1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại việt nam

100 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 460,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả sử dụng khung phân tích kinh tế học về thuếđược Stiglitz 1986 đề xuất, kết hợp với phân tích định lượng về cầu tiêu dùng nước giảikhát tại Việt Nam để trả lời các câu hỏi chính s

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

TRƯƠNG NGỌC PHONG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT LÊN MẶT HÀNG NƯỚC GIẢI KHÁT

CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐINH CÔNG KHẢI

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là hoàn toàn do tôi thực hiện Các trích dẫn và nguồn sốliệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong khảnăng hiểu biết của tôi Đây là nghiên cứu chính sách của cá nhân, do đó không nhất thiếtphản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chươngtrình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 06 năm 2015

Tác giả

Trương Ngọc Phong

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, tôi đã nhậnđược sự giảng dạy tận tình từ các Giảng viên, và thái độ ân cần của các nhân viên phục vụ.Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người đã giúp đỡ tôi rất nhiềutrong quá trình học tập, nghiên cứu, và hoàn thành luận văn này

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đinh Công Khải Với vai trò là ngườihướng dẫn khoa học, Thầy đã giúp tôi hình thành hướng nghiên cứu, phương pháp, vànhững ý kiến phản biện sâu sắc để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý Thầy, Cô và nhân viên làm việc tại Chương trìnhGiảng dạy Kinh tế Fulbright vì đã truyền cho tôi nhiều kiến thức quí giá và hỗ trợ tôi rấtnhiệt tình trong thời gian học tập tại Trường

Tôi cũng xin dành những lời cảm ơn đến Thầy Huỳnh Thế Du, Thầy Đỗ Thiên Anh Tuấn

đã có những góp ý sâu sắc trong quá trình hình thành ý tưởng nghiên cứu của tôi

Cảm ơn những anh chị cùng học tập tại Chương trình Fulbright trong lớp MPP6 về sự hỗtrong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Và cuối cùng, cảm ơn những người thân trong gia đình vì họ là nguồn động viên đối với tôitrong suốt thời gian học tập xa nhà

Học viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Trương Ngọc Phong

Trang 5

TÓM TẮT

Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đốivới mặt hàng nước giải khát tại Việt Nam, và xem xét Chính phủ có nên hay không áp thuếtiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng này Tác giả sử dụng khung phân tích kinh tế học về thuếđược Stiglitz (1986) đề xuất, kết hợp với phân tích định lượng về cầu tiêu dùng nước giảikhát tại Việt Nam để trả lời các câu hỏi chính sách: (1) Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệtlên mặt hàng nước giải khát có phải là một chính sách thuế hiệu quả? (2) Tác động kinh tếcủa thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát sẽ như thế nào? và (3) Chính phủViệt Nam có nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát hay không? Dữ liệu VHLSS

2010 được sử dụng để ước lượng độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập cho mặthàng nước giải khát làm cơ sở cho phân tích các tiêu chí của một chính sách thuế hiệu quả.Kết quả nghiên cứu cho thấy mặt hàng nước giải khát có cầu co giãn mạnh theo giá, khôngphải là mặt hàng xa xỉ, và khó có thể kết luận tồn tại ngoại tác tiêu cực khi sử dụng sảnphẩm này Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích 3 tiêu chí quan trọng trong 5 tiêu chí của mộtchính sách thuế hiệu quả là tính kinh tế, tính công bằng, và tính đơn giản (khả thi) Trong

ba tính chất quan trọng của chính sách thuế hiệu quả có 2 tính chất mà chính sách thuế tiêuthụ đặc biệt nếu áp dụng lên mặt hàng nước giải khát sẽ không đạt được là (1) tính kinh tế

và (2) tính công bằng; tiêu chí (3) tính đơn giản sẽ khó đạt được trong trường hợp chínhphủ sử dụng các mức thuế suất phân biệt cho từng loại nước giải khát

Từ kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị chính sách được đề xuất là: (1) Nhà quản lý khôngnên thực hiện chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng nước giải khát ở thời điểmhiện tại; (2) Cơ quan thuế nên theo đuổi chính sách thuế không gây biến dạng tiêu dùngnhư thuế doanh thu, hoặc cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp để tăng nguồnthu từ các nhà sản xuất sản phẩm nước giải khát; (3) Các nhà hoạch định chính sách nêntập trung thiết kế các chính sách làm giảm giá mặt hàng sữa để khuyến khích người dân sửdụng sản phẩm có lợi cho sức khỏe nhiều hơn Cuối cùng nghiên cứu này cũng đề xuấthướng nghiên cứu tiếp theo để đánh giá chính xác hơn các tác động kinh tế của thuế đếnngành nước giải khát là tập trung nghiên cứu phía cung và nghiên cứu các trở ngại trongcông tác hành thu

Từ khóa: Thuế tiêu thụ đặc biệt, Nước giải khát, Chính sách thuế hiệu quả, Hàm cầu, Độ

co giãn

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

CÁC KHÁI NIỆM viii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH x

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, và dữ liệu nghiên cứu 2

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 3

1.7 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Giới thiệu 4

2.2 Khung phân tích Kinh tế học về thuế 4

2.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt 6

2.4 Chính sách thuế đối với nước giải khát trên thế giới 7

2.5 Lý thuyết hàm cầu tiêu dùng 8

2.6 Các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng 8

2.6.1 Mô hình phương trình đơn 8

Trang 7

2.6.2Các mô hình hàm cầu hệ thống (Demand Systems)

2.7Tổng quan các nghiên cứu liên quan

2.7.1Nghiên cứu ngoài nước

2.7.2Nghiên cứu trong nước

2.8Tóm tắt chương

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG

3.1Giới thiệu chương

3.2Sơ đồ nghiên cứu

3.3Lựa chọn mô hình nghiên cứu

3.4Các giả thuyết nghiên cứu

3.5Dữ liệu nghiên cứu

3.6Vấn đề ước lượng

3.7Các thủ tục ước lượng mô hình

3.8Tóm tắt chương

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

4.1Giới thiệu chương

4.2Khái quát về ngành nước giải khát Việt Nam

4.3Ngoại tác tiêu cực từ nước giải khát

4.4Xây dựng hàm cầu nước giải khát và xác định độ co giãn

4.5So sánh kết quả ước lượng độ co giãn với một số nghiên cứu trước

4.6Phân tích chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát

4.6.1Phân tích tính kinh tế của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát

4.6.2Phân tích tính công bằng của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát

4.6.3Phân tích tính đơn giản của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát

4.7Phân tích tác động kinh tế của thuế đối với nước giải khát

4.8Tóm tắt chương

Trang 8

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 36

5.1 Kết luận 36

5.2 Khuyến nghị chính sách 36

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Tài liệu Tiếng Việt 39

Tài liệu Tiếng Anh 39

PHỤ LỤC 44

Phụ lục 1: Tìm hiểu về ngoại tác tiêu cực của nước giải khát 44

Phụ lục 2: Cách xây dựng hàm cầu theo lý thuyết kinh tế học 46

Phụ lục 3: Xây dựng hàm cầu theo cách tiếp cận đối ngẫu 48

Phụ lục 4: Các dạng hàm cầu mô hình phương trình đơn 52

Phụ lục 5: Các mô hình hàm cầu hệ thống 53

Phụ lục 6: Cách tính tỷ lệ IMR 57

Phụ lục 7: Thủ tục ước lượng mô hình LA/AIDS 59

Phụ lục 8: Kết quả hồi qui hàm Probit 61

Phụ lục 9: kết quả ước lượngmô hình LA/AIDS với ràng buộc tính đồng nhất và tính đối xứng 65

Phụ lục 10: Độ co giãn theo giá chéo của các mặt hàng 66

Phụ lục 11: Tính toán tác động của thuế 67

Phụ lục 12: Nghi vấn chuyển giá của Coca-Cola và PepsiCo 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Chữ Viết Tắt

AIDSBMIDWLIMR

LA/AIDS

TRTCVHLSS

Trang 10

CÁC KHÁI NIỆM

1 Độ thỏa dụng: mức độ thỏa mãn mà một người nhận được khi tiêu thụ một hàng hóa

hoặc thực hiện một hoạt động (Pindick và Rubinfeld, 1995)

2 Ngoại tác tiêu cực: là sự tác động ra bên ngoài của đối tượng này làm tăng chi phí của

đối tượng khác mà không thông qua giao dịch và không được phản ánh qua giá cả (Pindick

và Rubinfeld, 1995)

3 Độ co giãn của cầu theo thu nhập: đo lường mức độ thay đổi lượng cầu của một mặt

hàng khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi với điều kiện các yếu tố khác không đổi

Nó cho biết khi thu nhập thay đổi 1% thì lượng cầu thay đổi bao nhiêu % (Pindick và Rubinfeld, 1995)

4 Độ co giãn của cầu theo giá riêng: đo lường mức độ thay đổi lượng cầu của một hàng

hóa khi giá của nó thay đổi với điều kiện các yếu tố khác không đổi Độ co giãn theo giáriêng cho biết khi giá thay đổi 1% thì lượng cầu của hàng hóa đó thay đổi bao nhiêu % (Pindick và Rubinfeld, 1995)

5 Độ co giãn của cầu theo giá chéo: đo lường mức độ thay đổi lượng cầu của một

hàng

hóa khi giá các hàng hóa khác thay đổi, với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Độ

co giãn chéo cho biết khi giá của một mặt hàng liên quan thay đổi 1% thì lượng cầu củahàng hóa đang xét thay đổi bao nhiêu % (Pindick và Rubinfeld, 1995)

6 Thuế: là một khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc cho chính phủ mà không gắn với

bất kỳ một lợi ích cụ thể nào cho đối tượng nộp thuế, nó được xem là hình thức chuyểngiao quyền kiểm soát các nguồn lực kinh tế từ người nộp thuế sang nhà nước, và đượcphân bổ thông qua chính sách chi tiêu của chính phủ (Stiglitz, 1986)

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu 18

Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu 23

Bảng 3.3: Giá trung bình của các sản phẩm đồ uống 24

Bảng 4.4: Hệ số hồi qui ước lượng trong mô hình LA/AIDS với ràng buộc đối xứng và đồng nhất được áp đặt 28

Bảng 4.5: Độ co giãn của cầu theo thu nhập, và độ co giãn của cầu theo giá riêng 29

Bảng 4.6: So sánh độ co giãn giữa các nghiên cứu khác nhau 30

Bảng 4.7: Ước lượng tác động kinh tế của thuế 35

Trang 12

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Tổn thất vô ích dưới tác động của thuế 5

Hình 2.2: Khung phân tích kinh tế học về thuế 6

Hình 3.3: Sơ đồ nghiên cứu 17

Hình ii.1: Tối đa hóa độ thỏa dụng và tối thiểu hóa chi phí 46

Hình xi.2: Các trường hợp đặc biệt của mô hình thị trường Nước giải khát 67

Hình xii.3: Doanh thu, lợi nhuận của Coca-ColaViệt Nam 2004-2010 (tỉ đồng) 70

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách

Ngành công nghiệp nước giải khát hiện được xem là ngành kinh doanh hấp dẫn Tổngdoanh thu ngành tính riêng cho năm 2013 của ngành là 11.870 tỷ VND, tổng sản lượng tiêuthụ lên đến 2.083,06 triệu lít, và tốc độ tăng trưởng trung bình 19,35% giai đoạn 2009– 2013 Điều kiện khí hậu nóng ẩm, cùng với thị trường có dân số trẻ là các yếu tố chínhtạo nên thuận lợi cho ngành phát triển Hiện nay, mức tiêu thụ bình quân đầu người là 23lít/người/năm, thấp hơn so với mức trung bình thế giới vào khoảng 40 lít/người/năm Vìvậy, dự báo trong thời gian tới mức tiêu thụ nước giải khát vẫn tiếp tục gia tăng, và trởthành một thức uống phổ biến trong đời sống người dân, nhất là giới trẻ ở Việt Nam

(VietinbankSc, 2014)

Tháng 2 năm 2014 Bộ Tài Chính Việt Nam đưa nước giải khát có ga không cồn vào danhmục các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất 10%, và đệ trình Quốc hội xemxét thông qua Theo Bộ Tài chính, việc lạm dụng đồ uống có thể dẫn tới các vấn đề sứckhỏe như tăng nguy cơ bị bệnh béo phì, tiểu đường, sỏi thận, loãng xương, sâu răng Dựthảo này vấp phải phản ứng mạnh mẽ từ phía các nhà sản xuất nước giải khát có ga, đặcbiệt là các nhà sản xuất nước giải khát nước ngoài, họ cho rằng không có bằng chứng y họcnào xác thực cho thấy nước giải khát có ga gây ra các vấn đề sức khỏe, thuế nhắm vàonước giải khát có ga là chính sách vi phạm nguyên tắc “Đối xử quốc gia”, đồng thời đưa racác lập luận về tác động tiêu cực của thuế đến ngành sản xuất nước giải khát, cũng như nềnkinh tế

Mặc dù vậy, trên thế giới có nhiều nước đang áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế tiêudùng đối với các sản phẩm nước giải khát như Hoa Kỳ, Phần Lan, Croatia, Thái Lan,Pháp…v.v Nhìn chung việc đánh thuế lên mặt hàng nước giải khát trên thế giới chủ yếudựa trên hàm lượng đường trong các sản phẩm Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia từngđánh thuế đối với sản phẩm này nhưng rồi bãi bỏ hoặc giảm thuế suất, như Ai Cập, Ai-len,Đan Mạch Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát gây tranh cãi và tồn tại hailập luận đối lập với nhau Thứ nhất, lập luận ủng hộ chính sách này cho rằng nước giải khátgây ra các vấn đề sức khỏe và cần phải hạn chế người dân sử dụng Thứ hai, lập luận

Trang 14

chống đối cho rằng việc áp thuế đối với nước giải khát là một chính sách thuế không hiệuquả và gây tổn thất cho toàn nền kinh tế.

Ở Việt Nam, cho đến nay việc có áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt cho nước giải khát haykhông vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, chưa có cơ sở rõ ràng cho việc ra quyết định ápthuế hay không đối với mặt hàng này Việc rút lại đề xuất đánh thuế lên nước giải khát có

ga không cồn cho thấy sự lúng túng trong việc ra quyết định của các cơ quan liên quan

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trước những vấn đề nêu trên, nghiên cứu này có mục đích phân tích hiệu quả của chínhsách thuế đối với mặt hàng nước giải khát và đưa ra kiến nghị có nên hay không áp thuếtiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng này

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu như trên, nghiên cứu này cần phải trả lời 4 câu hỏi sau:

(1) Có tồn tại ngoại tác tiêu cực khi sử dụng nước giải khát hay không?

(2) Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát có phải là chính sách thuế hiệu quả?

(3) Tác động kinh tế của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát lên các bên liên quan1 như thế nào?

(4) Chính phủ Việt Nam có nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải khát hay không?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng nước giải khátcông nghiệp; và phạm vi nghiên cứu là thị trường nước giải khát công nghiệp tại Việt Nam

1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu, và dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu được phân tích dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học về thuế Theo đó, tác giả

sẽ phân tích khả năng áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát ở Việt Namtheo lý thuyết về một chính sách thuế hiệu quả được Stiglitz (1986) đề xuất Một chính

1Các bên liên quan gồm: (1) người tiêu dùng được bị tác động qua việc giảm thặng dư tiêu dùng; (2) nhà sản xuất, bị tác động thông qua việc giảm doanh thu và giảm thặng dư sản xuất; và (3) GDP của nền kinh tế giảm thông qua việc giảm sản lượng sản xuất.

Trang 15

sách thuế hiệu quả nếu thỏa mãn ba yêu cầu (1) tính hiệu quả kinh tế; (2) Tính công bằng;

và (3) Tính đơn giản

Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng lý thuyết cầu tiêu dùng để phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến cầu mặt hàng nước giải khát Kỹ thuật phân tích định lượng được sử dụng đểxây dựng hàm cầu nước giải khát ở Việt Nam, và đo lường độ co giãn của cầu theo giá vàtheo thu nhập của mặt hàng này Kết quả này sẽ được sử dụng tính để phân tích tính kinh tế

và tính công bằng của chính sách thuế

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này là dữ liệu được trích từ bộ dữ liệu điều tra mức sống

hộ gia đình, được thu thập bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010)

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp kết quả đánh giá ở góc độ kinh tế học về tính hiệu quả của thuế đốivới nước giải khát cho các quản lý có thêm cơ sở trong việc ra quyết định có nên áp thuếhay không Đồng thời việc phân tích cầu nước giải khát của các hộ gia đình cũng giúp cácnhà sản xuất, và các cơ quản quản lý có những chính sách quản lý ngành tốt hơn

1.7 Cấu trúc luận văn

Luận văn này gồm 5 chương, bao gồm: Chương 1 giới thiệu tổng quát về vấn đề chínhsách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiêncứu, cũng như phương pháp nghiên cứu Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết bao gồmkhung phân tích về thuế, lý thuyết cầu tiêu dùng, và những kết quả của các nghiên cứu cóliên quan Chương 3 trình bày các mô hình kinh tế lượng về đo lường cầu tiêu dùng được

sử dụng trong nghiên cứu, các vấn đề ước lượng, và phương pháp thu thập số liệu và xử lý

số liệu Chương 4 trình bày kết quả phân tích và các thảo luận Kết luận và các khuyếnnghị chính sách sẽ được trình bày trong Chương 5

Trang 16

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT2.1 Giới thiệu

Nghiên cứu này tập trung phân tích hiệu quả của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt nếu áplên mặt hàng nước giải khát công nghiệp tại Việt Nam Trong chương này, tác giả trình bàykhung phân tích để đạt được các mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày trong Chương 1.Tác giả sẽ tiến hành phân tích hiệu quả của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặthàng nước giải khát dựa trên khung phân tích kinh tế học về thuế được Stiglitz (1986) đềxuất, và lý thuyết thuế tiêu thụ đặc biệt Bên cạnh đó, lý thuyết cầu tiêu dùng cũng được sửdụng để ước lượng độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập của mặt hàng nước giảikhát, nhằm hỗ trợ cho việc phân tích hiệu quả của chính sách thuế này

2.2 Khung phân tích Kinh tế học về thuế

Theo Stiglitz (1986) một hệ thống thuế tốt nếu nó đạt được 5 tính chất bao gồm (i) Hiệuquả kinh tế; (ii) Tính công bằng; (iii) Tính đơn giản về mặt hành chính; (iv) Tính linh hoạt;

và (v) Tính trách nhiệm về mặt chính trị Trong 5 yếu tố kể trên, 3 yếu tố cốt lõi của chínhsách thuế hiệu quả là hiệu quả kinh tế, tính công bằng, và tính đơn giản, đây là 3 yếu tốđược phân tích trong luận văn này

(i) Hiệu quả kinh tế yêu cầu chính sách thuế không can thiệp vào việc phân bổ nguồn lựchiệu quả, hay không gây ra các bóp méo hành vi kinh tế Có nghĩa là, một khi chính sáchthuế được áp dụng thì tổn thất vô ích mà xã hội phải gánh chịu là thấp nhất Tổn thất vô íchluôn tồn tại, cơ chế gây tổn thất của thuế thông qua tác động về giá cả của hàng hóa Theo

đó, khi một mặt hàng bị áp thuế, giá của nó sẽ tăng lên, trong khi thu nhập của người tiêudùng chưa tăng, điều này tương đương với việc giảm ngân sách chi tiêu, phản ứng của họ

là cắt giảm chi tiêu hoặc sử dụng mặt hàng khác thay thế Kết quả là lợi ích mà người tiêudùng nhận được bị suy giảm, điều tương tự cũng sẽ xảy ra đối với các nhà sản xuất Chính

vì vậy, một chính sách thuế được xem là đạt hiệu quả kinh tế nếu tổn thất vô ích do thuếgây ra là nhỏ nhất

Một loại hàng hóa có cầu (hoặc cung, hoặc cả hai) ít co giãn theo giá thì khi hàng hóa này

bị áp thuế sẽ có ít sự biến dạng trong hành vi tiêu dùng (hoặc sản xuất), nói cách khác làthuế đối với những mặt hàng này ít gây ra tổn thất vô ích cho xã hội Hình 2.1 dưới đây mô

tả tác động này (Mankiw, 2010, tr 179-181)

Trang 17

Hình 2.1: Tổn thất vô ích dưới tác động của thuế

Sản lượng

Nguồn: Mankiw, 2010, Hình 5, trang 180

(ii) Tính công bằng kinh tế đòi hỏi một hệ thống thuế tốt phải đảm bảo được tính côngbằng dọc và công bằng ngang Tính công bằng ngang đạt được nếu các đối tượng về mọimặt như nhau phải chịu thuế ngang nhau Ví dụ, nếu đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên nướcgiải khát vì cho rằng đường trong sản phẩm này gây ra các vấn đề sức khỏe thì cả các sảnphẩm khác có đường cũng nằm trong diện chịu thuế Ngược lại, tính công bằng dọc đòi hỏicác đối tượng khác nhau thì sẽ được đối xử khác nhau Chính sách thuế được xem là đạtđược công bằng dọc nếu người càng có khả năng chi trả cao sẽ càng đóng thuế nhiều hơn.Thông thường, hàng hóa chịu thuế mà người có thu nhập cao sử dụng nhiều hơn so vớingười có thu nhập thấp thì thuế đạt được tính công bằng dọc Nói cách khác, tính côngbằng dọc đạt được nếu hàng hóa chịu thuế có cầu co giãn nhiều theo thu nhập

(iii) Tính đơn giản về mặt hành chính (hay còn gọi là tính khả thi) đòi hỏi hệ thống thuếphải đơn giản để việc quản lý dễ dàng và không tốn kém Bất kỳ một sắc thuế nào cũng đốimặt với vấn đề chi phí quản lý thu thuế, chi phí này bao gồm hai loại là chi phí trực tiếp vàchi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp là các khoản chi tiêu cho công tác hành thu của nhà quản

lý, còn chi phí gián tiếp là các khoản mà người nộp thuế phải gánh chịu; ví dụ chi phí thời

Trang 18

gian khai báo thuế, hoàn thành các biểu mẫu, hay thuê luật sư…v.v Chi phí hành thu phụ thuộc vào 4 yếu tố, gồm (1) những ghi chép không bị đánh thuế: đó là chi phí cho công tác kiểm tra sổ sách của các đối tượng nộp thuế Ví dụ những doanh nghiệp lớn có hệ thống chứng từ đồ sộ thì cơ quan quản lý thuế sẽ tốn nhiều chi phí kiểm tra; (2) tính phức tạp của

hệ thống thuế: nếu một chính sách thuế có nhiều qui định thì nó sẽ tạo thêm các chi phí trong quá trình quản lý; (3) các phân biệt về thuế suất: nếu hệ thống thuế có nhiều thuế suấtthì các chủ thể nộp thuế sẽ tìm cách chuyển nhiệm vụ nộp thuế xuống các mức thuế suất thấp hơn, hoạt động này gây ra đồng thời hai loại chi phí nói trên; và (4) phụ thuộc vào bảnchất của loại thuế, chẳng hạn thuế thu nhập thường được xem là loại thuế có chi phí hành thu cao hơn các loại thuế khác Thông thường, một sắc thuế đạt được tính đơn giản về mặt hành chính nếu doanh thu thuế tạo ra cao hơn chi phí hành thu để thực hiện chính sách đó

Ba tính chất quan trọng của chính sách thuế hiệu quả có thể tóm tắt theo sơ đồ dưới đây

Hình 2.2: Khung phân tích kinh tế học về thuế

Hiệu quả kinh tế

Chính sách

thuế hiệu quả

Tính đơn giản

Tổn thất vô ích thấp: thường đạtđược khi hàng hóa có cầu hoặccung ít co giãn theo giá

Công bằng ngang: các hàng hóa

có tính chất như nhau phải đượcđối xử như nhau

Công bằng dọc: người có khảnăng chi trả cao hơn phải nộpthuế nhiều hơn

Doanh thu thuế lớn hơn chi phíhành thu

Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên đề xuất của Stiglitz (1986).

2.3 Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế tiêu thụ đặc biệt (Excise Tax) hay còn gọi là thuế phân biệt thường được sử dụng đểđánh vào một mặt hàng mà chính phủ không khuyến khích người dân sử dụng (hàng xa xỉhay hàng hóa tội lỗi), chẳng hạn như thuốc lá, rượu bia, xe hơi đắt tiền Hàng hóa đượcchọn để đánh thuế thường có một hoặc vài đặc điểm sau: (1) việc tiêu dùng nó gây ra cácngoại tác tiêu cực; (2) những sản phẩm có cầu ít co giãn theo giá; (3) hàng hóa có độ co

Trang 19

giãn của cầu theo thu nhập lớn hơn 1; và (4) hàng hóa mà việc sản xuất và kinh doanh cầnđược chính phủ điều tiết (Mccarten và Stotsky, 1995)

Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hiệu quả là mức bằng với chi phí ngoại tác tại điểm tiêudùng tối ưu xã hội Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt là tương đối dễ quản lý, tổn thất xãhội thấp vì cầu hàng hóa ít co giãn theo giá, ít bị phản đối bởi hợp với đạo đức xã hội Tínhhiệu quả được đảm bảo vì là loại thuế đánh vào hàng hóa không có hàng hóa thay thế nên íttạo ra biến dạng; làm giảm ngoại tác tiêu cực nên thuế này đạt được lợi ích kép, vừa tăngnguồn thu mà vừa giảm các hành vi không có lợi cho xã hội Tính công bằng thể hiện ởkhía cạnh công bằng dọc khi thuế này được áp vào các mặt hàng mà những người có khảnăng chi trả cao mới sử dụng Tính khả thi được thể hiện ở khía cạnh công tác hành thu tốn

ít chi phí vì dễ xác định nguồn thu, dễ kiểm soát, khả năng áp thuế tại nguồn rất cao Nhàquản lý thuế chỉ cần căn cứ vào doanh số của các nhà sản xuất để thu thuế, hơn nữa sốlượng các nhà sản xuất mặt hàng loại này cũng rất hạn chế (Mccarten và Stotsky, 1995)

2.4 Chính sách thuế đối với nước giải khát trên thế giới

Có nhiều nước áp thuế tiêu thụ đặc biệt cho nước giải khát như: (1) Ở Hoa Kỳ, thuế tiêuthụ đặc biệt được tính cho mặt hàng đồ uống có đường, được gọi là thuế Soda (Soda Tax)theo từng bang, ví dụ ở Washington mức thuế suất là 1,8%/lit; (2) Ở Hà Lan, nước giảikhát có ga phải chịu thuế tiêu dùng (Consumption Tax) với mức thuế suất 2,97%/lít; (3) ỞPhần Lan, thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng cho các loại đồ uống với thuế suất 1,81%/lít;

(4) Ở Croatia, thuế tiêu thụ đặc biệt được áp cho nước giải khát không cồn với thuế suất

2,24%/lít; (5) Ở Thái Lan, thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất phân biệt cho các loại đồuống như nước soda, đồ uống tổng hợp, và nước trái cây với thuế suất lần lượt là 25%tương đương 0,77 bath/440 cc, 20% tương đương 0,37 bath/440 cc Năm 2012, Pháp làquốc gia tiếp theo đánh thuế lên đồ uống có đường với mức thuế khoảng 2 cent/hộp

Mặc dù vậy, cũng có một số quốc gia từng áp thuế lên nước giải khát nhưng sau đó đãgiảm hoặc bãi bỏ Ai Cập đã giảm thuế suất từ 65% xuống 25%, và giữ đến nay Ai-len đãgiảm mức thuế 0,10 £/gallon trong giai đoạn 1975– 1979, giảm tiếp 0,37 £/gallon tronggiai đoạn 1980– 1990, đến giai đoạn 1990– 1992 giảm tiếp 0,29 £/gallon, và bãi bỏ chínhsách thuế này vào tháng 11/1992 Đan Mạch đã xây dựng rồi lại bãi bỏ thuế thuế đườngtrong đồ uống chỉ sau hơn 1 năm áp dụng

Trang 20

2.5 Lý thuyết hàm cầu tiêu dùng

Lý thuyết kinh tế cung cấp hai phương pháp cận để tạo ra hàm cầu gồm: (1) Phương pháptối ưu hóa trong kinh tế học cổ điển; và (2) Xác định tổng số phương trình vi phân cho mỗisản phẩm (Theil & Clements, 1987) (xem chi tiết tại Phụ lục 2) Cách tiếp cận thứ nhất chophép xây dựng các hàm cầu thỏa mãn các tính chất cơ bản của lý thuyết cầu là tính cộngdồn, tính đồng nhất, tính đối xứng, và tính ngược chiều Vì vậy, trong nghiên cứu này tácgiả sử dụng cách tiếp cận thứ nhất, tức là hàm cầu được hình thành dựa trên tiếp cận tối ưuhóa Để xây dựng hàm cầu theo phương pháp tối ưu hóa có hai cách tiếp cận thay thế lẫnnhau, hay còn gọi là cách tiếp cận đối ngẫu

Cách thứ nhất, người tiêu dùng tối đa hóa độ thỏa dụng (Max U(q)) với điều kiện ngânsách bị giới hạn, hướng này cho ra hàm cầu Marshallian, là một hàm theo giá và thu nhập,(xem chi tiết tại Phụ lục 3a) Hàm cầu Marshallian có dạng sau:

q * = D (p , p , ,p , x) = D (x,p)

Cách thứ hai, người tiêu dùng tối thiểu hóa chi phí (Min pq) với điều kiện độ thỏa dụngkhông đổi, giả định rằng sự thay đổi trong thu nhập của người tiêu dùng sẽ “bù đắp” cho sựthay đổi của giá cả để duy trì được độ thỏa dụng như ban đầu, cách này tạo ra hàm cầuHicksian, là một hàm theo giá và độ thỏa dụng (Hugh Gravelle & Ray Rees, 2004, tríchtrong Phạm Thành Thái, 2013) (xem chi tiết tại Phụ lục 3b)

Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng một hàm cầu theo giá và thu nhập nhằm ướclượng độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập cho mặt hàng nước giải khát Vì vậy,tác giả sử dụng cách tiếp cận thứ nhất để xây dựng hàm cầu, nghĩa là cách tiếp cận đ ể xâydựng hàm cầu Marshallian

2.6 Các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng

2.6.1 Mô hình phương trình đơn

Mô hình phương trình đơn là các dạng hàm cầu đầu tiên được xây dựng để nghiên cứu cầutiêu dùng, các loại hàm cầu này bao gồm dạng hàm log kép, và phân tích Stone (Stone’sAnalysis) Nhìn chung, các mô hình hàm cầu đơn là tương đối dễ ước lượng Tuy nhiên, nó

bỏ qua các ràng buộc quan trọng là tính cộng dồn, tính đối xứng, và tính đồng nhất Kếtquả là các tham số ước lượng được ở mô hình phương trình đơn thường kém hiệu quả Mặt

Trang 21

khác, mô hình phương trình đơn khó ước lượng các mô hình có nhiều tham số trong khi các yếu tố ảnh hưởng đến cầu ngày càng được mở rộng (xem chi tiết tại Phụ lục 4).

2.6.2 Các mô hình hàm cầu hệ thống (Demand Systems)

Từ những khuyết điểm của mô hình phương trình đơn, các nhà kinh tế học đã cố gắng hoànthiện hệ thống phương trình hàm cầu với việc áp đặt tất cả các ràng buộc của lý thuyết cầu.Nhìn chung, các hàm cầu hệ thống có ưu điểm là thỏa mãn được yêu cầu của lý thuyết cầunhư tính cộng dồn, tính đồng nhất, và tính đối xứng; đồng thời nó được xây dựng dựa trênmột hàm thỏa dụng chặt chẽ Các dạng hàm cầu hệ thống điển hình là mô hình Worrking-Lesser được Working (1943) đề xuất và Leser (1963) phát triển, hệ thống chi tiêu tuyếntính của Stone (1954), mô hình Rotterdam, mô hình hàm cầu Translog, và hàm cầu AIDS(xem chi tiết các hàm cầu tại Phụ lục 5)

Trong các dạng hàm cầu hệ thống, hàm cầu AIDS do Deaton và Muellbauer (1980) đề xuất

là dạng hàm phổ biến nhất trong các dạng hàm cầu hệ thống kể từ đầu những năm 1980.Hàm cầu AIDS được hình thành trong điều kiện giới hạn về ngân sách, và mỗi phươngtrình hàm cầu có thể được viết như sau:

w i   i   ij ln p j   i

j

Trong đó: ln P  0  i

i

Hàm cầu AIDS là tuyến tính ngoại trừ dạng hàm translog của chỉ số giá lnP trong phương

trình (2.2) Vấn đề này được khắc phục bằng chỉ số giá Stone (ln(P L )  w i ln p i ) , hoặc

i chỉ số giá Laspeyres (ln(P L )  w i ln( p i )) khi các đơn vị đo lường giá là khác nhau Các

i

khắc phục này sẽ cho ra hàm cầu tuyến tính và thường ký hiệu là LA/AIDS (LinearApproximate Almost Ideal Demand System) Các ràng buộc đã được Deaton vàMuellbauer (1980) đề xuất để đảm bảo tính bền vững lý thuyết cho hàm cầu AIDS là tínhcộng dồn, tính đồng nhất, và tính đối xứng (xem Phụ lục 5)

Các công thức tính các độ co giãn trong hàm cầu AIDS như sau:

Trang 23

2.7 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

2.7.1 Nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu tác động kinh tế của thuế lên mặt hàng nước giải khát rất được quan tâm ở cácnước có áp dụng chính sách này, chẳng hạn như Đan Mạch, Ireland, Hoa Kỳ, Pháp, TháiLan v.v Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là xuất phát từ độ co giãn của cầu theogiá và theo thu nhập để phân tích các tác động của thuế đến các nhà sản xuất, người tiêudùng, và nguồn thu thuế Trong đó, điển hình là các nghiên cứu của Oxford Economics(2013), Berardi và đ.t.g (2013), Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g (2010), và Zheng

và Kaiser (2008)

Oxford Economics (2013), cho rằng chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào nước giảikhát không phải là một chính sách thuế tốt trong thực tế, chính phủ có nhiều cách để tạo ranguồn thu và giải quyết các vấn đề y tế liên quan đến nước giải khát hơn là sử dụng mộtchính sách thuế phân biệt Lý giải cho những kết luận này, nghiên cứu cho rằng: Thứ nhất,nước giải khát không phải là mặt hàng xa xỉ vì phần lớn các sản phẩm này có cầu ít co giãntheo thu nhập, và mục tiêu tăng doanh thu thuế cũng không đạt được vì các sản phẩm nàyđều có cầu co giãn nhiều theo giá, đặc biệt ở các nước đang phát triển Hơn nữa, thuế tiêuthụ đặc biệt có thể làm giảm nguồn thu của các loại thuế khác như thuế thu nhập doanhnghiệp, thuế giá trị gia tăng vì doanh thu của các nhà sản xuất bị suy giảm Thứ hai, thuế cóthể gây ra tình trạng mất việc làm như ở Đan Mạch và Hungary, doanh thu từ thuế thu nhập

cá nhân bị giảm và chính phủ phải trợ cấp an sinh xã hội cho những người mất việc vìngành sản xuất bị thu hẹp lại Thứ ba, việc áp thuế lên các mặt hàng nước giải khát có thểkhiến giá trong nước tăng lên, và người dân sẽ mua hàng ở quốc gia lân cận nơi có giá thấphơn Thứ tư, chi phí hành chính cho quản lý thuế là một vấn đề lớn với các Chính phủ nhất

là khi chính sách thuế có tỷ lệ được áp dụng, chính sách thuế này cũng có thể làm tăng chi

Trang 24

phí cho nhà sản xuất vì họ phải tìm cách để sản phẩm mà họ bán chịu mức thuế suất thấpnhất có thể.

Berardi và đ.t.g (2013) nghiên cứu tác động của thuế nước ngọt (soda tax) lên giá các mặthàng đồ uống ở Pháp sau khi Chính phủ nước này quyết định đánh thuế 7,16 € mỗihectoliter (khoảng 11 cent euro/1,5lít, hay khoảng 6% so với giá trung bình) Kết quả chothấy giá của các loại đồ uống thuộc diện chịu thuế tăng lên đáng kể, và thuế đã đượcchuyển sang giá gần như đầy đủ về mặt trung bình Đối với nước uống có hương vị vànước trái cây giá của chúng tăng khoảng hơn 6 cent/lit dưới tác động của chính sách thuế

có mức thuế 7,16 cent/lit Chính sách thuế này là làm giảm mạnh lợi nhuận của các nhàbán lẻ, các hãng sản xuất gặp khó khăn trong việc tiêu thụ và một số hãng sản xuất tìmcách chuyển thuế vào giá thành sản xuất

Adam và Smed (2012) nghiên cứu tác động của các loại thuế khác nhau lên mặt hàng nướcgiải khát tại Đan Mạch cho các sản phẩm: nước giải khát (soft drink), sữa tươi, các loạinước uống không cồn khác, nước hương vị trái cây (fruit drinks), nước đóng chai (bottledwater), và nước ép trái cây (juice) Các sản phẩm này chia thành loại được giảm giá vàkhông được giảm giá, đóng chai nhỏ hơn 1,5 lit, 1,5 lit và 2 lit Tác giả sử dụng mô hìnhAIDS để ước lượng độ co giãn của cầu nước giải khát với bộ dữ liệu tiêu dùng theo thángcủa 3.000 hộ gia đình vùng Scandinavia từ năm 2006–2009 Kết quả cho thấy độ co giãncủa cầu theo giá riêng của tất cả các mặt hàng đều âm, trong đó nước giải khát, nướchương vị trái cây, và nước ép trái cây là các sản phẩm có cầu co giãn mạnh theo giá (độ cogiãn lần lượt là: -1,360; -1,200; và -1,009), còn sữa tươi, các loại nước giải khát khác, vànước đóng chai là các mặt hàng có cầu co giãn ít theo giá (độ co giãn lần lượt là: -0,88; -0,89; và -0,811) Các sản phẩm này đều là các hàng hóa thông thường, trong đó nước giảikhát là sản phẩm nhạy cảm nhất đối với thu nhập, còn sữa tươi ít nhạy cảm nhất (độ cogiãn của cầu theo thu nhập lần lượt là 1,239 và 0,869) Các yếu tố nhân khẩu học như tuổicủa chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số lượng trẻ em trong gia đình, và mức thu nhậpcủa hộ gia đình đều ảnh hưởng đến cầu các mặt hàng đồ uống Để xem xét tác động củacác loại thuế khác nhau lên việc giảm tiêu dùng các mặt hàng nước giải khát, tác giả phântích ba chính sách thuế gồm: (i) thuế đánh trên dung tích bình chứa; (ii) thuế tỷ lệ dựa trênhàm lượng đường trong các loại nước; và (iii) thuế đồng bộ cho tất cả các loại Kết quả chothấy thuế tỷ lệ dựa trên hàm lượng đường có trong đồ uống làm giảm lượng đường được

Trang 25

tiêu thụ nhiều nhất so với thuế đánh trên thể tích bình chứa và thuế đồng bộ Chính sáchthuế đồng bộ đang áp dụng không đạt được mục tiêu giảm tiêu thụ đường vì người tiêudùng gia tăng sử dụng các sản phẩm được bán giảm giá Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũngcho rằng nước giải khát không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra bệnh béo phì Để giảiquyết tình trạng béo phì cần có chính sách thích hợp trong việc thúc đẩy tiêu thụ các sảnphẩm rau quả, chế độ sinh hoạt, và thay đổi nhận thức hơn là chỉ sử dụng công cụ thuế.Alviola và đ.t.g (2010) sử dụng mô hình AIDS và kỹ thuật ước lượng hai bước củaHeckman để đo lường cầu cho các mặt hàng đồ uống gồm: nước trái cây, cà phê, chè, nướcgiải khát có ga, sữa tươi, và nước uống đóng chai ở Hoa Kỳ với bộ dữ liệu ACNielsenHomescan 1999 Kết quả cho thấy độ co giãn của cầu theo thu nhập và theo giá riêng chocác sản phẩm trên lần lượt là 1,023; 0,733; 0,991; 1,141; 0,934; 0,873, và -0,827; -1,.244; -1,483; -0,645; - 1,977; -1,023 Kết quả này cho thấy các mặt hàng đồ uống ở Hoa Kỳ là cácsản phẩm thông thường, và ít co giãn theo giá Các biến nhân khẩu học và kinh tế xã hộitrong mô hình như qui mô hộ gia đình, thu nhập, chủng tộc, tính mùa vụ, và khu vực sinhsống đều ảnh hưởng tiêu dùng đồ uống Người dân ở vùng trung tâm sử dụng nhiều chè, càphê, và nước giải khát có ga, điều này tương tự với người dân ở phía nam, trong khi ngườidân ở phía đông Hoa Kỳ sử dụng phổ biến tất cả các mặt hàng này.

Zheng và Kaiser (2008) sử dụng mô hình AIDS nghiên cứu cầu mặt hàng đồ uống (nướcgiải khát, sữa tươi, chè/cà phê, nước trái cây, và nước uống đóng chai) ở Hoa Kỳ trong giaiđoạn từ năm 1974 đến 2005 Kết quả cho thấy thị trường đồ uống không cồn của Hoa Kỳ

có cầu ít co giãn theo giá (độ co giãn từ -0,52 đến – 0,27); tỷ lệ dân số dưới năm tuổi có tácđộng dương lên cầu tiêu dùng mặt hàng sữa và nước giải khát, và có ảnh hưởng âm đối vớicầu nước đóng chai Nghiên cứu cũng khuyến nghị các nhà sản xuất sữa nên chú trọng hơnđến việc sản xuất cho các loại sữa dùng trong bữa ăn xa nhà (học sinh, đi du lịch), nó cótác động kích thích sử dụng sữa và giảm sử dụng nước giải khát

Tổng quan các nghiên cứu có liên quan ở nước ngoài cho thấy: (i) Nghiên cứu về cầu tiêudùng các mặt hàng nước giải khát phần lớn sử dụng hàm cầu AIDS, các yếu tố ảnh hưởngđến cầu nước giải khát ngoài giá cả, thu nhập còn có các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế

xã hội Vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả sẽ kế thừa việc sử dụng hàm cầu AIDS để phântích cầu nước giải khát ở Việt Nam; (ii) Cầu tiêu dùng nước giải khát ở các thị trường làkhác nhau, trong đó, thị trường nước giải khát ở Hoa Kỳ có cầu tương đối ít co giãn theo

Trang 26

giá còn các thị trường khác như Đan Mạch, Pháp có cầu co giãn mạnh theo giá Bên cạnh

đó nước giải khát cũng không phải là một mặt hàng xa xỉ; (iii) Chính sách thuế đối vớinước giải khát là chính sách gây ra nhiều tranh cãi về tính hiệu quả kinh tế cũng như hiệuquả trong giải quyết ngoại tác tiêu cực

2.7.2 Nghiên cứu trong nước

ỞViệt Nam hiện nay, nghiên cứu về thuế đối với nước giải khát còn rất hạn chế Gần đâykhi Bộ Tài Chính đề xuất đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nước giải khát có ga vào đầunăm 2014, Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương Việt Nam dưới sự tài trợ của Hiệp hộiThương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AMCHAM: American Chamber of Commerce) đã thựchiện nghiên cứu đầu tiên Nghiên cứu cầu tiêu dùng nước giải khát có ga với hàm cầu logkép và dữ liệu thu thập tại 6 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh,Cần Thơ, và Nha Trang) Kết quả cho thấy độ co giãn của cầu theo giá đối với mặt hàngnước giải khát có ga là -2,8 Nếu áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất 10% trên giábán lẻ thì có thể giúp tăng thu ngân sách khoảng 234 tỷ đồng/năm, nhưng ngành côngnghiệp nước giải khát có ga có thể sẽ chịu thiệu hại khoảng 851 tỷ đồng, và GDP bị thiệthại khoảng 0,01% tương đương với 235 tỷ đồng Nghiên cứu này kiến nghị Chính phủ vàcác các cơ quản lý cân nhắc kỹ và có phương án giải quyết các ảnh hưởng về mặt kinh tếnếu áp thuế lên nước ngọt có ga không cồn (Trần Kim Chung và đ.t.g, 2014) Hạn chế củanghiên cứu này là tác giả đã sử dụng mô hình phương trình đơn với hàm log kép có nhữnghạn chế đã được đề cập trong mục 2.5.1 Ngoài ra, nghiên cứu cũng chưa xem xét ảnhhưởng của các đặc điểm nhân khẩu học đến cầu nước giải khát và dữ liệu chỉ được thu thập

ở 6 thành phố chưa hẳn đã đại diện cho toàn quốc

Ngoài nghiên cứu về cầu nước giải khát đã trình bày ở trên, có một số nghiên cứu về cầutiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam trong thời gian gần đây như Phạm Thành Thái (2013),

Vu Hoang Linh (2009), và Le Quang Canh (2008)

Phạm Thành Thái (2013) sử dụng dữ liệu VHLSS 2008 nghiên cứu cầu tiêu dùng các sảnphẩm thịt và cá (gồm: thịt bò, thịt heo, thịt gà, và cá) ở Việt Nam Các hệ số co giãn theogiá và theo thu nhập được ước lượng bằng các mô hình Working-Lesser, LA/AIDS, vàLA/QUAIDS Kết quả cho thấy, cầu các mặt hàng thịt và cá ở Việt Nam chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố thu nhập, giá cả, và các biến nhân khẩu học (tuổi chủ hộ, qui mô hộ gia

Trang 27

đình, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ) và các biến kinh tế xã hội (khu vực (thành thị vànông thôn), vùng miền, và nhóm thu nhập) Tất cả các sản phẩm đều có độ co giãn của cầutheo thu nhập dương, và theo giá riêng âm Nghiên cứu cũng cho rằng, các nhà thiết kếchính sách cần phối hợp đồng thời chính sách quản lý giá và chính sách về thu nhập nếumuốn thúc đẩy tiêu dùng các mặt hàng thịt cá nhằm giảm tình trạng suy dinh dưỡng củangười dân Việt Nam Bên cạnh đó, cầu thực phẩm giữa thành thị và nông thôn, và cácnhóm thu nhập là khác nhau do đó các chính sách cần có trọng điểm.

Vu Hoang Linh (2009) sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2006 để nghiên cứu cầu thực phẩm củacác hộ gia đình Việt Nam (gồm các loại: gạo, thịt heo, thịt gia cầm, cá, rau, trái cây, thựcphẩm khác, đồ uống) với mô hình LA/AIDS Kết quả cho thấy, cầu tiêu dùng thực phẩm ởViệt Nam bị ảnh hưởng bởi thu nhập, giá cả cũng như các yếu tố nhân khẩu học (tuổi chủ

hộ, qui mô hộ gia đình, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, tỷ lệ trẻ em trong gia đình, tỷ lệngười già, và dân tộc) và các biến kinh tế xã hội khác (khu vực, vùng miền, và mùa vụ).Tất cả các loại thực phẩm đều có độ co giãn theo thu nhập dương và độ co giãn theo giáriêng là âm Nhìn chung, các mặt hàng thực phẩm trong nghiên cứu này có cầu ít co giãntheo giá riêng cũng như theo thu nhập Mặt hàng đồ uống (bao gồm cả đồ uống có cồn vàkhông cồn) có độ co giãn của cầu theo thu nhập là 1,02 và theo giá riêng là -1,01 Nghiêncứu cũng chỉ ra rằng, tiêu dùng thực phẩm ở khu vực nông thôn và thành thị và giữa cácvùng miền và giữa các nhóm thu nhập khác nhau là khác nhau

Le Quang Canh (2008) sử dụng bộ dữ liệu VHLSS 2004 để đo lường cầu tiêu dùng thựcphẩm ở Việt Nam với mô hình AIDS Kết quả nghiên cứu cho thấy thực phẩm, gạo, thịt và

cá là những hàng hóa thông thường, trong khi đó thực phẩm không phải gạo như rau, tráicây, đồ uống là hàng hóa xa xỉ Các yếu tố khu vực thành thị, nông thôn ảnh hưởng có ýnghĩa lên cầu tiêu dùng thực phẩm trong khi các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giớitính, và trình độ học vấn có ảnh hưởng yếu lên tiêu dùng thực phẩm

Tổng quan các nghiên cứu có liên quan ở trong nước cho thấy: (i) Các nghiên cứu cầu tiêudùng và chính sách thuế đối với mặt hàng nước giải khát còn rất mới mẻ; (ii) Các nghiêncứu cầu tiêu dùng thực phẩm chủ yếu sử dụng mô hình AIDS; và (iii) Cầu tiêu dùng thựcphẩm ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố giá cả, thu nhập, nhân khẩu học, và đặcđiểm kinh tế xã hội Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ kế thừa các kết quả từ những

Trang 28

nghiên cứu cầu thực phẩm để xây dựng mô hình nghiên cứu cầu nước giải khát tại ViệtNam.

2.8 Tóm tắt chương

Trong chương 2, tác giả đã trình bày khung phân tích kinh tế học về thuế, lý thuyết thuếtiêu thụ đặc biệt, lý thuyết cầu tiêu dùng, các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng, và cácnghiên cứu có liên quan Khung phân tích kinh tế học về thuế cho thấy, một chính sáchthuế hiệu quả phải thỏa mãn ba tiêu chí là (1) hiệu quả kinh tế, (2) tính công bằng, và (3)tính đơn giản Qua việc lược khảo các mô hình nghiên cứu cầu tiêu dùng cho thấy hàm cầuAIDS đáp ứng được lý thuyết cầu tiêu dùng và sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứuthực nghiệm Các nghiên cứu thực nghiệm về cầu tiêu dùng nước giải khát và cầu tiêudùng thực phẩm ở Việt Nam đều sử dụng mô hình AIDS Các nghiên cứu về thuế tiêu thụđặc biệt đối với mặt hàng nước giải khát phần lớn không ủng hộ chính sách thuế này

Trang 29

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG 3.1 Giới thiệu chương

Để phân tích chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt nếu áp lên mặt hàng nước giải khát có phải

là chính sách thuế hiệu quả theo lý thuyết kinh tế học về thuế hay không đòi hỏi phải xácđịnh được độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập của mặt hàng này Trong chươngnày, tác giả sẽ trình bày cách thức lựa chọn mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, cácgiả thuyết nghiên cứu, và các kỹ thuật để ước lượng mô hình hàm cầu nước giải khát, nhằmtìm ra độ co giãn của cầu theo giá và theo thu nhập Một sơ đồ tóm tắt nghiên cứu cũngđược tác giả trình bày trong chương này để mô tả qui trình thực hiện nghiên cứu

3.2 Sơ đồ nghiên cứu

Xuất phát từ các câu hỏi nghiên cứu đã đề cập trong Chương 1, nghiên cứu này được thựchiện qua 3 bước như mô tả dưới đây

Bước 1: Bước này gồm Bước 1b và Bước 1b Bước 1a tác giả trả lời câu hỏi nghiên cứu số

1 về ngoại tác tiêu cực của nước giải khát đối với người tiêu dùng, dựa trên các nghiên cứu

y học Bước 1b, tác giả sử dụng tiếp cận kinh tế lượng và lý thuyết về cầu tiêu dùng để ướclượng hàm cầu nước giải khát tại Việt Nam, tính hệ số co giãn của cầu theo giá và theo thunhập dựa trên bộ số liệu VHLSS 2010

Bước 2: Thực hiện phân tích 3 tính chất căn bản của một chính sách thuế hiệu quả đã đềcập ở mục 2.2 và 2.3 Phân tích này nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu số 2: “Chính sách thuếtiêu thụ đặc biệt lên mặt hàng nước giải khát có phải là một chính sách thuế hiệu quả?”trong đó, (i) Hệ số co giãn của cầu theo giá giúp xác định tính hiệu quả kinh tế của thuế;(ii) Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập giúp xác định chính sách thuế có đạt được tínhcông bằng dọc hay không

Bước 3: Bước này nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu số 3 và 4 Từ kết luận ở Bước 2, tác giả

sẽ trả lời câu hỏi “Chính phủ Việt Nam có nên áp thuế tiêu thụ đặc biệt lên nước giải kháthay không?” Đồng thời, tác giả sẽ ước lượng tác động của thuế đến mặt hàng nước giảikhát dựa trên giả định thuế suất được áp dụng như Bộ Tài chính Việt Nam đề xuất vàotháng 2 năm 2014

Các bước trong nghiên cứu này được mô tả trong sơ đồ thiết kế nghiên cứu dưới đây

Trang 30

Hình 3.3: Sơ đồ nghiên cứu

Chính sách thuế không hiệu quả

Hiệu quả kinh tế

Độ co giãn của cầu theo giá

Bước 1b

Trang 32

3.3 Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Tổng quan các nghiên cứu đo lường cầu nước giải khát trên thế giới và cầu tiêu dùng ởViệt Nam đã trình bày trong mục 2.6 cho thấy dạng hàm được sử dụng phổ biến nhất làdạng hàm AIDS Hơn nữa, cách tiếp cận hệ thống như dạng mô hình AIDS đảm bảo tínhbền vững về mặt lý thuyết cầu vì cho phép thiết lập các ràng buộc tính cộng dồn, tính đồngnhất, tính đối xứng Vì vậy, nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình AIDS để ước lượng cầutiêu dùng nước giải khát

Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy, cầu nước giải khát ở các nước là khác nhau tùythuộc vào đặc điểm của mỗi thị trường Vì vậy, để có thể xây dựng một hàm cầu có ý nghĩacho mặt hàng nước giải khát tại Việt Nam, ngoài các yếu tố như giá cả và thu nhập được đềcập trong các mô hình nguyên thủy thì các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế xã hội của các

hộ gia đình ở Việt Nam cần phải được đưa vào mô hình nghiên cứu Bảng 3.1 dưới đây tómtắt các biến sẽ được đưa vào xây dựng mô hình nghiên cứu kinh tế lượng

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu

Trang 34

Bảng 3.1: Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu (tiếp theo)

Trang 36

Mô tả các biến:

W i : Tỷ phần chi tiêu cho mặt hàng i trong 4 mặt hàng đồ uống (nước giải khát, cà phê, sữa

tươi, và trà) Là tỷ lệ giữa phần giá trị chi tiêu cho mặt hàng i so với tổng chi tiêu cho 4 mặthàng đồ uống

(2) Biến độc lập:

Log(P j ): Giá của các mặt hàng đồ uống Theo lý thuyết kinh tế vi mô, giá của một mặt

hàng càng cao thì chi tiêu mặt hàng đó càng giảm, nên kỳ vọng quan hệ của biến này vớibiến phụ thuộc là nghịch biến

Log(x): Tổng chi tiêu của tất cả 4 mặt hàng có trong mô hình, được giả định là thu nhập

dành cho chi tiêu, theo lý thuyết kinh tế học vi mô, đối với các hàng hóa thông thường khithu nhập tăng lên thì chi tiêu cũng tăng theo Các nghiên cứu thực nghiệm của Adam vàSmed (2012), Alviola và đ.t.g (2010) cho thấy nước giải khát là sản phẩm thông thường,tác giả giả định các mặt hàng đồ uống trong nghiên cứu là các hàng hóa thông thường Vìvậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc là đồng biến

Log(Age): Tuổi của chủ hộ Trong nghiên cứu của Adam và Smed (2012) cho thấy gia

đình có chủ hộ trẻ tuổi thường mua nhiều nước giải khát, tương tự là nghiên cứu của Zheng

và Kaiser (2008); nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009), và LeQuang Canh (2008) cho thấy tuổi của chủ hộ ảnh hưởng có ý nghĩa đến chi tiêu cho thựcphẩm Vì vậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc là nghịch biến

Log(Hsize): Qui mô hộ gia đình Nghiên cứu của Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g

(2010) cho thấy cầu nước giải khát chịu ảnh hưởng dương của số lượng người trong mộtgia đình Nghiên cứu ở Việt Nam của Phạm Thành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009), và

Le Quang Canh (2008) cũng cho thấy qui mô hộ gia đình có ảnh hưởng dương lên cầu tiêudùng thực phẩm Vì vậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc là đồng biến

Log(Edu): Học vấn của chủ hộ Nghiên cứu của Adam và Smed (2012) cho thấy số năm đi

học của chủ hộ càng cao thì nhu cầu nước giải khát càng ít, được giải thích là do nhận thức

về vấn đề ảnh hưởng của nước giải khát đến sức khỏe tăng dần theo trình độ học vấn.Nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009), và Le Quang Canh

Trang 37

(2008) cho thấy trình độ học vấn có ảnh hưởng có ý nghĩa lên cầu thực phẩm ở Việt Nam.Tác giả cho rằng thị trường nước giải khát Việt Nam cũng có phản ứng tương tự như cácthị trường khác, nghĩa là nhận thức về sức khỏe tăng dần theo trình độ học vấn chủ hộ Vìvậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc là nghịch biến.

Gender: Giới tính chủ hộ, là biến giả (nam =1, nữ = 0) Nghiên cứu của Adam và Smed

(2012) cho thấy giới tính có ảnh hưởng đến cầu nước giải khát, nghiên cứu của PhạmThành Thái (2013), Vu Hoang Linh (2009), và Le Quang Canh (2008) ở Việt Nam cho thấychủ hộ là nam thì cầu thực phẩm của hộ gia đình cao hơn Tác giả cho rằng, ở Việt Namviệc chi tiêu cho các mặt hàng đồ uống cũng tương tự như việc chi tiêu cho các loại thựcphẩm Vì vậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc là đồng biến

Location: Khu vực sinh sống, được chia thành hai nhóm là thành thị và nông thôn (thành

thị =1, nông thôn =0) Nghiên cứu của Alviola và đ.t.g (2010) cho thấy cầu các loại đồuống ở các khu vực là khác nhau, còn nghiên cứu của Phạm Thành Thái (2013), Vu HoangLinh (2009), và Le Quang Canh (2008) cho thấy khu vực thành thị thường chi tiêu nhiềuhơn cho các loại thực phẩm Vì vậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biến phụ thuộc làđồng biến

Group i : Thu nhập của hộ gia đình được chi thành 5 nhóm, nhóm 1 là nhóm có thu nhập

thấp nhất, còn nhóm 5 là nhóm có thu nhập cao nhất Nghiên cứu của Phạm Thành Thái(2013), Vu Hoang Linh (2009), và Le Quang Canh (2008) cho thấy cầu thực phẩm đắt tiền(thịt bò, thịt gà) tăng theo các nhóm thu nhập của hộ gia đình Đối với nước giải khát, cóthể là hàng hóa bình thường đối với hộ gia đình khá giả, nhưng cũng có thể là hàng xa xỉđổi với các hộ gia đình có thu nhập thấp Vì vậy, kỳ vọng quan hệ của biến này với biếnphụ thuộc là đồng biến

i,j: 4 mặt hàng đồ uống (1: nước giải khát; 2: sữa; 3: cà phê; 4: chè) Các nghiên cứu của

Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g (2010) đã đưa 4 mặt hàng này vào xây dựng hàmcầu AIDS Các mặt hàng này được giả định là có khả năng thay thế cho nhau, do đó ngânsách dành cho tiêu dùng các mặt hàng này sẽ bị chia sẻ để đảm bảo tính cộng dồn và tínhđối xứng của hàm cầu

Sau khi bổ sung một số biến nhân khẩu học cho phù hợp với thị trường Việt Nam Hàm cầu

đồ uống ở Việt Nam dạng AIDS được viết như sau

Trang 38

3.4 Các giả thuyết nghiên cứu

Quy luật cầu trong lý thuyết kinh tế học vi mô cho rằng, với điều kiện các yếu tố kháckhông đổi, đối với hàng hóa thông thường khi giá cả tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại

Vì vậy, độ co giãn của cầu theo giá thường là một số âm Nghiên cứu thực nghiệm về cầutiêu dùng đồ uống của Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g (2010), Zheng và Kaiser(2008) đều cho thấy độ co giãn của cầu theo giá riêng là âm Nghiên cứu của Trần KimChung và đ.t.g (2014) ở Việt Nam cũng cho thấy kết quả tương tự Căn cứ vào cơ sở lýthuyết và nghiên cứu thực nghiệm nêu trên, giả thuyết sau đây được xây dựng để kiểm địnhmột phần lý thuyết cầu cho các sản phẩm đồ uống tại Việt Nam

Giả thuyết 1 (H1): Các độ co giãn của cầu theo giá riêng cho các mặt hàng đồ uống có

giá trị âm.

Nếu một sản phẩm là hàng hóa thông thường, thì khi thu nhập tăng lên, lượng cầu mặthàng này cũng tăng Vì vậy, đối với những loại hàng hóa này thì độ co giãn của cầu theothu nhập là dương Nếu là hàng hóa thứ cấp, thì khi thu nhập của người mua tăng, lượngcầu mặt hàng này lại giảm nên độ co giãn của cầu theo thu nhập là âm Các mặt hàng đồuống không cồn được xem là những hàng hóa thông thường đối với hầu hết mọi ngườinhưng cũng có thể là hàng hóa xa xỉ đối với những người thu nhập thấp Nghiên cứu thựcnghiệm về cầu tiêu dùng đồ uống của Adam và Smed (2012), Alviola và đ.t.g (2010) chothấy độ co giãn của cầu theo thu nhập đều dương và các sản phẩm đồ uống không cồn đều

là các sản phẩm thông thường Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm nêutrên, giả thuyết sau đây được xây dựng để kiểm định một phần lý thuyết cầu cho các sảnphẩm đồ uống tại Việt Nam

Giả thuyết 2 (H2): Các độ co giãn của cầu theo thu nhập (chi tiêu) cho các mặt hàng đồ

uống có giá trị dương.

3.5 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được trích lọc ra từ bộ dữ liệu của cuộc điều tra về mức sống của hộgia đình ở Việt Nam năm 2010 (VHLSS 2010) do Tổng cục Thống kê thu thập Bộ dữ liệu

Trang 39

này chứa các thông tin về thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình; các thông tin về nhân khẩuhọc của các thành viên trong hộ, gồm: tuổi, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, nghềnghiệp, tình trạng sức khỏe, giáo dục, y tế, v.v.

Tác giả sử dụng mẫu “thu nhập và chi tiêu” gồm 9,399 hộ gia đình trong cuộc khảo sát đểphân tích Trong nghiên cứu này, ngoài việc xem xét chi tiêu của các hộ gia đình cho mặthàng nước giải khát, tác giả cũng quan tâm đến các mặt hàng liên quan như: sữa tươi, bia,

cà phê uống liền, chè uống liền đã được đề cập trong các nghiên cứu của Adam và Smed(2012); Alviola và đ.t.g (2010); và Zheng và Kaiser (2008)

Dữ liệu chứa thông tin tiêu dùng của hộ gia đình cho các mặt hàng đồ uống tại mụcmuc5a2, trong đó các mặt hàng nước giải khát, sữa tươi, cà phê, và chè có mã số lần lượt là146; 143; 148, và 150 Dữ liệu chứa các thông tin về: khối lượng tiêu thụ (lít/tháng;kg/tháng), trị giá tiêu thụ (nghìn đồng/tháng); khối lượng mua, tự túc; được cho, biếu, tặng.Nghiên cứu này chỉ sử dụng phần các hộ gia đình mua hoặc đổi để tiêu dùng trong thángbình thường Các phần tự túc hoặc nhận được từ biếu tặng; và tiêu dùng trong các dịp lễ tếtkhông được xem xét trong nghiên cứu này Bảng sau đây mô tả khái quát dữ liệu phục vụcho nghiên cứu

Bảng 3.2: Tổng quan mẫu nghiên cứu

Ngày đăng: 01/10/2020, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w