Sóc Trăng là tỉnh đi đầu trong việc nuôi tôm theoBMP, nhưng nghề nuôi tôm lúc nào cũng còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro chưa đượckhắc phục như sự phát triển nhanh nhưng chưa ổn định cả về di
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN TẤN KHUYÊN
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3hướng dẫn thực hành nuôi tốt hơn (BMP) trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng” là công
trình của riêng tôi Các tài liệu nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Mạnh Hồng
Trang 4Lời cam đoan
Danh mục bảng
Danh mục hình
Danh mục từ viết tắt
Chương 1 3
GIỚI THIỆU 3
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.5.1 Phạm vi về không gian 5
1.5.2 Phạm vi về thời gian 5
1.5.3 Phạm vi về nội dung 5
1.6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5
1.7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5
Chương 2 6
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1.1 Khái niệm về sản xuất 6
2.1.2 Hàm sản xuất 6
2.1.3 Các khái niệm hiệu quả 7
2.1.4 Một số khái niệm khác có liên quan 7
Trang 52.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 13
2.4.2 Phương pháp phân tích 14
2.5 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 22
2.5.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng 22
2.5.1.1 Vị trí địa lý 22
2.5.1.2 Tài nguyên thủy sản – biển 23
2.5.2 Sơ lược về tình hình sản xuất tôm tại tỉnh Sóc Trăng 24
2.5.2.1 Diễn biến diện tích nuôi 24
2.5.2.2 Diễn biến sản lượng thu hoạch 27
2.5.2.3 Thiệt hại trên tôm trong 9 tháng đầu năm 2014 30
Chương 3 32
KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32
3.1 THÔNG TIN CÁC HỘ ĐIỀU TRA 32
3.1.1 Thông tin cơ bản về chủ hộ 32
3.1.2 Nhân khẩu và lao động 33
3.1.3 Diện tích đất canh tác 34
3.1.4 Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của nông hộ 35
3.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TÔM CỦA NÔNG HỘ 37
3.2.1 Năng suất, sản lượng và giá bán 37
3.2.2 Kỹ thuật sản xuất của hộ 39
3.2.3 Chi phí đầu tư của nông hộ 41
3.3 KẾT QUẢ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG HIỆU QUẢ KỸ THUẬT 42
3.4 KẾT QUẢ MÔ HÌNH TOBIT 45
3.5 THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 47 3.5.1 Thuận lợi 47
Trang 6KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
4.1 KẾT LUẬN 54
4.2 KIẾN NGHỊ 55
Trang 7Bảng 2.3: Diễn biến tình hình diện tích nuôi tôm tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 tháng đầu
năm 2014
Bảng 2.4: Cơ cấu diện tích nuôi tôm tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 tháng đầu năm 2014
Bảng 2.5: Tổng sản lượng tôm thu hoạch của tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 tháng đầu năm 2014
Bảng 2.6: Xếp hạng tổng diện tích và sản lượng nuôi của các huyện
Bảng 2.7: Diện tích thiệt hại tôm trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đến tháng 9/2014
Bảng 3.1: Thông tin chủ hộ
Bảng 3.2: Thông tin cơ bản về các hộ nuôi tôm theo BMP
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng lao động
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng đất của nông hộ
Bảng 3.5: Tình hình tài chính nông hộ
Bảng 3.6: Các nguồn vay của nông hộ
Bảng 3.7: Thông tin các khoản vay
Bảng 3.8: Diện tích, năng suất, sản lượng tôm trong một vụ của các nông hộ
Bảng 3.9: Giá bán tôm
Bảng 3.10: Nguồn cung cấp con giống
Bảng 3.11: Tình hình kỹ thuật sản xuất của nông hộ sau khi thực hiện nuôi sạch
Bảng 3.12: Chi phí đầu tư của nông hộ trong vụ
Bảng 3.13: Mức độ tập trung hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theo hướng dẫn BMP 43 Bảng 3.14: Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô của các hộ nuôi tôm theo hướng dẫn BMP
Bảng 3.15: Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của sản xuất tôm
Bảng 3.16: Tác động biên của những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của sản xuất tôm
Bảng 3.17: Những thuận lợi của người nông dân nuôi tôm theo hướng dẫn BMP
Bảng 3.18: Những khó khăn của người nông dân nuôi tôm theo hướng dẫn BMP
Trang 8Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng 22 Hình 3.1: Cơ cấu chi phí đầu tư cho sản xuất tôm 42
Trang 9Từ viết tắt
Trang 10TÓM TẮT
Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn cho nuôi trồng thủy sản nước mặn
và thủy sản nước lợ, tại Sóc Trăng trong 9 tháng đầu năm 2014 đã thả nuôi 24.000
ha nuôi tôm thẻ chân trắngvà 17.500 ha tôm sú Tuy nhiên với nguồn lực tự nhiên
có giới hạn cũng như nhu cầu của thị trường ngày càng nhiều và nhu cầu cao về mặtchất lượng nhiều tiêu chuẩn/quy trình nuôi được đặt ra nhằm tạo ra được sản phẩmchất lượng và việc nuôi trồng trở nên bền vững hơn khi tuân theo những tiêu chuẩnnày trong đó phải kể đến BMP Sóc Trăng là tỉnh đi đầu trong việc nuôi tôm theoBMP, nhưng nghề nuôi tôm lúc nào cũng còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro chưa đượckhắc phục như sự phát triển nhanh nhưng chưa ổn định cả về diện tích, năng suất và
sản lượng vì thế đề tài “Hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi tôm theo hướng dẫn thực hành nuôi tốt hơn (BMP) trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng" được thực hiện với
những mục tiêu chính là 1) Phân tích tình hình nuôi tôm theo BMP năm 2013-2014trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; 2) Phân tích hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theoBMP năm 2014 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; 3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnhiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Đểđáp ứng các mục tiêu trên đề tài đã áp dụng phương pháp phân tích bao phủ số liệu(DEA) và phương pháp phân tích hồi qui, sử dụng hàm TOBIT Đối tượng nghiêncứu chính của đề tài là 70 hộ nông dân nuôi tôm theo BMP ở huyện Mỹ Xuyên vàVĩnh Châu, 70 hộ này được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để thỏamãn tính đại diện của mẫu điều tra và suy rộng cho tổng thể Kết quả nghiên cứucho thấy: 1) Hiệu quả kỹ thuật dưới hai giả thuyết qui mô không đổi và qui mô thayđổi tương ứng là TECRS = 0,632 và TEVRS = 0,852 Hiệu quả qui mô của các hộ nuôiđạt khá cao (SE = 0,708) Kết quả này cho thấy: (i) các hộ sản xuất có thể giảm36,8% (dưới giả thuyết qui mô không đổi) và 14,8% (dưới giả thuyết qui mô thayđổi) đồng thời các yếu tố đầu vào, nhưng vẫn đạt mức sản lượng hiện tại; (ii) đểnâng cao hiệu quả kỹ thuật các hộ cũng có thể mở rộng qui mô sản xuất 2) Có bayếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa về mặt thống kê đến TE là kinh nghiệm sản xuất của
Trang 11nông hộ, hộ có sử dụng con giống được chứng nhận sạch trong chăn nuôi hay không
và hộ có được tập huấn sản xuất theo BMP hay không Từ những kết quả nghiêncứu, một số giải pháp chính được đề ra: 1) Tăng cường mở các lớp tập huấn, đặcbiệt kiến thức tập huấn về kỹ thuật phải theo sát và cụ thể theo những quy định củahướng dẫn BMP; 2) Quy hoạch và phát triển vùng nuôi, nghiên cứu giải pháp cảitiến về kỹ thuật nuôi và sản xuất tôm giốngvà 3) Bản thân người nông dân phải chủđộng sử dụng con giống sạch đã qua kiểm nghiệm
Trang 12Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á, diện tích tự nhiên 330.000
km2 với bờ biển dài 3.260 km có tiềm năng rất lớn cho nuôi trồng thủy sản nướcmặn và thủy sản nước lợ (BTS, 1996) Năm 2008, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng
là 14.824 ha (Cục NTTS, 2008) đến hết tháng 9 năm 2013 là 45.900 ha Ước tínhđến 9 tháng đầu năm 2013 sản lượng tôm thẻ trên cả nước đạt 110.000 tấn Vớinguồn lực tự nhiên có giới hạn cũng như nhu cầu của thị trường ngày càng nhiều vànhu cầu cao về mặt chất lượng nhiều tiêu chuẩn/quy trình nuôi được đặt ra nhằm tạo
ra được sản phẩm chất lượng và việc nuôi trồng trở nên bền vững hơn khi tuân theonhững tiêu chuẩn này trong đó phải kể đến BMP (Better Management Practices)tạm dịch là thực hành nuôi tốt hơn là một bộ hướng dẫn về quản lý nhằm đạt đượcnhững mục tiêu như đã nêu trên Vụ nuôi năm 2014 ở Sóc Trăng, ước tính đến tháng09/2014 đã thả nuôi 24.000 ha nuôi tôm thẻ chân trắngvà 17.500 ha tôm sú Và SócTrăng cũng là tỉnh đi đầu trong việc thực hiện nuôi tôm theo BMP, trong năm 2014
có 17 HTX/THT trên địa bàn đăng ký tham gia với 94,6 ha ao tôm thẻ chân trắng và133,1 ha ao tôm sú thâm canh được đăng ký
Bên cạnh sự phát triển này, thì cũng còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro chưa đượckhắc phục như sự phát triển nhanh nhưng chưa ổn định cả về diện tích, năng suất vàsản lượng; sự phát triển mang tính tự phát không theo quy hoạch, thả nuôi khôngđúng theo lịch thời vụ khuyến cáo của nhà chuyên môn; hạ tầng kỹ thuật chưa đượcđầu tư đồng bộ, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất; vấn đề
ônhiễm môi trường ngày càng gia tăng đồng thời chưa có phương pháp xử lý triệtđể; dịch bệnh ngày càng gia tăng, diện tích thiệt hại gia tăng hàng năm Vì thế vấn
đề đặt ra hiện nay và trong thời gian tới là phải giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhấtđồng thời tăng năng suất, sản lượng cho người nông dân Từ thực tế trên đề tài
“Hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi tôm theo hướng dẫn thực hành nuôi tốt hơn
Trang 13(BMP) trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng" được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả sản
xuất của các hộ thực hiện theo hướng dẫn BMP từ đó đề xuất những giải pháp thíchhợp để phát triển sản phẩm này
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình sản xuất và đánh giá hiệu quả của mô hình nuôi tôm theoBMP trong năm 2014 qua đó đề xuất giải pháp duy trì và nâng cao hiệu quả môhình
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng sản xuất tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng như thế nào?
- Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
đã đạt đến mức độ nào?
- Yếu tố nào có ảnh hưởng ý nghĩa đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi?
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng của các
hộ nuôi tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử
dụng phương pháp màng bao dữ liệu (DEA - Data Envelopment Approach) để đo
lường hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả qui mô của các hộ nuôi tôm theo BMP năm
2014 tại tỉnh Sóc Trăng Ngoài ra, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
kỹ thuật của các hộ nuôi tôm trên địa bàn nghiên cứu bài viết sử dụng hàm hồi qui
Trang 15tổng chi phí đầu tư, tỷ lệ chi phí lao động thuê trên tổng chi phí lao động, sử dụng giống có chứng nhận sạch và kinh nghiệm nuôi tôm.
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu thuộc hai huyện Mỹ Xuyên và Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
do đây là 2 huyện có số lượng hộ nuôi tôm theo BMP nhiều nhất
1.5.2 Phạm vi về thời gian
-Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 11/2014 đến tháng 4/2015
-Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2013
-Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: từ tháng 11 – 12/2014
1.5.3 Phạm vi về nội dung
Do thời gian nghiên cứu của đề tài có hạn, số liệu sơ cấp được thu thập từ kếtquả phỏng vấn trực tiếp 70 hộ nuôi, đề tài chỉ phản ánh một số nội dung: phân tíchhiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tômtheo tiêu chuẩn BMP, từ đó tìm ra các nhân tốtác động ý nghĩa đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi trên địa bàn
1.6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả của việc sử dụng kết hợp các yếu
tố đầu vào của các hộ nuôi tôm theo hướng dẫn thực hành tốt hơn (BMP) trên địabàn tỉnh Sóc Trăng Đồng thời tìm hiểu những yếu tố có ảnh hưởng ý nghĩa đếnhiệu quả sản xuất của các hộ nuôi tôm, nhằm đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệuquả sản xuất cho các hộ nuôi tôm theo BMP
1.7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày gồm các nội dung sau:
Chương 1 Giới thiệu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả thảo luận
Chương 4 Kết luận và kiến nghị
Trang 16Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình, thông qua nó, các nguồn lực hoặc đầu vào sản xuất được
sử dụng để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng có thể sử dụng được.Các yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp là đất, lao động, phân bón,thuốc nông dược, v.v…
Các yếu tố đầu ra trong sản xuất nông nghiệp là các sản phẩm mà quá trìnhsản xuất tạo ra
Hàm sản xuất cho biết mức sản lượng tối đa được tạo ra ứng với mỗi phương
án kết hợp các yếu tố đầu vào cho trước Các yếu tố đầu vào bao gồm các yếu tố cốđịnh (là những yếu tố được nông dân sử dụng một lượng cố định và nó không ảnhhưởng trực tiếp đến năng suất như: chi phí máy tưới, chi phí máy bơm nước, …) vàcác yếu tố biến đổi (là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất như: giống,lao động, phân bón, thuốc nông dược,…)
Tuy có nhiều dạng hàm sản xuất được ứng dụng trong nghiên cứu thực nghiệmnhưng dạng hàm Cobb-Douglas được sử dụng phổ biến nhất, đặc biệt trong sản xuấtnông nghiệp Các ông Cobb và Douglas thấy rằng logarithm của sản lượng Y và củacác yếu tố đầu vào xi thường quan hệ theo dạng tuyến tính Do vậy hàm sản xuấtđược viết dưới dạng:
Trang 17lnY = lnβ0 + β1lnX1 + β2lnX2 + …+ βklnXk
Trong đó: Y và xi (i = 1, 2, …., k) lần lượt là các lượng đầu ra đầu vào của quátrình sản xuất Hằng số β0 có thể được gọi là tổng năng suất nhân tố, biểu diễn tácđộng của các yếu tố nằm ngoài những yếu tố đầu vào có trong hàm sản xuất Nhữngyếu tố này có thể là sự tiến bộ công nghệ, sự hiệu quả Với cùng lượng đầu vào xi,
β0 càng lớn sản lượng tối đa có thể đạt được sẽ càng lớn
2.1.3 Các khái niệm hiệu quả
Theo Coelli, T., R Sandura and T Colin.(2002), hiệu quả sản xuất hình thành
từ hiệu quả kỹ thuật (TE – Technical efficiency), hiệu quả phân phối các nguồn lực(AE – Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế hay còn gọi là hiệu quả sử dụngchi phí (EE- Economic eficiency hay CE – Cost efficiency) Theo Ông và cộng sự,
Hiệu quả kỹ thuật là đo lường khả năng của một công ty, xí nghiệp sử dụng các kỹ
thuật hiện có một cách tốt nhất hay là việc sử dụng lượng đầu vào cho trước để tạo
ra một sản lượng cao nhất hay sử dụng một lượng đầu vào nhỏ nhất để tạo ra một
lượng đầu ra nhất định (0 ≤ TE ≤ 1) Hiệu quả phân phối nguồn lực là phản ánh
khả năng của một công ty, xí nghiệp sử dụng tỷ lệ các đầu vào tối ưu tương ứng với
giá cả và công nghệ sản xuất Hiệu quả kinh tế là hiệu quả tổng hợp giữa hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân phối (EE = TE x AE)
Các loại hiệu quả này có thể được đo lường bằng phương pháp phân tíchDEA Phân tích TE để đo lường khả năng của một nông hộ sản xuất tối đa vớilượng đầu vào và công nghệ cho trước Phân tích AE đo lường khả năng của nông
hộ sử dụng các yếu tố đầu vào tối ưu với giá cả đầu vào và sản lượng đầu ra khôngđổi và phân tích EE dự trên kết quả của TE và AE cho thấy hiệu quả kinh tế củanông hộ
2.1.4 Một số khái niệm khác có liên quan
Chi phí cơ hội: Là phần lợi nhuận bị mất đi khi nhà đầu tư lựa chọn dự án này
mà không chọn dự án kia (nếu là hai dự án); trong trường hợp nhiều hơn hai dự ánthì chi phí cơ hội là phần lợi nhuận bị mất đi của dự án có khả năng sinh lợi cao gần
Trang 18nhất so với dự án mà nhà đầu tư đã lựa chọn Chi phí cơ hội không thể hiện cụ thểbằng tiền, do đó không được ghi chép vào sổ sách kế toán.
Chi phí kinh tế: Là chi phí bao gồm cả chi phí kế toán (chi phí tài chính) và
chi phí cơ hội
Hiệu quả kỹ thuật: Là việc sử dụng yếu tố nguồn lực đầu vào ít nhất để tạo ra
một lượng sản phẩm là cao nhất Hiệu quả kỹ thuật được xem là một phần của hiệuquả kinh tế
Nông hộ: Là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là một đơn vị hoạt động của
nền kinh tế xã hội, sử dụng các nguồn lực nông hộ để tiến hành các hoạt động sảnsuất có hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện xã hội và không tác động đến sinhthái và môi trường
Tối đa hoá lợi nhuận: Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí của tất cả các nguồn lực để sản xuất Trên lý thuyết để đạt được lợi nhuận tối đakhi và chỉ khi chi phí biên bằng với doanh thu biên
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA - Data EnvelopmentApproach) đã được sử dụng rộng rải trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh
tế Trong lĩnh vực thủy sản, gần đây nhất vào năm 2010, Nguyễn Phú Son đã áp
dụng DEA để ước lượng hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất Artemia ở Sóc Trăng
và Bạc Liêu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả qui
mô đạt được của những hộ này rất cao (0,95 và 0,91) Kết quả phân tích hồi quitương quan cho thấy kinh nghiệm sản xuất có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹthuật với mức ý nghĩa 1% trong khi việc thiếu vốn sản xuất và sự không sẳn có củaphân chuồng có ảnh hưởng tiêu cực đối với hiệu quả kỹ thuật ở mức ý nghĩa 5% và10% tương ứng Nghiên cứu này cũng cho thấy việc tiếp cận được hay không vớicác tổ chức tín dụng tại địa phương không gây ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật củacác hộ nuôi Artemia
Trong lĩnh vực rau màu cũng có nhiều tác giả sử dụng DEA để ước lượng hiệuquả sản xuất của các hộ nông dân tham gia sản xuất Theo một nghiên cứu gần đây
Trang 19của Đoàn Hoài Nhân (2010) về việc “Đánh giá hiệu quả sản xuất nấm rơm ở An
Giang” Kết quả nghiên cứu đã cho thấy đa số các hộ sản xuất nằm trong mẫu điềutra đều đạt được hiệu quả khá cao về mặt kỹ thuật (TE = 0,85), tuy nhiên việc sửdụng hiệu quả và hợp lý các yếu tố nhập lượng với giá cả và kỹ thuật sẵn có còn hạnchế nên đã làm hạn chế hiệu quả phân phối (AE = 0,31) và vì thế gián tiếp làm ảnhhưởng đến hiệu quả kinh tế (EE = 0,28) Có hai yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp một cách tích cực và có ý nghĩa đến hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuấtnấm rơm, bao gồm: (1) số năm kinh nghiệm sản xuất của người sản xuất nấm rơm
và (2) tiếp cận thông tin thị trường Trong khi đó thì yếu tố tiếp cận được hay khôngvới các tổ chức tín dụng không có ảnh hưởng ý nghĩa đến hiệu quả kỹ thuật của các
hộ chất nấm
Liên quan đến việc sử dụng DEA để ước lượng hiệu quả sản xuất của các hộ
nuôi cá tra ở An Giang, năm 2009 Bùi Lê Thái Hạnh đã sử dụng phương pháp này
để xác định hiệu quả kỹ thuật đạt được của các hộ nuôi trong năm 2008 Và kết quảnghiên cứu cho thấy hiệu quả kỹ thuật dưới giả thuyết thu nhập qui mô không đổi là0,595, với giả thuyết thu nhập qui mô thay đổi thì hiệu quả kỹ thuật là 1, và hiệuquả qui mô là 0,58 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng kinh nghiệm sản xuất vàmức độ đầu tư có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật
Nguyễn Văn Tiển và Phạm Lê Thông (2014) “Phân tích hiệu quả kinh tế
của nông hộ trồng sen trên địa bản tỉnh Đồng Tháp” Từ dữ liệu thu thập của 120
hộ trồng sen ở tỉnh Đồng Tháp, tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng khả năngcao nhất (MLE) để ước lượng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế từ hàm sản xuất
và hàm lợi nhuận biên ngẫu nhiên Kết quả cho thấy mức hiệu quả kỹ thuật trungbình đạt được ở vụ 1 là 86,81% và ở vụ 2 là 85,33% Việc kém hiệu quả do chưa đạtđược hiệu quả kỹ thuật tối đa làm mất đi trung bình ở vụ 1 là khoảng 1.280 kg/ha vàtrong vụ 2 khoảng 1.027 kg/ha Mức hiệu quả kinh tế đạt được ở vụ 1 là 82,18%,còn ở vụ 2 là 82,99% Và do mức kém hiệu quả do chưa đạt được hiệu quả kinh tếgây thất thoát trung bình khoảng 5.665 ngàn đồng/ha ở vụ 1 và vụ 2 mất khoảng13.891 ngàn đồng/ha Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sen của 2 vụ là
Trang 20lượng giống, lượng phân đạm, phân kali, phân lân thuốc bảo vệ thực vật và lao độnggia đình Ngoài ra tác giả còn dùng mô hình hồi qui tuyến tính để phân tích cácnhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hộ trồng sen ở tỉnh Đồng Tháp, kếtquả cho thấy các yếu tố có tác động gồm vốn vay, trình độ học vấn và diện tích gieotrồng sen của nông hộ.
Tiên Hoàng Huy (2014)“Phân tích hiệu quả sản xuất mía của nông hộ ở tỉnh
Hậu Giang” Từ dữ liệu khảo sat của 130 hộ trồng mía ở tỉnh Hậu Giang thông qua
phương pháp DEA, bài nghiên cứu cho thấy được hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phânphối nguồn lực, hiệu quả sử dụng chi phí của các nông hộ trồng mía tỉnh Hậu Giang.Kết quả từ DEA cho thấy, các hiệu quả đạt mức tương đối, chưa đạt kết quả cao, thêmvào việc phân tích hiệu quả theo quy mô cho thấy được các nông hộ sản xuất còn manhmún, nhỏ lẻ, không tập trung, cụ thể trung bình hiệu quả kỹ thuật đạt khoảng 82,5%,hiệu quả phân phối khoảng 71,1%, hiệu quả sử dụng chi phí khoảng 57,9% và hiệu quảtheo quy mô khoảng 89,5% Ngoài ra, ước lượng mô hình hồi quy Tobit cho thấy cáchiệu quả chịu tác động bởi các nhân tố như trình độ hoc vấn; tham gia hội, đoàn thể;giới tính chủ hộ; tập huấn; kinh nghiệm sản xuất; số lao động của hộ và tín dụng Quakết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit cho thấy, biến số lao động của hộ, tham giahội đoàn thể, trình độ học vấn, giới tính, tín dụng có hệ số có ý nghĩa trong mô hìnhhiệu quả sản xuất và tương quan thuận chiều Từ những kết quả đó cho thấy, việc nângcao trình độ cho các nông hộ bằng cách mở các lớp tập huấn nhằm nâng cao hiệu quảsản xuất và cần có các chính sách ưu đãi vay vốn cho các nông hộ để họ đảm bảo đượcnguồn vốn đầu tư sản xuất và đạt hiệu quả hơn
Quan Minh Nhựt, Nguyễn Quốc Nghi, Hà Văn Dũng (2013) “Phân tích
hiệu quả chi phí và hiệu quả theo quy mô của hộ sản xuất hành tím tại huyện Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng ứng dụng phương pháp tiếp cận phi tham số” Bài nghiên cứu
sử dụng phương pháp tiếp cận phi tham số để đo lượng hiệu quả sử dụng chi phí củacác hộ sản xuất hành tím ở huyện Vĩnh Châu từ dữ liệu thu thập của 70 hộ Hiệuquả sử dụng chi phí bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, thông quaphương pháp màng bao dữ liệu DEA và phần mềm máy tính DEAP tác giả đã ước
Trang 21lượng được các loại hiệu quả này Ngoài ra tác giả còn thông qua phương pháp DEA
để đo lường và so sánh hiệu quả theo quy mô sản xuất của các nông hộ Kết quả chothấy, các hộ sản xuất hành tím có hiệu quả sản xuất tương đối cao và sự biến độngthấp (trung bình là 98% với độ lệch chuẩn 3%) nhưng hiệu quả sử dụng chi phí lạikhá thấp (trung bình 62%)
Nguyễn Hữu Đặng (2012) “Hiệu quả kỹ thuật và các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả kĩ thuật của các nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL trong giai đoạn 2008-2011”.
Tác giả ước lược hiệu quả kỹ thuật bằng phương pháp tham số thông qua hàm sảnxuất biên Cobb –Douglas kết hợp với hàm phi hiệu quả kỹ thuật, bài nghiên cứu chothấy các yếu tố đầu vào có tác động đến năng suất, ngoài ra tác giả còn tìm hiểu vềcác yếu tố phi hiệu quả kỹ thuật Kết quả cho thấy hiệu quả kỹ thuật trung bình củacác hộ sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu ở ĐBSCL trong giai đoạn 2008-2011 là88,96%, hiệu quả kỹ thuật ở năm 2011 thấp hơn hiệu quả kỹ thuật năm 2008 Tăngtrưởng sản lượng của hộ trong giai đoạn 2008-2011 là do đóng góp của các yếu tốđầu vào như đất đai, lao động, loại giống và việc điều chỉnh giảm lượng phân đạm,tăng phân lân Bên cạnh đó, tập huấn kỹ thuật, tham gia hiệp hội và tín dụng nôngnghiệp đã đóng góp tích cực vào cải thiện hiệu quả kỹ thuật nhưng ngược lại thìthâm niên kinh nghiệm của chủ hộ, tỷ lệ đất thuê là các yếu tố làm hạn chế khả năngcải thiện hiệu quả kỹ thuật
Thái Thanh Hà (2009) thực hiện nghiên cứu “Áp dụng phương pháp phân
tích màng bao dữ liệu và hồi quy Tobit để đánh giá hiệu quả sản xuất cao su thiênnhiên của các hộ gia đình tại tỉnh Kon Tum” Đề tài ngiên cứu về hiệu quả sản xuấtthông qua phân tích hiệu quả quả kỹ thuật và hiệu quả chi phí Số liệu của đề tàiđược tác giả thu thập từ 122 hộ trồng cao su thiên nhiên ở tỉnh Kum Tum, TâyNguyên Tác giả tính hiệu quả sản xuất thông qua 2 bước Thứ nhất, tính hiệu quảchi phí và hiệu quả kỹ thuật thông qua phương pháp màng bao dữ liệu DEA Thứhai, dùng hồi quy Tobit để xác định các yếu tố tương quan đến chỉ số hiệu quả kinh
tế và hiệu quả kỹ thuật Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhưng hộ có quy mô lớn (trên
2 ha) có hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả chi phí cao hơn những hộ có quy mô nhỏ
Trang 22(dưới 2 ha) Đồng thời, các nhân tố như vốn vay đầu tư sản xuất cao su, số cây mởmiệng cạo, và hệ số kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả chiphí Qua đó cũng khẳng định sự cần thiết và tính đúng đắn phải tập trung đất đainhằm thực hiện sản xuất cao su thiên nhiên ở quy mô lớn.
Qua kết quả tổng kết lý thuyết ta nhận thấy phương pháp DEA được sử dụng
để đánh giá hiệu quả kỹ thuât, hiệu quả phân phối và hiệu quả kinh tế trong nhiềulĩnh khác nhau như lĩnh vực trồng trọt và thủy sản Tuy nhiên, việc ứng dụng môhình DEA để đánh giá hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theo tiêu chuẩn BMP,tác giả chưa tìm thấy các nghiên cứu có liên quan, có thể do tiêu chuẩn BMP là tiêuchuẩn mới được triển khai tại Sóc Trăng Do đó, để có những đánh giá cụ thể hơn vềhiệu quả kỹ thuật của việc nuôi tôm theo tiêu chuẩn BMP nên tác giả thấy đây làđiểm mới để Tác giả chọn làm nội dung nghiên cứu cho luận văn cao học
2.3 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH NUÔI TỐT HƠN CHO TÔM (BMP - BETTER MANAGEMENT PRACTICES)
BMP là một bộ hướng dẫn về quản lý, không phải là tiêu chuẩn trong chănnuôi BMP dễ áp dụng và không cần tăng chi phí trong quá trình thực hiện Từ “tốthơn” ám chỉ rằng BMP luôn tiến triển, không hạn chế việc thay đổi theo hướng tíchcực và cải thiện những nội dung cần thiết theo sự phát triển của nghề nuôi
BMP là một biện pháp nuôi được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu khoahọc về đánh giá thực trạng và phân tích rủi ro Các biện pháp làm giảm yếu tố rủi rođược xem là BMP, BMP có mục tiêu chung là tăng cường trách nhiệm và vì mộtngành thủy sản phát triển bền vững, chứ không chỉ đơn thuần tăng năng suất nhưnhững biện pháp dùng trong khuyến nông khuyến ngư (thường chỉ tập trung vào cácphương pháp giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm) Chính vì vậy, BMP cóthể giúp người sản xuất tạo ra những sản phẩm hàng hóa theo chiều hướng bềnvững hơn và luôn xem xét tới các khía cạnh môi trường và kinh tế xã hội
BMP thường là tự nguyện, nhưng có thể được sử dụng làm cơ sở của nhữngquy định tại địa phương, hoặc thậm chí đáp ứng và tuân theo các tiêu chuẩn củachương trình chứng nhận nào đó
Trang 23Hiện tại bộ hướng dẫn BMP dành cho tôm được thành lập dựa theo Bộ tiêuchuẩn ShAD/ASC (Shrimp Aquaculture Dialogue/Aquaculture StewardshipCouncil) gồm 7 nguyên tắc:
Nguyên tắc 1 Tuân thủ tất cả luật lệ và quy định áp dụng trong phạm vi quốcgia và địa phương
Nguyên tắc 2 Trại nuôi được xây dựng ở những nơi phù hợp về mặt môitrường đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng.Nguyên tắc 3 Xây dựng và vận hành trại nuôi có lưu ý đến các cộng đồngxung quanh
Nguyên tắc 4 Vận hành trại nuôi thể hiện trách nhiệm với người lao động.Nguyên tắc 5 Quản lý sức khỏe và chăm sóc tôm một cách có trách nhiệm.Nguyên tắc 6 Quản lý nguồn gốc xuất xứ bố mẹ, chọn giống và các ảnh
hưởng đến quản lý giống
Nguyên tắc 7 Sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả và có trách nhiệm bảo
vệ môi trường
Theo các nguyên tắc phải tuân theo thì việc áp dụng hướng dẫn BMP có thể mang lại được những lợi ích sau:
- Giảm thiểu sự xuất hiện của bệnh
- Cải thiện tốc độ tăng trưởng
- Giảm bớt chi phí nuôi
- Cải thiện điều kiện môi trường nuôi và giúp hạn chế tối đa tác động của nghềnuôi lên môi trường xung quanh
- Đạt được những tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm
- Cũng cố mối quan hệ với cộng đồng địa phương qua nhận thức về bảo vệ môi trường
- Tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm
- Tạo thuận lợi trong việc duy trì sự bền vững
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 24* Số liệu sơ cấp
Cỡ mẫu được xác định theo công thức Slovin, với tổng thể 230 hộ nuôi theohướng dẫn BMP trên địa bàn tỉnh ta có thể xác định được cỡ mẫu phù hợp là 70 vớimức sai số 10% theo công thức như sau:
n = N/(1+Ne2)
Với N là kích thước tổng thể
e là sai số cho phépTác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thông qua danh sách các
hộ nuôi tôm theo BMP tại hai huyện Mỹ Xuyên và Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.Phương pháp thu thập số liệu thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 70 hộ nuôi trên địa bàn dựa trên bảng câu hỏi cấu trúc
2.4.2 Phương pháp phân tích
(1) Đối với mục tiêu 1 (Phân tích tình hình nuôi tôm theo BMP năm
2013-2014 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng)
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh để mô tả thựctrạng và tình hình sản xuất tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp phân tích thống kê mô tả theo Võ Thị Thanh Lộc (2000) là cácphương pháp có liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và
mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiêncứu Các công cụ trong thống kê mô tả như bảng thống kê, tần suất Các đại lượngthường được dùng mô tả tập dữ liệu như: (1) Đại lượng mô tả mức độ tập trung:
Trang 25mean, mode, median; (2) Đại lượng mô tả mức độ phân tán: Phương sai, độ lệchchuẩn, khoảng biến thiên.
Phương pháp so sánh
Cũng theo Lộc (2000), Phương pháp so sánh dùng để so sánh diện tích, sảnlượng, năng suất sản xuất qua các năm và các khu vực Tính tốc độ tăng trưởng củacủa các chỉ tiêu về diện tích, năng suất, sản lượng… qua các năm và qua các khuvực Các công cụ trong phương pháp so sánh như phương pháp so sánh số tương đối
và số tuyệt đối
- Phương pháp so sánh số tương đối: để phân tích tốc độ tăng trưởng của cácchỉ tiêu kinh tế qua các năm Được tính bằng cách lấy số tương đối năm sau trừ sốtương đối năm trước Thể hiện qua công thức:
∆Y= Y1-Y0
×100%
Y
0
Trong đó: Y0: Chỉ tiêu năm trước
Y1: Chỉ tiêu năm sau
ΔY: Biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế
- Phương pháp so sánh số tuyệt đối: dùng để phân tích sự biến động của giá trịcủa các chỉ tiêu kinh tế qua các năm Phương pháp so sánh số tuyệt đối được tínhbằng cách lấy giá trị năm trước trừ giá trị năm sau trong cùng một chỉ tiêu
Công thức: Y = Y1-Y0
Yo : Chỉ tiêu năm trước
Y1 : Chỉ tiêu năm sau
ΔY : là sự chênh lệch của các chỉ tiêu kinh tế
(2) Đối với mục tiêu 2 (Phân tích hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm theo
BMP năm 2014 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng).
Sử dụng phương pháp DEA (DEA - Data Envelopment Approach-phương
pháp màng bao dữ liệu) để đo lường hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm thẻ chântrắng theo BMP năm 2014 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Trang 26Phương pháp DEA
Cách tiếp cận chính của nghiên cứu này là việc sử dụng phân tích bao phủ sốliệu phi tham số (Non – Parametric Data Envelopment Analysis – DEA) DEA làphương pháp đánh giá tổng quát kết quả thực hiện của một hoạt động kinh tế nào
đó, dựa vào một tập hợp nhiều chỉ tiêu phức hợp Nó giúp chúng ta có được nhữngước lượng biên, thông qua việc sử dụng những mô hình tuyến tính phi tham số, kếtquả ước lượng sẽ là những điểm số hiệu quả cho tất cả các quan sát và chúng có giátrị trong khoảng từ 0 đến 1 Mục tiêu của phân tích này không phải là việc đi ướclượng hàm sản xuất Thay vào đó, nó được sử dụng để xác định những hộ quan sátđạt hiệu quả tốt nhất Thông qua phân tích này, một đường sản xuất hiệu quả biênbao gồm những hộ sản xuất đạt hiệu quả kỹ thuật hoàn toàn sẽ được xác định và dovậy, những hộ sản xuất không nằm trên đường này sẽ được khái niệm là những hộsản xuất không hiệu quả về mặt kỹ thuật (xem đồ thị 1 minh hoạ: Hộ A và C đượcxem là đạt hiệu quả kỹ thuật hoàn toàn vì chúng nằm trên đường sản xuất biên hiệuquả Trong khi đó, hộ B được xem là không hiệu quả và để trở thành hộ hiệu quả nóphải dịch chuyển điểm sản xuất đến điểm B’) Những hộ sản xuất hiệu quả này sẽđược xem là các hộ tham chiếu cho những hộ không hiệu quả trong số các hộ đượcquan sát
Trang 27Dựa trên đồ thị 1.3, hiệu quả kỹ thuật của hộ được đo lường bằng tỷ sốOB’/OB, do vậy hệ số kỹ thuật TE luôn luôn dương và nhỏ hơn hay bằng 1 Cũng từ
đồ thị 1, mức độ không hiệu quả được đo lường bằng tỷ số B’B/OB Tỷ số này cũngdương và nhỏ hơn hay bằng 1, và nó chính bằng 1- OB’/OB Như vậy khi xác địnhđược mức độ hiệu quả kỹ thuật (TE), giả sử là 78%, chúng ta cũng có thể kết luậnlà: mức độ không hiệu quả của hộ B là 22%
Theo Coelli et al (2002), mô hình DEA được sử dụng để tính toán hiệu quả kỹthuật (TE), một hộ được xem là có hiệu quả hơn một hộ khác trong cùng một mẫuđiều tra khi nó sử dụng ít nhập lượng hơn nhưng tạo ra cùng một lượng sản phẩm.Hoặc với cùng một lượng nhập lượng nào đó, nó có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn
so với các hộ khác Các hệ số hiệu quả được tính toán dựa trên tỷ số cao nhất giữaxuất lượng trên nhập lượng của tất cả các quan sát được sử dụng để phân tích
Gần đây, DEA đã nhanh chóng trở thành một công cụ được chấp nhận trongcác phân tích kinh tế và có nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này trongviệc phân tích hiệu quả hoạt động của nông trại, hoạt động của ngân hàng, y tế, giáodục, chế tạo sản phẩm, đánh giá hiệu quả trong việc quản lý, bán hàng v.v… (Frank
và Thanda, 1999) Trong nhiều nghiên cứu, DEA đã cung cấp nhiều thông tin sâusát và phong phú của vấn đề phân tích mà trong phân tích kinh tế lượng thuần tuýkhông đáp ứng được Sử dụng DEA thì tương đối đơn giản hơn so với việc sử dụngphương pháp kinh tế lượng về mặt toán học như phải xác định dạng hàm sản xuấtphù hợp (Forsund, 1991) Sử dụng phương pháp kinh tế lượng không đưa ra đượcđánh giá tóm tắt về mặt hiệu quả sản xuất Trong khi đó, DEA có thể đáp ứng đượcvấn này dựa trên cơ sở qui hoạch tuyến tính
Phân tích số liệu khi sử dụng DEA đòi hỏi hai bước chính là ước lượng hiệuquả kỹ thuật của tất cả các hộ được quan sát và sau đó hồi qui những đo lường hiệuquả tìm được này trên một số yếu tố liên quan đến thể chế, chính sách và kinh tế xãhội có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
Trang 28Bảng 2.1: Các biến sử dụng trong mô hình DEA
Thức ăn công nghiệp (kg)
Thuốc thủy sản (triệu đồng)
Làm đất (triệu đồng)
Lao động gia đình (ngày công)
Lao động thuê (ngày công)
(3) Đối với mục tiêu 3 (Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
của các hộ nuôi tôm theo BMP trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng).
Sử dụng phương pháp phân tích hồi qui Tobit để lượng hóa mối quan hệ
giữa biến phụ thuộc (Hiệu quả kỹ thuật) với các biến độc lập (Các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả kỹ thuật)
Những nghiên cứu của Kalirajan và Shand (1988), Coelli và Battese (1996),Assefa (1995) và Getachew (1995) chỉ ra rằng hiệu quả kỹ thuật chịu ảnh hưởng bởihàng loạt các yếu tố về mặt thể chế, chính sách và kinh tế xã hội như tình trạng hônnhân, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất của hộ sản xuất.Những nhân tố này trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng quản lý sảnxuất của hộ và do vậy sẽ có khả năng ảnh hưởng đến mức độ hiệu quả trong sảnxuất Theo Assefa (1995), sản xuất nông nghiệp còn có thể bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố như chất lượng của hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất bị suy thoái, khó tiếpcận với các tổ chức tín dụng, dịch vụ khuyến nông không đủ mạnh, quản lý chấtlượng đất không hiệu quả, hệ thống phân phối sản phẩm và các yếu tố nhập lượngkém hiệu quả, hệ thống giao thông xấu và các phương tiện bảo quản sản phẩmnghèo nàn
Trang 29Mối quan hệ giữa hiệu quả của các hộ sản xuất và các biến số vừa nêu trên cóthể được khảo sát bằng hai cách lựa chọn là tính toán các hệ số tương quan hoặcthực hiện phân tích phi tham số đơn giản Cách thứ hai được sử dụng trong nghiêncứu này thông qua một quá trình hai bước Trong đó, bước thứ nhất là đo lường hiệuquả kỹ thuật và kế đó là sử dụng mô hình hồi qui với biến số phụ thuộc là các hệ sốhiệu quả vừa tính toán được, còn các biến số độc lập bao gồm những đặc điểm nhânchủng học và kinh tế xã hội của hộ điều tra.
Trong nghiên cứu này, việc sử dụng mô hình hồi qui Tobit trên các biến số độclập có thể giải thích được sự thay đổi trong hiệu quả sản xuất giữa các hộ sản xuấtđược quan sát Lý do sử dụng mô hình này là do giới hạn của biến số phụ thuộc nằmtrong khoảng từ 0 đến 1 (Hussain, 1989 và Greene, 1991) Mô hình hồi qui Tobit(Tobin, 1958) có dạng như sau:
Ei = ∑jiβjixji + v (j: số biến độc lập)Trong đó, Ei là hệ số hiệu quả kỹ thuật của hộ thứ i; v là sai số có phân phốingẫu nhiên v ~ N(0,σ2) và βj là các tham số hồi qui; xj là các biến số độc lập có tácđộng đến hiệu quả sản xuất
Bảng 2.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và dấu kỳ vọng
Tên biến
Tập huấn kỹ thuật (1: có; 0: không)
Mật độ nuôi (con/m2)
Vốn đầu tư sản xuất (triệu đồng/ha)
Chi phí lao động thuê/tổng chi phí lao động (%)
Sử dụng con giống có chứng nhận sạch (1: có; 0: không)
Tỷ lệ sống của con giống
Kinh nghiệm của người nuôi
Trong mô hình hồi quy này tập huấn kỹ thuật là biến giả nhận giá trị là 1 khi
hộ được tham dự các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi tôm do các cơ quan chức năng
Trang 30hay công ty tổ chức, ngược lại nếu trong năm chưa từng tham gia sẽ nhận giá trị 0.Tập huấn kỹ thuật bao gồm tập huấn kỹ thuật nuôi, phòng trị bệnh và kiểm soát aonuôi Khi được tập huấn về kỹ thuật người nông dân sẽ nắm vững hơn quy trìnhnuôi cũng như kiểm soát sức khỏe tôm một cách tốt hơn, điều này sẽ trực tiếp ảnhhưởng đến năng suất tôm đạt được trong vụ nuôi Vì thế biến này mang dấu kỳ vọngdương có nghĩa là được kỳ vọng sẽ mang lại tác động tích cực đối với việc nuôi tômcủa người nông dân.
Mật độ nuôi tôm là mật độ thả tôm giống trên ao tính bằng số con trên mỗi métvuông mặt nước Ở đây, nếu nuôi với mật độ thấp ít cạnh tranh thì tỷ lệ sống sẽ cao,chất lượng tôm sẽ tốt hơn tuy nhiên năng suất sẽ thấp đi Còn nếu nuôi ở mật độ quádày tuy năng suất đạt được cao tuy nhiên sẽ tạo ra độ cạnh tranh lớn, chất lượng tôm
sẽ suy giảm kèm theo đó là khó kiểm soát được dịch bệnh trong ao Vì thế, tùy điềukiện tự nhiên cũng như tình hình dịch bệnh trong vùng mà người nuôi chọn thả vớimật độ phù hợp để có thể kiểm soát được dịch bệnh đồng thời đạt hiệu quả cao nhất.Vốn đầu tư sản xuất là tổng lượng vốn mà nông hộ bỏ ra để đầu tư cho mỗihecta nuôi tôm của hộ Khi đầu tư càng nhiều vốn hộ sẽ có được cơ sở hạ tầng tốt,
sử dụng những loại thức ăn, thuốc, vi sinh… có chất lượng tốt Hay khi được đầu tưnhiều vốn hơn hộ có thể đầu tư cho những loại máy móc, thiết bị đo đạc giúp kiểmsoát được môi trường nuôi một cách tốt nhất Vì thế biến này được kỳ vọng sẽ manglại tác động tích cực đối với hiệu quả kỹ thuật, có nghĩa là khi đầu tư tăng lên thìnông hộ sẽ đạt được hiệu quả kỹ thuật cao hơn
Tỷ lệ chi phí sử dụng lao động thuê là phần trăm lao động thuê trên tổng chiphí lao động đang tham gia nuôi tôm trong hộ Người lao động được thuê để nuôitôm họ chỉ phải tập trung vào nuôi tôm, họ có tay nghề tốt kết hợp với sự hướng dẫncủa chủ hộ thì sẽ đạt được hiệu quả cao trong việc nuôi tôm, đặc biệt đối với những
hộ nuôi với diện tích lớn và thiếu hụt lao động gia đình Tuy nhiên với một số lượnglao động thuê đông đúc, đến một mức dư thừa công lao động nào đó có thể sẽ phátsinh vấn đề lười biếng do đùn đẩy trách nhiệm trong lao động dẫn đến hiệu quả
Trang 31trong sản xuất không cao Vì thế, hộ nuôi nên quyết định số lượng lao động phùhợp, đồng thời cân đối lại số lượng lao động gia đình và lao động thuê nhằm giảmthiểu chi phí cũng như đạt được hiệu quả kỹ thuật cao nhất.
Chất lượng con giống, đây là biến giả nhận giá trị 1 khi hộ sử dụng con giống
có chứng nhận sạch (được xét nghiệm bệnh và có giấy chứng nhận sạch bệnh, tôm
bố mẹ có nguồn gốc), khi hộ không sử dụng loại con giống này sẽ nhận giá trị là 0.Trong hầu hết các sản phẩm chăn nuôi hiện nay, con giống đóng vai trò rất quantrọng trong việc quyết định năng suất đạt được, đặc biệt là trong các mặt hàng đangnóng trên thị trường hiện nay như tôm, cá tra… chất lượng con giống đang này càngxuống cấp do nhu cầu thị trường quá lớn đòi hỏi người cung cấp phải ép sinh sảnđối với con giống bố mẹ, sử dụng con giống bố mẹ không rõ nguồn gốc… tạo ranguồn giống không đảm bảo được chất lượng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đếnnăng suất nuôi trồng hiện nay thậm chí là mất trắng do tôm chết giữa vụ Vì thế biếnnày mang dấu kỳ vọng dương, có nghĩa là khi hộ sử dụng con giống sạch sẽ làmtăng được hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất tôm
Tỷ lệ sống của con giống cũng là một yếu tố rất quan trọng, nó tác động trựctiếp đến hiệu quả kỹ thuật bởi đây là yếu tố quyết định đến sản lượng tôm thuhoạch Vì thế biến này mang dấu kỳ vọng dương, có nghĩa là khi tỷ lệ sống của congiống càng cao thì sẽ làm cho hiệu quả kỹ thuật càng tăng cao
Bên cạnh đó, một yếu tố khác là kinh nghiệm của người nuôi trong nghề cũngmang tính quyết định cao đến hiệu quả kỹ thuật Người nuôi dựa vào những nhậnđịnh bằng trực quan về tình trạng ao nuôi kết hợp với kinh nghiệm nuôi trong nhiềunăm để đưa ra những quyết định phù hợp trong việc chăm sóc cũng như ra quyếtđịnh thu hoạch Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng cũng nhưcách thức sử dụng và phân phối các yếu tố đầu vào Vì thế biến này mang dấu kỳvọng dương có nghĩa là khi kinh nghiệm của chủ hộ (người nuôi) càng cao sẽ manglại hiệu quả kỹ thuật càng cao
Trang 322.5 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.5.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng
2.5.1.1 Vị trí địa lý
Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 3 tỉnh trong vùng Đồng bằng sôngCửu Long Ở phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía tây nam giáp tỉnh BạcLiêu, phía đông bắc giáp tỉnh Trà Vinh và giáp biển Đông ở phía đông và đông nam.Đơn vị hành chính của tỉnh Sóc Trăng gồm có 10 huyện, 1 thành phố với 109 xã,phường, thị trấn bao gồm: TP.Sóc Trăng, Kế Sách, Long Phú, Cù Lao Dung, Mỹ Tú,Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu và Trần Đề
Hình 2.2: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc TrăngTỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh231km, cách Cần Thơ 62km; nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ,Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, BếnTre và Tiền Giang.Vị trí tọa độ: 9012’ - 9056’ vĩ Bắc và 105033’ - 106023’ kinhĐông.Diện tích tự nhiên 3.311,7629 km2 (chiếm khoảng 1% diện tích cả nước
Trang 33và 8,3% diện tích của khu vực đồng bằng sông Cửu Long) với đường bờ biển dài 72
km và 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông
Từ Sóc Trăng có thể đi đến trung tâm các tỉnh, thành phố trong vùng Đồngbằng sông Cửu Long và khắp vùng Nam bộ bằng cả đường bộ lẫn đường thủy Cùngvới hệ thống kênh rạch và 8 tuyến tỉnh lộ dài 277 km, các tuyến đường liên huyện,liên xã nối liền các huyện, thành phố hình thành hệ thống giao thông thủy – bộ kháthuận lợi
2.5.1.2 Tài nguyên thủy sản – biển
Với chiều dài 72 km đường bờ biển gồm 3 cửa sông lớn Định An, Trần Đề,
Mỹ Thanh với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nguồn lợi thủy sản phong phú và đadạng, thuận lợi cho việc đầu tư khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản Thủysản là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Sóc Trăng, do đó vẫn tiếp tục huy động cácnguồn vốn đầu tư để phát triển toàn diện cả 3 mặt nuôi trồng, khai thác biển và chếbiến Đẩy mạnh nuôi tôm (sú, thẻ, càng xanh) ở cả vùng nước mặn, nước lợ và nướcngọt; khai thác tốt tiềm năng mặt nước bãi bồi ven sông, ven biển để nuôi tôm, cá vàcác loại thủy sản khác Tỉnh đã và đang đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ nghề cá như mở rộng và sớm hoàn thành việc xây dựng ngư cảng Trần Đề,
và đầu tư xây dựng mới cũng như nâng cấp các nhà máy chế biến thủy sản để sảnxuất các mặt hàng giá trị gia tăng cho thủy sản Đặc biệt hiện nay tỉnh cũng đang tậptrung nghiên cứu các phương án nhằm đẩy mạnh vấn đề khai thác đánh bắt xa bờ
Phân vùng sinh thái nuôi thủy sản tỉnh Sóc Trăng: Nuôi trồng thủy sản tỉnh
Sóc Trăng khá đa dạng và phong phú theo từng vùng canh tác Căn cứ vào điều kiện
tự nhiên và đặc điểm của nghề nuôi thủy sản, có thể phân vùng sinh thái nuôi thủysản của tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:
Vùng 1: Vùng nước ngọt quanh năm (độ mặn <4‰) gồm các huyện Thạnh Trị,
Ngã Năm, Mỹ Tú, Kế Sách, Châu Thành, Long Phú và Tp.Sóc Trăng Đây là vùngtiếp nhận nguồn nước ngọt từ sông Hậu và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp dẫn về từ đóthông qua các kênh rạch phân bố nước mặt cho khắp vùng
Trang 34Vùng này thích hợp phát triển nuôi thủy sản nước ngọt với các đối tượng nhưtôm càng xanh, cá rô đồng, cá rô phi, cá tra… nuôi chuyên canh trong ao đất hoặcxen canh, luân canh, nuôi kết hợp trong ruộng và mương vườn.
Vùng 2: Vùng ngọt vào mùa mưa, mặn vào mùa khô gồm huyện Mỹ Xuyên,
một phần thị xã Vĩnh Châu tiếp giáp huyện Mỹ Xuyên, một phần huyện Trần Đềtiếp giáp huyện Long Phú, Tp.Sóc Trăng và Mỹ Xuyên Đây là vùng chịu ảnhhưởng của nước mặn vào mùa khô theo cửa sông Mỹ Thanh, cửa Trần Đề xâm nhậpvào sâu nội đồng thông qua các tuyến kênh rạch
Vùng này thích hợp cho luân canh lúa – tôm, đối tượng chủ yếu là tôm sú,hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến
Vùng 3: Vùng mặn quanh năm (độ mặn >4‰) gồm thị xã Vĩnh Châu và một
phần huyện Cù Lao Dung, Trần Đề tiếp giáp với biển Đông và bị xâm nhập mặnquanh năm
Thích hợp phát triển nuôi trồng thủy sản mặn lợ Các đối tượng nuôi chủ yếunhư tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá nước lợ, cua, artermia, nhuyễn thể với cácphương thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh
2.5.2 Sơ lược về tình hình sản xuất tôm tại tỉnh Sóc Trăng
2.5.2.1 Diễn biến diện tích nuôi
Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176,29 ha, độ màu mỡ của đấtthích hợp cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Sóc trăng có diệntích đất nông nghiệp là 276.677 ha, chiếm 82,89%; trong đó, đất sản xuất nôngnghiệp là 205.748 ha (chiếm 62,13%), đất lâm nghiệp có rừng 11.356 ha (chiếm3,43%), đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha (chiếm 16,42%), đất làm muối và đấtnông nghiệp khác chiếm 0,97% (UBND tỉnh Sóc Trăng, 2014)
Trang 35Bảng 2.3: Diễn biến tình hình diện tích nuôi tôm tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 tháng đầu năm 2014
Nguồn: Báo cáo của chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng 2014
ĐBSCL chiếm trên 90% diện tích nuôi tôm của cả nước, với nhiều mô hìnhnuôi đa dạng như quãng canh cải tiến, tôm rừng, tôm – lúa, bán thâm canh và thâmcanh Mô hình quảng canh cải tiến có mật độ nuôi và năng suất thấp (4-6 con/m2,năng suất 400-450 kg/ha/năm) và chiếm diện tích lớn nhất trong các mô hình (trên300.000ha) và được nuôi chủ yếu ở Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng Môhình nuôi tôm – lúa luân canh có mật độ nuôi 4-6 con/m2, năng suất 200-560
Trang 36kg/ha/năm, được nuôi chủ yếu ở cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng với tổngdiện tích khỏang 160.000 ha Mô hình nuôi sú bán thâm canh và thâm canh có mật
độ 25-35 con/m2, năng suất 4–6 tấn/ha/vụ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Trevới tông diện tích trên 61.000 ha, Mô hình nuôi tôm chân trắng thâm canh được bắtđầu từ năm 2007 và phát triển khá nhanh trong vài năm gần đây, nhất là ở KiênGiang, Bến Tre, Sóc Trăng, với mật độ nuôi 50-120 con/m2, năng suất 6-12 tấn/ha(Khoa Thuỷ sản, 2013)
Theo báo cáo của VASEP (2014) thì diện tích nuôi tôm sú toàn quốc là613.400 ha (2012) và giảm xuống còn 600.000ha vào năm 2013 Bên cạnh đó thìdiện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 41.800 ha năm 2012 và tăng lên 66.000ha năm
2013 Như vậy, trong năm 2013 diện tích nuôi tôm sú của tỉnh Sóc Trăng chiếmkhoảng 5,08% tổng diện tích nuôi tôm sú cả nước và chiếm 23,55% tổng diện tíchnuôi tôm thẻ chân trắng cả nước
Theo kết quả thống kê ở bảng 2.3 thì tổng diện tích tôm mà tỉnh thu hoạchđược vào năm 2013 vào khoảng 46.028 ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú chiếmkhoảng 66,23% (tương đương 30.586 ha) và diện tích nuôi tôm thẻ chiếm 33,77%diện tích (tương đương 15.542 ha) Nếu mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ nuôiđược theo hình thức thâm canh thì mô hình nuôi tôm sú có nhiều hình thức nuôi baogồm thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến, quảng canh; trong đó hình thứcquảng canh hiện tại chiếm tỷ lệ rất nhỏ do hiện tại lượng tôm tự nhiên cạn kiệt cùngvới việc năng suất nuôi quá thấp nên hầu hết các nông hộ hiện tại không còn chọnhình thức này để canh tác Ngoài ra, hình thức nuôi thâm canh cũng ít được lựachọn bởi nông hộ (chỉ chiếm khoảng 5,68% tổng diện tích nuôi tôm sú), nguyênnhân chính là do hình thức này đòi hỏi mức đầu tư quá cao, vượt quá khả năng củanông hộ Vì thế các hình thức bán thâm canh và quảng canh cải tiến dường như làlựa chọn tối ưu cho người nuôi tôm với mức đầu tư vốn, kỹ thuật… phù hợp, hìnhthức nuôi quảng canh cái tiến chiếm 46,92% tổng diện tích nuôi sú và hình thứcnuôi bán thâm canh chiếm 47,40% tổng diện tích nuôi sú
Kết quả thống kê ở bảng 2.3 trên cũng cho thấy hai huyện Mỹ Xuyên và VĩnhChâu chiếm cơ cấu diện tích lớn nuôi tôm nhất trong tổng diện tích nuôi tôm tại tỉnh
Trang 37Sóc Trăng (trên 85% cơ cấu diện tích) Kế đến là huyện Trần Đề chiếm 7% năm
2013 và 8,5% trong 9/2014 và Cù Lao Dung chiếm 3% năm 2013 và 4% trong 9tháng đầu năm 2014, các huyện còn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ không đáng kể, đặc biệt
3 huyện Châu Thành, Kế Sách và Ngã Năm không có diện tích nuôi tôm
Trong 9 tháng đầu năm 2014 tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của tỉnh đã đạt51.099 ha, vượt 5.071 ha so với diện tích nuôi trồng cả năm 2013 Diện tích nuôitôm có tăng nhẹ trong 9 tháng đầu năm 2014 nhưng có biến động rất lớn về mặt cơcấu diện tích trong ngành
Bảng 2.4: Cơ cấu diện tích nuôi tôm tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 tháng đầu năm2014
Tôm sú
Tôm thẻ chân trắng
Tổng
Nguồn: Báo cáo của chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng 2014
Kết quả thống kê ở bảng 2.4 cho thấy có sự biến động mạnh về cơ cấu diệntích nuôi tôm, cụ thể ở năm 2013 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ chiếmkhoảng 33,77% tổng diện tích thì đến năm 2014 mô hình nuôi này đã chiếm đến59,81% tổng diện tích nuôi tôm Việc thay đổi cơ cấu này một phần do diện tíchtăng thêm như đã đề cập ở phần trên, nhưng phần lớn là do việc chuyển đổi mô hìnhnuôi của người nuôi từ nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân trắng Điều này đã chothấy phần nào tính hiệu quả cũng như lợi ích mà sản phẩm này mang lại cho ngườinuôi
2.5.2.2 Diễn biến sản lượng thu hoạch
Theo báo cáo của VASEP (2014) thì sản lượng tôm sú cả nước năm 2012 là302.000 tấn và tôm thẻ chân trắng là 186.000 tấn Đến năm 2013 thì sản lượng tôm
sú cả nước đạt 268.000 tấn và tôm thẻ chân trắng là 280.000 tấn Qua số liệu thống
kê trình bày trong bảng 2.5 có thể thấy tổng sản lượng tôm của tỉnh trong năm 2013chiếm 13,27% tổng sản lượng tôm sú và tôm thẻ chân trắng trong cả nước, cụ thể
Trang 38tổng sản lượng tôm sú của tỉnh trong năm 2013 là 22.080 tấn (tương đương 8,24%tổng sản lượng tôm sú cả nước) và sản lượng tôm thẻ của tỉnh là 50.682 tấn (tươngđương 18,1% tổng sản lượng tôm thẻ chân trắng của cả nước.
Bảng 2.5: Tổng sản lượng tôm thu hoạch của tỉnh Sóc Trăng năm 2013 và 9 thángđầu năm 2014
Nguồn: Báo cáo của chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng 2014
Qua bảng 2.5 cũng có thể thấy rõ rằng trong năm 2014 cùng với sự chuyểndịch cơ cấu diện tích thì cơ cấu sản lượng tôm trong tỉnh cũng thay đổi theo chiều
Trang 39hướng tương tự, cụ thể trong 9 tháng đầu năm 2014 sản lượng tôm sú có xu hướnggiảm mạnh, sản lượng tôm trong 9 tháng này chỉ bằng 29% tổng sản lượng nămtrước (tương đương 6.406 tấn) Ở một hướng ngược lại, cùng với diện tích tăng lên
do sự chuyển đổi từ mặt hàng tôm sú sang tôm thẻ chân trắng của người nuôi nênsản lượng tôm thẻ chân trắng thu hoạch trong 9 tháng đầu năm 2014 đã vượt 120 tấnhơn sản lượng thu hoạch trong cả năm 2013 Tuy vậy, về tổng sản lượng tôm củatỉnh vẫn đang có xu hướng ổn định bằng chứng là tổng sản lượng tôm 9 tháng đầunăm 2014 hiện bằng 78,6% so với tổng sản lượng tôm năm 2013 của tỉnh, điều nàycho thấy hiện tại ngành vẫn đang phát triển ổn định, chỉ có sự chuyển đổi giữa cácmặt hàng trong ngành lẫn nhau
Bảng 2.6: Xếp hạng tổng diện tích và sản lượng nuôi của các huyện
Nguồn: Báo cáo của chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh Sóc Trăng 2014
Ngoài sự dịch chuyển sản lượng tôm từ tôm sú sang tôm thẻ chân trắng thì sảnlượng tôm thu hoạch giữa năm 2013 và 9 tháng đầu năm 2014 cũng có sự thay đổi
Trang 40thứ hạng về sản lượng giữa các huyện trong tỉnh Toàn tỉnh Sóc Trăng có 8 huyệnthị có diện tích nuôi tôm nước lợ, trong năm 2013 tình hình sản lượng tôm thuhoạch có tỷ lệ thuận với diện tích nuôi Theo đó các huyện có diện lớn hơn nhấtcũng là các huyện có sản lượng tôm lớn hơn, cụ thể 3 huyện có sản lượng lớn nhất
là Vĩnh Châu (23.408 tấn), Mỹ Xuyên (12.620 tấn) và Trần Đề (8.762 tấn) Trong 9tháng đầu năm 2014, tuy diễn biến về cơ cấu diện tích nuôi giữa các huyện khôngthay đổi nhiều nhưng tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh đãlàm cho cơ cấu sản lượng giữa các huyện trong tỉnh có sự thay đổi đáng kể Theo
đó, huyện Trần để với diện tích 4.388 ha đứng thứ 3 (sau TX.Vĩnh Châu và huyện
Mỹ Xuyên) nhưng lại có sản lượng cao nhất trong số các huyện là 21.585 tấn (trong
đó có đến 93% là tôm thẻ chân trắng), kế đến là huyện Mỹ Xuyên với tổng sảnlượng là 17.119 tấn (trong đó có 83% là sản lượng của tôm thẻ chân trắng) Và cóthể thấy huyện Vĩnh Châu là huyện chịu thiệt hại nặng nề nhất của dịch bệnh vớisản lượng chỉ 11.108 tấn (có 84% là sản lượng tôm thẻ chân trắng)
2.5.2.3 Thiệt hại trên tôm trong 9 tháng đầu năm 2014
Như đã phân tích ở phần trước, diện tích nuôi trồng tôm nước lợ trên địa bàntỉnh có xu hướng tăng lên, diện tích trong 9 tháng đầu năm 2014 đạt 104,3 % kếhoạch, tăng 1,27 lần so với cùng kỳ 2013 Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh diễnbiến nghiêm trọng vì thế trên diện tích thả cũng đã thiệt hại 40,6%, trong đó tôm súthiệt hại 7.077,5 ha (chiếm 34,46% diện tích thả), tôm thẻ thiệt hại 13.650,6 ha(chiếm 44,67% diện tích thả); tập trung nhiều nhất ở huyện Mỹ Xuyên và TX VĩnhChâu Qua kết quả xét nghiệm mẫu của Chi cục Thú Y trong 09 tháng đầu năm chothấy vụ nuôi 2014 xuất hiện chủ yếu các bệnh như Đốm trắng 48,2% (741/1.536mẫu); IHHNV 20% (295/1.461 mẫu)