Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault Các khái niệm cơ bản của michael foucault
Trang 1Các khái niệm cơ bản của Michael Foucault
Trích từ phần 2: Critical Exposition of Foucault’s Work – Giải thích phê bình các Tác
phẩm của Foucault, cuốn sách Michael Foucault của Lynn Lender
Phạm Nhật Khang
M đ u: ở ầ
Thực ra thì em đã không tìm thấy được đề tài gắn với tác phẩm văn học nào phù hợp với mình Cộng thêm những quan tâm nhất định đối với Foucault trong thời gian qua, em đã quyết định dịch một phần của cuốn sách Michael Foucault của Lynn Lender làm bài thu hoạch cho môn học này.
Vào khoảng 2 năm trước, một nhóm nghiên cứu ở trường ĐHSP Hà Nội đã dịch hoàn tất chương thứ nhất của cuốn sách này là “Foucault and his world” Thế nhưng, không biết
vì lý do gì mà công việc của họ của họ chỉ dừng lại ở đó (có lẽ họ chỉ cần chương này, hoặc đơn giản là không muốn tiếp tục).
Chính vì thế, trong bài tiểu luận này, em không dịch lại chương thứ nhất của cuốn sách nữa (mặc dù chương này nhìn qua thì “có vẻ” giống với một vấn đề hoàn chỉnh hơn) mà tiếp tục dịch luôn chương 2, em không tin rằng trình độ của mình đủ sức tạo ra một bản dịch tốt hơn họ, và đương nhiên, đạo văn là một việc quá tồi tệ.
Tuy nhiên, chương thứ 2 này thực sự là hơi dài: 34 trang bản tiếng Anh lần lượt điểm qua 7 nhóm khái niệm là:
1 Diễn ngôn (Discourse)
2 Lịch sử, Khảo cổ học và Phả hệ học (History, archeology & genealogy)
3 Quyền lực (Power)
Trang 24 Chủ thể tính (Subjectivity)
5 Vai trò của lớp trí thức (Role of the inlellectual)
6 Tự do (Freedom)
7 Mọi thứ đều nguy hiểm (Everything is dangerous)
Để có độ dài phù hợp, 2 bài tiểu luận sẽ lần lượt dịch 3 nhóm khái niệm đầu tiên, là
“Diễn ngôn”, “Lịch sử, Khảo cổ học, Phả hệ học” và “Quyền lực”, trong đó khái niệm
về quyền lực sẽ được dịch ở bài tiểu luận thứ 2.
Foucault không chỉ là một tác giả, ông còn là nhà giáo, là ngôi sao truyền thông nổi tiếng
và là một nhà hoạt động chính trị Tư tưởng của ông được giới thiệu theo những cách rất khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh của phát ngôn từ từng vai trò trên
Diễn ngôn (Discourse)
“Discourse” (diễn ngôn) được sử dụng cả trong lời nói hằng ngày lẫn trong các văn bản học thuật Ở văn bản học thuật, “diễn ngôn” thường xuất hiện nhiều nhất ở địa hạt ngôn ngữ học Và nếu chỉ xét riêng trong chuyên ngành ngôn ngữ học, diễn ngôn là khái niệm dùng để chỉ một tập hợp câu: Đó có thể là một cuộc hội thoại, một đoạn văn hoặc một bài phát biểu Như thế, trong ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa các câu trong một đoạn văn hay giữa các phát ngôn trong một cuộc hội thoại
Thuật ngữ “diễn ngôn” còn được sử dụng cả trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật giao tiếp; và trong những văn cảnh này, nó hoặc vẫn có thể được dùng để chỉ một tập hợp câu như trong ngôn ngữ học, hoặc mang ý nghĩa như một hệ thống lí luận, có tính
“chủ nghĩa” (ism), chẳng hạn như “the discourse of communism” (diễn ngôn của chủ nghĩa cộng sản) hay “the discourse of capitalism” (diễn ngôn của chủ nghĩa tư bản) Hình thức danh từ của nó là “discourse”, và dạng tính từ là “discursive”
Trang 3Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nói rằng: Khi Foucault dùng thuật ngữ “diễn ngôn”, ông
đã sử dụng nó theo cách của riêng bản thân ông Con đường dễ dàng nhất để lĩnh hội được quan niệm về diễn ngôn của Foucault là đặt nó vào một phép so sánh tương đồng với internet:
Internet là tất cả những gì ta có thể truy cập được thông qua hệ thống trình duyệt Diễn ngôn là tất cả những gì ta có thể tiếp cận được thông qua tâm trí của bản thân.
Ngay khi ai đó đưa thứ gì đó lên một địa chỉ web, trang web ấy lập tức trở thành một phần của internet Tương tự vậy, ngay khi ta đặt bất cứ một cái gì vào trật tự ngôn từ, nó cũng sẽ lập tức trở thành một phần của hệ thống diễn ngôn Gần như tất cả những gì ta tưởng tượng ra đều đã có đầy đủ trên internet; đến nỗi nếu thứ gì không thể tìm thấy trên mạng thì gần như đồng nghĩa với việc nó không tồn tại đối với ta Tương tự, nếu có thứ
gì chưa từng được con người suy nghĩ hay dùng ngôn từ để nói và viết về nó, nói cách khác là chưa từng được chuyển hóa thành diễn ngôn, thì theo một nghĩa nào đó, ta cũng không hề nhận thức được về sự tồn tại của nó Bởi thế, tất cả những gì nằm ngoài mạng lưới diễn ngôn đều là những gì ta chưa biết, và ngay khi ta tri nhận về chúng, chúng sẽ tức khắc gia nhập vào hệ thống diễn ngôn
Internet do con người tạo ra.
Diễn ngôn cũng do con người tạo ra.
Những nội dung mới được cập nhật liên tục trên internet; không chỉ thế, quy mô, dung lượng và cấu hình của các trang mạng cũng không ngừng thay đổi Tương tự, các diễn ngôn cũng được kiến tạo liên tục bất cứ khi nào ta nghĩ và nói về bất kỳ điều gì Internet không phải là sản phẩm của một cá nhân, mà là kết quả của nhiều ý tưởng và hành động chung Cũng thế, diễn ngôn không được sản sinh bởi riêng một ai, mà được ra đời từ những hệ thống tư tưởng và hành động tập thể
Trang 4Con người không thể kiểm soát internet, và internet không điều khiển con người Con người không thể kiểm soát diễn ngôn, và diễn ngôn không điều khiển con người.
Diễn ngôn không phải là một dạng luật pháp, nghĩa là có quyền quyết định con người có thể hay không thể làm gì Theo nhiều lí thuyết gia, diễn ngôn có thẩm quyền ngang với pháp luật, nhưng Foucault không sử dụng thuật ngữ “diễn ngôn” theo cách này Diễn ngôn có thể tác động đến cách ta nghĩ cũng như cách ta nhìn thế giới, giống như internet
có thể ảnh hưởng đến việc con người tri giác được những gì và nhận thức theo cách nào Nhưng, như đã lưu ý trước, internet và diễn ngôn đều không có quyền năng sai khiến ta
Không t n t i d i phân cách rõ ràng các trang web trên internet ồ ạ ả
Không t n t i d i phân cách rõ ràng các di n ngôn ồ ạ ả ễ
Bất cứ trang web nào cũng có các đường link dẫn đến nhiều địa chỉ web khác Tương tự, bất cứ diễn ngôn nào cũng có những sợi dây kết nối với những diễn ngôn khác Khi tra cứu trên internet, ta thường phải giới hạn phạm vi tìm kiếm, sự hạn chế này hoàn toàn phụ thuộc vào riêng ta, hoặc do lựa chọn ngẫu nhiên, hoặc để phục vụ cho những ý đồ nhất định Diễn ngôn cũng thế! Khi ta dẫn ra một diễn ngôn khác, đó cũng là lúc ta áp đặt một giới hạn chiến lược lên diễn ngôn ấy, nhằm biến nó thành công cụ phục vụ cho mục đích nói hay viết Chẳng hạn, việc ta lựa chọn một diễn ngôn tư bản chủ nghĩa nào để tham khảo cũng đồng nghĩa với việc ta đang cần đề cập đến những khía cạnh nhất định nào của chủ nghĩa tư bản Nghĩa là, trong những văn cảnh nhất định, ta gần như không bao giờ nêu lên một cách toàn diện mọi khía cạnh về hệ diễn ngôn tư bản chủ nghĩa, có thể kể ra ở đây như: Cách định nghĩa về nó của Chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa tư bản đã được các nhà kinh tế học giai đoạn sau tái xác định như thế nào, nó lại được cụ thể hóa như thế nào ở Hong Kong, mối quan hệ của nó với Đạo tin lành và sự kết hợp của nó với
sự phát triển của nền kinh tế doanh nghiệp
Trang 5Internet có tính l ch s - nó t n t i trong th i gian và không gian ị ử ồ ạ ờ
Di n ngôn có tính l ch s - chúng t n t i trong th i gian và không gian ễ ị ử ồ ạ ờ
Internet ngày nay khác hoàn toàn với chính nó của 5 năm trước, cách ta sử dụng internet hiện tại cũng không hề giống với trước kia Cũng thế, những diễn ngôn ngày nay đã khác
xa những diễn ngôn trong quá khứ Mọi diễn ngôn đều có tính lịch sử cụ thể Chẳng có gì
là chân lí phổ quát trên internet, và cũng chẳng có một chân lí phổ quát nào trong mạng lưới của những diễn ngôn
Khi đẩy phép ẩn dụ tương đồng về internet - diễn ngôn này ra xa thêm nữa, ta còn có thể đưa ra những nhận thức ban đầu về ý thức hệ, xem đó như là những công cụ tìm kiếm Những công cụ tìm kiếm (mà Google là một) kiểm soát sự tiếp cận tri thức và thông tin của ta Chúng lọc và phân loại các nội dung trên internet, hiển thị thông tin theo một hệ thống phân cấp; đồng thời, khiến cho một số thông tin trở nên dễ truy cập hơn những thông tin khác Ý thức hệ cũng có cùng một phương thức hoạt động – nó chọn lọc, phân loại các diễn ngôn và quy định việc ta được tiếp cận hay không được tiếp cận những kiểu diễn ngôn nhất định
L ch s , Kh o c h c, và Ph h h c ị ử ả ổ ọ ả ệ ọ
Đồng thời với việc một số nhà triết học không công nhận Foucault là một triết gia, một vài nhà sử học cũng không đồng ý coi ông là sử gia Dù đây là hai lĩnh vực khác nhau, nhưng nguyên nhân dẫn đến thái độ của cả hai thì lại là một: Các công trình của Foucault thách thức lại những quy phạm ở cả triết học lẫn lịch sử Với những người giữ vững những đức tin truyền thống về lịch sử hay triết học, tác phẩm của Foucault dường như là hoàn toàn không thể tiếp nhận
Các học giả không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau trong việc xác định ý nghĩa của lịch sử, Khảo cổ học, và phả hệ học; họ cũng thường xuyên xung đột lẫn nhau trong việc diễn giải những công trình sử học đa dạng của Foucault Nhiều ý kiến cho rằng có thể phân chia các tác phẩm của Foucault theo từng giai đoạn kế tiếp nhau: Những công trình
Trang 6đầu tiên được gọi là “lịch sử ý niệm” (history of ideas), thời kì tiếp theo là những công trình được dán nhãn “Khảo cổ học” (archeology), tiếp sau nữa là “phả hệ học” (genealogical), và những nghiên cứu cuối cùng của ông là “lịch sử tư tưởng” (history of thought) Chính Foucault là người khước từ tất cả những cách phân loại trên Ông cũng không hề đặt ra một cách sử dụng nhất quán đối với bất cứ một thuật ngữ nào
Foucault sử dụng thuật ngữ “Khảo cổ học” như một cách để phân biệt các công trình nghiên cứu lịch sử của bản thân với sử học chính thống Nói một cách ngắn gọn, sử học chính thống hướng đến nghiên cứu lịch sử theo chiều dọc: Phân tích quá trình phát triển của một đối tượng theo thời gian Ngược lại, Khảo cổ học là một lát cắt ngang: Nghiên cứu tất cả mọi đối tượng khác biệt nhau cùng xuất hiện tại một thời điểm Các nhà Khảo
cổ học nghiên cứu những hiện vật cùng niên đại: Đồ dùng gốm sứ, các loại vật liệu xây dựng, sách, công cụ lao động và cả các tác phẩm nghệ thuật thuộc cùng một vỉa địa chất Nhà Khảo cổ học cố gắng lí giải nguyên nhân khiến cho tất cả những tạo tác đa dạng ấy
có thể được đặt cạnh nhau Phương pháp tiếp cận mang tính Khảo cổ học của Foucault khi nhìn nhận lịch sử cũng tương tự như vậy Ông khảo sát những đối tượng khác xa nhau nhưng lại diễn ra vào cùng một thời điểm Chẳng hạn như, Foucault tập trung nghiên cứu những tạo tác nhân tạo thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, kinh tế học, và khoa học xuất hiện ở châu Âu thế kỉ XVIII Mục đích của ông là chỉ ra được những tạo tác ấy có ý nghĩa như thế nào khi được đặt cạnh nhau
Các nhà khảo cổ tập trung giải thích những gì đã thực sự diễn ra trong một thời kì lịch sử nhất định Trong khi sử dụng phương pháp khảo cổ, Foucault đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực tri thức, và ông đã dùng thuật ngữ episteme (trường tri thức thời đại)1 để chỉ hệ thống tri thức riêng của từng thời đại Episteme là một mẫu thức để có thể từ đó nhìn thấu suốt tất cả các lĩnh vực chuyên ngành khác như kinh tế học, ngôn ngữ học, và khoa học
1 Trong cuốn “The Order of Things”, Foucault mô tả thuật ngữ episteme như sau:
“Trong bất kỳ nền văn hóa xác định tại bất kỳ thời điểm nào, luôn luôn có và chỉ có một episteme (trường tri thức thời đại), như là yếu tố xác định các điều kiện nền tảng của tất cả mọi kiến thức, dù cho nó có được thể hiện trong
một lý thuyết hay âm thầm tồn tại ( Foucault , 168 )
Trang 7Episteme định hình nền tảng cơ bản để dựa vào đó, phân biệt tri thức đích thực với tri thức giả ngụy:
Hồi tưởng lại quá khứ, tôi muốn định nghĩa episteme như là một bộ máy chiến lược (strategic apparatus) cho phép phân tích và lựa chọn một phát ngôn được xem là chấp nhận được trong số tất cả những phát ngôn có thể tồn tại Tôi không nói đó là một lí thuyết khoa học, mà khẳng định đó là một tri thức khoa học, nghĩa là chỉ có thể đúng hoặc sai Trường tri thức thời đại là một “bộ máy” khiến cho những phân định đúng sai
ấy có thể tồn tại, đó không phải là sự phân biệt chân thực và giả ngụy, mà chỉ là phân biệt giữa những gì được coi là chính xác và không chính xác dựa trên cảm quan khoa học (Foucault 1980b, p.197)
Như vậy, episteme gắn liền với một hệ thống tri thức luận Nói cách khác, nó là một phương thức tri nhận mang tính lịch sử cụ thể
Tóm lại, Khảo cổ học là khoa học nghiên cứu một lát cắt đồng đại của những hiện vật nhân tạo Khảo cổ học khác với lịch sử chính thống ở chỗ, nó phân tích một tập hợp đa dạng các tạo tác cùng xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định thay vì cố gắng truy nguyên lại từng bước phát triển của một cá thể dọc theo chiều dài niên đại
Thuật ngữ “Phả hệ học” (genealogy) cũng thường được Foucault sử dụng để phân biệt với Khảo cổ học Tuy vậy, hầu hết mọi phán đoán của phả hệ học đều phải dựa trên nền tảng Khảo cổ học Nếu như Khảo cổ học hướng đến làm sáng tỏ vấn đề rằng các hiện vật
đã tương thích với nhau ra sao để có thể được xếp vào cùng một thời điểm lịch sử, thì phả
hệ học lại chỉ ra những dạng thức con người nào tương ứng với những tập hợp tạo tác nào Mọi nghiên cứu phả hệ của Foucault nhìn chung đều dựa trên mẫu hình Khảo cổ học Cụ thể là, ông tiến hành khảo sát một mặt cắt ngang của những hiện vật (Khảo cổ học), và sau đó, đặt ra những câu hỏi như:
1 Kiểu người nào đã từng sống theo cách đó?
Trang 82 Những hiện vật cũng như những hệ thống tri thức luận ấy cho thấy con người đã tri nhận về chính mình như thế nào trong thế giới?
Mặc dù cho rằng Khảo cổ học có những nét hoặc tương đồng, hoặc khác biệt với Phả hệ học, ta vẫn có thể thấy rõ những đặc trưng cơ bản đã khiến các nghiên cứu sử học của Foucault khác biệt với cách tiếp cận lịch sử chính thống Thứ nhất, nghiên cứu lịch sử của Foucault thách thức lại cả những mô tả kế tục lẫn gián đoạn về diễn tiến lịch sử Sử học
kế tục tập trung nhấn mạnh số lượng những sự vật không thay đổi trong khi sử học gián đoạn lại nhấn mạnh số lượng các sự vật thay đổi Một cách, dí dỏm sử học kế tục nói là:
“Qua mỗi ngày, dù bằng cách này hay cách khác, tôi vẫn cứ thế trở nên tốt đẹp hơn và
tốt đẹp hơn nữa” Còn châm ngôn của sử học gián đoạn lại là: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” Việc sử học chú trọng vào sự tồn tại bất biến hoặc khả biến của sự vật,
cũng giống với việc ta muốn tập trung nhìn vào nửa nào của tấm gương: nửa trống rỗng (half-empty) hay nửa-đầy đủ (half-full) vậy
Nếu như bạn đọc một lịch sử về các ngành khoa học mà trong đó, khoa học được mô tả như một chuỗi tiến bộ liên tục, thì cũng có nghĩa là bạn đang được đọc một tài liệu điển hình của sử học kế tục Lý do là, tác phẩm đó nhấn mạnh việc khoa học về cơ bản là
không thay đổi, nó chỉ không ngừng trở nên đúng đắn hơn Ngược lại, The Structure of
Scientific Revolutions (Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, 1970) của Thomas Kuhn
lại là một ví dụ tiêu biểu cho sử học gián đoạn vì nó cho thấy khoa học đã trải qua những bước chuyển đổi có tính cách mạng như thế nào Riêng với Foucault, trong những trường hợp sử học chính thống cho là có tính kế tục, ông sẽ tập trung nhấn mạnh đến những sự khác biệt; và đổi lại, bất cứ khi nào sử học chính thống cho là gián đoạn, sử học của Foucault lại chỉ ra cho ta thấy những nét tương đồng
Chẳng hạn, sử học chính thống thường mô tả thời hiện đại như là một sự tiếp diễn của thời kỳ Khai sáng Các tài liệu chính thống này viện dẫn sự phát triển trong các lĩnh vực
lí trí, khoa học, và chế độ dân chủ trên toàn thế giới Thế nhưng, với tinh thần phê phán, lịch sử của Foucault đã phản bác tính liên tục đó Ông chỉ ra rằng quá trình công nghiệp
Trang 9hóa và thể chế hóa của thời hiện đại đã tạo nên sự bứt phá để hoàn toàn thoát khỏi cuộc tranh luận tri thức giữa chủ nghĩa duy lí và chủ nghĩa kinh nghiệm diễn ra suốt thời kì Khai sáng
Trong những trường hợp khác, ở đâu sử học chính thống khẳng định rằng có sự gián đoạn, ở đó Foucault lại cho rằng, (ở một mức độ nào đó), vẫn có những sự tiếp nối liên tục Có thể dẫn ra một ví dụ, sử học chính thống thường mô tả một sự đứt gãy có tính lịch
sử (hay một sự chuyển đổi mô hình) giữa thế giới quan Hi Lạp cổ đại và thế giới quan Kitô giáo, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề luân lí đạo đức Sử học chính thống thường có xu hướng coi Kitô giáo như một sự phá vỡ hay dỡ bỏ, là một bước ngoặt lịch
sử đối với thời kì ngoại giáo trước đó Tuy nhiên, phân tích của Foucault (trong The
History of Sexuality – Lịch sử tính dục) cho thấy, có một sự tiếp nối từ hệ thống đạo đức
Hi Lạp cổ đến Kitô giáo Ông chỉ ra rằng, cả hai hệ thống này đều chịu sự chi phối của những nguyên lí dứt khoát và nghiêm ngặt Foucault thừa nhận sự khác biệt giữa những
hệ thống đạo đức Hy Lạp và Kitô giáo, nhưng ông cũng tranh luận rằng, vẫn có những nét tương đồng không thể bỏ qua giữa chúng Một cách để nắm được phương pháp viết
sử của Foucault là, hãy nhìn ông như một người đầy tinh thần phê phán, khiêu khích và bướng bỉnh Mặc dù sử học chính thống lúc thì chú trọng đến tính kế tục, lúc lại nhấn mạnh tới sự gián đoạn, nhưng lúc nào những khẳng định ấy cũng bị đẩy lên xác quyết không thể tranh cãi, Foucault sẽ đưa ra lí lẽ để chất vấn lại nó
Thứ hai, cách tiếp cận lịch sử của Foucault không hề cố gắng để đạt đến tính khách quan, thay vào đó, nó hướng đến trở thành một lịch sử phê bình của thời hiện tại Các nhà sử học chính thống đã từng thích thú vô cùng với cái gọi là tính khách quan, nghiên cứu lịch
sử đối với họ là hướng đến tìm kiếm và sao chép lại việc lịch sử đã “thực sự diễn ra như
thế nào” trong quá khứ Giống như các nhà triết học hiện đại thường tập trung tìm kiếm
chân lí cuộc sống, hầu hết các sử gia chính thống đều tập trung tìm kiếm sự thật quá khứ Nghiên cứu lịch sử của Foucault, ngược lại, không hướng đến chỉ ra sự thật quá khứ, và bởi thế, rất nhiều sử gia không thừa nhận các tác phẩm của ông là lịch sử đích thực
Trang 10Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là Foucault đã viết lại lịch sử với thái độ coi thường sự thật trắng trợn Đúng hơn, sự tập trung trong những phân tích lịch sử của Foucault được tạo thành bởi chính những mối quan tâm về hiện tại Đây là bản phác thảo
hệ thống lập luận của Foucault khi bàn về tính khách quan trong lịch sử:
1 Không có bất cứ một lịch sử nào được viết ra lại bao hàm được tất cả mọi thứ đã từng xảy ra vào mọi lúc và ở mọi nơi Trong cuộc sống của chính mình, ta thấy rõ rằng mỗi ngày lại được lấp đầy bởi hàng ngàn những sự kiện, những diễn biến thường nhật, và vô
số những câu chuyện ngẫu nhiên Không có một lịch sử nào phản ánh được mọi thứ ở tất
cả mọi mặt, và bởi vậy, chẳng có lịch sử nào là hoàn toàn mang tính khách quan
2 Hàng triệu người đã được sinh ra, sống cuộc sống của họ, rồi qua đời Một phần vô cùng lớn những điều đã từng thực sự xảy ra trong quá khứ nhưng chưa hề được ghi chép lại, cũng chưa hề được đưa vào trong bất cứ một mô tả sử liệu nào
3 Chỉ có một lượng nhỏ những sự việc được lựa chọn mới được phép xuất hiện trong những ghi chép lịch sử Nhiều khi những gì được chọn lọc để ghi lại ấy chỉ phụ thuộc vào việc ngưởi viết sử tin rằng nó hấp dẫn và đáng viết; ở những trường hợp khác, những gì được chọn đưa vào lịch sử thường phụ thuộc vào tập quán, phong tục, hay quy ước chung của cộng đồng
4 Một số kiểu sự việc (chẳng hạn như một vài khía cạnh nhất định của chiến tranh hay những hình mẫu về người anh hùng) thường xuyên được đưa đi đưa lại vào các ghi chép lịch sử, trong khi đó, những việc khác (như dọn dẹp nhà cửa hay nuôi dạy trẻ) lại thường
bị bỏ qua khi viết sử
5 Vì không có bất cứ một cuốn sách sử nào lại có thể ghi lại được tất cả những gì đã từng xảy ra, có thể nói, theo một cách nào đó, tất cả những tài liệu lịch sử đều đã loại bỏ đi rất nhiều điều Lựa chọn bao giờ cũng đi kèm với loại trừ