HTX (UBND huyện

Xuân Lộc, 2014b) Như vậy có thể thấy đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình

có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phương nói chung và xây dựng NTM

nói riêng

Xây dựng đường giao thông nông thôn

Một trong những điểm sáng trong chính sách xây dựng NTM của huyện Xuân Lộc là thực

hiện gần như toàn diện chỉ tiêu xây dựng đường giao thông nông thôn trong địa bàn

huyện Trong 5 năm thực hiện chính sách NTM, huyện Xuân Lộc đã xây dựng được

Trang 39

Theo báo cáo về NTM của huyện Xuân Lộc cuối năm 2014, tổng kinh phí thực hiện là843,514 tỷ đồng Trong đó, nguồn ngân sách tỉnh 301,254 tỷ đồng, ngân sách huyện198,527 tỷ đồng, nhân dân đóng góp 170,630 tỷ đồng (trong đó nhân dân đóng góp quản lýqua ngân sách là 114,246 tỷ đồng, hiến đất, cây trồng là 52,997 tỷ đồng, công lao động là3,387 tỷ đồng), nguồn vốn vay 173,103 tỷ đồng Nhân dân đóng góp chiếm 20% tổng mứckinh phí thực hiện, số tiền trực tiếp đóng góp thông qua hiến đất, cây trồng và công laođộng chiếm khoảng 7% mức kinh phí.

Thực tế qua tìm hiểu của người viết, vai trò tham gia của người dân trong việc hoàn thànhchỉ tiêu này thấp Vai trò chính là ở chính quyền địa phương, cụ thể là ở Đảng bộ vàUBND huyện Xuân Lộc Cụ thể chính quyền huyện Xuân Lộc đưa ra thời gian và chỉ tiêukhi thực hiện các công trình đầu tư xây dựng cơ bản, đặc biệt là giao thông nông thôn.Việc bám sát và thực hiện đúng các kế hoạch huyện đã đề ra, hầu như các công trình giaothông nông thôn không có việc trễ tiến độ Đồng thời, để tiết kiệm kinh phí, UBND huyện

đã giao Ban quản lý Dự án huyện, Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện giúp xã khảo sát, thiếtkế; thẩm tra thiết kế, dự toán; lập, đánh giá hồ sơ mời thầu xây lắp; lập, đánh giá hồ sơ đềxuất chỉ định thầu xây lắp; giám sát thi công xây dựng công trình9 Qua đó, tiết kiệm 15%chi phí xây dựng công trình, tương ứng 127,85 tỷ đồng Khi thiết kế đã chú trọng hạn chếkhối lượng đắp đất nền đường, giảm khối lượng ván khuôn mặt đường, chi phí lán trại;tăng cường sử dụng vật liệu tại địa phương nên đã giảm chi phí xây dựng khoảng 25%,tương ứng với số tiền 213,08 tỷ đồng Tổng kinh phí tiết kiệm được trong xây dựngđường GTNT là 340,93 tỷ đồng (UBND huyện Xuân Lộc, 2014)

Tuy nhiên, việc UBND huyện Xuân Lộc giao xuống các phòng ban thực hiện và khoánđịnh mức là vi phạm một số điều luật và nghị định Việc đầu tư xây dựng công trình sửdụng vốn ngân sách thực hiện theo Luật xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản và các Nghị định hướng dẫnliên quan của Chính phủ như: Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 14/02/2009 về quản lýđầu tư và xây dựng công trình; Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về việc sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 14/02/2009 và Nghị định

số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật đấu thầu vàlựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng Theo đó, các phòng ban trực thuộc

9 Phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Định – Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Nông thôn, Sở NN PTNN.

Trang 40

UBND huyện không có chức năng quyền hạn để thực hiện các nhiệm vụ được giao Trongtrường hợp này các cán bộ chuyện viên đảm nhận công tác thẩm định dự án, các báo cáokinh tế kỹ thuật, kế hoạch đấu thầu lại thuộc biên chế của đơn vị Tài chính – Kế toán củaUBND huyện Xuân Lộc Điều này vi phạm hầu hết các nghị định ở trên.

Tháng 4/2012, đoàn thanh tra của Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Đồng Nai đã có xuống kiểm tra

và khảo sát thực tế trường hợp của huyện Xuân Lộc Tuy nhiên, do sự thành công củahuyện Xuân Lộc trong việc xây dựng NTM và các thành tích vượt trội nên việc thanh trakhông xem đây là sai phạm mà chỉ dừng lại ở việc đánh giá là hạn chế của quá trình xâydựng NTM.10

Cũng vì lý do này, mô hình xây dựng NTM trong việc xây dựng đường giao thông đượcxem là tốt nhưng không triển khai nhân rộng được Thực tế, một số địa phương khác trong

quá trình xây dựng NTM cũng áp dụng mô hình này, tuy nhiên linh động thành lập “Tổ tư

vấn hỗ trợ các xã trên địa bàn huyện thực hiện công trình giao thông nông thôn” và có xin

ý kiến chỉ đạo của Sở Kế hoạch Đầu tư để thực hiện

Hộp 4.1 Trường hợp huyện Nhơn Trạch thành lập Tổ tư vấn hỗ trợ các xã trên địa bàn

huyện thực hiện công trình giao thông nông thôn

UBND huyện Nhơn Trạch có Tờ trình số 68/TTr-UBND ngày 25/5/2012 về việc thành lập

“Tổ tư vấn hỗ trợ các xã trên địa bàn huyện thực hiện công trình giao thông nông thôn”,

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai đã có văn bản số 1728/SKHĐT-XDCB ngày22/8/20112 thống nhất đề nghị của UBND tỉnh về việc thành lập Tổ tư vấn trên Tuy nhiên,trường hợp huyện Nhơn Trạch phải lưu ý:

- Cán bộ tham gia Tổ tư vấn thuộc biên chế phòng Tài chính – Kế toán huyện sẽkhông đảm nhận công tác thẩm định dự án (hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật), kếhoạch đấu thầu là các nhiệm vụ phòng tài chính kế hoạch khi trình UBND huyệnphê duyệt

- Cán bộ của Tổ tư vấn có khả năng đáp ứng theo nhu cầu về năng lực hoạt động xâydựng được quy định ở các nghị định trên

10 Thông tin phỏng vấn từ bà Lệ Quyên – phụ trách chuyên mục NTM Báo Đồng Nai.

Ngày đăng: 01/10/2020, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w