M ỤC ĐÍCH, Ý NGHỈA C Í j A đ Ề t a i Các dân tộc ở nước ta khóng kể thiếu số hay đa số, trước cách mạng tlicíng Tám đều chung cảnh ngộ - đoi nghèo va lạc hậu, nhất là những cư dán sống b
Trang 1OẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VẮN• • ■ •
ỉ\Iir\(« DỔI THAY VỂ DÚI s ỏ v KIM1 TỂ
Ọ l \ \ CIIỊỈT ỏ IIIIYỆN ISA Vi ■ IIÁ TÂY
Trang 2MỤC LỤC• *
Trang
Chuơng Một: KHÁI QJÁ1 VÉ DÂN TỘC DAO VÀ CÂC NHÓM DAO ở VIỆT NAM 8
D- v ề người Dao Quần chẹt huyện Ba vì, Hii Tây 15
C lim m g H a i: NHỮNG THAY Dốl VẼ DỔI SUNG KINH TÉ 20
Cliư m iR Ha: NHỮNG THAY DÔI v f SINH HOẠT VẬT CHÂT 45
Trang 3LỚI Nul ĐẦU
I M ỤC ĐÍCH, Ý NGHỈA C Í j A đ Ề t a i
Các dân tộc ở nước ta khóng kể thiếu số hay đa số, trước cách mạng tlicíng Tám đều chung cảnh ngộ - đoi nghèo va lạc hậu, nhất là những cư dán sống bằng canh tác nương rẫy du canh du cư, trong đó người Dao thuộc vào loại cực khổ hơn cả
Người Dao sinh sống trên đắt nước ta đã lâu đòi và là một trong những dán tộc có nhiều nhóm (lịa phương nhắt, sống phân tán, có mặt hầu khắp các tính miền núi và trung du phía Bắc, một số ít còn rói tận miền Trung và đông Nam Rộ
Trải qua gần ngàn năm đã bno llìế hệ ngươi Dao phai sống cảnh đen tối - cơm khồng đủ án, áo không đù mặc, kliông dược hục hành, dịch bộnh không thuốc chữa, “hữu sinh vô dướng” , “chặt gốc lắy ngọn” sống lang thang hết rừng này đến núi nọ, dâu cũng chỉ là nơi dùng chân tam bợ
Tuy đã sinh sống trên đắt nước ta qua nhiều llìé kỷ, nhưng chỉ từ sau cách mạng tháng Tám cuộc sống cưa người Dao mới dần có sự thay đổi Đặc biệt là từ khi có đirờne lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta thì
sự thay đối ngày càng nhanh chõng và rõ rệt Vi vậy, việc nghiên cứu những đối thay trong cuôc sống cua họ là việc làm lắt co ý nghta Một
m ật, (lế minh chứng công lao lo lớn ciia Đảng và Nha nước ta đối vứi người Dao cùng nhir các dân tộc khác trong cả nước Mặt khác đẽ người Dao thêm tin lưửng vào đường lói chính sách của Đảng mà phắn khởi nỗ lực trên bước đirờng đi lẽn xây (lưng cuộc sống mái tét đẹp văn minh han Cùno bởi lẽ đó chúng tôi đã chọn ngircri Dao làm đối trượng nghiên cứu và
Trang 4sự íhay đoi cuộc sóng làm nội dung luận án cua mình.
Như chúng ta đã biết người Dao có nhiều nhóm địa phương sống rất phần tán va ngay như một nhóm cũng có mặt ở nhiều nai Cho nên sau
khi tnn hiểu một số địa phương có ngươi Dao, chung tôi ilã đi đén quyết đinh chọn địa điểm nghiên cứu của mình là người Dao Quần chẹt ở huyện
Ba Vì, tỉnh Hà Tây, với đề tài của luận án: N hững đổi thay về đời sống
kinh tế vả sinh hoạt vật chất của người Dao Quần chẹt ở huyện Ba vì, tỉnh Hà Tây.
II LÝ DO CIIỌN ĐE t a i
Chúng tôi chọn ngildi Dao ử địa bàn này làm đối tượng nghiên cứu bơi may lẽ sau:
- Người Dao Ọuần chet là một trong nhóm Dao du canh du cư nniều nhắt và cùng là nghèo khổ hưn cả
- Qua những thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng
và các cóng trình nghiên cứu khoa bọc đã khắng định: đời sống của người Dao ở khắp nơi đều có những thay đổi và đã có nhiều điểm sáng như: Dao Thanh y ở Quảng Hà, Dao Thanh phán ở Hoành Bồ (Quảng Ninh) Dao
Đỏ ở Ban Cuông C hợ Đồri (Bắc Thái) Song, phải thừa nhận rằng những điểm sáng nlnr tlié chưa phải là nhiều Neu chì chú ý đến nliững điểm đó,
e sẽ là phiến diện, chưa phản ảnh được tinh hình chung về cuộc sống đổi mới ciìa tlàn tộc Dao
- Sau khi tìm hiểu, clitinp tôi nhận dì ấy cuộc sống hiện nay của ngirời Dao Quằn chẹt ở Ba vì thuộc vào loại trung bình, ctiúng tôi cho
Trang 5rằng mức sống như thé sẽ phản ánh được cái chung, cái phố bién, sẽ cho
chúng ta có được cái nhìn bao quát hơn, khách quan hơn về cuộc sống
hiện nay cua dân tộc nay
Một lý do khác cũng cần chú ý: Một nửa HTX Hợp Nhất xã Ba
Vì, huyện Ba Vì, Hà Tây đang được xay dựng thanh “Làơg Sinh T hái” Ài
cũng rõ môi trưỡng sinh thái đói vơi moi cu dân đang là vấn đề của toàn
càu Làng sinh thái chỉ là môt llnr ngliiệiTi bưức đầu, tuy chưa có két quả
thực rõ rệt, nhirng dù sao đó ciíng là việc làm rất mới và cần thiến
- Sự thay đổi cuộc sống của mọi đân tộc, không riêng dnn tộc ân tộc Dao, cái đirợc biểu hiện rõ nhắt, dễ w ấ y nhắt, trước bét là đời sống kinh té
va simli hoạt vật chất c ò n các yéu tố khác nhir sinh hoạt tinh thin: lôn
giáo tin ngirỡng phong tục tâp quán, tâm lý cũng đõ í thay nhirng cliậm
hơn Do vậy để clúrng rninli cho sự đoi Ihay của cuộc sống ngirời Dao trên
địa bàn này, chúng tôi chỉ đề cập đén hai mạt nói trên
UI LỊCH SỬ NGHIÊN c ứ u VAN đ Ề
Những tài liệu nói đén người Dao khá nhiều Trong thời phong
kiến, ở nước ta có những tac phẩm như: “ Kiên văn tiểu lục” của Lê Quý
Đôn, “ Việt s ử thùng giám cưrrng m ụ c ” , “ Đại n am thực lục” cùa sử quán
Triều Nguyễn Các boc giả phong kiến viết về sự phân bố cư dân, tình
hình các dân tộc vùng biên giới ở nước ta đều ít nhiều nói tới người Dao
Song những tàj tíệu đó lắt sơ sài và các dân tộc mà họ mô tả thirang nám
»
trong khái niệm “ M an” nói chung
Dirới chế độ thực dân cùng có nhiều bài viết về người Dao in
Trang 6trong các tạp chí: Kỷ yéu Hội nhân học Parỉ (Bulletin de la societé
d ’anthropoIopie de Paris) Tạp chí Đông Dương (Revue Indochine) Tạp chí T r ư ờ n g Viễn Đông Bác cô’ (BEFED) Hầu hét các tác giả như: A.Bonifacy, M.Abadie, Lunet de la ỉonquière đều là những sĩ quan trong quân độ- viễn chinh Pliáp Họ viết về sinh hoạt, văn hóa, tám lý của ngưưi Dao nhấm mục đích phuc vụ cho chình sách cai trị của thực dân xâm lược Pháp
Từ sau Cách mạng thnng Tám có nhiều bài viết về người Dao (sơ bộ thống kê có tới trên 30 công trình lớn nhỏ dã được công bố) Trong
số những công trình này, (láng rhú ý hơn cả là cuón sách “ Ngưòi Dao ở Việt N a m ” của Bé Viết Đẳng, Nguyễn KliắcTụng, Nông Trung và Nguyễn Nam Tién Đó là một công trình viét về người Dao khá toàn diện và tương đối (lầy đủ Tác phâm này có nói tới nhóm Dao Ọuần chẹt mà một bộ phận của nó ở Ba Vì là đối lượng nghiên cứu và là nội dung luận án của chúng tôi
Riêng bộ phận Dao Quần chẹt ả Ba V' cũng có môt sổ luận văn tốt nghiộp đại học ở khoa Lịch sỉr trirờng ĐHTH Hà Nội đẽ cập lơ' như: luận văn của Nguyễn Vãn Trò - Kliíìo sát m ột làng Dao Q u ầ n chẹt đã (linh cir; Nguyễn Thị Cliịcli - K hảo sát vè y p h ụ c và t r a n g sức củ a ngươi
Hao Quần cliẹt (lịnh canh định CU’ thuộc HTX Hợp Nhắt, xã Ba v ì,
tỉnh Hà T ây; Nguyễn Phúc Ọuyền - S ư bién đôi tro n g tập q u á n của
đồng bào Hao Quần chẹt <v xã Ba v ì, huyện Ba v ì, tỉnli Hà Tây từ (lu canli du c iĩđ c n định canh định cư.
Các luận văn này chi mới ctề c ậ p dén một số mặt nào đó về cuộc sóng của người Dao ở ctây và li ì cách nay l>ơn một phấn tư llié kỷ Mới
Trang 7đây, trong Hội thảo quốc té về ngưừi Dao tô chức tại thãnh phố Thái Nguyên (Bắc Thái) vào Irung tuần tháng 12 năm 1995 có một số báo cao
về người Dao ở Ba V cũng là nguồn tài liệu tham kháo cho luận án cúa chúng tôi (9) (29) (32)
IV CƯ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG TRO NG NGHIÊN c ứ u
Đe thực h'ện luận an này, ngoai cơ sở lý luân của chủ nghĩa Mác
- Lênin (Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử) Chúng tôi chu yéu dựa vào phưưng pháp điền dã dân tộc học Bơi lẽ đã máy chạc năm qua chưa
có một tài liệu nào nói về cuộc sống cíia người Dao ở đây một cách kỹ hrỡng Muốn có tư liệu, không có cách nào khác là tự chúng tôi phải tự khảo sát Ngoài ra chúng tồi con vận dụng một số plnrơng pháp thông thường nhir: phân tích, so sánh, tông hựp đặc biệt la dùng nhiều ảnh và bari vẽ dể minh họa
V NHỮNC, ĐO NC GÓP CỦA LUẬN VẤN
- Ọua việc mô tả toan diện đời sóng kinh tế và sinh hoạt vật chắt của người Dao Quan chẹt ở Ba vì, Hà Tây, guíp cho những ai quan tâm đén vấn đề này sẽ rút ra đirợc những kết luận cần thiiết Đặc biệt, chúng tôi
đã giới thiệu đirợc những đoi (hay trong cuộc sổng, sự hình thành một mô hình sản xuất inới - Làng sinh thái - dóng góp vào V1ỘC thục hiện công tác định canh định cư đang triẽn khai hiện nay
- Luận văn không dửng lại ỏ kháo lả mà trong phần kết luận,
Trang 8chúng tôi đưa ra những nhận xét của mình, những mặt được và chưa đươc trong sự đổi thay của người Dao Ba Vi, cũne nhu mô hình Làng sinh thái Qua đó đưa ra những kiến nghị đối với các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo
và quản l> về việc xây dựng làng sinh ĩhái - văn hóa - du lịch Mong rằng những ý kiến đó là một đóng góp nhỏ vào của công trình nghiẽn cứu Dàn tôc học này
VI KẺT c Ấ ư c ủ a l u ậ n á n
Luận án “Những đổi Ihay về đời sống kinh té và sinh hoạt vật chất của ngưưí Dao Quần chẹt ở liuyện Ba Vì, tỉnh Hà T ây ” có két cấu như sau
Lừí nóí đ ầ u : Nêu lên mục đích, ý nghĩa, lý đo chọn đề tài, lịch
sử nphiên cứu vấn đề, cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nhữno đóng góp của luận án
C hư ơ ng M ôt: Khái quát về cỉân tộc Dao và các nhóm Dao ả Việt Nam Trong chirơng này clnìng tói đi vào bổn vấn đề, đó là v ề dân tộc Dao, về các nhóm Dao ỏ Việt Nam và nhóm Dao Quần chẹt Đặc biệt
là chúng tôi đi sâu làm rõ về nhóm Dao ở HTX Hợp Nhất xã Ba Vì, Hà Tây - nơi mà chúng tôi lấy làm đối tirợnơ nghiên cứu của luận án
Clurong Hai: Những thay đổi về đời sống kinh té
Chương này trước hét trình bày các thành tố kinh tc truyền thống bao gồm: Kinh tế mrơng rầy Dắc loại hình kinh tế pli'1 và các vấn đê có liên quan Tiếp theo, đề câp đén sự lliay đổi về dí TI sóng kinh tế của đồng bào Dao ở Ba Vì tìr khi cổ đường lối "m ả cửa" của Dáng và Nhà mrnrc ta
Trang 9Chung tôi cũng đề cập đến: “Làng sinh thái” - một mô hình mới đang được xây dựng ở thôn s ổ thuộc HTX Hợp Nhất, xã Ba vì, tinh Hà
Tây.
C h u ư n g Ba: Những thay (lôi về sinh hoạt vật chất Chương này,
chúng tôi tập trung vào ba vấn đề lớn: Ntiầ cửa, ăn liêng và trang phục
Trong ba đối tưựng n à y nhà của cũng như ăn uống va trang phục, chúng tôi nêu lên những yếu tố, nhừng loại hình H uyền thổng và hiện tại để từ đó lam nổi bật ( ái mới cái đang tồn tại và những cái đã mai một
K í t luận: Khái quát lại những nội dung chính yéu nhất đã ncu
để tliấy rõ sư đổi thay về xlời sống kinh tế và vật chắt của người Dao Quần chẹl ở Ba Vì trong may thập kỷ gần đây, đồng !hời nêu lên một số vấn đề đang đặt ra và phương hưởng giải quyết
Ngoài ra, luân an còn có một số hình ánh, ban đồ đc minh bợa cho nôi dung
Trang 10C lim yng M ột: KHÁI QUÁT VẺ' DÂN TỘC DAO VÀ CÁC NHÓM DAO ỡ VIỆT NAM
A VỀ DÂN TỘC DAO
a Dân sổ, dịa bàn cư trú
Người Dao ở Việt Nam, {heo thống kê năm 1989 có 473.945 người, chiếm tỉ lệ 0,76% dán số của cả nước, đứng vào hàng thứ chín trong các dân tộc ở Việt Nam và thứ hai trong các nước có ngirời Dao (sau CHMD Trung Hoa)
Người Dao sóng xen kẽ với người H ’mông, Mường, Thái, Tày, Nùng, Kinh phạm vi cirtiú của họ rít rộng, rải rác klníp vùng núi từ Ịbìên giứi Việt-Trung, Việt-Lào cho lợi một số Iinli trung du và miền hiến Bắc
Bộ Những tinh co nhiều người Dao hơn cả là: Hà G:ang: 71.676 ngưrri, Cao Bang 60.336 người, Tuyên Quang 5 9 1 21 người Lào Cai 56.264 ngirơi, Ycn Bái 52.255 người, Quảng Ninh >6.177 ngiiời, Sơn La 16.860 người, Hòa Bình 10.373 người Trong gần hai chục năm nay, ở các tỉnh Tây Nguyên
và miền dông Nam Bộ đã có hàng nậhìn người Dao đ' cư vào sinh sống và phần lớn các cuộc di cir này đều mang tính chất tự phát
Dù sinh sống ở rất nliiều n<YÌ, nhưng nhiù chung người Dao ử Việt Nam cu trú trên ba vùng khác nhau: v ù n g cao, vung giữa và vung Ihiíp nhưng tập trung nhít là vùng giữa
Vung cao, phần IỚĨ1 là núi (tá vôi thuộc các rinh Cao Bằng Lạng Sơn, Biíc Cạn, Tuyên Qtcang Hà Giang, Quảng Ninh VÍ1 một số linh Tây Bắc Ở (Tây co nhiều người Dao nổ Dao Tiền, Dao I ópnng, Dno Tli-anh
Trang 11phán v,i một S' ít D'10 Làn tiẻn Vũng núi nay địa thế hiểm ĩrừ, độ cao trung bình từ 800m-]000m- chủ yếu la đất Latêritic núi có mùn Khí hậu
mát mẻ, mang tinh cận nhiệt đới, đồng thời đô rủn cũng tăng cío mưa nhiều Rừng đã bj tàn phá, thực vật cũng như động vật vốn rất phong phú, nhung nay còn ỉại rất ít Ở đây có nhiều mỏ kirn loại quý, giá tri kinh tế cao
Vmng giữa có nhiều núi đá VÔI và núi đất thuộc thượng du Bắc
Bộ, cổ độ cao khoảng 400m-600m Vùng này có ngirơi Dao Lôgang, Dao Tiền, Dao Thanh y và chủ yéu là Dao Quần chẹt Đất vùng này là đất Latéritic n m f khí hậu va thực vật thuộc miền phiệt đới Thực vật phong phú hơn ở trung du, nhưng phần lớn lã rừng tái sinh, chủ yéu là rừng rậm nhiệt đới, xanh quanh năm và ngoài ra còn có rừng thưa và xa van Động vật chủ yếu là virơn, sóc, tắc kè, kỳ đà và nhiều loại chim Ở đây cũng
có hô, báo sống trong rừng và ven các con sông lớn v ề kinh tế vùng này đirợc khai thác nhiều hơn vành đai trên và là vành đai đông dân cư do Cí>nh
Uc lirơng đôi thuận lợi mà tai nguyên lại phong phú v ù n g giữa thuận lợi cho việc írồng cóc loai cây công nghiêp, cây ãm quả và chăn nuôi gia súc
Vùng thấp là vùng chuyên tiép giữa vũng núi và đồng bằng có
độ cao khoảng 200m trở lại Trirớc đây han như chỉ có ngưừi Dao Quần trắng, nhưng đến nay có một số nhóm Dao hạ sơn như Dao Quần chẹt, Thanh y, Làn tien và Dao Tiền Khí hậu nhiệt đới mưa điến lntih Đất latêritic vung trung du bao gồm các đồi bằng sườn thoải Các đồi thấp va thềm đắt cíã tĩirợc san thành các ruộng bậc thang cấy lúa, phần ĩớn là ruộng một mùa nửa nằm cắy lúa, nira năm trồng cây ỉương thực phụ hoặc cây công n g h i ệ p L Rừng phần lớn dã Hị tàu jphá do khai thác nhiều Hiện nay vùng này đang được đây mạnh việc trồng cây pn trái và chăn nuôi
Trang 12h Tên gọi và nguồn gổc của người Dao
Trước đây ngirời Dao có nhiều tên got khác nhau như: Động, Dao, Mán, xá Còn ngưưi Dao tự nhận là ‘Kiềm miền” , “ Yu miền” hoặc
“ Dìu mièn” phát âm theo Hán - Việt là “Dao nhân” có nghĩa là "người Dao" Tên Dao pòn được ghi trong các cuốn Bàng văn (Bỉnh Hoàng khoán đicp) hay Cun gọi la “Quá srrn hảng văn" Đỏ là một tài liệu được lưu truyền rộng rãi trong đồng bào Dao Trong Quá sơn bung có nói tới con cháu 12 liụ củ à Dao Vương
Trong cuốn trirừng Bù thắt ngôn nói về cuộc di circảa nhóm Dao Tiền và Dao Quần cliẹt lừ Ọuíing Đông vào Việt Nam thời Lý (9) cũng nói tơi lên Dao Tên “ Dao” nay ctã là tên gọi chính ihírc của dân tộc này
()w
Tnníc khi (ỉi giết ( /10 Ị 'umig, Bứn H è (ỉurrr l un hứn nếu thành ữôiụỊ thì g(ỉ cunĩ Hữ cho (rcl srìch nối h) rông cỉtúa) liàìì ỉỉồ bơi qua hiểu mất bẩy ngày bẩy âêm m ói tới mơi (h o
Vtirmg à Q iọ ViarnỊỊ ẩưfy (VU chó đẹp plm phục tnơrc S(ì)ì rồnậ (hì cho đó là (ỉiểĩtì lành nẽn
fỉ(l (ĩint V()n ímhịỊ nutii M ột hôm nhân Itíc (}io Vurrngsay tnrỵtt lỉàn ỈIỒ cán chết Cao Vỉtryìíậ
tồ i ỉttv útủ atp VỀ hán ớhtỊ với lỉtnh ỉỉoàììỊỊ Hà lì I hi ỉ ấy (ỈKựr, vợ rồi (hm về núi Offi Rõ {Chiết (ĩiditự) Stuh sòng Vợ chồng ỉirìti Viívmgsití/í (ỉuợa 4 0)11 trai vù 6 ạ>H 0 1 hiìỉik Uaàỉig Ị/tni Stic cho <*)>} duíu ỉìtln 1 bưnơ ì2 lìn, ỉiiPềệỊ am m éttựclẩụ ho ( ỉm, ahi các irm ihú Lứv tẽn
ì am ho HùUị ỉutii, M tĩv, l hrn Ityệp, Ixìn I Tfnig, linm nỉỉ, Đếi, Lim, Triệu (/)>! than ịiầ n Vitmtg siitJi sông ntĩy vờ Ỉtfỉàv mót (íòiic (ỉời ỉỉnng Vh ( Ỉ.Ỉ6S- Ỉ39S) hì kụn hán
b a IKÌIIÌ l i h i k h ô n g 'TÍ Ịp (l ễ (ìn, n ỉn ì V u n p h ả i <âfì (Im (Ĩ)U rỉư ín ỉià ìi 1 u m is m ỗ i H & m i ttm í n ít
bún, một am dan (ĩón rùng làm rẫy.
Trang 13truyền khẩu mà còn được ghi chép trong cuốn Báng Văn và trong các sách cúng của ng’jơi Dao Bàn Hồ là môt nliân vật thần thoại nhưng được ngưừi Dao thờ cúng rất tôn nghiêm.
Người Dao ơ Việt Nam vốn nguốn gốc từ Trung Quốc Ọuá trình
di cư vào V)ệt Nam cua ho là quá trình lâu đài, có từ thé k\ XĨII (cũng có thể con rất sớm hơn) cho đến những nám giữa thế kỹ này
Ọuá trình di cư của một số nhóm Dao đã diễn ra nhir sau:
- Vào khoảng thé kỷ XIII Dao Quần trắng từ Phúc Kiến tới Quảng Yên ngưưc lên Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên rồi đển Tuyên Quang Một bộ phận nhỏ của nhóm này rời Tuyên Quang xuôi về Đoan Hùng (Phú Thọ) rồi ngược sông Hồng lẽn Yên Bái và Lào Cai (nay có tên !à Dao Họ)
- Dao Thanh y vào Việt Nam hồi cuối nhà Minh (Thế kỳ XVII)
hụ từ Quang Đông vào Móng c á i qua Lục Nam (nay còn một bộ phận ở Lục Kam) rồ ĩ ngược lẽn Tuyên Quang Một bộ phận khác lên Yên Bái, Lào Cai nay có tên là Dao Tuyển
- Dao Đỏ và Dao Tiền nay ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Bac Thái
đã tử Quảng Đông và Ọuáng Tây đến Việt Nam cũng vào thời Minh
- Dao Lôgang vào Việt Nam muộn hơn cả, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế ky XX
B VỀ CÁC NHÓM DAO Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam có nhiều nlióm Dao với nhiều lên gọi khác nhau
Trang 14Đây là vắn đề rất phức tạp Có nhiều cách phân loại khác nhau Song cách phân loai các nhóm Dao trong cuốn NgưíVi Dao ở Việt N am (4) có phàn
đáng tin cậy hưn.
Dựa vào các tài liệu điền dã dân tộc học và căn cứ vào đặc điểm văn hóa mà nét chủ yếu là trang phục phụ nữ Các tác giả cuốn sách nay
- Dao Tiền còn có tcn Dao đeo tiền hay Dao tiểu bản
- Dao Quàn trắng, nhóm này írong Bình hoàng khoán điệp gọi lâ Dao “ khố bạch”
- Dao Thanh y hay Bnn y hay con gọi là Dao Chàm
- Dao Làn tiến còn có tên là Dao Tuyền, Dao Tiền, Dao Ảo dài, Dao Bình đầu, Dao Slanchỉ
v ề ngôn ngữ, các nhóm Dao đều có chung một th'r tiếng Dao Sự khác nha 11 về tiếng nói giữa các nhóm không nhiều, chỉ trong một sổ ÍI từ
c a híin V I th.inh điệu.
Trang 15Gần đây, PGS-PTS Nguyễn Khắc Tụng có đưa ra một phân loại
in'ri bổ xung và sửa đổi đôi chút cho cách phân loại nhóm Dao trong cuốn
“ Người Dao <7 Việt Nam ” (xem bảng phân loại các nhóm Dao ở Việt
Nam)
61 VỀ NHÓM DAO QUAN c h ẹ t
Đối tượng nghiên cứu cùa luận án là một bộ phận của nhóm Dao Quần chẹt nên chúng tôi dành riêng một mục nhỏ để nói về nhóm Daonày
Quá trình di cư vào Việt Nam của nhóm Dao Quần chẹt như sau: Dao Quần chẹt vào Việt Nam khoảng thé kỷ XIII từ Quảng Đông vào Ọuảng Vên rồi di cir vào Phú Thọ, Tuyên Quang va một bộ phận tới tận Tharih Hóa
Như đã nói câu chuyện người Dao Ọuần chẹt và Dao Tiền vượt hiên vào Việt Nam (lế tìm nơi sinh sống đã đirợc ghi lại trong cuốn sữ thi
“Đặng Hành và Bàn Đại Hộ” nay còn lưu truyền rộng rãi trong nhóm Dao này
ĩ heo các già lang pgirời Dao Quần chẹt ở Ba Vì kể lại (1) thì:
Bộ phận Dao Quần chẹt ử 3 a Vi vốn gốc ả Trung Quốc, có mặt ở Ba Vì
dã năm, sáu đời (trên 100 nãm) Tổ tiên của họ xưa kia ở Quảng Đông, nhưng vì mùa màng bị thất bát liên tiép nhiều năm, người ta đã ăn hết những gì có thể ỉin được, thậm chí phải ăn cả cỏ Không có gì để ăti nửa,
( Ị ì C ai Trìht Kùn Vện - H4 tuổi, tìri n ÌI(fp NỊúỉt • Ịỉa Vi
Trang 16mọi người đén xin vua Trung Quốc cho đi tìm đát mới để sinh sống Được vua đòng ý, hai ông Bàn Đại Hộ và Đặng Hành cùng một só ngưòi nữa vưựt biển > ào Việt Nam Khi tới kinh đô (Hà Nôi), vì hai ông không biết tiếng Việt nên bị quân Việt tưởng là giặc biên, hai ông bị bắt giam ílọ sóng trong tù khoảng ha nồm, quần áo rích hết, trời lạnh hai ông lấy tắm
“Quá sơn bảng” ra đắp Người lính canh ngục thấy vậy bèn tâu lên vua Nhà Vua xem và hiểu rõ hoàn cảnh của ho nên thả ra và con cấp lương thực và pbương tiện để cho bai ông lén núi sinh sốog Sau khi được thá ra, hai ông đi nhiều nơi thám thú tình hình rồi trở lại Trung Quốc tâu lại với vua Trung Quốc: Việt Nam có nhiều đất làm ăn, có nguồn nước trong sạch xin vua cấp cho giấy thông híinh để trỏ lại Việt Nam được thuận lợi hưn Bàn Đại Hộ và Đặng Hành cùng khoảng 300 người gồm 12 dòng họ lại sang Việt Nam bang đường biên, nơi xuất phát là Câu Giang Đoàn thuyền đi được nửa đường thì gặp bão lớn và bị tách thành hai nhỏm (ba thuyềII người Dao Tiền, bốn thuyền Dao Quần chẹt) Nhóm Dao Quần chẹt cập bờ ở Hoành Bồ (Quảng Ninh) và sau đ: tới tỉnh Tuyên Quang, Hòa Bình, Vĩnh Phú và Hà Tây
Khin và quá tiinh di cư của nhóm Dao này cũng đủ thấy họ là nlióm di cư nhiều nhất Cho tới rách mạng tháng Tám họ vẫn chưa định canh định cir đirợc Làm nương rẫy du canh ắr phải dẫn đến du cư và du cư càng nhiều thì đời sổng càng thêm cực kho Họ không sao thoát ra khỏi cái vòng luẩn quân này
Có (íiều rắt đáng quan tâm là tlù phân tán lang thang nhiều nơi như vậy, nhirng mọi phong tục tập quán xưa của họ hầu như không có gì thav đ ô • Điều này íhê hiện rõ nhắt ở bộ nữ phục cố tĩuyền của họ Néu
Trang 17nhir bộ nữ phục cua Dao Đỏ ở Tuyên Quang có đôi nét khác với Dao Đỏ ở Bắc Thái và Lào Cai thì bô nữ phục của Dao Quần chẹt dù ở đâu cũng vẫn giống nhau (ảnh 1,2).
v ề nhà cửa của Dao Quần chẹt cũng rất gi^ng nhau ở mọi nơi và chi có một loại hình là nhà nửa sàn nửa đất Dao Quàn chẹt cũng có tục thờ cúng tổ tiên, đặc biệt là thờ cúng Băn Vương, có tục cấp sắc và làm
"châu đàng" như moi nhóm Dao khác, nhưng “tết nháy” thì chỉ có ả Dao Quần chet chứ không con thắy ở một nhóm Dao nào khác Đó là điểm rất riêng của nhóm Dao này
D VỀ NGƯỢỊ DAO QUAN c h ẹ t h u y ệ n b a v ì , HÀ TÂY
Quá trình di cư cua bộ phận Dao Quàn chẹt tới Ba Vì là một quá trinh khá dài Theo các cụ già kể lại: Vào khoảng nàm 1902 có ba gia đình tới lưng chừng núi Ba Vì rồi dần đ;in thêm hai gia đình nữa Sau đó có 15 gia đình từ Phú Thọ tới rồi tiép theo lì 8 gia đình từ Hòa Bình sang Kbi lới Ba Vì họ sống ở độ cao từ 600-800m và sống phân tán theo nương rẫy, lấy tên suối đặt cho tên thôn xóm nlnr: Sui»i Hai, Suối Đen, Suối Lan, Suối Cốc Mỗi xóm 4-5 hộ, xóm nào đông cũng không quá chục nóc nhà, các xúm cách nhau khá xa và rải rác quanh núi Ba vì
Từ Hòa Bình lập lại 1954, các gia đình ngirời Dao ở đây dàn dàn
xuống núi qua các đợt định canh định cư Đen năm 1968 mới định cư thực
sự cho đến nay
Ba Vì !à một xã toàn người Dao trong số 4^ xã cua huyện Ba Vì,
phía b;ìc giáp xã Ba Trại, phía nam giáp xã Khánh Thdợnig, xa hơn nữa.
Trang 18khoảng 6km la Ạấỉ Hoa Bình Phía tây là xã Minh Quang, có đường quốc
lộ chạy từ thị xã Sơn Tây lên plié Chẹ Song song với con lộ này là Sông
Đà Phía đông là dãy BÚi Ba Vì Cách xa khoảng 3 km là cánh rừng rộng lón với diện tích 18,427ha Rừng ở đây có nhiều loại (ĩộng vật và ĩhực vật quý biếm Đen nay khu rừpg này đã đirợc công nhận là “ Vườn quốc gia Ba Vì”
Người Dao ở xã Ba Vì có hai HTX là HTX Hợp Nhấí và HTX Yên Sưn cách nhau khoảng 12km Toàn xã có 314 hộ với 1769 người (1) Nhiều hộ 0 đây cỏ mặt hàng trăm năm nay Riêng HTX Hợp Nhất, nơi chúng tôi chụn làm địa bàn nghiên cứu có 178 hộ với 1235 nhàn khẩu (trong đó có 4 hộ người Kinh nhập cư tìr nãm 1958) Tổng diện tích tự nhiên của HTX là 245 ha và bìnli quân mỗi hộ lá 500m2 đất thô cư 7000- 800()m2 đất thổ canh
Hợp tác xã Hợp Nhắt hiện nay bao gồm hai thôn: thôn Sò và thôn Hợp Nhất Thang 9/1991 theo quyết định số 1779 ỌĐ/UB của UBND Thanh phố Hà Nội cho phép huyện Ba vì giao c-liO HTX Hợp Nhất quản lý
97 ha thuộc Vườn quốc gia Ba Vì dể di chuyến đồng bào Dao xuống thấp htm định CƯ làu dài thì thôn s ể ra đời (Xem bản đồ HTX Hợp Nhắt)
Điều kiện tự nhiên cíỉa vùng cư trú của người Dao ở Ba vì:Nliiệt độ tning bình nãm ià 23°4, nhiệt độ tối cao 39°5 (tháng 7)
và nhiệt độ tối (hấp 4°2 (tháng 2) Lirợng mưa trung bình cả năm là 1917mm, lliáng cao nhắt là 438mm, tháng thắp nhắt 45mm Độ ẩm không khí trung bình ca năm là 82.5%, độ âm cao nhất 90% (tháng 9), thắp nhắt 10%
( Ị) 7heo háo cáo àia rri Ba I ỉ - Ịỉ() ỉã y
Trang 19(tháng 1), lượng bóc hơi 1.074,6mm.
Nhìn chung lượng mưa vùng này ít han, lượng bốc hơi cao hơn sườn đông, các yếu tố kh' hậu có ánh hưởng xấu gây nhiều khó khăn cho san xiiát BÔDLg rghiệp, khí hậu toàn vừng chịu ánh hưòng cũa khí hậu nhiệt
đ á ' gió mua (mùa mưa từ tliứing 5 đến tháng I ] tập trung 80 - 85% lượng mưa cả năm) Mùa khô từ tháng 1 2 đến tháng 4 mưa rắt ít, lượng mưa phân
bô không đều cộng với yếu tổ địa hình dốc nên gây Mnh trạng SÓI mòn rửa trỗi lóp đắt màu mỡ
Rao quanh khu vực HTX Hợp Nhất cỏ 4 suối lớn:
- Suối Cái bắt nguồn từ Đen Tiung đài 3000m, mới cho khu vực đồng Cung của HTX
- Suối Si bắt nguồn từ sườn tây aiíi Ba vì dài 500m tưới cho đồng Mèo của HTX
- Suối Gốc Lũ chảy qua cầu Hợp Nhất tưới cho khu vực namHTX
- Suối Cối dài 50Pm chảy qua càu s ổ tưới cho khu vực ruộnglàng mới
Ngoài ra còn một số khe suối nhỏ chảy tìr trên núi xuống cung cắp nvrữc Urới cho cây trồng và sinh hoạt cho rlân
a- v ề địa hình (liit đai
I G-Ại HOC QUỒC GIA H> V ■ Ị
Trang 20- Đia huih: HTX Hơp Nhất nằm ở sươn tây và tây - nan) núi Ba
Vì, do những uốn nép củ? nui này không theo bướng nhất định nên đĩa hình ở đây không đồng nhất Từ độ cao 200m trở xuống sưòm nghiên núi
có độ dốc 20° trở lên Từ 100-200m là địa hình đồi núi thếp, các đồi này phát triển mạnh tạo khe rãnh nhỏ chia cắt địa hình Dưới lOOm la những ngọn đồi nhỏ có (lộ dốc thoải 8n-15°, ở độ cao 70m độ dốc 3°-8° có một số vùng bang dốc tụ
Nhìn chung địa hình HTX Hợp Nhất thắp dàn theo hirớng đông hắc - tây nam
- Đắt đai: phân loại đất đưa vào độ cao so vớì mặt nước biển, tính chất đá mẹ và tính chắt sử dụng của con người Két quả điều tra khảo sát cho thấy HTX có 4 loại dắt chính:
+ Đắt đỏ vàng trên đá phiến sét và phiến sa, diện *.ch 94,352ha, đất này cliiỉ yếu là trống rừng phòng hộ, rừng đàu nguồn, cũng có thể trồng cây công nghiệp dài ngày và cây đặc sản
+ Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sách có diện tích 87,09ha Đất này có nhiều liềm năng kinh doanh cây nông - lâm nghiệp, cây ăn quả
+ Đất vàng nhạt trên phién sa xenquắczít, diện tích 46,492ha
Do khai thác bừa bãi nên đắt bị sói mòn mạnh Đất này đã được tận dụng thành đắt trồng lúa turớc
+ Đắt bicn đôi do nồng lúa nước, điện tích khoảng 16,66ha
+ Loại hình 1: trên các sirmi núi cao từ 100-200m chủ yếu la
Trang 21ivng thông, keo bạch đàn.
+ Loại hình 2 tư 50-100m chủ yếu trồng sơn dó, keo, bạch đàn quế Ở đọ cao 50m tiỏ xuống trồng cây nông nghiệp như sắn, khoai lang,
Trang 22Chưang Hai: NHỮNG DÕI 1HAY VÊ ĐỜI SỐNG KINH TẾ
A- CÁC THÀNH T ố KJNH t Ế TRƯ y Ề n T H ố N G
Ngưòi Dao Quán chẹt ở Ba Vì cũng như các nhóm Dao khác trước dâv nguồn sống chính là làm nương rẫy du canh, ngoài ra còn có săn ban, hái lươm kết hợp với thú công gia đinh và chăn nuôi
a- về canh tác Mircrng rẫy
I
Canh tác nương rẫy là loại hình canh tác chu yếu ciìa mọi nhóm Dao không riêng gì Dao Qĩiầĩi chẹt ở Ba vi Càng ngược về quá khứ, nương rẫy càng có vai tro lo lớn trong đời sống cũa cir dân này Ngày nay, tuy diện rích nirartg rẫy đã bi thu hẹp và đã có thêm một số diện lích ruộng nước, nhưng thu nhập từ nirrrng lẫy hãy cnn có vai trò nhất định đối với Dao Quần chẹt ở đây
Trái qua quá trình làm nương rẫy người Dao ở Ba Vì đã hình thành dược nông lịch (1) để hàng năm theo đó mà tiến hành sản xuất Tuy nhiên, tùy theo tliời tiết từng nãm người ta cũng xê dich đôi chút cho phù hợp
Nông lịch ciia Dao Quần chẹl ở Ba Vì như sau:
Tháng giêng: Ăn Tét Nguycn Đan, ngoài rằm chọn đất làm rẫy, trông một SD cây ăn quá
Tliang hai: Trồng ngô, khciíii, săn và trồng một số loại rau, tiếp tục chọn đắt rẵy và phát Jẫ>
Tháng ba: Làm cò n£ô lần Ihứ nhắt, liếp tục piiát rẫv
( /) ồitg OinruịỊ Tnuig Tùm - (híi vìịirm Ị n x ỉỉọp Múấ cung rốp
Trang 23Thấng tư: Tiép tục phát rẫy lúa, vun xới gốc ngô.
Tháng năm: Đốt, chọn rẫy bắt đầu tra lúa và thu hoạch vụ ngô thứ nhất, tiếp tục trồng ngô vụ thứ hai, trồng đỗ tương và các loai rau xanh
Tháng sáu: đầu tháng làm cỏ lúa lần thứ nhẩt, tiếp tục thu hoạch ngô vụ thứ nhất và trồng ngô vụ thứ hai, trồng rau xanh
Tháng bẩy: Tiếp tục làm cỏ lúa đợt hai, Kiém lâm tho sản
Tháng tám: Thường xuyên thăm mrơng lúa, trồng các loại rau, thu hoạch đỗ, sửa sang nhà cửa, kho thóc và chuẩn bị vu gặt
Thang chín: Bắt đầu gặt líia sớm, chuẩn bị nguycn vật liệu làm nhà mới, cirới xin, chuẩn bị các nghi lễ lớn (cắp sắc, chẩu đàng )
Tháng mười: Tiếp tuc gặt lúa, sửa sang nhà cửa, làm nhà mới, tiến hành công việc cưới xin
Tháng mười một: Thu hoạch lúa, khoai, sắn và các loại hoa màukhác
Tháng mười hai: Tiep tục các nghi lễ lớn
Người ta canh tác theo tháng âm dương lịch và trong những tháng này phải chụn một số ngày nhắt định để làm đất hoặc gieo trồng cũng như tbu hoạch không thê tùy tiện
Người Dao ử đây đã biết xen canh ơói vụ, nèn đất trồng được tranh thù sư dụng đến mirc độ tối đa Và cũng vì vậy mả nirơng rẫy cũng bị thoái hoa rất nhanh
Trang 24- Kỹ thuật làm rẫy lúa: Đầu tiên là việc chọn rừng, đây là khâu âucông việc hét sớc quan trọng, nhiều khi có tính quyết định đến kết quá của
c5 quá trình sản xuất Đất được chọn làm rẫy tốt nhất là đất rừng già đất
này màu m ã nbìr lớp lá muc chứa đựng trong đất uhiẽTi năm Đất rừng già
thương khai thác được lâu hơn đất khác khoảng 4-5 năm inới phải bỏ Đất
rừng già cũng có nliươc điểm là: Tốn công đốn gỗ, ton công dọn rẵy vì cây
to không cháy hét Nhiều cây to còn nằm lại trên mặl rẫy nên lãng phí đất
Sau đất rừng già là (lắl rừng Ire nứa, đất này có nhiều ưu điểm:
Khi đốt mríì cháy thì cỏ va một số cây nhỏ khác cũng cháy theo, được
nhiều tro về sau ít cỏ
Sau hai loại đắt trên còn có loại đắt thú ba là đát của nhũng rửng
thứ sinh Loại (lất này thường cho năng suắt cây Irồng thấp vã thời gian sứ
(lụng khoảng 1-2 n im là phải bỏ
Đó mới chỉ là chọn rưng, quan trọng hơn là chọn chắt đất Chọn
chất (tắt là cóng việc của những người có nhiều kinh nghiệm trong sàn
xuất, thường ngiỉời ta chọn loại đắt đen hoặc đắt có màu xám, trên đó có
cây chuối rừng hoác các cây có quả năng và xanh tốt nlnr vo vo, cà lồ
Nêu ở (tó có nhiều 0 trưng giun là đất tốt cây trồng sẽ cho năng suất cao
Rẩy ở về phía đông thường tót hơn các phía khác vì cây trồng nhận được
nhiều ánh sáng, hơn
Sau khi (tã có đât, người tn hăt tay vào việc phát rừng Đây là
công việc hét sức nặng nhọc và lâu cóng nhắt Do vậy ngi.rời u phải đổi
cônp th o nhau Tỉìy theo các loại lùng m;'i có cácli phát klníc uliau Vứi
rừng gia (hì việc dầu tiên là ciiặt phát c;íc cày nhỏ VÍ3 clíìy leo, sau dó mái
Trang 25chật các cây to v ớ i rừng nứa: phát cỏ chặt dây leo, chặt nứa, ngả nốt một_ ^ _ A
SÔ cây to
Khi rẫy đã phát xong, người ta khuân những cây to chất thành đống, rải đều các cành cây ra khắp mặt rẫy Làm rh ư vậy có mấl nhiều công sức, nhung khi đốt mới cháy hết cả cỗ, tro được trải đều khắp mặt rẫy Đốt rẫy thương đưực tiến hành vào ngày có nắng, nắng to càng tốt, đối tư chân rẫy va phải theo chiều gió Thài gian đốt rẫy vào đầu tháng năm (âm lịch), giữa thiíng gieo Irổng là k[p thời vụ
Cũng với công việc đốt dọn rẫy người ta phai chuẩn bị giống Thóc g'->ng được chợn kv luỡng Ví chọn ngav từ khi mới đirợc thu hoạch Ngườ' ta chgn ở những dám rẫy tôi nhất, những bông nhiều hạt và hạt to Những cum lúa này đem về phơi khô rồi đê’ ở nơi cao ráo như trên gác bếp
Ngưtri Dao ả Ba Vì trồng hai thứ lúa: lúa tẻ và lúa nếp Lúa tẻ có giống lúa sớm và giống lúa muộn Lúa L?ứm gồm: m ột đòi, vằn chín,
h õ n g lây thường gieo vào khi lập hạ (tháng 4 âm lịch; Lúa muộn có:
vàng dao, sụng muộn, sàm vang, quằng gỗ Còn lúa nếp có tà càm, bèo bụt coi, bro bụt vnng, bèo bụt kiệng Lúa nếp thường gieo cùng thời
ginn với líia muộn
Trong khi gieo hạt ngirời ta thiTỪng phân ra từng cặp: một nam, một nữ, cũng có khí cả hai đều là nữ Người đ< trước dùng gậy chọc lỗ, người đi sau bỏ hạt vào lỗ và lắp lại Mỗi lỗ sáu khoiỉng 3-4cm và được bỏ vào đó khoảng mười hạt thóc là du Tìiy llico nàm và cũng tuy theo rẫy tốt hay rẫy xắu mà các lỗ có khoang cách thích hợp, tlurờng cách nhau khoảng 40-SĐcin là vừa Mỗi cặp gieo một Hgny nhanh nhắt cũng ch 1 được 10-12
Trang 26kg thóc giáng thường thỉ ít hơn Như vậy một dám rẫy khoảng 3 ha mồi
cặp phái gieo từ 10-12 ngày mói xong Do vậy để kịp thưí vụ ngưừi ta phải
làm đổi cóng (ảnh 3) Gieo xong khoảng một thẢng thì bắt đầu làm cỏ đợt
một Trong đợt này phá nhố cỏ còn sót sau khi dốt và chặt những chồi
non ở các góc cây Gãn một tháng sau làm cỏ đợt hai, lúc này lúa đã cao
khoảng 40-50cm nên dung cuốc birớin hoặc nạo, cỏ được rũ sạch đất bo
chất cĩống trên bò rẫy đê cho khô chết dần Tù lúc này trử đi chỉ còn lại
công việc bảo vệ rẫy dể chim thú klio; pha huại và chơ ngày thu hoạch
Đến khi thu hoạch ca làng quy định ngày gặt, nếu gặt vào tháng
tám 'trù phải vào ngày thìa, thang chín vào ngày tị Người u quan niệm có
gặl những ngày đó thi mùa sau mói không bi sâu, chuột phá hoại Đúng
ngãy đi gặt cả làng đều lén rẫy, ai bận thi gặt một ít để về làm lễ cúng cơm
mới Gặt vào hai là công việc đòi hỏi nhiều thời gian nên người ta cíĩng
phai đổi công cho nhau Dân làng gặt xong, nếu nhà nào chưa gặt hết thì
mọi người tới gặt giúp thường |hì không lấv công mà chỉ ăn cơm của chi:
nhà một bữa Khi cả làng đã (hu hoạch xong thì làm lễ thượng điền đê trả
ơn th ầ n lua và th ổ địa cho m ộ t mùn bội tliu và cầu XÌĨ1 Dăm mới có nhiều
thuận lợi trong sản xuất
Kỹ thuật canh tác nương rẫy rắt thô sơ và ]ệ thuộc hoàn roàn vào
tự nhiên, năng suất không cao và rắt bắp bênh “một năm mất mùa, ba năm
bớt b ữ a” là điều không tránh khỏi Năm nao không bị thiên tai thì gieo 20
đắu (hóc gtống (5 đau = ^kg) chỉ thu hoạch được khoảng 90 - 100 đấu, còn
nếu khôn£ may 1 hì mất trắng
- Kỹ thuật làm rẫy ngô: Việc chọn (tắt làm rny trồng ngô cũng ũngđược tiên hành như trồng lúa Nhung lẫy ngô có thế ỉà đắt lẫn nhiều sỏi
Trang 27cũng được Người ta thường trồng ngô xen lúa Hai mươi đấu ngô giong
xen một đấu thóc Ngô giống cũng được chọn rất kỹ, phải là bắp to hạt
thẳng hàng to, chắc Ngô bắp làm oiốrg phải để nơi khô ráo như thóc
giong Khi gieo ngưíVi ta mới tẽ hạl ra khỏi bắp Chọc lô đê trồng ngô
thường phải dùng thuổng nhỏ có khi cũng đùng gậy chọc lõ Đây là công
việc của phu nữ họ vua chọc lỗ vừa tra liat Mỗi người ]hm một ngày được
khoảng 5 đắu ngô giống, có ngirừi còn làm đirợc nhiều hơn tùy vào sức
khỏe va kỹ năng của từng người Mỗi lỗ tra 3-4 hat ngô giống là vừa Sau
khi bỏ hạt xuống lỗ người ta lắy chân lấp đi để kiến hoặc chim không ăn
mắt hạt giống
Ở Ba Vì, ngươi Dao ilnrờng làm một năm 5 vụ ngõ trên các mảnh
đắt khác nhau Vụ thứ nhất trồng tháng giêng, thu hoạch tháng ba Vụ thứ
hai trồng tháng hai t lì LI hoạch tỉníng tư Vụ thứ ba trống thang ba, thu
hoạch tháng năm Vụ thứ tư tròng tháng tư thu hoạch tháng bảy (vụ này
mới là vụ chính) Vụ ihứ năm trồng tháng năm, thu hoạch tháng tnm
Ngô cũng có hai loại: Ngô tỏ và ngô nếp Ngô tẻ có: me chi, me
chi pẽn Ngô nếp có: mẹ bụi tom, mẹ bụt pe, mẹ bụt giằng Năng suất
ngô cũng bắp bênh như lúa c ứ trông 10 đâu ngô thỉ thu hoạch được 40
đfíu nhung gặp khi thời tiết không thuận lợi chim thú phá hoại thi mất
luôn ngô giống
Ngô được trồng rải rác trong nhiều tháng nên loại cây này được
trồnp nhiều phòng khi đói kem nó sẽ trơ thành lương thưc chính
- Kỹ thuật làm rẫy sắn sắn là giống cây trồng có mặt trong tập tập đoàn cày trồng của ngirời Dao rắt muộn so với ngô và lúa Song nó lai
Trang 28đưực ngưừi Dao rất ưa trồng, sắn có bổn loại: sắn trắng, sắn “ca nông”,
sắ n tây, sắn nam s ắ n đưcrc trồng lam bốn đợt tư tháng giêng cho đến thang ba và thu hoạch vào tháng tám đến đầu năm sau sắ n rất dề trồng nên người ta trồng ở nhiều nai: mé rừng, ven bãi, trên đồi Kỹ thuật trồng sắn cũng rất đơn giản Hom sắn giống chỉ cần chọn cây có thân to mau mắt chặt thành từng đoạn ngắn chừng ] 5 - 20cm rồi bỏ nằm nghiêng xuống
hố lắp đất đi là xong Sau khi sắn lên cây cliỉ cần làrn cỏ một lượt chờ
ngày thu hoạch, s ắ n có năng suắt cao (mồi gổc cho từ 1 kg - 4kg ỊCỦ) nên
được trồng rắt nhiều vừa để ăn, vừa để phuc vụ chăn nuôi
- Kỹ Ihuật trồng khoai (rên rẫy: khoai trồng trên rầy có hai loại: khoai lang và khoai sọ, mỗi nãm trồng hai vụ, vu đầu trồng tir rháng ba thu hoạch tháng sáu, vụ san trồng tháng bảy thu hoạch tháng hai năm sau Khoai sọ làm gióng Ihường là các củ to cắt iấy mắt hay trồng cả củ Còn khoai lang cách trồng không khác gì người Việt trong vùng
sản xuất, Bộ nông cụ cúa người Dao ctàng trong canh tác nưưng rẫy ngoài các rìu, con dao còn thêm cái gậy chọc lỗ, cái thuổng nhỏ, cái giỏ, cái hát nhìít, địu va đun gánh (ảnh 4)
- Bảo vệ nirơng rẫy: Ngay từ kbi mới gieo hạt xong, người ta đã làm những cây cờ bầng giấy cắm khắp mặt nương rẫy hoặc làm bù nhìn cắm trong rẫy để chim thú không \à o rẫy phá hoại Bù nhìn được làm bằng cãi dọ lợn căm vào một cái cọc rồi khoác ra ngoài cái dọ áo quần rách, tay cầm nỏt giống nhir người đang đứng canh s ắ p đến khi thu hoạch việc báo vệ ray được coi trọng hơn xung quanh rẫy được đặt bẫy hoặc làm chòi canh ngay bên cạnh ray có người lúc trực suốt ngày đém
Trang 29b- Các loại hình kinh tế phụ
Các loai hình kinh té phụ của người Dao ử Ba Vì gồm: hái lượm, săn bắn đánh cá, chán nuôi, nghề thu công
- Hái lượm lâm thố sin; Trước đây, hái lượm có ý nghĩa kinh té
khá lớn đổi với người Dao Quần chẹt ở Ba vì Trước hét nó là nguồn cung cấp thực phẩm rất quan trọng cho các bữa án thưòng nhật Hái lượm là công việc chu yếu của phụ nữ, họ tranh thủ írên đường tới mrơng rẫy hoặc sau khi nghỉ việc trên rẫy trở về nhà Cũng có khi họ tranh thú vào giờ ngliỉ giữa buổi trưa Những thứ họ kiém đirợc chủ yếu là rau rừng, măng các loại tre, củ rừng hoặc những con cua, con ốc ở dưới suối Măng, củ rừng có vai trò cực kỳ quan trong vào những khi giáp hạt hoặc bị thiếu đói Và cũng chính vì lẽ đó mà hái lượm tồn tại Inii dài trong đời sổng kmh t của (lồng bào
- Sfm bắn và đánh cá: Săn bắn không cjjỉ đế ùm kiếm thức ăn bổ xung lỉiêm chất đam cho các bữa ăn hàng ngày nó còn là một biện pháp bảo vệ mììa màng, đồng thời là nguồn vui cúa nam giới Vũ khí dung trong san bắn có lao, giáo, nô, súng hỏa mai hoặc súng kíp và một số cam bẫy Hầu như nhà ngươi Dao nào củng có nỏ, có gia đình có ba, bốn cây Tên no được vót rất công p!m Có hai loại tên: tên bạc tức tên không tẩm íhuốc độc và tcn tẩm thuốc độc Thuốc độc ơirợc lấy từ nhựa cây sui nhưng khống phải cây sui nào cũng cho nhựa làm thuốc độc tốt thirứng người ta chọn những cây ở trong rừ ig ‘íâu cây nhiều rành va cành ngoằn ngoèo nhựa mới tốt Tên được ngâm vào nhựa sui (chỉ ở phần mãi tcn)
đê khô rồi ngâm nước lã, nirớc tiếu trâu, bò khoảng một ngay la được
Có hai hình thức săn băn: Săn băn cá nhân va săn băn tâp thê
Trang 30Hình thức săn bắn cá nhân chỉ là sự kểt hợp trong một buôĩ đi ỉao động Hết buổi lao động trên nương rẫy, chiều chiều người ta mang nỏ hoặc súng vào rừng tìm mồi Con vât săn đuợc thường nhỏ như: sóc, chồn, chim, gà rừng., ít khi dược thú lớn Ngoài ra người ta con đi săn đèm Săn đêm cần phải có đèn soi và vào những ngay đêm tối trời Săn đêm Ithưrrng đươc cèy, cáo, dông cũng có khi được hoẵng, nai, lợn rừng.
Hình thức săn băn tập thế: Săn bắn tập thể cần phải tập hợp một
số người iham gia, ĩhanh niên, phụ nữ và cả thiếu niên cũng được gia nhập đoàn sãn Sau khi phát hiện thấy dấu chân thú hoặc thấy thú về phá hoai rẫy, người ta to chức bao vây nơi đó và phân công nliau đón lõng Thường thì nliửng tay nỏ hay súng giỏi (lược hổ trí trong những khe suối hay nhũng nơi' con thú có thể chạy qua Còn phụ nữ và các em nhỏ reo hò sua đuôi
đê thú sợ chạy vào lõng Thíí Síìn dtrợc thường chia đều cho mọi người tham gia cuộc săn Những người bấn phát đạn hoặc tên nỏ đầu tiên trúng vào con thú đirực thêm cài cổ đê cúng thần vũ khí và thổ địa
Ngoài mắy hình thức vừa nói trên đồng bào còn dùng một số loại bẫy nhir: bẫy kep bấy thòng lọng, bẫy chọc, bẫy chuồng, bẫy sập
- Đánh cá: thường chỉ những nơi gan suối, sông mới có điều kiện (tê Ihirc hiện, c ó một số hình thữc bắt cá như tát nước bát cá, ruốc cá bàng các loại lá hoặc thân cây có độc tố, nhứ cá vào quang bằng mồi cám hoặc giun Ngoài ra ngirời fa còn kiếm cua, ốc ếch rắn, rùa đè làm thức ăn
- Các nghề thu công gia đình: Ngirời Dao ở Ba Vì từ lâu đã không irồng bông và cũng không dệt lắy vải Vải đê may quần áo phải mua rồi nhuộm chàm cắt quần áo Ngirời ta trồng cây d ià m ở trên nương vào khoang
Trang 31tháng 2 hoặc tháng 3 (âm lịch) đén tháng 6, 7 cây già người ta cắt về ngâm
nước khoảng 6, 7 ngày lá chum nát hét, lấy nước chatn lọc qua tro bếp,
khuấy đều đến khi nổi bọt màu xanh tí ra, sau đó cho vôi bột vào Ọua vài ngày VÔI đã thấm lắng dưới vại, đó là cao chàm Két hợp với chàm là nuớc
của bốn cây khác dề thài, chèng meng, ho dang, lú ôi Khi được hai thứ
nước này người ra hòa chúng với nhau theo mộr tý lệ thích hợp là nhuộm vải được, vải ngâm qua nước lã trước kliì nhuộm mới khống bị loang lổ Vài nhúng vào nước chàm rồi vắl khô đem phưi v ả i khô lại làm tiếp như thế nhiều lần khi vải có màu vừa ý ngươi dùng thì thôi không nhuộm nữa Quần áo may xong mới thêu hoậc đáp thêm những miếng vải đã được thêu
từ trước Ché bié 1 chàm, cắt may, khâu vá, thêu thùa đều là công việc của giới nữ
Ngoài việc sản xuất quần áo, người Dao còn có đồ đan bằng tre, nứa hay song mây Những sản phẩm này chủ yếu la đê dung chưa phải là hang hóa
Việc Irao đổi mua bán còn hạn ché Đôi khi họ cũng có một số sản vật nlur: mật ong, mộc nhĩ, tắc kè đưa ra chợ ban để lấy tiền mua sắm các đồ nhật dùng Chỉ có những người biết là'm nghề thuốc nam mới đem bán ở các chợ, đôi khi họ cũng đi rất xa để bán Nhưng không thê coi đây IÌ1 hoại động thương nghiệp V Ớ I đúng nghía cua nó
c- v ề phmrng tiện vận chuyển
VỚI đời sống du canh du cir trên triền oúi cao nèn đường xá đi lại hểt sírc khó khãn c h i yếu là các con clirờng mòn* hoàn toàn khỏnơ tliuân lợi cho hất cứ một loại xe cộ nào Phirơng tiện đirrmg thủy khòng có vì xa
Trang 32sông, các con suối thường ngắn và dốc không thể dùng bất kỳ một phirơng tiện thúy nào dù đơn ipảlii nhất chỉ là con mảng, v ì vậy, đi lại, vận chuyển chỉ bằng đôi chân với năng hrợng cơ bẩp.
B- S ự THAY Đ ổ i v Ề ĐỜI S ố N G KINH TE
Người Dao ở Ra Vì tnrớc Cách mạng Tháng Tám với lối song du
canh du cir ncn vô cùng khổ cực CTiỉ từ sau Cách mạng Tháng Tám, n h it
là rè năm 1954 đến nay đò) sống kinh tế của đồng bào mới có nhiều thay đổi
Nhir đã nói, đê tínắy được quá tnnh biến đổi trong lĩnh vực kinh
tế cua người Dao ở đây, chúng tôi chọn HTX Hợp Nhất xã Ba Vì, Hà Tây làm điểm nghiên cứu
Tư hòa bình lâp lại, Đảng \à Nha nước ta triển khai chủ trưang định canh định cư gắn liền với con đường làm ăn tập thê đối với một số dân tộc miền núi, trong đó có ngưừi Dao ở Ba Vì Trong hai năm 1955 -
1956 người Dao ở đây thanh lập tổ đổi công theo từng khu vực nhir: tổ đổi công suối Lan 9 hộ, suối Cốc 7 hộ, suối Đẻ í ì 8 hộ, Đá Ngẩng trên 7 hộ, Đã Ngẩng diráì 11 hộ Lúc đầu các to đổi công này được xây dựng trên cơ sở mọi ngtĩời giúp đỡ lẫn nhau về sức lao động Dần dàn tiến lên bình công chắrn điểm và tương trợ nhau thường xuyên Đó là bưác chuẩn bị để xây dựng HTX nông nghiệp Ở Ba Vì lúc đó, do điều kiện cho phép người Dao
ở đây từ tô đổi công lên thăng HTX cắp cao Theo chủ trương: “Nhữnp nơi đồng bào còn du canh, du cư, phần lớn ruộng đất là của công, căn bản không có tir hữu về ruộng đắt, thì cũng có thê đi từ dối công thường xuyên
Trang 33có bình công chí-m điểm lên (hẩng hợp tác xã bậc cao không cần qua bậc
thấp” (38) Nhưng thực té ở đây không tlìê tố chức thành các HTX có quy
mô lớn và uũng không phrii trên cơ sở canh tác ruộng nirớc Bởi vì bà con
cư trú rất phân tán theo tung nhóm nhỏ trên sươn núi, cho nên chi có thế thành lâp ĨITX v< 1 quy mô vìra và nhỏ vẫn trên cơ sở làm nương rẫy như
cũ Trong hat năm í 961-1962 ở xã Ra Vì đã thành lập được 4 HTX là: Đá Ngẳng, 1 8 hộ, Suối C ố c 3 hộ, Suối Hai 9 hô, Suối Đen 8 hộ Các HTX này chủ yếu vẫn làm nương Chỉ có HTX Đá Ngẳng có 4 mẫu ruông và HTX Suối Đền có 3 mẫu Như vậy là mới có hai HTX đã định cư nhưng con du canh, các HTX còn lại vẫn boàn toàn du canh
Việc thanh lập các HTX nhir vậy hãy còũ mang tính chất hình thức đơn giản Ví dụ HTX Suói Hai dược thành lâp cù năm 1961 có 9 hộ với 26 lao động trong đó có 23 lao động chínlì và 3 lao (lộng phụ HTX này vẫn làm nirơng và khả năng quản lý rất ihắp kém Ban quản lý HTX quy định xã viên làíĩi xong rầy của HTX mới được làm rẫy riêng cíỉa minh Diện tích canh tác của IITX quá ít (5 ha rẫy) nên xã viên phải làm riêng nhiều nơi mới đủ ăn Ban quản trị quy định mỗi nhân khẩu phải góp 3kg thóc, 2kg ngô, I kg gừng đế làm giống Công cụ sản xuất là riêng của tưng
hộ xã viên HTX vẫn canh tác tlico lỗi cũ, gặt đập trên rẫy rồi đem về chia theo công điểm Năm này qua nãm khác ban quản trị chỉ bàn giao tinh hình sau mỗi nhiệm kỳ bằng miệng vã không có so sách gì
Với lình hình như trên HTX klìông thê kéo dài mãi được, HI X không tỏ rõ tính hơn hần cua làm ăn tập thê mà còn hạn chế sức sáng tạo của xã viên Do đó vắn đề đặt ra là người Dao phai xuống núi làm m ông niróc thì đời sống kinh tê mới có thê thay đối Vì vậy, trong hai năm 1962-
Trang 341963 người Dao ở Ba Vì đã xufíng núi làm ruộng nước và từng bước định
cư.
Trong ba HTX thi HTX Suối Hai có 16 hộ và 16 mẫu ruộng,
HTX Đá Ngãng 18 hộ, 1 2 mầu ruộng, HTX Dồng Cung 9 hộ, 9 mẩu ruộng
Khi định canh định cư việc cư trú có ổn định hơn, cơ sở kj ìh té cũng vừng hơn Đen lúc này đã có kha năng hợp nhắt ba HTX thành một và HTX Hơp Nliắt đá ra đời
Hợp tác xã mới có tên là HTX Hợp Nhất có 52 hộ, 369 người chia làm hai đội: đội sản xuắt và đội khai thác Đội sán xuất có 95 lao động và đội khai thác có 35 lao đông Như vậy là từ cuộc sống du canh du
cư đã bao đen nay, đén năm 1968 đồng bào Dao Quần chẹt ở Ba Vì đã xuống núi và đinh cư hoan toàn Việc ha sưn và định cir này có ý nghĩa to lớn, [hực sự là một cuộc cách mang, bởi vì nó đã làm thay đổi phương Ihức làm ãn: canh tác ruộng nươc, làm vườn, lâm nghiệp, chăn nuôi, trao đổi và Irở thành các hình thức pho biếu của hoạt động kính té
Đe tlhấy rõ quá trình thay đôi đó xin dẫn một vài con số về kinh
tế của HTX Hợp Nhất
Trang 35Bổ tri sử dụng đất t(H<n HTX năm 1992 - Phân định tính chắt sử dụng
Trang 36Diện tích nãĩig suát - sản lượng một sổ cây chính
DT (ha) NS (t<yha) SL (T) DT(ha) NS (tạ/ha) SL (T)
14,35% so với tồng diện tích tự nhicn l o à n HTX chỉ có 36 ha diện tích
trồng lúa nước cấy VU màu là chủ yếu, vụ chiêm bô hóa gần một nửa đo
thiếu nirớc Giống lúa chủ yếu là bào thai, CR 203, tập quán canh tác lạc
hậu trình độ thâm canh thấp do năng suất lúa vụ mùa từ 25-28 tạ/ha, vụ
đông xuân chỉ đạt l5-17tạ/h:i (ảrih 5,6)
Diện tích ruộng ít, năng m ắt thắp nên thóc không đảm bảo mức
ăi) tối thiểu, hàng năm HTX còn phát đốt nirơng khoang lOOha lúa rẫy,
nhưng năng suấl thắp và bấp hênh ch 1 đat 8-10tạ/ha Ngoài ra bà con còn
tận dụng đất trồng rừng để trồng sắn, rong riềng Năm 1991 sản lưcrng
mi
Trang 37'ĩig rièng toàn HTX đat gần 600 tấn.
- Thế mạnh của vùng này là nghề rừng, trước đây HTX quản lý
00 ha trong đó có 250 ha đất lâm nghiệp, từ năm 1986 đén 1991 HTX đã 'ồng được 133 ha rừng gồm Keo, bạch đàn Năm 1992 Nhà nước giao
ho HTX 97ha khu vực thôn s ố để di dẫn xây dựng làng mới trong đó có
kỳ khai thác có thế tận dụng (tược 1-2 vụ sau đó thanh lý chuyên hướng cây Irồng khác
Rưng mới trồng 13?ha hạch đàn và I 7ha keo tai tượng do quản
lý chưn tổt nên bi tàn phá nhiều lần mât độ rừng thưa, một số diện tích
Trang 38ng cân phải trồng lại.
Đất không còn rùng chủ yếu trên cao từ lOOm trở lên nay thuộc
ườn quốc gia Ba Vì quán lý
Việc chăn nuôi gìn súc gia cầm được íién hành trong phạm vi gia
íình là chính Tông đàn trâu bò đén nay có khoảng 20C con trâu và 60 con
>o Trâu bò chăn nttôi theo phương thức thả rông, chira tận dụng được
Ìguổn phân, Cơ cấu đàn được hình thành tự nhiên do vậy khả năng sinh
ìản phát triển chậm Tóng đàn lợn đến tháng 2-1992 có 300 con trong đó
có 90 lợn nái Trung bình mỗi gia đình có 2 con, việc chăn nuôi rất đơn
giản nên binh quân trọng lượng xnắt chuồng chỉ đat 40-50kg/con Gần đây
một số gia đình đã IIIIÔĨ lợn lai, năng suất có cao hơn.
Ớ trên mới chỉ ỉà những con sổ và một vài nhân xét chung Neu
chỉ ílirng lại ở đây tbì chúng tn chira thắy hét những khó khăn và sự cố
gang vươn lẽn xây dựng cuộc sống B3ỚĨ ciia đồng bào Dao trên địa hàn
nay Vĩ vậy chúng tôi xin đề cnp đến những khó khăn và quá trình tiếp thu
phirơng thức canh tác mới là ruộng nirớc, Làm viPồn gần nhà và làm lâm
nghiệp đê làm sáng tỏ nhũng chuyển biến mới
- về lam ruộng nirớc: Đã tìr bao đời nay những cư dán này cht sóng trt*n cao với nrng với rẫy, chira biết đến ruộng nước Chỉ từ khi hạ
sơn và định canh, đồng bào mới biết đến ruộng nước Hay có thể nói
ngirơc lại In cln từ khi có ruộng nirớc đồng bào mới có điều kiện đé định
canh định cư Canh tác ruộng mrớc là phương thức canh tác hoàn tonn mới
lạ nên mọi tập quan sản xuât cũ - rurơng rẫy (lu canh tro nên lôi thài không
thích hợp Bữa phải hoc tù đầu, r á i khó trước hết là phải bỏ tãp quán sản
Trang 39lất đã quen từ bao đời Đáy là cuộc đấu tranh gay gắt giữa cái cũ và cái
ới “Van sự khải đầu nan” can trở lớn nhất và cũng là trưnrc hết là tệ nạn
lê tín dị đoan Xuống núi định cư sợ mồ mả phải đế lại không ai trông
om, sợ ma nhà không cho đi, sợ ma ở đồng bằng không cho đến Theo tập
[Uấn cũ, trước khi di chuyển nưi ở mới, nơi canh tác bao giờ đồng bào
:ũng phải xem bói, xem quẻ, nếu ma nhà cho đi thì mới đirợc di Và khi đi Igirời ta cũng chi (lể cho một số hộ đi trirớc thăm đò Sau đó mới kéo theo
cả làng đi tiép Đi hay ở còn do tliiìy mo quyổt định VÍ1 bao giờ thầy mo cũng là người đi sau cùng vì phải ở lại giữ miếu Khi dân làng đã yên vị ở làng mới thì ông mo cúng hái dỡ miếu rnang về làng mới
Bên cạnh nỗi lo sợ trên, đồng bào xuống núi ở thì oi bức không sống nổi Việc thu nhặt lâm thổ sả i khó khăn lãm ruộng nước chưa quen
sợ không làm nổi sẽ đói khố Kỹ thuật canh tác ruộng nước hoàn toàn mơi mé, chưa bao giờ đồng bào cầm đến cái cay, cái bìra, chưa biết thế nào la gieo mạ, bỏ phân, cắy Đặc biệt là người Dao ở đây rất sợ dùng phân bón ruộng, họ không chi sợ bẩn mà còn rất sợ uế tạp, hồn lúa quờ trách, người ố‘m, mùa màng sẽ bị thất bát, cho nên có ngirời đã cáo ốm không chiu đi bón phân cho lúa
Đè vượt qua những khó khăn ban đầu này, tổ chức Đảng và chính quyền ctịa plurơng clã vận động một số hộ gia đình ngưrvi Kinh, người Mường ở xà Minh Quang nhirợng cho HTX Hợp Nhất 30 mẫu ruộng và cử cán bộ về giúp bà cơn kỹ thuật tam ru ộ 11 £ nwớc Chỉ trong một thời gian ngắn bà con đã biết cày bừa, không chỉ có nam ma cả nữ cũng làm thành Ihạo Ruông của HTX đã được cày ha lirơt lượt dầu cày xonp để cách độ 5-7 Ngày cày lượt thứ hai sau đó vài ngày bừa lirựt thứ ha và cắy Cày
Trang 40/ri£ là cày 51, cày 58 và dùng trâu bò kéo.
Vc làm mạ: lúc đầu chưa quen làm không đúng kỹ thuật nên mạ
long nhiều nhưng rồi cúng đat đirợc kết quà tốt Cun việc cấy đổi với
con là việc làm rắt khó khãn Mứi đáu không chỉ cắy không thẳng hàng
cây ma còn đô nghiêng đô ngả Cây không thang hang nên phải làm cỏ
\ bằng tay vừa lâu lại vừa không kỹ Dần dần công việc quen rồi thì
ng làm đirợc và việc làm cỏ đã (lùng bằng cào
v ề phán bón ruộng, mới đầu đồng bào chỉ biết dùng hai loại:
lân hữu cơ, phân chuồng và phàn xanh Giờ đây đã biết kết hợp cả với
hân vô cơ, do vậy mà năng suắt cây trồng tăng lên rõ rêt
Việc thu hoach, nếu trước đây cắt lúa bằng cái hái nhắt thì nay
ã dùng liềm kể cả lúa tẻ và lúa nếp Lúa đirợc đưa về dùng máy «51101
ùíng đap chân hoặc chạy điện chú kliông còn cảnh đập lúa tại ruộng như
ura kia
Nhìn chung, đồng hào (tã nắm (tirợc kỹ thuật trồng lúa nirức và
(tến nay cũng thành Ihạo chắng kém gì ngirời Việt, ngươi Mường quanh
vùng
v ề nông cụ sân xuất, nếu nhir trircrc đây chi có con dao cái rìu,
gậy chọc lỗ, cái giò, cái hái nhắt thì nay hệ thống nông cụ phong phú