BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VŨ THỊ HUYỀN TRANG ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐANG ĐI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI CƠ SỞĐIỀU TRỊ ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2016
Đề cương Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
Hà Nội – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI CƠ SỞĐIỀU TRỊ ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2016
Đề cương Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Một số khái niệm cơ bản 2
1.1.1 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 2
1.1.2 Chất lượng cuộc sống 2
1.2 Thực trạng nghiện chích ma túy và hậu quả của nghiện chích ma túy… 3
1.2.1 Thực trạng nghiện chích ma túy 3
1.2.2 Hậu quả của nghiện chích ma túy 4
1.3 Tổng quan về chương trình can thiệp giảm hại và chương trình Methadone 5
1.3.1 Tổng quan về chương trình can thiệp giảm hại 5
1.3.2 Chương trình điều trị nghiện thay thế CDTP bằng Methadone 6 1.4 Tổng quan về các bộ công cụ đo lường CLCS đối với bệnh nhân đang điều trị Methadone 7
1.5 Lý do lựa chọn bộ công cụ WHOQOL-BREF 7
1.6 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân methadone và một số yếu tố liên quan 8
1.6.1 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân methadone……… 8
1.6.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị methadone 10
1.7 Thông tin về địa điểm nghiên cứu 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Thiết kế nghiên cứu 16
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 16
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 17
2.6 Biến số nghiên cứu 17
Trang 42.7 Tiêu chuẩn đánh giá, thước đo 20
2.8 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 21
2.9 Đạo đức của nghiên cứu 21
2.9.1 Tính tự nguyện 22
2.9.2 Tính bảo mật 22
2.9.3 Đạo đức nghiên cứu 22
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số, biện pháp khắc phục 22
2.10.1 Hạn chế và sai số 22
2.10.2 Biện pháp khắc phục 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 24
3.1 Thông tin chung ĐTNC 24
3.2 Các đặc điểm sử dụng ma túy và thời gian điều trị Methadone 24
3.3 Chất lượng cuộc sống 26
3.4 Các yếu tố liên quan đến CLCS 26
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 29
KẾT LUẬN 30
KHUYẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 36
Phụ lục 1: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu 36
Phụ lục 2: Bộ công cụ phỏng vấn 37
Phụ lục 3: Cách tính điểm theo bộ câu hỏi CLCS WHOQOL- BREF 44
Phụ lục 4: Kế hoạch hoạt động 45
Phụ lục 5: Bảng dự trù kinh phí 46
Phụ lục 6: Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu bệnh nhân 47
Phụ lục 7: Bộ hướng dẫn thảo luận nhóm cán bộ y tế Error! Bookmark not defined
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Biến số nghiên cứu 18
Bảng 2: Thông tin chung của ĐTNC 24
Bảng 3: Đặc điểm lâm sàng và đặc điểm điều trị 24
Bảng 4: Đặc điểm điều trị 25
Bảng 5: Giá trị trung bình một số yếu tố về đặc điểm điều trị và lâm sàng 25
Bảng 6: Đánh giá CLCS theo mức độ 26
Bảng 7: Giá trị trung bình/ trung vị của điểm CLCS 26
Bảng 8: Một số yếu tố cá nhân liên quan đến các khía cạnh của CLCS 26
Bảng 9: Một số yếu tố về đặc điểm lâm sàng và điều trị liên quan đến các khía cạnh của CLCS 27
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo ước tính của Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), năm 2014 ước tính trên thế giới có khoảng 12,7 triệu người nghiện ma túy [51] Đồng thời có 36,9 triệu người đang sống chung với HIV, trong đó khoảng 93% là người trưởng thành [50] Tại Việt Nam tính đến 30/9/2014, có 204.377 người sử dụng ma tuý, trong đó 85% tiêm chích các loại ma tuý như heroin [3]
Điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện là chương trình đã có từ nhiều thập kỷ Gần đây, chương trình điều trị thay thế được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia, đặc biệt là nước thu nhập thấp và trung bình [26] Với mục đích giảm tác hại do nghiện các dạng thuốc phiện gây ra, giảm hoạt động phạm tội, chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone (MMT) hướng đến đối tượng là người nghiện chích ma túy (NCMT) Chương trình được ghi nhận có hiệu quả tích cực trong việc giảm sử dụng ma túy, giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc làm và cải thiện sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) cho người NCMT [10, 20, 23, 29, 30] Điều trị Methadone là lâu dài, phức tạp, liên quan đến tình trạng thể chất, tâm lý, xã hội đa chiều Vì thế việc đo lường CLCS của bệnh nhân đang điều trị MMT là cần thiết để tìm hiểu những cảm nhận, đánh giá của cá nhân về các lĩnh vực của cuộc sống, góp phần giảm tỷ lệ
sử dụng ma túy [34, 49]
Tại Hà Nội, đến 6/2015, có 15.525 người nghiện ma túy dạng thuốc phiện, trong đó chỉ có 7.922 người được quản lý tại trung tâm cai nghiện, trường trại [17] Số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS là 18.081 người, trong đó
434 trường hợp mới phát hiện nhiễm; đáng lưu ý 61,9% trong số đó là đối tượng NCMT [16] Năm 2015, với mục tiêu giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT và cải thiện sức khỏe, CLCS của người nghiện ma túy, Hà Nội triển khai thêm 11 cơ sở điều trị (CSĐT) nâng tổng số cơ sở hiện đang điều trị lên 17 cơ sở Đồng thời, theo kế hoạch năm 2016, chương trình điều trị MMT tại Hà Nội sẽ tiến hành xã hội hóa Sự gia tăng về số lượng cũng như thay đổi
Trang 8hình thức quản lý đặt ra việc đánh giá hiệu quả chương trình nói chung cũng như đo lường CLCS nói riêng tạo cơ sở để triển khai, mở rộng chương trình trong thời gian tới
Cơ sở điều trị Methadone Đống Đa được thành lập 05/2012, là một trong sáu CSĐT đầu tiên của thành phố Hà Nội.Tính đến 11/2015, CSĐT đang điều trị cho 430 bệnh nhân Do địa bàn ở trung tâm, tiếp giáp với nhiều quận khác, CSĐT Đống Đa không chỉ điều trị cho các bệnh nhân cư trú tại quận Đống Đa
mà còn một số quận như Ba Đình, Cầu Giấy… Bệnh nhân điều trị tại CSĐT
đa dạng về những đặc điểm như nghề nghiệp, trình độ học vấn… Vậy thực trạng CLCS của bệnh nhân đang điều trị Methadone ở đây như thế nào và các yếu tố nào liên quan đến CLCS của bệnh nhân đang điều trị ở đây?
Để trả lời câu hỏi này, nghiên cứu: “Đo lường chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Đống Đa, Hà Nội năm 2016” được thực hiện
Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để triển khai, xây dựng kế hoạch hoạt động cho 11 cơ sở mới, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị MMT
Trang 9MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Đống Đa, Hà Nội năm 2016
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Đống Đa, Hà Nội năm
2016
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone
Methadone là một các dạng thuốc phiện tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các các dạng thuốc phiện khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị Methadone có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng
1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [2]
Điều trị thay thế nghiện các các dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone
là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm
lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [2]
1.1.2 Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau: y học, kinh tế, chính trị học, triết học, tâm lý, xã hội học, thường được sử dụng đểđánh giá hiệu quả của các chương trình sức khỏe và chăm sóc xã hội.Năm 1990, Lawton đưa ra khái niệm tích hợp linh hoạt:
“Chất lượng cuộc sống là một khái niệm đa chiều, là đánh giá của cá nhân về những mối quan hệ mà cá nhân tương tác với môi trường theo những tiêu chuẩn đồng thời khách quan và chủ quan” [33] Năm 1993, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là cảm nhận của cá nhân về
vị trí của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị họ đang sống và liên quan đến mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm” [48]
Nhìn chung, các định nghĩa đều nhấn mạnh CLCS phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội và môi trường sống của cá nhân Nói cách khác, CLCS mang ý nghĩa tổng thể về sự hài lòng của cá nhân trước tất cả các yếu tố đa dạng của cuộc sống Do đó, CLCS mang tính chủ quan cao và bị tác
Trang 11động bởi nhiều yếu tố Việc đo lường CLCS cần lưu ý đến những đặc trưng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh
Hiện nay, các nghiên cứu về CLCS trên thế giới chủ yếu sử dụng định nghĩa của WHO [49] Tại Việt Nam, khái niệm CLCS của WHO thường được
đề cập trong các nghiên cứu [1, 11, 14] Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa CLCS của WHO
1.2 Thực trạng nghiện chích ma túy và hậu quả của nghiện chích ma túy
1.2.1 Thực trạng nghiện chích ma túy
Theo UNODC, năm 2009, có khoảng 12 đến 21 triệu người sử dụng các dạng thuốc phiện nhóm opiate, trong đó 75% sử dụng ma túy [42] Ước tính năm 2009, 12 đến 14 triệu người nghiện đã tiêu thụ 375 tấn heroin, chủ yếu ở các nước châu Âu và châu Á [42] Tại châu Âu, tỷ lệ lạm dụng chất gây nghiện nhóm opiate (chủ yếu là ma túy) chiếm 0,6% dân số trong độ tuổi từ 15-64, đặc biệt ở Đông và Đông Nam châu Âu lên đến 0,9%-1% [42] Trong khi tỷ lệ này ở Nam Mỹ chỉ từ 0,3% -0,4% [42]
Đến năm 2010, số người sử dụng các dạng thuốc phiện càng tăng Khoảng 0,6%- 0,8% (từ 26,4 đến 36 triệu) dân số trong độ tuổi 15-64 sử dụng chất gây nghiện nhóm opiate và một nửa trong số đó sử dụng ma túy [43] Số người sử dụng ma túy ở châu Á, châu Phi năm 2010 tăng đột biến trong khi tại châu Âu, tỷ lệ này giảm và ổn định [43]
Năm 2012, có khoảng 49,41 triệu người sử dụng chất gây nghiện nhóm opiate, cao hơn so với các nhóm chất gây nghiện khác [45] Đến năm 2013, số lượng này đã tăng lên đến 58,02 triệu người [46] Nam giới có khả năng nghiện các dạng thuốc phiện nhóm opiate cao hơn nữ giới [45] Tỷ lệ nghiện
ma túy ở nam cũng cao hơn nữ [43] Năm 2014 ước tính có 12,7 triệu người nghiện ma túy, trong đó 80% đang sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình[51]
Tại châu Á, số người nghiện chất gây nghiện bất hợp pháp chiếm 25% đến 40% và số người nghiện các chất dạng thuốc phiện nhóm opiate ở cũng chiếm tới 60% [44] Đông và Đông Nam Á là khu vực có tỷ lệ lạm dụng chất
Trang 12gây nghiện nhóm opiate luôn ở mức cao [42] Năm 2009, ma túy được ghi nhận là chất gây nghiện chủ yếu ở Trung Quốc, Malaysia, Myanmar, Singapore và Việt Nam [42].Số người nghiện ma túy ở các quốc gia này chiếm 30% số trường hợp báo cáo trong 10 năm trở lại đây [42] Đến năm 2011, tỷ lệ người nghiện các dạng thuốc phiện nhóm opiate ở Trung Đông và Đông Nam
Á chiếm 1,9% [44]
Hiện nay, số người sử dụng ma túy bất hợp pháp ở Việt Nam rất lớn và
có xu hướng tăng nhanh.Tại Việt Nam tính đến 30/9/2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma tuý, trong đó 85% tiêm chích các loại ma tuý như heroin[3]
1.2.2 Hậu quả của nghiện chích ma túy
Sử dụng chất gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống và khả năng lao động của con người Năm 2010, trên thế giới, khoảng từ 99.000 đến 253.000 người tử vong do sử dụng chất gây nghiện bất hợp pháp, chiếm 0,5 đến 1,3% các nguyên nhân gây tử vong trong nhóm tuổi 15-64 [43] Năm
2012, ước tính khoảng 183.000 ca tử vong liên quan tới sử dụng các chất gây nghiện Cứ 1.000 người từ 15- 64 tuổi thì có 40 người tử vong do các dạng thuốc phiện [45] Tại Châu Á có khoảng 78.600 ca tử vong (khoảng 28/1.000) liên quan đến chất gây nghiện [45]
Sử dụng ma túy là con đường chủ yếu gây lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường máu [27].Nhiễm HIV hoặc viêm gan C trong nhóm NCMT có nguy cơ tử vong cao gấp từ 15- 28 lần so với quần thể người trưởng thành tại cộng đồng[12, 46].Tỷ lệ tử vong trong nhóm nam NCMT cao gấp 13,4 lần do với nam trong quần thể chung[38] Trên thế giới, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm từ 1.397 năm 2006 xuống 971 năm 2010, nhưng sau
đó lại tăng đến 1.297 trong năm 2012[25] Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT cao nhất, chiếm 39,2%[4].Tuy tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT đang giảm dần ở một số tỉnh nhưng dịch HIV/AIDS vẫn đáng báo động.Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đặc biệt.NCMT tại Việt Nam
có liên quan đến tỉ lệ gia tăng tội phạm (lên đến 30%), mâu thuẫn gia đình, thất nghiệp và giảm đáng kể thu nhập hộ gia đình [7]
Trang 13Mặc dù nguyên nhân chính dẫn đến tử vong trong nhóm NCMT là các bệnh liên quan đến AIDS (31%), nhưng nguyên nhân do quá liều cũng chiếm 27%[38] Sử dụng quá liều heroin là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong
do sốc thuốc[43, 45] Khoảng 104.000 đến 263.000 ca tử vong mỗi năm liên quan đến sử dụng ma túy bất hợp pháp Trong đó hơn một nửa số ca tử vong
do quá liều, sốc thuốc[42] Năm 2009, số trường hợp sốc thuốc tại châu Âu chiếm 38% số ca sốc thuốc toàn thế giới và 63% số trường hợp sốc thuốc làởĐông Nam châu Âu [42]
Ngoài những hậu quả về thể chất và tử vong, sử dụng ma túy còn gây nên những gánh nặng về sức khỏe tâm thần Ước tính khoảng 22,4% người sử dụng ma túy nhóm opiat ở Việt Nam bị trầm cảm[24] Người NCMT bị cộng đồng kỳ thị, khó khăn tìm kiếm việc làm trong khi họ thường là trụ cột chăm sóc gia đình[39]
1.3 Tổng quan về chương trình can thiệp giảm hại và chương trình Methadone
1.3.1 Tổng quan về chương trình can thiệp giảm hại
Can thiệp giảm hại đề cập đến các chính sách, chương trình và hoạt động nhằm mục đích giảm ảnh hưởng có hại về sức khỏe, xã hội và kinh tế của việc
sử dụng các loại thuốc gây nghiện hợp pháp và bất hợp pháp Các biện pháp can thiệp giảm hại giúp con người giảm thiểu được tác hại đến sức khỏe, phòng ngừa tử vong do quá liều và kết nối với các dịch vụ xã hội, y tế khác
Có 9 nội dung/ chương trình trong can thiệp giảm hại bao gồm: (1) Chương trình bơm kim tiêm (NSPs); (2) Điều trị thay thế nghiện CDTP nhóm opiat; (3) Tư vấn và xét nghiệm HIV; (4) Điều trị ART; (5) Phòng ngừa và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs); (6) Phân phát bao cao su; (7) Truyền thông, giáo dục, cung cấp thông tin cho người NCMT và bạn tình; (8) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị viêm gan; (9) Phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị lao[51]
Trang 14Can thiệp giảm hại mang lại hiệu quả trong phòng chống bệnh truyền nhiễm và cải thiện sức khỏe, làm giảm nguy cơ bệnh tật cho người TCMT và cộng đồng [27]
1.3.2 Chương trình điều trị nghiện thay thế CDTP bằng Methadone
Methadone lần đầu tiên được đưa vào sử dụng tại Đức từ năm 1939, sử dụng với mục đích giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ 2 [21].Năm 1964, tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Dole nghiên cứu về thuốc điều trị cho những người nghiện heroin, họ phát hiện ra methadone giúp người bệnh ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc methadone ra đời[9] Sau
đó Methadone lần lượt được đưa vào sử dụng tại các quốc gia như Mỹ (1965), Hồng Kông (1972), Hà Lan (1980), Australia (1993), Trung Quốc (2004), Malaysia (2005), Đài Loan (2006), Việt Nam (2008)[21],… Tính đến nay đã
có hơn 80 quốc gia triển khai chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốc thay thế Methadone [9]
Điều trị thay thế hay còn gọi là điều trị hỗ trợ bằng thuốc là việc sử dụng dụng một loại thuốc tương tự nhưng gặp ít rủi ro hơn, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để điều trị toàn diện cho người sử dụng ma tuý Ước tính trên thế giới có khoảng 48,9 triệu người đang sử dụng các dạng thuốc phiện [46] Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loại nghiện ma túy, sự kết hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành công nhất [20] Điều trị thay thế triển khai ngoài cộng đồng tạo điều kiện về tâm lý, cho phép bệnh nhân có thể sinh hoạt cùng gia đình và hòa nhập với cộng đồng [27] Điều trị MMT có hiệu quả tích cực trong việc giảm sử dụng ma túy, giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, cải thiện tình trạng việc làm và nâng cao CLCS cho người NCMT [10, 20, 23, 29, 30]
Tại Việt Nam, chương trình MMT thí điểm bắt đầu triển khai từ tháng 5/2008 với 6 trung tâm điều trị tại Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh [11].Tháng 9/2014, chương trình được triển khai tại 38 tỉnh, thành phố với hơn 120 CSĐT
và điều trị cho 21.317 bệnh nhân [3] Đến cuối 9/2015, đã có 55 tỉnh, thành
Trang 15phố triển khai chương trình với hơn 200 cơ sở và số bệnh nhân hiện đang điều trị là 40.181 [6].
Năm 2012, sau 4 năm triển khai điều trị MMT, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng
ma túy bất hợp pháp giảm đáng kể chỉ còn 14% sau 24 tháng điều trị Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị
An ninh xã hội cũng đã được cải thiện đáng kể về trật tự an toàn xã hội ở khu vực có người nghiện tham gia điều trị Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật giảm từ 40% xuống 3% sau 9 tháng điều trị Các mâu thuẫn trong gia đình giảm rõ rệt khi bệnh nhân tham gia điều trị, từ 20% xuống còn 3,5% sau 9 tháng điều trị [7] Methadone sử dụng bằng đường uống nên điều trị thay thế nghiện CDPT bằng Methadone là một trong những chương trình can thiệp giảm tác hại hiệu quả nhất trong dự phòng lây nhiễm HIV cho người NCMT [27] Điều trị MMT không chỉ dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm người NCMT mà còn mang lại hiệu quả kinh tế [3]
1.4 Tổng quan về các bộ công cụ đo lường CLCS đối với bệnh nhân đang điều trị Methadone
Đo lường CLCS được sử dụng để đo lường tác động trong việc quản lý các bệnh mãn tính, sự phụ thuộc vào thuốc, đặc biệt trong những chương trình nhằm nâng cao CLCS bằng cách giảm tác động của bệnh [20]
Có nhiều bộ công cụ đang được sử dụng để đánh giá CLCS như đo lường CLCS châu Âu (EuroQOL), The Short Form SF-36, The Short Form SF-20 và MOS-HIV, WHOQoL-BREF, QoL-DA (Quality of Life Scale for Drug Addicts)… , và hiện nay đang phát triển bộ công cụ IDUQoL (Injection Drug Use Quality of Life Scale) bao gồm 21 domain sử dụng chuyên biệt cho nhóm tiêm chích ma túy Tất cả các bộ công cụ này tuy khác nhau về thang điểm nhưng đều đánh giá sự cải thiện liên quan đến sức khỏe như thể chất, tâm lý,
xã hội và môi trường
1.5 Lý do lựa chọn bộ công cụ WHOQOL-BREF
Bộ câu hỏi đo lường CLCS WHOQOL-BREF là bản thu gọn của bản WHOQOL-100 Bộ câu hỏi WHOQOL-100 mặc dù được đánh giá là toàn
Trang 16diện nhất khi đề cập đến cả 6 khía cạnh sức khỏe, thể chất, tâm lý, kinh tế, xã hội, tâm linh và môi trường song với 100 câu hỏi là tương đối dài Bộ câu hỏi WHOQOL-BREF gồm 26 câu hỏi ngắn gọn và mang tính ứng dụng cao hơn
Bộ câu hỏi là công cụ hữu hiệu để: (1)Đánh giá tổng thể CLCS (rất tốt, tốt, trung bình, xấu, rất xấu); (2) Mức độ hài lòng về sức khỏe của bệnh nhân (rất hài lòng, hài lòng, bình thường, không hài lòng, rất không hài lòng), (3) Điểm trung bình sức khoẻ thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường
Đây cũng là bộ câu hỏi được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng
để đo lường CLCS của nhóm bệnh nhân NCMT và HIV/AIDS [48, 49] Bộ câu hỏi này cũng đã được sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá CLCS của người NCMT tại một số quốc gia trên thế giới như Malaysia, Kyrgyz Republic, Việt Nam…[20, 35, 36, 49] Đồng thời, một số nghiên cứu về CLCS trong nhóm NCMT tham gia điều trị ở Việt Nam cũng sử dụng bộ công cụ này [8, 11]
1.6 Các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân methadone
và một số yếu tố liên quan
1.6.1 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân methadone
Đo lường CLCS của bệnh nhân là một cấu phần trong đánh giá hiệu quả chương trình MMT Năm 2004, tại NewZealand, nghiên cứu của Daryle E Deering đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 107 bệnh nhân điều trị Methadone Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi SF-36 đưa ra kết quả tỷ lệ bệnh nhân đánh giá chất lượng của họ tốt chiếm 22% và rất tốt chiếm 35%; 44% còn lại cảm nhận CLCS trung bình và xấu [23] Những thay đổi về CLCS khía cạnh tâm lý thể hiện ở việc họ cảm nhận cuộc sống hạnh phúc hơn và sức khỏe tốt lên [23]
Năm 2007, nghiên cứu trên 102 bệnh nhân đang điều trị MMT tại Lithuania sử dụng bộ câu hỏi CLCS WHO-BREF [37] Nghiên cứu đánh giá
sự thay đổi sức khỏe thể chất bằng việc kiểm tra các dấu hiệu, triệu chứng khi dùng ma túy hay các dấu hiệu đặc trưng về sức khỏe tổng quát, hô hấp, cơ xương khớp, tiêu hóa Sự thay đổi về sức khỏe lĩnh vực xã hội là cải thiện mối
Trang 17quan hệ của họ với những người xung quanh hay sự hạn chế tiếp xúc của họ với những người nghiện ma túy trước đây Kết quả cho thấy, sau 6 tháng điều trị, CLCS mặt thể chất và tinh thần tăng lên (p=0,004), CLCS môi trường cũng tăng (p=0,048), trong khi CLCS xã hội không có sự khác biệt (p=0,362) [37] Năm 2009, kết quả nghiên cứu trên 701 bệnh nhân tại Kyrgyzstan Republic của Moller Lars cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân cho rằng CLCS tốt và rất tốt trước điều trị là 7,3%, trong điều trị là 74,6% (p<0,005)[35] Sự hài lòng về sức khỏe bản thân thay đổi từ 0 lên 78% trước và sau điều trị thể hiện sự thay đổi về lĩnh vực tinh thần [35] Các chính sách về sức khỏe tác động đến hiệu quả của chương trình điều trị, trong khi kinh tế và đặc trưng văn hóa không tác động nhiều [35].Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Amer Siddiq Amer Nordinvà cộng sự[36] Lĩnh vực tâm lý và xã hội cũng thay đổi nhiều nhất với mức chênh lệch 2,26 (18,9%) và 2,28 (20,0%) giữa trước điều trị và sau điều trị[36]
Năm 2010, Baharom.N và cộng sự nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân đang điều trị MMT tại Malaysia cho thấy: điểm trung bình CLCS trong nhóm điều trị được 6 tháng cao hơn nhóm mới điều trị ở cả 4 lĩnh vực với p <0,001, trong đó điểm chất lượng thể chất và tâm lý ở nhóm điều trị 6 tháng cao hơn
rõ rệt nhóm mới điều trị, lần lượt là 65,01 với 51,54 và 65,72 với 50,18[20] Kết quả nghiên cứu của Đại học Nam Trung, Trung Quốc (2011) tại 5 CSĐT của thành phố Xi’an- Trung Quốc chỉ raCLCS cũng tăng lên nhanh chóng sau 3 tháng điều trị, CLCS ngày thứ 30 cao hơn ngày thứ nhất (p<0,05) Thể chất và tinh thần là những lĩnh vực được cải thiện đáng kể nhất trong những người nghiện ma tuý được điều trị thay thế bằng Methadone, trong đó điểm chất lượng tinh thần cao hơn điểm chất lượng về thể chất[30, 52], điểm CLCS xã hội giữa nhóm trước điều trị và nhóm sau 1 tháng, 3 tháng điều trị đều tăng (p<0,001)[30]
Năm 2012, nghiên cứu trên 100 bệnh nhân điều trị MMT, Lashkaripour Kobra và cộng sự đã cho thấy sự thay đổi rõ rệt về điểm CLCSchung của 4
Trang 18lĩnh vực sau từng tháng điều trị, tăng từ 258,43 đến 287,56 sau 3 tháng (p<0,05).Trong đó, điểm CLCS mặt thể chất và xã hội tăng nhanh [31]
Tại Việt Nam, năm 2012, tác giả Trần Xuân Bách và cộng sự nghiên cứu trên 370 bệnh nhân MMT chỉ ra điểm CLCS sau điều trị đều tăng so với trước điều trị ở cả 4 lĩnh vực [19] Cùng trong năm, nghiên cứu của FHI 360 sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF cho thấy CLCS của bệnh nhân được cải thiện đáng kể trong 3 tháng đầu kể từ khi bắt đầu điều trị[8] Tỷ lệ bệnh nhân
có CLCS tốt sau 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng lần lượt là 49,1%, 48,8% và 51,7%, tỷ lệ có CLCS rất tốt từ 3% trở lên[8] Cùng sử dụng bộcông cụ WHOQOL-BREF, năm 2014, nghiên cứu của Phạm Đức Mạnh và Lê Thị Hương tiến hành tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc: Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái cho thấy kết quả tương tự [11] Tỷ lệ bệnh nhân tự đánh giá CLCS tốt và rất tốt là 20,6% và 2,3%[11] Tỷ lệ này thấp hơn ở nghiên cứu của FHI Tuy nhiên, điểm CLCS chung của ĐTNC là 76,1/100, trong đó điểm khía cạnh môi trường cao nhất là 69,1 và thấp nhất là khía cạnh tinh thần(59,8)[11] Một số các nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương đồng.CLCS của bản thân và gia đình bệnh nhân điều trị MMT cải thiện đáng kể, ở cả khía cạnh xã hội và môi trường[5, 13, 15]
1.6.2 Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị methadone
Giới:Nam giới có CLCS cao hơn nữ giới
Một số các nghiên cứu chỉ ra giới tính có mối liên quan đến điểm CLCS [18, 28, 31, 47].Nghiên cứu của Lashkaripour Kobra và cộng sự (2012) cho thấy điểm CLCS của nam cao hơn nữ[31] Nghiên cứu của Margaret L.Griffin tiến hành trên 653 bện nhân và sử dụng bộ câu hỏi SF-36 cũng tìm ra mối liên quan giữa CLCS và giới tính với p<0,001[28] Shahrokh Aghayan cũng đề cập đến sự khác biệt điểm CLCS giữa nam và nữ (p<0,05) khi nghiên cứu 988 bệnh nhân MMT tại Iran năm 2015 [18] Điểm CLCS tinh thần của nam cao hơn nữ[18, 28].Phụ nữ cũng là đối tượng bị suy giảm sức khỏe và thể chất nhiều hơn nam giới[47].Tuy nhiên, nghiên cứu củaMoller Lars
Trang 19(2009)Lashkaripour Kobra (2012) lại cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê [31, 35].
Tuổi:Tuổi càng cao có điểm chất lượng thể chất càng thấp
Đo lường CLCS bằng bộ câu hỏi SF-36, nghiên cứu của Theodore J Cicero trên 2.573 bện nhân cho thấy nhóm tuổi trên 45 phải chịu đựng những cơn đau về thể chất cao gấp 2 lần các nhóm tuổi khác (OR=2,12, p<0,001) Họ cũng dễ gặp phải những rối loạn tâm thần hơn nhóm trẻ tuổi.Vì thế tuổi là một yếu tố liên quan đến CLCS, đặc biệt về mặt thể chất và tinh thần[22] Margaret L Griffin cũng đưa ra kết quả tương tự: nhóm bện nhân 45-65 tuổi cao hơn có CLCS thể chất thấp hơn so với nhóm ít tuổi, có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Nhưng, tuổi không phải là yếu tố liên quan đến CLCS tinh thần[28]
Trình độ học vấn: Trình độ học vấn càng cao, điểm CLCS mặt tâm lý
và xã hội càng cao
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ học vấn có mối liên quan đến CLCS lĩnh vực tâm lý và xã hội như nghiên cứu của Daryle (2004), Nizam Baharom (2012) hayShahrokh Aghayan (2015)[18, 20, 23] Những bệnh nhân
có trình độ đại học có điểm chất lượng tâm lý và xã hội cao hơn các bệnh nhân
ở nhóm khác[18, 20].Kết quả nghiên cứu điểm CLCS của bệnh nhân ở Việt Nam cao cũng được giải thích do trình độ văn hóa từ trung học cơ sở trở lên [11]
Tình trạng hôn nhân: Người đã kết hôn có điểm CLCS cao hơn người độc thân
Mặc dù kết quả nghiên cứu năm 2012 củaLashkaripour Kobra là không
có sự khác biệt về CLCS giữa các tình trạng hôn nhân [31], nhưngnghiên cứucủa Shahrokh Aghayan năm 2015 lại cho thấy những người đã kết hôn có
điểm CLCS cao hơn những người chưa có gia đình (p<0,05) [18]
Cân nặng/BMI:Bệnh nhân có BMI thấp có CLCS về mặt thể chất và tinh thần thấp
Trang 20Chỉ số BMI có liên quan đến CLCS về mặt thể chất và tinh thần Nghiên cứu tại Đài Loan trên 802 bệnh nhân MMT cho thấy bệnh nhân có BMI thấp
Thời gian sử dụng ma túy: Sử dụng ma túy càng lâu, CLCS càng thấp
Bệnh nhân sử dụng ma túy trong thời gian dài hơn có CLCS thấp hơn trong nhóm sử dụng ngắn hơn[23, 30, 34] Nghiên cứu của Yung-Feng Yen và cộng sự năm 2014 cho thấy điểm CLCS trong 4 lĩnh vực thể chất, tâm lý, xã hội, môi trường của người nghiện ma túy > 10 năm lần lượt là 13,2; 17,1; 12,5; 12,4 thấp hơn so với người nghiện ma túy < 10 năm[53] Tuy nhiên nghiên cứu của Margaret L Griffin (2015) lại cho thấy rằng sự khác biệt đó không có ý nghĩa thống kê[28]
Thời gian điều trị MMT: Thời gian điều trị MMT càng lâu, CLCS càng tăng
Bệnh nhân điều trị MMT lâu hơn có thay đổi và cải thiện đáng kể về CLCS trong tất cả các lĩnh vực hay nói các khác CLCS của họ thay đổi theo thời gian[30] Nghiên cứu tại Malaysia cho thấy bệnh nhân tham gia chương trình MMT sau 12 tháng, sau 6 tháng đều có điểm CLCS cao hơn so với trước khi tham gia Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,001[40].CLCS về mặt
Trang 21thể chất thay đổi rõ rệt nhất [31].Những cải thiện về CLCS có xu hướng được nâng cao hơn với thời gian điều trị lâu hơn[30, 31]
Nhiễm viêm gan B/C/HIV:Bệnh nhân mắc HBV/HCV/HIV có điểm CLCS thấp hơn
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, những bệnh nhân đang sống chung với virus HIV, viêm gan B, viêm gan C có điểm CLCS thấp hơn[32] Korthuis sử dụng
bộ công cụ SF-12 khảo sát 289 bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị Methadone cho thấy kết quả tương tự[32] Những bệnh nhân mắc viêm gan B, viêm gan C cũng luôn có những ảnh hưởng thể chất và tinh thần, gián tiếp liên quan đến CLCS [40].Họ cũng là những người chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử trong các hoạt động [39]
Bệnh mãn tính:Bệnh nhân mắc bệnh mãn tính có điểm CLCS về thể chất và tinh thần đều thấp
Những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính có điểm CLCS thấp hơn do họ phải chịu đựng những cơn đau, cùng những căng thẳng tâm lý Các bệnh càng kéo dài và nghiêm trọng càng khiến bệnh nhân rối loạn tâm trạng và lo lắng nhiều hơn[28].Điều đó dẫn đến điểm CLCS về mặt thể chất và tinh thần thấp
Trang 22Khung lý thuyết
Từ tổng quan tài liệu và các mô hình khung lý thuyết từ các nghiên cứu [20, 35, 36, 49], kết hợp với thực tế, kinh nghiệm quá trình điều trị bệnh nhân Methadone khung lý thuyết đánh giá CLCS bao gồm:
Các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS
Đặc điểm cá nhân: Tuổi, giới, trình độ học vấn, trình trạng hôn nhân,
thu nhập cá nhân, nghề nghiệp
Đặc điểm lâm sàng: BMI, bệnh mãn tính, nhiễm HC/ HBV, HIV Đặc điểm điều trị: Thời gian sử dụng ma túy, thời gian điều trị MMT,
tuân thủ điều trị
Các khía cạnh và nội dung đánh giá CLCS: Khía cạnh thể chất, Khía
cạnh tinh thần, Khía cạnh xã hội, Khía cạnh môi trường
Nghiên cứu này tập trung vào các đặc điểm lâm sàng và điều trị để đưa ra các khuyến nghị
Khía cạnh thể chất
- Triệu chứng lâm sàng khi còn sử dụng ma túy
- Hô hấp
- Tiêu hóa
- Cơ xương khớp
CLCS BỆNH NHÂN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE
Khía cạnh xã hội
- Mối quan hệ với
Trang 231.7 Thông tin về địa điểm nghiên cứu
Tại Hà Nội, tính đến 15/5/2015, hiện có 15.525 người nghiện ma túy dạng thuốc phiện, trong đó chỉ có 7.922 người được quản lý tại trung tâm cai nghiện, trường trại [17] Số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS là 18.081 người, trong đó 6 tháng đầu năm phát hiện nhiễm mới 434 trường hợp; 61,9% trong
cơ sở cũ là 2.131 và tại 11 cơ sở mới là 679 bệnh nhân [16] Tuy nhiên, việc
mở rộng các dịch vụ MMT vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người NCMT cần điều trị
Trong những năm qua, các hoạt động triển khai điều trị Methadone phụ thuộc nhiều vào tài trợ quốc tế Trong 17 cơ sở điều trị của Hà Nội, 6 cơ sở cũ nhận tài trợ và cung ứng thuốc từ tổ chức quốc tế (PEPFAR và USAID).Dự kiến đến hết năm 2015, nguồn tài trợ cho các chương trình sẽ cắt giảm.Trong khi đó, 11 cơ sở mới thành lập đang sử dụng ngân sách của thành phố Hà Nội
và nhận cung ứng thuốc từ các công ty Dược phẩm nội địa.Dự kiến đến năm 2016-2017, Hà Nội tiến hành xã hội hóa chương trình điều trị thay thế bằng Methadone nhằm huy động tài chính cho các hoạt động.Tuy nhiên việc tiến hành xã hội hóa đòi hỏi đảm bảo và nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị
Cơ sở điều trị Methadone Đống Đa là một trong sáu CSĐT đầu tiên của thành phố Hà Nội, được thành lập 05/2012.Tính đến 11/2015, CSĐT đang điều trị cho 430 bệnh nhân Do địa bàn ở trung tâm, tiếp giáp với nhiều quận khác, CSĐT Đống Đa không chỉ điều trị cho các bệnh nhân cư trú tại quận Đống Đa mà còn một số quận như Ba Đình, Cầu Giấy… Bệnh nhân điều trị tại CSĐT đa dạng về những đặc điểm như nghề nghiệp, trình độ học vấn…
Trang 24CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân đang điều trị Methadone tại CSĐT Đống Đa
- Bệnh án của bệnh nhân đạt tiêu chuẩn lựa chọn
Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân
- Bệnh nhân đang điều trị methadone tại CSĐT Đống Đa- Hà Nội tính
đến thời điểm nghiên cứu
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh án
- Bệnh án có đủ các thông tin hồi cứu cần cho nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân
- Bệnh nhân đã bỏ/ ra khỏi chương trình/ chuyển sang cơ sở điều trị
khác tính đến thời điểm nghiên cứu
- Bệnh nhân từ CSĐT khác đến uống nhờ/ uống tạm thời
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh án
- Bệnh án thiếu một trong các thông tin
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 06 năm 2016
Địa điểm: CSĐT Methadone Đống Đa- Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ các bệnh nhân tại CSĐT Methadone.Tổng số bệnh nhân đang điều trị MMT tại CSĐT Đống Đa là 430 Cỡ mẫu: 430
Nghiên cứu định tính: dự kiến 5 đến 7 cuộc phỏng vấn sâu
Trang 252.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng: Bộ câu hỏi định lượng được xây dựng dựa trên
các tham khảo từ nghiên cứu của Phạm Đức Mạnh và cộng sự (2014) và nghiên cứu của FHI (2012) [8] [11] Bộ câu hỏi thu thập số liệu gồm 3 phần Phần 1: Gồm các câu hỏi về thông tin chung
Phần 2: Gồm các câu hỏi liên quan đến đặc điểm cá nhân, lâm sàng và điều trị để tìm hiểu một số yếu tố liên quan
Phần 3: Bộ câu hỏi CLCS WHOQOL-BREF
Nghiên cứu định tính: Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu
- Nghiên cứu viên liên hệ với Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Hà Nội để liên hệ với CSĐT Methadone Đống Đa
- Liên hệ với Trưởng CSĐT MMT Đống Đa và CSĐT MMT Đống Đa + Xin danh sách bệnh nhân đang điều trị methadone
+ Liên hệ bệnh nhân tại CSĐT khi bệnh nhân đến uống thuốc hàng ngày + Phỏng vấn bệnh nhân tại CSĐT
- Các bước phỏng vấn đối tượng
Bước 1: Tiếp câ ̣n ĐTNC cần thu thâ ̣p số liê ̣u và giới thiê ̣u về mu ̣c đích, ý nghĩa của nghiên cứu
Bước 2: ĐTV giải thích cho ĐTNC về tính bảo mâ ̣t của thông tin mà ĐTNC cung cấp
Bước 3: ĐTNC kí vào giấy đồng ý nghiên cứu trước khi trả lời phỏng vấn
Bước 4: ĐTV đo ̣c từng câu hỏi trong bô ̣ câu hỏi cho ĐTNC nghe và lựa chọn trên bảng hướng dẫn (thang từ 1 đến 5)
Bước 5: ĐTV hỏi la ̣i ĐTNC có cần thay đổi hoă ̣c bổ sung thông tin gì hay có câu hỏi liên quan tới nghiên cứu hay tới bê ̣nh không để giải đáp
Bước 6: Cảm ơn ĐTNC đã tham gia
2.6 Biến số nghiên cứu
Trang 26Các biến số của phần 1 và phần 2 của bộ câu hỏi như sau:
Phần A: Nhóm biến số về các thông tin chung của ĐTNC (7 biến)
Phần B: Nhóm biến số về đặc điểm lâm sàng và điều trị để tìm hiểu một
số yếu tố liên quan (13 biến)
Phần C: Nhóm biến số về CLCS (26 biến)
Bảng 1: Biến số nghiên cứu
Phương pháp thu thập
A Thông tin chung
Mã số ĐTNC Là mã số của bệnh nhân do
CSĐT cấp
Liên tục Bộ câu hỏi
phỏng vấn Giới tính Là giới tính của ĐTNC Nhị phân Quan sát
dương lịch
Liên tục Bộ câu hỏi
phỏng vấn Trình độ học vấn Bậc học cao nhất của ĐTNC Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Tình trạng hôn
nhân
Tình trạng hôn nhân hiện tại của ĐTNC
Định danh
Bộ câu hỏi phỏng vấn Nghề nghiệp hiện
tại
Là công việc đối tượng nghiên cứu đang làm nhiều thời gian nhất
Định danh
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Thu nhập cá nhân Là tổng thu nhập cá nhân
hàng tháng của ĐTNC
Định danh
Bộ câu hỏi phỏng vấn
B Đặc điểm lâm sàng và điều trị
Cân nặng của ĐTNC hiện tại Liên tục Cân
Chiều cao của
Nhị phân Hồi cứu bệnh
án Bệnh mãn tính ĐTNC có mắc bệnh mãn
tính không
Nhị phân Bộ câu hỏi
phỏng vấn Tuổi lần đầu sử
dụng ma túy
ĐTNC sử dụng ma túy lần đầu năm bao nhiêu tuổi
Liên tục Bộ câu hỏi
phỏng vấn Tổng thời gian sử
dụng ma túy
Là tổng thời gian từ lúc ĐTNC sử dụng ma túy đến
Liên tục Bộ câu hỏi
phỏng vấn
Trang 27Số lần bỏ liều
trong 3 tháng gần
đây
Là số lần bệnh nhân bỏ liều trong 3 tháng trở lại đây
Liên tục Hồi cứu bệnh
giai đoạn duy trì
Số lượng xét nghiệm dương tính trong giai đoạn duy trì của bệnh nhân
Định danh
muốn làm khi ĐTNC đau đớn ở mức độ nào
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn ĐTNC được uống thuốc hoặc điều trị nhiều ở
mức độ nào
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ thích thú của ĐTNC với cuộc sống Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ ý nghĩa của ĐTNC với cuộc sống Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ tập trung của ĐTNC Thứ bậc Bộ câu hỏi phỏng vấn Mức độ yên tâm với cuộc sống hàng ngày của
ĐTNC
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ trong lành của môi trường tự nhiên
ĐTNC đang sống
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ ĐTNC đủ sức lực cho các hoạt động
trong cuộc sống hàng ngày
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn Mức độ bằng lòng của ĐTNC bằng lòng với
ngoại hình
Thứ bậc Bộ câu hỏi
phỏng vấn