Bài nghiên cứu này sẽ góp phần vàocuộc tranh luận trên bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu hơn về các yếu tố điềukiện địa phương có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dòng vốn nước ngoài
Trang 1TRƯƠNG THỤC LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ MÔI TRƯỜNG KINH
TẾ VĨ MÔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2TRƯƠNG THỤC LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ MÔI TRƯỜNG KINH
TẾ VĨ MÔ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3tác động của các yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Trương Thục Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MUC CÁC BẢNG
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu 7
1.5 Phạm vi nghiên cứu 8
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 8
1.7 Bố cục đề tài 9
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 11
2.1 Các khái niệm 11
2.1.1 Về tăng trưởng kinh tế 11
2.1.2 Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 12
2.1.3 Về thể chế 13
2.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô 14
2.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 15
2.3 Các nghiên cứu trước đây 21
2.3.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng 21
2.3.2 Các nghiên cứu về vai trò của nhân tố điều kiện tác động đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng 24
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
4.1 Mô tả biến và tương quan giữa các biến 44
4.2 Hồi quy dữ liệu cho toàn bộ mẫu 46
4.3 Hồi quy dữ liệu cho 2 nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao và thu nhập trung bình thấp 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6GDP Tổng sản phẩm quốc nội
UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
Trang 7Bảng 3.2: Bảng mô tả các biến sử dụng trong mô hình hồi quy
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến toàn bộ mẫu 20 nước giai đoạn 1985-2013
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
Bảng 4.3: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người Kết quả hồi quy cho toàn
bộ mẫu 20 quốc gia Châu Á giai đoạn 1985-2013 Phương pháp ước lượng: GMM
System-Bảng 4.4: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình quân đầu người trung bình cao giai đoạn 1985-2013 Phương phápước lượng: System-GMM
Bảng 4.5: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình quân đầu người trung bình thấp giai đoạn 1985-2013 Phươngpháp ước lượng: System-GMM
Bảng 4.6: Biến phụ thuộc : Tăng trưởng GDP đầu người Mẫu 10 quốc gia Châu Á
có thu nhập bình quân đầu người trung bình thấp giai đoạn 1985-2013 (có sử dụngbiến giả Việt Nam) Phương pháp ước lượng: System-GMM
Trang 8đặc biệt là tác động của chúng đến tăng trưởng Nghiên cứu thực nghiệm cho thấyhiệu quả khai thác FDI có liên quan đến năng lực hấp thụ trong nền kinh tế củanước sở tại Tuy nhiên, những nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ giải thích mơ
hồ về vấn đề này Như Lipsey và Sjöholm (2005) đã lập luận, tính không đồng nhấttrong các nhân tố điều kiện của nước sở tại chính là nguồn gốc của sự khác biệttrong các kết luận của nghiên cứu thực nghiệm Bài nghiên cứu này sẽ góp phần vàocuộc tranh luận trên bằng cách cung cấp một cái nhìn sâu hơn về các yếu tố điềukiện địa phương có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa dòng vốn nước ngoài vàtăng trưởng kinh tế Nghiên cứu được thực hiện với kỹ thuật GMM cho dữ liệu bảngcủa 20 quốc gia Châu Á giai đoạn 1985-2013 Nghiên cứu lựa chọn sử dụng môhình GMM, nhằm khắc phục những hạn chế khi phân tích dữ liệu bảng, từ đó chothấy tầm quan trọng của việc xem xét môi trường kinh tế vĩ mô cũng như các yếu tốchất lượng thể chế khi đánh giá tác động kinh tế của các dòng vốn nước ngoài.Trong tất cả các ước tính, kết quả cho thấy các biến đại diện cho môi trường kinh tế
vĩ mô cũng như các yếu tố chất lượng thể chế có góp phần trực tiếp vào tăng trưởngkinh tế Hơn nữa, khi chia mẫu thành hai nhóm nước có thu nhập trung bình cao vàtrung bình thấp, kết quả còn cho thấy các biến này có tương tác với FDI, khẳng địnhảnh hưởng gián tiếp của chúng đến mối quan hệ FDI - tăng trưởng
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1980 lên hơn 60% vào năm 2000 (xem Yeyati và cộng sự, 2007)
Theo Báo cáo Đầu tư thế giới năm 2014 (WIR) công bố ngày 24/6/2014 củaVăn phòng Tổ chức Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD), dòngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên toàn cầu đang trên đà tăng trưởng Theo
đó, sau khi giảm mạnh vào năm 2012, dòng vốn FDI đã tăng 9% trong năm 2013,đạt 1,45 nghìn tỷ USD Dòng vốn FDI ghi nhận được cho thấy sự tăng trưởng ở tất
cả các nhóm nước: các nền kinh tế phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi
Cụ thể, năm 2013, các nền kinh tế đang phát triển vẫn đứng đầu thế giới vềlượng vốn FDI chảy vào với số vốn lên đến 778 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn FDItoàn cầu Trong đó, FDI chảy vào các nước phát triển tăng 9% lên 566 tỷ USD,chiếm 39% tổng FDI của thế giới Các nền kinh tế chuyển đổi nhận được 108 tỷUSD vốn FDI trong năm 2013
Xét theo khu vực thì châu Á vẫn là điểm đến đầu tư hàng đầu thế giới với dòngvốn FDI vào các nước châu Á đang phát triển đạt 426 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốnFDI toàn cầu trong năm 2013 Liên minh châu Âu (EU) và Bắc Mỹ đều thu hútđược khoảng 250 tỷ USD Ổn định chính trị, xã hội và viễn cảnh hội nhập kinh tếkhu vực là động cơ đưa dòng chảy tư bản của thế giới về châu Á Gần 30% vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đổ về châu Á trong năm 2013
Trang 10Theo UNCTAD, FDI vào các nước đang phát triển từng là xu hướng chính suốthơn 10 năm qua nhưng xu thế đó đang thay đổi Mỹ hiện là nước thu hút FDI lớnnhất thế giới Mặc dù FDI vào Mỹ đã giảm dần từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tàichính nhưng tổng số vốn FDI vào Mỹ năm ngoái vẫn là 188 tỷ USD (so với 161 tỷUSD trong năm 2012), cao hơn 50% so với mức của Trung Quốc - nước thu hútFDI thứ hai thế giới (124 tỷ USD trong năm 2013, 121 tỷ USD trong năm 2012).
Năm 2000, FDI vào các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 19%, nhưng tớinăm 2013 tỷ lệ này lên tới 54% Theo UNCTAD, với việc kinh tế các nước pháttriển đang hồi phục, xu hướng này sẽ sớm thay đổi Ước tính FDI vào các nước giàu
sẽ tăng 35% trong năm 2014 và năm 2016 sẽ chiếm tới 52% tổng FDI toàn cầu
Trang 11FDI từ Trung Quốc đầu tư vào các nước trong năm 2013 lần đầu tiên vượt mức
100 tỷ USD và dự đoán còn tiếp tục tăng Đầu tư ra ngoài của Trung Quốc sẽ sớmvượt FDI từ nước ngoài vào thị trường nội địa, đặc biệt khi các công ty Trung Quốcđang đẩy mạnh mua các công ty nước ngoài và chuyển dây chuyền sản xuất sangcác nước như Campuchia, Myanmar và châu Phi
Từ thực tế trên cho thấy chính xu hướng phát triển của các dòng vốn quốc tếnày đã làm gia tăng cuộc tranh luận về những yếu tố chính thu hút chúng, đặc biệt làvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cơ bản của các cuộc tranh luận hiện nay là về lợiích dự kiến từ FDI, cũng như niềm tin của nhiều quốc gia rằng FDI là một yếu tố
Trang 12quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của họ Một câu hỏi quan trọng đượcđặt ra là có phải chính các nhân tố góp phần gia tăng lực hút FDI cũng góp phần làmgia tăng lợi ích của nó, từ đó tạo thành một vòng xoáy tác động lên tăng trưởng.Cũng như lập luận của Kose và cộng sự (2006): " nó không chỉ đơn thuần là dòngvốn, mà cùng những gì đi cùng với nó, sẽ mang lại lợi ích của toàn cầu hóa tài chínhcho các nước đang phát triển".
Về lý thuyết, có nhiều lý do để ủng hộ quan điểm này FDI dường như mang lạinhiều lợi ích hơn so với các loại dòng vốn tài chính khác vì ngoài việc làm tăng vốn
cổ phần trong nước, nó còn có một tác động tích cực đến tăng năng suất thông quachuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý Cũng có lập luận rằng FDI có xuhướng ổn định hơn so với các loại dòng vốn khác nên sẽ giảm tổn thương cho nềnkinh tế do dòng chảy vốn dừng đột ngột Ngoài ra, có bằng chứng cho thấy FDI cótác động đến thị trường lao động (nghiên cứu của De Mello, năm 1997 và Lipsey,2002)
Tuy nhiên, ở một vài nghiên cứu thực nghiệm, FDI đã được chứng minh là có
cả tác động có lợi và bất lợi đến tăng trưởng, trong khi nhiều nghiên cứu khác lạicho thấy là không có mối quan hệ Nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp thường chorằng FDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (xem Gorg và Greenaway, 2004 - mộtđánh giá toàn diện của câu hỏi này) Ngược lại, nhiều nghiên cứu kinh tế vĩ mô lạicho thấy vai trò tích cực của FDI trong hoạt động kinh tế, mặc dù có một số ngoại lệnhư Herzer và cộng sự (2008) và Carkovic và Levine (2005) có kết quả cho thấyrằng dòng vốn nước ngoài không có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế
Sự mâu thuẫn về kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm đã yêu cầu các họcgiả thận trọng hơn khi đưa ra kết luận tổng quát về mối quan hệ giữa FDI và tăngtrưởng, cụ thể là phải xem xét đến sự tồn tại của các yếu tố bên ngoài liên quan đến
FDI Và đây cũng chính là ý tưởng cho nghiên cứu với đề tài “Mối quan hệ giữa
FDI và tăng trưởng dưới tác động của yếu tố chất lượng thể chế và môi trường kinh tế vĩ mô”.
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thực tế là kết luận của nghiên cứu cho các nước khác nhau thường không giốngnhau ngay cả khi sử dụng cùng một kỹ thuật ước lượng trên dữ liệu tương tự trongkhoảng thời gian tương tự Bài nghiên cứu này cố gắng nhấn mạnh rằng các nềnkinh tế đang phát triển không phải là một mẫu đồng nhất, trái ngược với cách tiếpcận trong một số nghiên cứu thực nghiệm Cũng như nghiên cứu của Lipsey vàSjöholm (2005), bài nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét liệu sự không đồngnhất về các yếu tố ở các nước sở tại có phải là nguồn gốc dẫn đến những phát hiệnkhác biệt trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây hay không
Tính không đồng nhất trong các thị trường tiếp nhận vốn có thể liên quan đếnnhiều khía cạnh khác nhau mà các nghiên cứu thực nghiệm thường gọi là "năng lựchấp thụ" Những nhân tố này dường như là điều kiện tiên quyết để các nước sở tạiđược hưởng lợi từ FDI Bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra xem các nước có môitrường thể chế và kinh tế tốt hơn có thể khai thác FDI hiệu quả hơn hay không,trong khi các nghiên cứu về vấn đề này thì vẫn còn khá ít Điều này đặc biệt đúngđối với các nền kinh tế đang phát triển, nơi mà các tác động tiềm ẩn của FDI là lớnnhất Do đó, đề tài nghiên cứu được đặt ra để kiểm tra mối quan hệ giữa FDI, pháttriển thể chế, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang pháttriển Nghiên cứu cũng cố gắng cung cấp những hiểu biết mới về vai trò của các yếu
tố cấu trúc nhất định như sự phát triển của đô thị hóa và chất lượng của cơ sở hạtầng Như đã đề cập ở trên, tất cả những yếu tố này không chỉ đóng một vai trò quantrọng như lực hút chính của dòng vốn nước ngoài mà chúng cũng góp phần làm tăngtốc độ tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu nhằm mục đích điều tra xem chúng có phải
là những yếu tố chính tạo ra lợi ích phát sinh từ dòng vốn FDI hay không
Trang 141.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu hướng đến trả lời 4 câu hỏi cụ thể sau:
1 FDI vào quốc gia tăng có tác động làm tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước Châu Á hay không?
2 Các nhân tố điều kiện (về kinh tế vĩ mô và chất lượng thể chế) tác động thế nào đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế?
3 Ảnh hưởng của FDI lên tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia (dưới tác
động của các nhân tố điều kiện) có khác biệt giữa hai nhóm quốc gia đangphát triển (có thu nhập trung bình cao và thu nhập trung bình thấp) tại Châu
Á hay không?
4 Các yếu tố địa phương có tác động đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng ở Việt Nam hay không?
Trang 151.4 Phương pháp nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi nêu trên, nghiên cứu sử dụng các lý thuyết nghiên cứutrước đây để xem xét những ảnh hưởng kỳ vọng của FDI và các nhân tố điều kiệnlên tăng trưởng kinh tế Sau đó, nghiên cứu đi vào thu thập một số nghiên cứu thựcnghiệm về vấn đề này, cách thức, phạm vi và kết quả tìm được của các nghiên cứu
đó Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành so sánh và chọn phương pháp định lượngcác biến phù hợp trong khả năng thu thập số liệu thực tế, cơ sở dữ liệu của các quốcgia thuộc Châu Á Sau khi đã có các biến, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống
kê mô tả dữ liệu, phân tích định tính, rút ra cái nhìn tổng quan về mẫu nghiên cứu,mối tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc cũng như mối tươngquan giữa các biến giải thích với nhau So sánh dấu kỳ vọng với lý thuyết và nghiêncứu thực nghiệm trước đó Cuối cùng, sử dụng phân tích hồi quy mô hình dữ liệubảng để xử lý và phân tích số liệu nhằm trả lời cho ba câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra
Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất và thứ hai, mô hình hồi quy tất cả các biến thuộc tất
cả các nước trong mẫu, sau đó thông qua các kiểm định và tiêu chí để xác định môhình thích hợp và tốt nhất Riêng câu hỏi thứ ba và thứ tư, 20 quốc gia được chialàm 2 mẫu bằng nhau là nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp và nhóm quốcgia có thu nhập trung bình cao, và cùng tiến hành hồi quy, kiểm định kết quả Trongquá trình hồi quy mẫu nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, nghiên cứu sử dụngthêm biến giả Việt Nam Thông qua kết quả, tiến hành so sánh với dấu kỳ vọngtrong khung lý thuyết đã trình bày cũng như các nghiên cứu thực nghiệm ở trên đểrút ra kết luận, hạn chế của nghiên cứu cùng những gợi mở hướng nghiên cứu tiếptheo
Trang 161.5 Phạm vi nghiên cứu
Để có được các khoảng thời gian dài nhất cho phân tích, chúng tôi đã chọn mẫucác quốc gia từ Châu Á Các quốc gia này là một trong những đối tượng nhận FDIlớn trong giai đoạn phân tích Hơn nữa, các chính sách ổn định đã được thông quabởi nhiều nước trong số này trong thập niên 80 và 90, làm cho mẫu các nước nàyphù hợp với mục đích của bài nghiên cứu Các nền kinh tế châu Á được đặc trưngbởi thâm hụt tương đối nhỏ, tỷ lệ tiết kiệm cao, tự do hóa thị trường tài chính vàtăng trưởng kinh tế cao và bền vững Sau khủng hoảng những năm 1980, khu vựcnày đã trải qua một sự đột biến đáng chú ý của dòng vốn đầu tư từ những năm 1990,với sự gia tăng tỷ lệ của FDI chảy vào trên tổng dòng vốn (xem Baharumshah vàThanoon, 2006) Tóm lại, nhóm này cung cấp một trường hợp thú vị để nghiên cứu,bởi phần lớn đã trải qua những cải tiến trong ổn định kinh tế vĩ mô và chất lượngthể chế kể từ những năm 90, nhưng với kết quả tăng trưởng khác nhau
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đã góp phần xác định mức độ ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởngkinh tế (trong sự tương tác với các yếu tố kinh tế vĩ mô và thể chế chính trị) ở cácquốc gia khu vực Châu Á Thông qua đó, nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức vềtầm quan trọng của FDI trong tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như tầm quantrọng của yếu tố kinh tế vĩ mô và thể chế chính trị trong việc gia tăng khả năng hấpthụ vốn FDI vào các quốc gia Từ nhận thức đó, việc chuẩn bị tiền đề về các nhân tốđiều kiện trước khi thu hút FDI cũng như các ưu tiên trong chính sách FDI được chútrọng hơn nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển ở các nước đang pháttriển nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 171.7 Bố cục đề tài
Bố cục đề tài bao gồm năm chương
• Chương 1: giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu như lý do thực hiện nghiêncứu, mục tiêu, phương pháp
• Chương 2: trình bày tổng quan lý thuyết, xem xét những cách biệt giữa lýthuyết về lợi ích của dòng vốn FDI và các bằng chứng thực nghiệm mâu thuẫn với vấn đềnày Đồng thời, chương này cũng trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây vềmối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các nhân tố tác động đến mối quan hệ đó
• Chương 3: mô tả dữ liệu và các phương pháp tính toán được sử dụng trong phân tích thực nghiệm
• Chương 4: trình bày các kết quả chính
• Chương 5: nhấn mạnh những kết luận quan trọng từ đề tài nghiên cứu, đồngthời nêu lên những hạn chế và gợi ý đề tài nghiên cứu mở rộng chuyên sâu hơn
Trang 18Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu Nhận thấy tầm quan trọng
và những tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng, nghiên cứu đã được thựchiện để khám phá mối quan hệ này dưới tác động của các nhân tố điều kiện Mụcđích của bài viết là nhằm trả lời câu hỏi liệu môi trường kinh tế vĩ mô và thể chế ởcác nước tiếp nhận FDI có thể giải thích cho sự khác biệt về tác động của FDI giữacác quốc gia đang phát triển hay không Do vậy, nghiên cứu sử dụng mẫu là 20quốc gia Châu Á đang phát triển giai đoạn 1985-2013 Mặt khác, vì cho rằng cáccác nhân tố kích thích tăng trưởng cũng có thể tạo ra nhiều vốn FDI hơn nên nghiêncứu lựa chọn giải quyết vấn đề nội sinh và quan hệ nhân quả thông qua việc sử dụng
mô hình ước lượng GMM cho dữ liệu bảng Nghiên cứu cũng sử dụng một loạt cácphương pháp kinh tế lượng để kiểm tra tính vững của các ước tính Ước tính dữ liệubảng được sử dụng so sánh các kết quả từ phân tích xuyên quốc gia Cuối cùng, toàn
bộ mẫu được chia thành hai bộ đối với các nước thu nhập trung bình thấp và thunhập trung bình cao để điều tra xem liệu các nền kinh tế với trình độ phát triển khácnhau sẽ có được mức độ lan truyền từ FDI như thế nào
Trang 19CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Về tăng trưởng kinh tế
Theo định nghĩa của Simon Kuznet (1996) thì “tăng trưởng kinh tế là sự giatăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người người”, theo Douglass C North vàRobert Paul Thomas (1973) thì “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăngnhanh hơn dân số”
Các nhà kinh tế học đã sử dụng hai chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân (GNP) vàtổng sản lượng quốc nội (GDP) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế.Tuy nhiên, trong hầu hết các bài nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế đều
sử dụng chỉ tiêu GDP làm đối tượng nghiên cứu
Tổng sản lượng quốc nội (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của tất cảhàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốcgia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Đây là giá trị cho biết mức độlao động sản xuất hiệu quả của một quốc gia, nó là chỉ số đo lường sức mạnh kinh tếcủa một đất nước
Trang 202.1.2 Về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì FDI được định nghĩa là hình thức đầu tư rakhỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn
bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác Quyền sở hữu nàytối thiểu phải bằng 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp
Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại Thế giới, “Đầu tư trực tiếp nướcngoài xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở mộtnước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó” Phương diệnquản lý là yếu tố dùng để phân biệt đầu tư nước ngoài với các công cụ tài chínhkhác Trong hầu hết các trường hợp, các nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý
ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tưthường được gọi là công ty mẹ và tài sản thường được gọi là công ty con hoặc chi nhánh.Theo cách tiếp cận này, nhà đầu tư có hai hình thức lựa chọn đầu tư vào một quốc gia:hoặc là bỏ vốn xây dựng một cơ sở kinh doanh mới (greenfield investment) hoặc là bỏvốn mua lại/ sáp nhập với một cơ sở kinh doanh sẵn có và tiếp tục hoạt động, phát triển
nó (Merger and Acquisition)
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “FDItại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tàisản nào vào một quốc gia khác để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyềnkiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận củamình”
Trang 212.1.3 Về thể chế
Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khácnhau Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức -Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thànhvăn đang cai quản đời sống và con người" Douglass C North, người được giảiNobel với công trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thểchế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của conngười hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người” Đầu thế kỷ XX, ởphương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩathể chế - quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằmđạt được mục đích nhất định nào đó
Quan niệm này tương đối giống với cách hiểu của Ngân hàng thế giới về thểchế, cho rằng thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chếthực thi và tổ chức Vậy nên thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và làkết quả của những thỏa thuận xã hội Thể chế mang tính bản chất và là một đốitượng có tính sở hữu rõ ràng; nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị
mà đảng cầm quyền đã lựa chọn
Thảo luận chính sách gần đây của FETP (“Khơi thông những nút thắt thể chế đểphục hồi tăng trưởng”, Bài thảo luận chính sách tại Chương trình Lãnh đạo Quản lýCao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy tháng 8/2013) chorằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nềnkinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và
xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãnhoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ Để phục hồi tăng trưởng, cần tậndụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế
và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân
Trang 222.1.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô là hệ thống kinh tế của cả một quốc gia, với các chỉ tiêu đo lường
“sức khỏe” của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng thu nhập, thất nghiệp, lạmphát,
Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của khoa học kinh tế nghiên cứu sự vận động
và những mối liên hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trong phạm vi toàn bộ nềnkinh tế quốc dân của một đất nước, nghĩa là nghiên cứu sự lựa trọn của mỗi quốcgia trước các vấn đề kinh tế cơ bản bao gồm: thất nghiệp, lạm phát, tăng trưởng,xuất nhập khẩu, sự phân phối nguồn lực và thu nhập giữa các thành viên trong nềnkinh tế Mục tiêu của kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn,tăng trưởng nhanh trong dài hạn, phân phối của cải một cách công bằng Sự ổn định
là kết quả của việc giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, thấtnghiệp Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết các vấn đề dài hạn hơn liên quan đến
sự phát triển kinh tế Phân phối công bằng là vấn đề nền kinh tế phải giải quyếtthường xuyên để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng
Trang 232.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về tăngtrưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng Ngay từ khimới ra đời, các mô hình tăng trưởng kinh tế đã trở thành công cụ hữu ích, giúp cácnhà kinh tế mô tả và lượng hoá tăng trưởng của nền kinh tế một cách rõ ràng hơn,
cụ thể hơn Cho đến nay, cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế học, các mô hìnhtăng trưởng đã chiếm một vị trí quan trọng trong các nghiên cứu lý luận cũng nhưthực tiễn về tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia Theo dòng thời gian, các lý thuyết
và mô hình tăng trưởng được sắp xếp thành: (i) Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (thế
kỷ XVIII), (ii) Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (thế kỷ XIX), (iii) Mô hìnhtăng trưởng trường phái Keynes (đầu thế kỷ XX), (iv) Mô hình tăng trưởng Tân cổđiển (giữa thế kỷ XX), và (v) Mô hình tăng trưởng nội sinh (cuối thế kỷ XX) Mộtcách tóm lược, có thể thấy rằng tăng trưởng kinh tế đã từng là trung tâm chú ý củacác nhà kinh tế chính trị cổ điển từ Adam Smith tới David Ricardo và Karl Marx,nhưng rồi rơi vào quên lãng trong suốt thời kỳ “cách mạng cận biên” (marginalrevolution) Với nỗ lực tổng quát hoá nguyên lý của Keynes về cầu hiệu quả trongngắn hạn, Roy Harrod và Evsey Domar đã tái tạo lại mối quan tâm về lý thuyết tăngtrưởng Sau những nghiên cứu của Robert Solow và Trevor Swan vào giữa nhữngnăm 1950, lý thuyết tăng trưởng đã thực sự trở thành một trong những chủ đề trọngtâm của giới kinh tế học cho đến đầu những năm 1970 Và vào cuối những năm
1980, lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã làm tái sinh lĩnh vực này sau một thập kỷngủ quên
Ở phần này, nghiên cứu sẽ tập trung vào mô hình tăng trưởng của Robert Solow(1956) để xem xét những nhân tố tác động đến tăng trưởng Robert Solow là giáo sưcủa khoa học kinh tế, học viện công nghệ Massachusett, năm 1987, ông được tặnggiải Nobel kinh tế về những đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng và nhữngnghiên cứu thực nghiệm về quá trình tăng trưởng Đặc biệt, ông đưa ra cách lý giải
về nguồn gốc của tăng trưởng Trong mô hình đầu tiên (mô hình gốc), Solow phântích mô hình cơ bản dựa vào mô hình Cobb - Doulas với hai yếu tố lao động và đầu
Trang 24tư, tiết kiệm, sau đó ông mới trình bày mô hình tổng quát với yếu tố công nghệ tácđộng tới tăng trưởng như thế nào Mô hình này còn có cách gọi khác là mô hìnhtăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, rốt cụctăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bềnvững Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mớithay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững Cho đến ngày hômnay vẫn còn nhiều cuộc tranh luận, tuy vậy, mô hình tăng trưởng của Solow vẫnđược đánh giá là một trong những mô hình có tác động lớn trong hệ thống lý thuyếttăng trưởng, được sử dụng trong các giáo trình, tài liệu và có những đánh giá thực tếtăng trưởng của nhiều nước.
Mô hình tăng trưởng của Solow mở rộng mô hình tăng trưởng của Domar (1946) bằng việc thêm vào lao động như là một yếu tố sản xuất, và tỷ lệ giữavốn và lao động là không cố định Điều này cho phép tách biệt giữa thâm dụng vốn
Harrod-và tiến trình công nghệ
Mô hình này dựa trên một số giả định sau:
tân cổ điển Khi này, lao động L được sử dụng hoàn toàn và nền kinh tế tăng trưởng hếtmức tiềm năng Đồng thời toàn bộ tiết kiệm sẽ chuyển hóa thành đầu tư
năng suất lao động A Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y =
F(A,L,K) Giả thiết là hàm này có dạng Cobb – Doulas, tức
Nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian Khi đó lượng vốn mới có sẽ bằnglượng vốn mới tạo ra từ đầu tư trừ đi các khoản hao mòn
Trang 25• Tư bản K và lao động L tuân theo quy tắc lợi tức biên giảm dần, có nghĩa
là khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó tăng chậm lại
Dựa trên các giả định trên, mô hình tăng trưởng của Solow đã chỉ ra trạng tháidừng của nền kinh tế Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà tại đó lượng vốn giữnguyên không đổi, bởi vì lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừphần vốn bị hao mòn Khi vốn không tăng thì sản lượng cũng không tăng Vì vậy ởtrạng thái dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định Vốn và lao động khôngtăng thì tổng sản lượng vẫn là cố định Đây là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suấtbiên giảm dần Nếu vốn tiếp tục tăng, sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần
Do vậy, thu nhập dành cho tiết kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần Vì vậy luônluôn tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi biến số đều hội tụ vềmột giá trị cố định Như vậy, mô hình Solow dự đoán rằng những nước có tăngtrưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao động thấp hơn trong dàihạn Đồng thời, mô hình cũng giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của một sốnước là do tốc độ tăng trưởng về công nghệ Tóm lại, bên cạnh những hạn chế do
mô hình được đặt trong khá nhiều giả định, lý thuyết tăng trưởng của Solow vẫnđóng một vai trò quan trọng trong các học thuyết về tăng trưởng và mở ra nhiều vậndụng cho những nghiên cứu trong tương lai Trong đó, một số luận điểm đã đượcchú ý và tiếp tục được khai thác trong những nghiên cứu về sau
Trang 26Hiệu ứng hội tụ
Hiệu ứng hội tụ là một giả thuyết về tốc độ tăng trưởng cho rằng có một trạngthái cân bằng duy nhất và cho dù nền kinh tế bắt đầu với mức tư bản trên đầu ngườibao nhiêu thì cũng sẽ hội tụ về điểm cân bằng động duy nhất đó Nếu hai nền kinh
tế do điều kiện lịch sử xuất phát với hai mức vốn khác nhau, thì quốc gia nào cómức thu nhập thấp hơn sẽ tăng trưởng nhanh hơn và dần sẽ đuổi kịp quốc gia có thunhập cao do tăng tỷ lệ vốn trên lao động Do vậy, các nước nghèo có mức tư bảntrên đầu người thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi đạt được tỷ lệ tăng sảnlượng và tư bản ở trạng thái cân bằng Các nước giàu được thừa hưởng mức tư bảntrên đầu người cao sẽ tăng trưởng thấp hơn cho tới khi mức tư bản trên đầu ngườigiảm đến trạng thái cân bằng Các nhà kinh tế học gọi hiện tượng này là hiệu ứngđuổi kịp
Robert J Barr và Xavier Sala-i-Mart (1990) đã nghiên cứu mẫu 48 tiểu bangHoa Kỳ giai đoạn 1840-1963 và tìm thấy bằng chứng rõ ràng của sự hội tụ Khi giữnguyên tập hợp các biến đại diện cho sự khác biệt về trạng thái ổn định, kết quả từmẫu lớn của các nước là tương tự
Angel de La Fuente (1995) phân tích nguồn gốc tăng trưởng sau chiến tranh vàhiệu ứng hội tụ ở các nước OECD bằng việc sử dụng mô hình mở rộng củaMankiw, Romer và Weil (1992) Các kết quả cho thấy đầu tư R & D tác động đáng
kể đến tăng trưởng Hiệu ứng bắt kịp được tìm thấy và đóng một vai trò quan trọngtrong giai đoạn nửa đầu của mẫu Ở giai đoạn sau, hiệu ứng này bắt đầu suy giảmgiải thích cho sự suy giảm tăng trưởng sau giữa năm 1970, và cho thấy rằng để hiệuứng hội tụ mạnh mẽ hơn đòi hỏi nỗ lực đầu tư ở các nước nghèo nhiều hơn Đây làbằng chứng xác nhận sự tồn tại của các hiệu ứng hội tụ tân cổ điển
Trang 27Về lực lượng lao động
Chất lượng đầu vào của lao động (tức kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũlao động) là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khácnhư tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưngnguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố như máy móc thiết bị,nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được tối đa hiệu quả bởiđội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt Thực tếnghiên cứu các nền kinh tế bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới lần thứ II cho thấymặc dù hầu hết tư bản bị phá hủy nhưng những nước có nguồn nhân lực chất lượngcao vẫn có thể phục hồi và phát triển kinh tế một cách ngoạn mục Một ví dụ lànước Đức, một lượng lớn tư bản của nước Đức bị tàn phá trong Đại chiến thế giớilần thứ hai, tuy nhiên vốn nhân lực của lực lượng lao động nước Đức vẫn tồn tại.Với những kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi nhanh chóng sau năm 1945 Nếukhông có số vốn nhân lực này thì sẽ không bao giờ có sự thần kỳ của nước Đức thờihậu chiến
Năm 2006, Vu Bang Tam và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về vốn FDI phântheo khu vực tại Trung Quốc giai đoạn 1985-2002 và Việt Nam giai đoạn 1990-
2002 Kết quả hồi quy chỉ ra FDI có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực lên tăng trưởng
và ảnh hưởng gián tiếp đến tăng trưởng thông qua sự tương tác với năng suất laođộng
Trang 28Về vốn đầu tư
Một trong những nhân tố sản xuất là tư bản, tùy theo mức độ tư bản mà ngườilao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗilao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tưnghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong sự pháttriển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sựtăng trưởng cao và bền vững
Nghiên cứu của Samuel Adams (2009) phân tích các tác động của đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư trong nước (DI) đến tăng trưởng kinh tế ở vùngSub-Sahara Châu Phi trong giai đoạn 1990-2003 Kết quả cho thấy rằng DI là tươngquan tích cực và đáng kể với tăng trưởng kinh tế trong cả ước lượng OLS và hiệuứng ước cố định, nhưng FDI chỉ thể hiện tương quan tích cực và đáng kể duy nhấttrong ước lượng OLS Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng FDI có tác động tiêu cựcban đầu vào DI và tác động tích cực trong giai đoạn sau cho dữ liệu bảng của cácnước được nghiên cứu
M Paolino (2009) đã xem xét mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu
tư trong nước, phát triển con người, và tăng trưởng kinh tế thông qua phân tích dữliệu chuỗi thời gian của Trung Quốc giai đoạn 1977-2007 với ước lượng OLS Cáckết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi đầu tư trong nước tăng, tăng trưởng kinh tế vàđầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc cũng gia tăng
Trang 292.3 Các nghiên cứu trước đây
2.3.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng
Tốc độ tăng nhanh chóng của dòng vốn FDI trên toàn thế giới đã thôi thúc cácnghiên cứu nhằm xác định xem việc thu hút FDI có thể được xem là một chiến lượcquan trọng để thúc đẩy tăng trưởng ở các nước đang phát triển hay không Trả lờiđược câu hỏi này sẽ giúp các quốc gia nhìn thấy cách thức mà FDI trở thành xunglực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó định hướng các chính sách ưu đãi áp dụngcho các nhà đầu tư nước ngoài
Nổi bật trong các lý thuyết lý giải về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng phải
kể đến là lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh và lý thuyết triết trung
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh [được nghiên cứu bởi Lucas (1988 &1993), Romer (1986) và Mankiw, Romer và Weil (1992)] đã nhấn mạnh vai trò củavốn con người trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài tại các nước đang pháttriển Theo quan điểm được đưa ra bởi lý thuyết tăng trưởng nội sinh, đầu tư nướcngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thông qua chuyển giao công nghệ.Các công ty đa quốc gia được đánh giá là một trong những kênh chuyển giao côngnghệ và làm tăng khả năng tích tụ vốn con người tại các nước tiếp nhận nguồn vốnđầu tư thông qua các khóa đào tạo kỹ năng cho đội ngũ lao động địa phương, cáchoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật và côngnghệ cho các doanh nghiệp địa phương (các doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầuvào)… (Blomstrom and Kokko 1998)
Trong thực tế, có hai cơ chế mà qua đó FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế.Đầu tiên, mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng có thể liên quan đến tác động củatích lũy vốn (xem Bosworth và Collins, 1999 và Alguacil và cộng sự, 2008) Trongtrường hợp này, tác động của FDI chỉ phụ thuộc vào ảnh hưởng của nó trên đầu tưtrong nước Thứ hai, ngoài vai trò trực tiếp của nó đến tích lũy vốn, FDI dự kiến sẽđẩy mạnh tăng trưởng bằng cách tăng năng suất ở các nước sở tại thông qua chuyểngiao công nghệ FDI dường như là cách trực tiếp và hiệu quả nhất của việc mua
Trang 30công nghệ được tạo ra trong các nền kinh tế tiên tiến nhất, và do đó trở thành cơ chếquan trọng trong hội nhập kinh tế (Yao và Wei, 2007) Lập luận này đã được hỗ trợbởi các tài liệu về tăng trưởng nội sinh, trong đó nhấn mạnh rằng dòng vốn FDI cókhả năng thúc đẩy tăng trưởng dài hạn do sự đóng góp của nó đến việc tăng kiếnthức thông qua đào tạo lao động, kỹ năng, và sự ra đời của các phương thức quản lýkhác cũng như đầu vào và công nghệ mới (xem Blomstrom và Kokko, 1998).
Mặt khác, lý thuyết chiết trung (the Eclectic Theory of FDI), được phát triển bởiDunning (1988) đã cung cấp một phương pháp phân tích khác về mối quan hệ giữaFDI và tăng trưởng kinh tế Dựa trên phân tích về lợi thế cạnh tranh, lý thuyết nàychỉ ra rằng việc thu hút nguồn vốn FDI phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố và đặctính của nước sở tại Một trong các nhân tố đó là tăng trưởng kinh tế Ví dụ,Chakrabarti (2001) tranh luận rằng tăng trưởng cao tại các nước sở tại sẽ thu hútđược nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường và đầu tư
Dựa trên lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết chiết trung, các nhà phântích kinh tế đã tìm thấy mối quan hệ hai chiều của FDI và tăng trưởng kinh tế Mộttrong các nhà nghiên cứu đi tiên phong về mối quan hệ hai chiều này là Tsai (1994).Tsai (1994) đã ứng dụng một mô hình đồng thời để kiểm định mối quan hệ haichiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cho 62 quốc gia trong thời kỳ 1975-1978 vàcho 51 quốc gia trong thời kỳ 1983-1986 Tác giả đã tìm thấy rằng FDI và tăngtrưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều trong giai đoạn những năm 1980 TheoBlomstrom (1996) và Borensztein (1998), dòng vốn FDI cũng có tác động ngược lạităng trưởng, đóng góp vào tăng trưởng thông qua chuyển giao công nghệ, nâng caotrình độ, kiến thức, kỹ năng cho người lao động Từ đó, lợi nhuận mang lại cho cáccông ty nước ngoài là từ sản xuất hiệu quả ở nước thu hút đầu tư, dần dần dẫn đếntăng trưởng kinh tế ở quốc gia đó Berthelemy và Demurger (2000) sử dụng môhình đồng thời để kiểm định tăng trưởng kinh tế tại 24 tỉnh thành của Trung Quốctrong thời kỳ 1985-1996 Họ cũng tìm thấy mối quan hệ hai chiều của FDI và tăngtrưởng kinh tế tại các tỉnh thành FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tếcủa 24 tỉnh thành và tăng trưởng kinh tế cao tại 24 tỉnh thành là một dấu hiệu tích
Trang 31cực để thu hút các dòng vốn FDI trong tương lai Li and Liu (2005) sử dụng dữ liệucủa 84 quốc gia trong suốt thời gian từ năm 1970-1999 và áp dụng mô hình đồngthời để kiểm định tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, cũng như mối quan hệhai chiều giữa chúng Các tác giả tìm thấy rằng mối quan hệ tích cực hai chiều củaFDI và tăng trưởng kinh tế chỉ tồn tại trong các năm 1980 Tuy nhiên, FDI chỉ tácđộng tích cực tới tăng trưởng kinh tế khi và chỉ khi các quốc gia tiếp nhận vốn đầu
tư hội tụ căn bản các nhân tố về đầu tư con người, công nghệ, và một thị trường tàichính phát triển Phân tích này phản ánh rằng tác động của FDI tới tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia tiếp nhận phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện của từng quốcgia đó
Do đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm kiểm chứng nhận định này
Và mô hình nghiên cứu thực nghiệm thường được lựa chọn để xem xét ảnh hưởngcủa FDI tới tăng trưởng kinh tế Sau công trình tiên phong của Mankiw, Romer vàWeil (1992), để phân tích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, các phương trìnhhồi quy tiêu chuẩn thường bao gồm biến GDP bình quân đầu người (như là một hồiquy để kiểm soát cho hiệu ứng hội tụ) và một số biến để giải thích cho sự khác biệttrong trạng thái ổn định của các quốc gia khác nhau được xem xét, đó là:
(1)
• (Y / L)i là GDP bình quân đầu người của nước sở tại
• Xi là các yếu tố quyết định về trạng thái ổn định của các quốc gia đang phântích
Từ mô hình trên, các nghiên cứu về sau tiếp tục mở rộng để tìm kiếm các nhân
tố giải thích cho sự khác biệt về điều kiện của các quốc gia Những nhân tố nàykhông chỉ góp phần thu hút nguồn vốn FDI mà còn tạo nên hiệu ứng lan toả giúpFDI tác động lên tăng trưởng
Trang 322.3.2 Các nghiên cứu về vai trò của nhân tố điều kiện tác động đến mối quan
hệ giữa FDI và tăng trưởng
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã nhấn mạnh vai trò của các nhân tố điều kiệnnhư cơ sở hạ tầng, thể chế chính trị và kinh tế vĩ mô đối với tăng trưởng Ngoàiđóng góp tích cực của chúng đến hoạt động kinh tế, những yếu tố này còn ảnhhưởng đến khả năng thu hút FDI của các quốc gia, cũng như khả năng có thể hưởnglợi từ dòng vốn FDI Mối liên hệ giữa các nhân tố điều kiện trong nước và tăngtrưởng ngày càng mạnh mẽ, vì chúng ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế một cáchtrực tiếp lẫn gián tiếp (tức là các nhân tố này không chỉ góp phần vào tăng trưởngkinh tế mà còn tạo điều kiện để nước sở tại hấp thụ FDI và từ đó một lần nữa lại gópphần vào tăng trưởng) Trong thực tế, các bằng chứng khác nhau về mối quan hệgiữa FDI và tăng trưởng có thể liên quan đến việc bỏ sót một số yếu tố địa phương
Vì vậy, một số tác giả cho rằng cần có sự tương tác giữa FDI và tập hợp các điềukiện địa phương để xác định ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng
Khả năng hấp thụ của nước sở tại có nghĩa là, khả năng của nước sở tại có thểnắm bắt thành công các cơ hội có được do sự gia nhập của các nước đầu tư Hìnhthành nên khả năng hấp thụ thường bao gồm các yếu tố như chất lượng nguồn nhânlực, mức độ phát triển tài chính, tính mở cửa thương mại và sự tồn tại một mức độphù hợp của cơ sở hạ tầng Blomstrưm và cộng sự (2001) cho rằng FDI chỉ gópphần vào tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế nước sở tại có nền giáo dục đạt đếnmột mức độ phát triển nhất định Ngược lại, Carkovicand Levine (2005) vàBlomstrưm và cộng sự (1994) không tìm thấy bằng chứng cho thấy vai trò quantrọng của giáo dục Các tác giả khác chỉ ra rằng phát triển tài chính là điều kiện tiênquyết cần thiết cho sự tăng trưởng Lập luận chính của các nghiên cứu này là FDI cóthể thúc đẩy tăng trưởng khi thị trường tài chính nước tiếp nhận ODA được pháttriển đầy đủ để kênh vốn nước ngoài tài trợ một cách hiệu quả cho đầu tư sản xuấttrong nước Hơn nữa, tác động lan tỏa kiến thức chỉ xảy ra nếu doanh nghiệp trongnước có khả năng tiếp thu công nghệ nước ngoài, ngược lại nó có thể bị hạn chế bởithị trường tài chính của những nước kém phát triển (xem Alfaro và cộng sự, 2004 ,
Trang 332009, 2010 ; Durham , năm 2004 và Hermes và Lensink 2003) Mở cửa thương mạicũng có thể được xem như một yếu tố điều kiện cho mối tương quan giữa FDI vàtăng trưởng (xem Balasubramanyam và cộng sự, 1999; Alguacil et al , 2002 vàCuadros và cộng sự , 2004) Chất lượng cơ sở hạ tầng địa phương , các cơ sở giaothông vận tải đặc biệt cũng là các yếu tố bổ sung (xem Easterly năm 2001; Li vàLiu, 2004 và Kinoshita và Lu, 2006) Trong nghiên cứu này, bên cạnh các biến cơbản về nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, tác giả chủ yếu tập trung xem xét các nhân
tố về thể chế chính trị và kinh tế vĩ mô tác động như thế nào đến mối quan hệ giữaFDI và tăng trưởng
Chất lượng cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng (được xem xét trên khía cạnh mức độ sẵn có, chất lượng hạ tầng
và chi phí sử dụng hạ tầng) là yếu tố quan trọng đối với phát triển kinh tế Và yếu tốnày cũng là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, là cơ sở để thu hút FDI
và cũng là nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng
Cơ sở hạ tầng thường bao gồm hạ tầng đường xá, điện nước, cầu đường, trườnghọc, y tế, xử lý nước thải, bệnh viện, thông tin liên lạc, Khi đầu tư vào một quốcgia có cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, hệ thống ngân hànghoàn thiện thì công ty đó có thể giảm được các chi phí đầu tư, giảm được thời gianthực hiện dự án, giảm chi phí các khâu trung chuyển
Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với các nhàđầu tư nước ngoài (nghiên cứu của Loree và Guisingerr, 1995; Wheeler & Moody(1992); Kumar (1994); hoặc Mody và Srinivasan, 1996) Kinoshita và Lu (2006)cho rằng tác động lan toả công nghệ thông qua FDI hiệu quả hơn khi nước sở tạitrang bị đầy đủ về cơ sở hạ tầng Vì nó cải thiện môi trường đầu tư trong nước bằngcách hạ thấp chi phí đầu tư và nâng cao lợi nhuận
Trang 34Thể chế
Rõ ràng sự ổn định chính trị là yếu tố kiên quyết để một công ty đa quốc gia đưa
ra quyết định đầu tư mới Điều này có thể thấy rõ ràng ngay khi có những biến cốxảy ra ở Trung Quốc thì ngay lập tức các nhà đầu tư Nhật Bản tăng cường đến ViệtNam tìm hiểu cơ hội đầu tư Ngoài ra, sự ổn định về chính trị - xã hội còn ảnhhưởng đến quyết định huy động vốn và sử dụng hiệu quả ngồn vốn đầu tư Tronglịch sử cho thấy những biến cố về thể chế chính trị sẽ làm thiệt thòi lớn cho các nhàđầu tư nước ngoài Vụ đảo chánh quân sự ở Thái Lan đã gây thất thoát lớn cho cácnhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc tại đây Thêm một bằng chứng khác là sự lộnxộn ở Nga trong thời gian mới cải tổ đã làm nản lòng các nhà đầu tư mặc dù Nga làmột thị trường rộng lớn, có nhiều tiềm năng
Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cũng nhấn mạnh đến vai trò quan trọng củathể chế Easterly (2005) cho rằng thể chế là phản ánh "thỏa thuận sâu xa của xã hộinhư quyền sở hữu, luật pháp, truyền thống pháp lý, sự tin tưởng giữa các cá nhân,trách nhiệm của các chính phủ dân chủ, và nhân quyền" Một mặt, cải cách thể chế
có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất kinh tế, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng,kết luận này được rút ra bởi Acemoglu và cộng sự (2005), Cavalcanti và cộng sự(2008) và Easterly (2005) Mặt khác, hệ thống thể chế còn đóng vai trò quan trọngtạo nên lực hút FDI Thể chế tốt sẽ giúp giảm chi phí giao dịch khi đầu tư (ví dụ nhưchi phí liên quan đến tham nhũng)
Trong nghiên cứu của mình, Agarwal (1980) thực hiện khảo sát các nhân tố tácđộng đến FDI tại các quốc gia đang phát triển đã phát hiện ra bất ổn chính trị là mộttrong những nhân tố ngăn cản FDI Ngoài ra, FDI (đặc biệt là greenfield - FDI) vớichi phí chìm cao sẽ bị ảnh hưởng bởi tính bất ổn cũng như tính hiệu quả của hệthống pháp luật và chính trị (xem Demekas, 2007 và Daniele và Marani, 2006).Cùng với nghiên cứu này, các nghiên cứu thực nghiệm ngày càng cho thấy tươngquan dương giữa FDI và tăng trưởng luôn đòi hỏi sự góp mặt của việc vận hành củamột khuôn khổ pháp lý tốt Tương tự, cũng có quan điểm cho rằng môi trường thểchế ổn định có thể làm tăng tác động lan tỏa từ FDI vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến
Trang 35điều kiện hoạt động kinh doanh (xem nghiên cứu của Prüferand Tondl năm 2008cho các nước Mỹ Latinh ).
Bengoa và Sanchez-Robles (2003) cũng nghiên cứu về tự do kinh tế, tăngtrưởng FDI và tăng trưởng kinh tế Tác giả sử dụng dữ liệu bảng trên 80 quốc giaChâu Mỹ La Tinh giai đoạn 1979-1998, phương pháp nghiên cứu là hồi quy dữ liệubảng OLS cho cả mô hình FEM và REM Nghiên cứu cho thấy rằng FDI tươngquan dương với tăng trưởng kinh tế, nhưng các nước chủ nhà cần phải có nguồnnhân lực, ổn định kinh tế và thị trường tự do để hưởng được lợi ích từ dòng vốn FDIdài hạn Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy tự do kinh tế thúc đẩy tăng trưởngkinh tế gián tiếp qua FDI, 1% FDI (FDI tính trên phần trăm GDP) tăng lên sẽ làmtăng trưởng kinh tế 0.5%
Azman-Saini (2010) điều tra mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế dưới
sự tác động của tự do hoá quốc gia (chất lượng thể chế) Họ sử dụng dữ liệu bảngcủa 85 quốc gia giai đoạn 1976-2005 Kết quả là những nước đẩy mạnh tự do hoá sẽtạo ra các yếu tố nội tại tích cực làm tốc độ tăng trưởng cao hơn
Nghiên cứu của Tintin (2012) về tác động của FDI lên tăng trưởng và phát triểntrên dữ liệu của 125 quốc gia giai đoạn 1980-2010 cũng cho kết quả về tác động tíchcực của FDI lên tăng trưởng
Trang 36Kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố lạm phát, nợ công, cán cân thanh toán, tỷ giáhôi đoái Những yếu tố này ít biến động sẽ kích thích nhà đầu tư tham gia thịtrường Mức độ ổn định vĩ mô đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụngvốn nước ngoài Khi một nhà đầu tư quyết định bước vào một thị trường mới nổi họphải đem nguồn vốn bằng ngoại tệ và chuyển qua đồng nội tệ, và khi nền kinh tếkhông ổn định vĩ mô, biến động tỷ giá và lạm phát sẽ làm cho hoạt động đầu tư gặpnhững rủi ro tương đối lớn
Đã có nhiều nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô đến hoạt động kinh
tế cũng như việc thu hút dòng vốn nước ngoài (xem Demekas và cộng sự, 2007) Sựbất ổn ở tầm vĩ mô sẽ ảnh hưởng xấu đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế Lạmphát cao, tỷ lệ nợ nước ngoài cũng như thâm hụt ngân sách được cho là làm tăng sựbất ổn, làm trầm trọng thêm môi trường kinh doanh và do đó làm giảm tốc độ tăngtrưởng (xem Fisher, 1993)
Theo kết quả nghiên cứu năm 2010 của Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff,một khi nợ công vượt quá 90% GDP, tăng trưởng trung bình giảm 1 điểm phầntrăm Nghiên cứu của Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) do Manmohan Kumar và JaejoonWoo tiến hành gần đây cho thấy, nợ công trên 90% GDP bắt đầu tác động tiêu cựcđáng kể đến tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế hàng năm sẽ giảm 0,15 điểm phầntrăm, nếu nợ công tăng thêm 10 điểm phần trăm Kinh tế tại 4 nước Hy Lạp, Italia,
Bồ Đào Nha, Ireland vẫn chìm trong suy thoái và tăng trưởng thụt lùi, do tỉ lệ nợcông tại 4 quốc gia này đang chiếm 118-153% GDP
Trái lại, một số nghiên cứu khác không thừa nhận mối quan hệ này, nhất là tạinhững nước có điều kiện phát hành tiền như Mỹ Nghiên cứu do hai nhà kinh tế họcPháp tiến hành năm 2012 thậm chí đưa ra kết luận, kinh tế vẫn tăng khi tỉ lệ nợ côngvượt ngưỡng 115% GDP Joseph Gagnon (từng làm việc tại NHTW Mỹ - Fed) chorằng, tỉ lệ 90% của Rogoff và Reinhart là con số tổn thương thật sự, nhưng không cóngưỡng này tại những quốc gia kiểm soát được tiền tệ mà họ đi vay Tỉ lệ nợ côngtại khu vực đồng euro rất thấp, nhưng khu vực này vẫn nằm trong suy thoái và
Trang 37tăng trưởng kinh tế tiếp tục giảm 0,3% trong năm 2013 Trong đó, kinh tế Tây BanNha năm 2012 bị giảm 1,4%, mặc dù nợ công chỉ chiếm 77,4% GDP.
Một khía cạnh khác thể hiện những bất ổn vĩ mô là lạm phát Các quốc gia vớilạm phát cao thường đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao hơn để bù đắp cho rủi ro liên quanđến lạm phát (Bengoa và Sachez-Robles, 2003) Lạm phát ổn định sẽ thu hút FDItốt hơn Tỷ lệ lạm phát cao có nghĩa là lợi nhuận mang lại cho nhà đầu tư nướcngoài có nguy cơ sụt giảm Điều này thể hiện rằng đất nước đó đang có sự bất ổnkinh tế vĩ mô hay chính phủ đang đối mặt với vấn đề ngân sách Theo Trevino vàMixon (2004), lạm phát tăng báo hiệu một nền kinh tế bất ổn nội bộ với chính sáchtiền tệ không ổn định Do đó, dòng vốn FDI có xu hướng giảm
Demekas (2007) nghiên cứu tác động của kinh tế vĩ mô đến dòng vốn nướcngoài FDI và nhận thấy bất ổn vĩ mô tác động tiêu cực đến tích luỹ vốn và tăngtrưởng kinh tế Trong đó, lạm phát cao và tỷ lệ nợ nước ngoài cũng như thâm hụtngân sách được cho là tác động xấu đến môi trường kinh doanh và do đó làm giảmtốc độ tăng trưởng
Thật vậy, bên cạnh những tác động trực tiếp của các yếu tố vĩ mô đến tăngtrưởng, điều kiện kinh tế vĩ mô bất lợi không chỉ làm giảm khả năng thu hút FDI màcòn làm giảm hiệu quả năng suất của FDI Vấn đề này đã được xác nhận bởi nghiêncứu của GS Prüfer và Tondl (2008), Jallab và cộng sự (2008)
Trang 38Tóm tắt chương 2
Về lý thuyết, có nhiều quan điểm cho rằng FDI mang lại lợi ích nhiều hơn cácdòng vốn tài chính khác vì ngoài việc làm tăng vốn đầu tư vào nền kinh tế, nó còntác động tích cực đến tăng trưởng thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệmquản lý Ủng hộ cho quan điểm này có nghiên cứu của De Mello (1997), Lipsey(2002), Kose và công sự (2006), Carkovic và Levine (2005), Herzer và cộng sự(2008) Tuy nhiên, ở một vài nghiên cứu thực nghiệm khác, FDI lại được chứngminh là có cả tác động có lợi và bất lợi hoặc không có tác động đến tăng trưởng,như nghiên cứu ở cấp độ doanh nghiệp của Gorg và Greenaway (2004) cho rằngFDI không thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sự mâu thuẫn về kết quả của các nghiêncứu thực nghiệm đã yêu cầu các học giả thận trọng hơn khi đưa ra kết luận tổngquát về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, cụ thể là phải xem xét đến sự tồn tạicủa các yếu tố bên ngoài liên quan đến FDI
Ở chương hai, bài viết trình bày tổng quan lý thuyết về tăng trưởng, đặc biệtchú ý đến mô hình tăng trưởng ngoại sinh của Solow để xem xét các nhân tố tác độngđến tăng trưởng Đồng thời, bài viết cũng trình bày lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh[được nghiên cứu bởi Lucas (1988 & 1993), Romer (1986) và Mankiw, Romer và Weil(1992)] và lý thuyết chiết trung [được phát triển bởi Dunning (1988)] để khái quát về mốiquan hệ giữa FDI và tăng trưởng Sự kết hợp hai lý thuyết này đã mở ra ý tưởng chonhững nghiên cứu tiếp theo nhằm kiểm định mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng, nhưnghiên cứu của Tsai (1994), Berthelemy và Demurger (2000), Li và Liu (2005) Hầu hếtcác nghiên cứu đều xác nhận mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng Tuy nhiên,FDI chỉ tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế khi và chỉ khi các quốc gia tiếp nhậnvốn đầu tư hội tụ căn bản các nhân tố về đầu tư con người, công nghệ, và một thị trườngtài chính phát triển Phân tích này phản ánh rằng tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tếcủa một quốc gia tiếp nhận phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện của từng quốc gia đó
Có thể nói điều kiện của từng quốc gia đóng vai trò hết sức quan trọng Ngoài đóng góp tích cực của chúng đến hoạt động kinh tế, những yếu tố này còn ảnh hưởng đến
Trang 39khả năng thu hút FDI của các quốc gia, cũng như khả năng có thể hưởng lợi từ dòngvốn FDI Mối liên hệ giữa các nhân tố điều kiện trong nước và tăng trưởng ngàycàng mạnh mẽ, vì chúng ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế một cách trực tiếp lẫngián tiếp (tức là các nhân tố này không chỉ góp phần vào tăng trưởng kinh tế mà còntạo điều kiện để nước sở tại hấp thụ FDI và từ đó một lần nữa lại góp phần vào tăngtrưởng) Do vậy, cuối chương hai là những nghiên cứu về các nhân tố điều kiện dựkiến tác động đến mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng như chất lượng cơ sở hạtầng, chất lượng thể chế và các yếu tố kinh tế vĩ mô Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏtầm quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với các nhà đầu tư nước ngoài (nghiên cứu củaLoree và Guisingerr, 1995; Wheeler & Moody (1992); Kumar (1994); hoặc Mody
và Srinivasan, 1996) Kinoshita và Lu (2006) cho rằng tác động lan toả công nghệthông qua FDI hiệu quả hơn khi nước sở tại trang bị đầy đủ về cơ sở hạ tầng Vì nócải thiện môi trường đầu tư trong nước bằng cách hạ thấp chi phí đầu tư và nâng caolợi nhuận Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cũng nhấn mạnh đến vai trò quan trọngcủa thể chế Một mặt, cải cách thể chế có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất kinh
tế, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, kết luận này được rút ra bởi Acemoglu vàcộng sự (2005), Cavalcanti và cộng sự (2008) và Easterly (2005) Mặt khác, môitrường thể chế ổn định có thể làm tăng tác động lan tỏa từ FDI vì nó trực tiếp ảnhhưởng đến điều kiện hoạt động kinh doanh (xem nghiên cứu của Prüferand Tondlnăm 2008 cho các nước Mỹ Latinh ) Tương tự, đã có nhiều nghiên cứu sâu về ảnhhưởng của kinh tế vĩ mô đến hoạt động kinh tế cũng như việc thu hút dòng vốnnước ngoài (xem Demekas và cộng sự, 2007) Sự bất ổn ở tầm vĩ mô sẽ ảnh hưởngxấu đến tích lũy vốn và tăng trưởng kinh tế Lạm phát cao, tỷ lệ nợ nước ngoài cũngnhư thâm hụt ngân sách được cho là làm tăng sự bất ổn, làm trầm trọng thêm môitrường kinh doanh và do đó làm giảm tốc độ tăng trưởng (xem Fisher, 1993)
Trang 4080 và 90, làm cho mẫu các nước này phù hợp với mục đích của bài nghiên cứu Cácnền kinh tế châu Á được đặc trưng bởi thâm hụt tương đối nhỏ, tỷ lệ tiết kiệm cao,
tự do hóa thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế cao và bền vững Sau khủnghoảng những năm 1980, khu vực này đã trải qua một sự đột biến đáng chú ý củadòng vốn đầu tư từ những năm 1990, với sự gia tăng tỷ lệ của FDI chảy vào trêntổng dòng vốn (xem Baharumshah và Thanoon, 2006) Tóm lại, nhóm này cung cấpmột trường hợp thú vị để nghiên cứu, bởi phần lớn đã trải qua những cải tiến trong
ổn định kinh tế vĩ mô và chất lượng thể chế kể từ những năm 90, nhưng với kết quảtăng trưởng khác nhau
Phần này mô tả các dữ liệu được sử dụng trong phương trình hồi quy tăngtrưởng kinh tế gồm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên đầu người, FDI, một sốbiến kiểm soát khác có tác động đến tăng trưởng kinh tế được đưa vào mô hình nhưbiến tăng trưởng dân số, tích lũy tài sản cố định gộp so với GDP, các biến thể hiệnmức độ cơ sở hạ tầng, biến thể chế và biến kinh tế vĩ mô
Các dữ liệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu được thu thập từ dữ liệu Worldbank của 20 quốc gia Châu Á từ năm 1985-2013 Dữ liệu được thu thập là dữ liệubảng, các biến được lấy giá trị trung bình 5 năm cho 20 nước đang phát triển củaChâu Á , bằng cách này chúng ta có 6 quan sát cho mỗi nước Như vậy tổng số quansát là 120