Nhưng phải nhìn nhận rằng bằng sự trăn trở, tìm kiếm, với nhiều phong cách đa dạng, đội ngũ những người viết truyện ngắn sau năm 1975 dã góp phẩn không nhỏ trong việc kế thửa và cách tá
Trang 1B Ạ I n ọ c QUỎC G IA OÀ NỘ I TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VẢ NV
Trang 2M I HỌC QUỐC GIA KÀ N• * »' ộ i• TRƯỜNG ĐẠI HỌ C KHXH V À NV
Lê Thị Hường
s
NHŨNG ĐẶC ĐIỂM c ơ BẢN CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
Người hướng dãn khoa học :
Giáo sư Phan Cự Đệ
Trang 3Chúng tôi xin chân thành cám ơn PGS-PTS Mã Giang Lãn người
đã động viên, giúp đỡ chúng tôi rất nhiều để hoàn thành luận án.
Chúng tôi chân thành cám ơn các đồng chí trong tổ Văn học Việĩ nam hiện đại trường Đại học KHXH và NV đã góp ỷ và ĩrao đổi thẳng thắn, chân tình trong quá trình thực hiện bản luận án này.
Chúng tôi không quên ơn thầy Trần Văn Hối đã cố những giúp đỡ quí báu lừ ngày chúng tôi bước vào đại học.
Cuối cùng xin chân íhành cám ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè gắn xa đã động viên khích lệ và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều mặí trong suối quá trình làm nghiên cứu sinh.
Trang 4MỤC LỤC
I Tính cấp thiết của đề tài nghiẽn cứu
II Lịch sử vấn đề
III Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu
V Phương pháp tiến hành
VI Một số khái niệm sử dụng trong luận án.
Phần thứ hai'. Nội dung chính CHƯƠNG I ĐẶC ĐlỂM c ố t tru y ệ n v à k ế t cấu
TRUYỆN NGẮN 1975 - 1995
I Những vấn đề lý luận
n Đặc điểm cốt truyện ngắn sau 1975
m.Đặc điểm của đơạn kết trong cấu trúc truyện ngắn sau 1975
IV Xu hướng vận dụng các môtip folklore trong việc dựng truyện
CHƯƠNG II HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRUYỆN NGAN 1975 -1995
ĩ Quan niệm nghệ thuật vê con người trong truyện ngắn sau 1975
II Nhân vật truyện ngắn, các dạng thức và những phương thức
II Những hình thức biểu hiện của thời gian, không gian nghệ
thuật trong truyện ngắn sau 1975.
CHƯƠNG IV NGÔN NGỮ TRUYỆN NGAN 1975 - 1995
Trang 5qua những thành tựu sáng tác cá nhãn, mà còn thể hiện rõ ở
sự biến đổi những nguyên tắc thế loại, nhữ ng phương thức và phương tiện nhận thức cuộc sông Tất cả làm thành một khuôn mặt mới m ẻ, đa dạng của truyện ngắn dương đại mà chúng ta cần khảo sát.
2 Thật ra truyện ngắn không phải là thể loại duy nhất, nhưng
tậ p trung nhiều nhất những yếu tô" của một nền văn học đang đổi mới Một quan niệm nghệ thuật mới về con người, một cảm hứng nghệ thuật mới, sự pha trộn vả mở rộng các phạm trũ thẩm mỹ, các phương thức tiếp cận mói tất cả những vấn dề dang diễn ra trong văn học hôm nay dược biểu hiện một cách
tự nhiên, da dạng vã khá hoãn chỉnh ở thể loại “nhỏ” nãy Vì vậy, tìm hiểu truyện ngắn tứ 1975 - 1995 là việc làm cẩn thiết Khảo sát sự phát triển của truyện ngắn hiện nay dể thây rằng qua các thời kỹ lịch- sử, diện mạo, bản chất của thể loại dã thay dổi nhiều Truyện ngẵn tứ 1975 dến nay không chỉ là sự tiếp nối các giai đoạn trước Đó còn là sản phẩm riêng của thời dại hõm nay một bôi cảnh lịch sử ^tâm lý xã hội phong phú vã phức tạp Đồng thời nó cũng là sản phẩm của những cá nhân nhà văn luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới.
Sự phát triển của truyện ngắn chứng tỏ xu hướng của cả một thể loại đang tìm cách vận động dể phù hạp với thực tiễn dây phức tạp hỏm nav Xét vê mặt thể loại, cõ thể nói rằng ngoài việc phát triển những nét đặc trưng của truyện ngắn dân tộc, truyện ngắn tứ 1975 đến nay đã góp phần dưa văn học Việt Nam bắt kịp văn xuôi hiện dại thế giới ở nhữ ng phần tinh túy Nghệ thuật đồng hiện, kỷ thuật độc thoại nội tâm, dòng ý thức, biện pháp lưỡng hoá, grotesque, cam aval , sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, truyện được kể bằng nhiều giọng đ iệ u là những vân dề ít nhiểu còn mới mẻ trong văn xuôi Việt Nam, dã
Trang 6được truyện ngắn vận dụng, biến hoả trên tinh thẩn dân tộc hiện dại.
3 Nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn tứ 1975 - 1995 luận án khổng chỉ với mục đích khẳng định giá trị mọi mặt của một thể loại mã còn nhằm ỷ hướng chú trọng tính tích cực của những chủ thể sáng tạo Su y cho cùng, sự phát triển của vãn học nói chung và sự tiến triển của bản thân truyện ngắn nói riêng gắn
bó hữu cơ với việc khẳng dịnh cá tính sáng tạo Đó cũng là cách
mà Bakhtine dã dùng để nghiên cứu nhiều tác giả, tác phẩm và
dã “dem lại một cái nhùĩ mới mẻ không chỉ dối ưới những sáng tác của tửng nhà ưăn cụ thể' mà còn dối với vân học” (6.6). Chỉ một lát cắt đồng dại, truyện ngắn qui tụ đầy dủ tã’t cả những thế hệ nhà văn Không loại trứ nhau, các cây bút truyện ngắn vừa tiếp nôi vừa chịu ảnh hưởng lẫn nhau, vữa bộc lộ bản lĩnh sáng tạo riêng Nguyễn Minh Châu thâm trầm triết lí Nguyễn Quang Sáng bỗ bã, hồn hậu Nguyễn Huy Thiệp sắc lạnh Phạm Thị Hoài buông thả, phá cách Phạm Hoa trẩn trụi, tự nhiên Nguyễn Bản mượt mà, lãng mạn Nguyễn Thị Thu Huệ đời thường Nguyễn Thị Ấm vữa hiện thự c,vừ a huyền ảo Phan Thị Vảng Anh
“tung tửng” nhưng sâu sắc và biết bao nhiêu tên tuổi khác làm thành tính chất đa giọng điệu của truyện ngắn hiện nav Dĩ nhiên, chưa thể làm công việc hơi vội vàng là khẳng dịnh ngay một đỉnh cao cho văn học giai đoạn mới Nhưng phải nhìn nhận rằng bằng
sự trăn trở, tìm kiếm, với nhiều phong cách đa dạng, đội ngũ những người viết truyện ngắn sau năm 1975 dã góp phẩn không nhỏ trong việc kế thửa và cách tán thể loại - lãm cho truyện ngắn ngày càng mới mẻ, phong phú hon.
Chúng tõi không xem cách tiếp cận vã lí giải của luận án là toàn diện, có thể giải quyết toàn bộ vân dề cua truyện ngắn hôm nay Chi xem dây là một sự dóng góp dể khẳng định một thê
3
Trang 7loại có nhiều đổi mới đáng kể trong văn học nước nhã trong giai doạn mới.
II L ỊC H s ử VẤN Đ Ề
1 Tinh hình nghiên cứu lí thuyết truyện ngán
về tiểu thuyết và kí xưa nay dã có nhiều công trinh nghiên cứu Riêng về lí thuyết truyện ngắn các công trinh nghiên cứu chưa nhiều Trong các sách lí luận dang lưu hành, truvện ngắn chỉ dược điểm qua và ghép chung với tiểu thuyết.
Hà Minh Đ ứ c trong giáo trinh Co sỏ lí luân văn học, phần Loại thể văn học (tập 2) dề cập truyện ngắn trong môi tương quan với tiểu thuyết, truyện vừa Ổng so sánh vã nêu ra những điểm gióng nhau, khác nhau cơ bản giữa ba hình thức thuộc câu trúc
tự sự này Nhả nghiên cứu dã nêu lẽn một số’ đặc trưng cơ bản của truyện ngan: “Truyện ngắn khõng nên quá dái d ể gây nén
sự dài dong” “Thật khó d ể qui dịrửi khuôn khô' truyện ngắn cho vừa phải, ưđn dề là tuỳ thuộc ỏ dõĩ ticợng uà nội dung phải xúc tích dến mức không thừa cău thừa chữn (26,410)
Trong công trình Tiếu thuyêt V iệt Nam hiện dại (1975) đê làm nổi rõ những dặc trưng cơ bản của tiểu thuyết, Phan Cự Đệ
dã dành một phần để so sánh với truyện ngắn Theo ông “Nét tiêu biếu của truyện ngấn là tính cô dọng > tập trung và khả năng diễn dạt tối da những thủ pháp nghệ thuật” (16,132). Nhìn chung các
ý kiên của Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ đều phũ hợp với thự-c tẽ truyện ngắn tứ sau 1975 dến nay.
Trong bộ giáo ư ình L ý luận văn học (1987) Trần Đình sử quan niệm : ‘Truyện ngấn nói chung khõng phải ỉả truyện của nó ngấn, mà vì cách nắm bất cuộc sống của thế loạ.ư. Đôì chiếu truyện ngăn với các hình thức tự sự khác, Trẩn Đ inh sử cho răng “khuôn khó ngắn khiến cho truyện ngấn có vẻ gẩn gũi với
Trang 8các hình thức truyện kế’ dân gian hoặc ký ngán, nhumg th ự c ra truyện ngẩn gần gũi với tiểu thuyết hơn cả bởi lả hình thức tự
sự tái hiện cuộc sống dương thời” (86 240) Õng củng dề cặp tới tính chất báo chi của truyện ngắn và nhìn nhận truyện ngan là thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hàng ngày Như vậy Trẩn Đình Sử khống dặt nặng tiêu chí “trường dộ” dể xác dịnh ưuyện ngắn Ồng nhấn m ạnh đến “chất tiểu thuyết” và tính chất dân chủ của truyện ngắn - dâý lả nhữ ng vân dể được đặt ra khá tập trung ở truyện ngắn hiện nay.
Nghiên cứu truyện ngắn như một đôi tượng dộc lập đấng chú
ỷ là chuyên luận s ổ tay người v iết truyện ngắn của Vương Trí Nhàn (1988) Đ ây là một cõng trĩnh biên soạn hữu ích cho người viết truyện ngắn Tác giả dã cung cấp một sô' tư liệu cần thiết
và nêu ra một sô' vấn đề lí thuyết truyện ngắn.
Qua việc tập hợp ý kiến kinh nghiêm của nhiều cây bút có- tên tuổi trong vã ngoài nước tác giả cho thấy tính chất phức tạp trong việc định nghĩa vã xác dinh đặc trưng và thể loại, về 1}> thuvết truyện ngắn Vương T rí Nhàn cũng gộp chung vào phần lý luận tiểu thuyết Ổng cho rằng “Trẽn nguyên tác không có lý luận riêng về truyện ngấn, ơ dăy chỉ có văn dề mà người ta quen gọi
là dung lượng : truyện dài hay ngấn, còn như phản ánh về con người như thế nào, trẽn cơ sỏ một quan niệm triết học ra sao, môĩ quan hệ với con người với hoàn cảnh là thuận hay nghịch Bấy nhiẽu thứ thuộc phẩn lý luận về tiểu thuưết Truyện ngấn chỉ
lá một dạng tiểu thuyết dặc biệt” (71,140). Như tác giả tự đánh, giá - một trong nhữ ng chỗ yếu của chuyên luận lã không đề cập đến nhữ ng nét mới của truyện ngắn gần đây Chuyên luận thiên
về dẫn chứng truyện ngắn nước ngoài, sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam chưa dược dành chỗ đúng mức Phần truyện ngắn
từ sau 1975 chưa dược đề cập.
5
Trang 9Nhìn chung, trong các công trình nêu trẽn lý thuyêt truyện
ngắn về cơ bản cũng nằm trong lý thuyết các thế loại văn xuôi.
Trong một giáo trình lý luận thể loại, Năm bài giảng về th ể loại
(1992), Hoàng Ngọc Hiến chỉ nêu 5 thể loại là Kỹ, bi kịch, trường
ca, anh hùng ca và tiểu thuyết Truyện ngắn không dược xem xét
như một đôi tượng dộc lập.
Trong cuõri Nhâp môn văn học của ba tác giả Sylvan Bamet,
Morton Berman và William Burto - Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới
thiệu, một tập sách giới thiệu những khái niệm lý luận văn học
vã thi pháp học với những quan diểm khá mới mẻ - chỉ đề cập
truyện ngắn trong phần chung là “truyện”.
2 Tình hình nghiên cứu truyện ngẩn giai doạn 1975 - 1995.
Tữ 1975 đến nay, truyện ngắn là dôi tượng quan tâm hãng
dầu của các nhà văn, nhà nghiên cứu củng như bạn dọc Ý kiến
về truyệrì ngắn được dang tải khắp nơi Truyện ngắn sau 1975
đã gây ra nhiều cuộc ưanh luận sõi nổi với nhiều ỷ kiến khác
nhau Đáng chú ý lã cuộc hội thảo về truyện ngắn tổ chức tại
trung tâm văn hoá Văn Miếu - Quôc Tử Giám ngày 12 - 11 -
1991 do Ban sáng tác Hội nhà văn Việt Nam, Tuần báo Vãn nghệ
và Trung tâm văn hoá Văn miếu, Quô'c Tử Giám phôi hợp tổ chức
Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã phát biếu Ỷ kiến
xoay quanh ưuyện ngắn sau 1975 Văn nghệ đã lược dịch một
sô' ý kiến dăng ở báo V ăn nghệ sô' 48, ngày 30 - 11 - 1991.
2.1 Những bãi nghiên cứu, nhữ ng ỷ kiến về những ván đề khái quát của truyên ngắn sau 1975.
Trong bài Văn xuôi sau 1975 - th ử thăm dò dôi nét về qui
luật phát triển (Tạp chí V ăn học Sô 4/1991); nhà văn Nguyên
Ngọc bước đầu phát họa chân dung văn xuôi sau 1975, trong dó
ông khẳng định vai trò hàng dầu của truyện ngắn Theo Nguvên
6
Trang 10Ngọc, truyện ngắn hiện nay dang vượt qua tiếu thuyêt “Nó sớm dạt dến tính khách quan xã hội cao hơn, nó di thảng vào những vấn dề thăn phận con người, thế giới bẽn trong của con người,
ý nghĩa nhãn sinh, lẽ sống con người ỏ dời sâu và sắc hơn”
Nguvẽn Ngọc nhân mạnh đến sự phát triển của truyện ngắn, nêu
ra nguyên nhân, trong đó ông nhân mạnh dến nguyên nhân bẽn trong', do sứ c mạnh riêng độc dáo của thể loại Nhận định của Nguvên Ngọc về vai trò hàng dầu của truyện ngắn thật ra chỉ đúng trong tình hình văn học ở giai doạn dầu những năm 80 Hiện nav tiểu thuyết đã phát triển song hành củng truvện ngắn, nhưng truyện ngắn thu hút người dọc hơn và thể hiện dậm nét hơn phong cách, dâu ân cá nhân của nhà văn Nhìn chung, mới chỉ là thăm dò và trong phạm vi một bài báo, tác giả chưa bao quát dược những dặc điểm cơ bản về mặt nội dung lẫn hình thức của truyện ngắn sau 1975-
Gẩn đâv, trong bài Truyẽn rất ngắn - tác phâm nghê thuật (1994), nhận xét về truyện cực ngắn (truyện mini) Nguyên Ngọc củng nhấn mạnh đến nguyên nhân của sự phát triển thê loại Theo ông đó lã “do cả một qua trình thường dược gọi là dõi mới vãn học trong suôi gần 10 năm qua dã công phu uà cả dũng cảm nữa - chuâh bị cho nó : quá trình văn học cày xới cánh đổng hiện thực xã hội phong phú, phức tạp, ngốh ngang tạo nên một khõĩ lượng tư liệu, nguyên liệu xã hội và nhãn sinh dồ sộ cho sự chung cất, chát ỉọc này” (8,7). Nhận định về sự dổi mới thi pháp truyện ngắn sau 1975 (cụ thể qua loại truvện cực ngắn)
Lẽ Ngọc Trả cũng tim về nguyên nhân Theo ông, sir biến dõi thi pháp đó xét đêh củng là bắt nguồn tữ nguyện vọng của văn học muôn viết, nhiều hơn về đời thường, về con người với những cảnh ngộ khác nhau, không phải lúc nào cũng đầy chất “sứ thi bi hùng hay dữ dội” (8,125).
Trang 11Đặng Anh Đào viết một loạt bài báo trong dó có dề cập một sô' vấn đề của truyện ngắn sau 1975 Sự xuất hiện của nhả nghiên cứu văn học phương Tây trên ưnh vực truyện ngắn Việt Nam dương dại chứng tỏ vị trí và sức hấp dẫn của truyện ngắn hiện nay Trong bài Môt hiên tmỵng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay (Tạp chí Văn học, sô’ 6/1991) Đặng Anh Đào nêu ra hai khái niệm mới : “Phản cô’ tích” và “giả lịch sứ ” dể dặt tẽn cho một cách tiếp cận hiện thực của truyện ngắn hôm nay Bà gổp cả hai dạng trẽn thãnh một dể phân tích, với lý do
- theo bã cả hai dều có một dâu hiệu chung lã chât “nhại Lại”
(parodie) Nhã nghiên cứu cho rằng chát parodie này là căn cứ đẩu tiên để suy ra những nét độc dáo của một loạt truvện cua Nguvễn Huy Thiệp và các tác giả khác Bằng những lập luận chặt chẽ, logic, các bài báo của Đặng Anh Đào dù không đề cập trực tiếp đến truyện ngắn, vẫn gợi dược những vấn dề mới mẻ về truvện ngắn hôm nay.
B ù i Việt Thắng chuyên nghiên cứu truyện ngắn sau 1975 Trong bài Văn xuôi gán dáy vả quan niệm về con người (Tạp chí Văn học, sô 6/1991) Bùi Việt Thắng khẳng định sự phát triển quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi hiện nay, trong
dó có truyện ngắn Trong bài Truyện ngắn dự thi - phía trtrớc
và hi vọng (Tạp chí Văn nghệ quân đội sô' 7/1993) Bùi Việt Thắng
dã nêu những ý kiên đánh giá khách quan, xác dáng về những truyện ngắn dự thí cuộc thi truyện ngắn do Văn nghệ quản dội
tổ chức tứ 1992 - 1994.
về hình thức của truyện ngắn 1975 - 1995 cũng cố nhiều ỹ kiên Hà Minh Đức cho rằng “Truyện ngán ngày nay hay hiện thực dược mièu tả có thêm nhiều yếu tố chất liệu da dạng hơn, những yếu tõ huyền thoại hư ảo sứ dụng thuẩn thục, thậm chí
cả những cái phi lý". Hà Minh Đ ứ c chú V dến giọng diệu, theo
8
Trang 12ỏng: “Không thể có truyện ngấn hay nếu không có giọng diệu của nc/ười cùng thời, người trong cuộc”, õng cũng khảng định “sự dóng góp chủ yếu trong truyện ngán thuộc về các tác giả trẻ mới, họ
có giọng diệu của mình, của thời đại mình” [Văn nghệ sô' 48, ngày
30 - 11 - 1991) Nhà văn Nguyễn Kiên nhận định “Truyện ngẩn gần dãy có sự phá cách rõ rệt, có những tìm tòi về hình thức biểu hiện Truyện ngắn không còn nhất loạt tuân theo một khuôn mấu nào nửa, kế’ cả khuôn mấu truyền thống” (Văn nghệ sô' 48, ngày 30 - 11 - 1991).
Trong bài Truyẽn ngắn - nỗi run sợ (Văn nghệ quân dội 7/1992) nhà văn Ma Văn Kháng nêu ra những phẩm chất mới của truyện ngắn sau 1975 Theo ông, dó lã sức khái quát ngày càng cao, chứng tỏ truyện ngắn có khả năng dổi dào trong việc' phản ánh hiện thực, trong dó Ma Văn Kháng nhấn mạnh năng lực lách sâu vào cõi tâm linh siêu hình của con người ở txuvện ngắn ,Về mặt hình thức, õng chú ỷ đến ngõn ngữ truyện ngắn
Đó là thứ ngôn ngữ “vừa dung dị, ưừa ma quái thêm, nỏ sứ dụng đến sức mạnh tôhg hợp của cáu chữ”.
Ỏ bài Ngần truyện nhưng dải hơi (Tạp chí Vản nghệ quân dội sô 7/1992) nhà văn Chu Lai khẳng dịnh những ưu thế của truyện ngắn hiện nay đồng thời nẽu ra một sô' hạn chế õ n g cho rằng “Gần dây truyện ngắn chăm chút về khía cạnh cách tán hình thức quá, mà cái sức sông, cái mạch chảy bên tronq ỉại dường như mỏng manh” Chu Lai dưa ra một cái nhìn mở, ứng với thực
tê truyện ngắn hiện nay Theo ông, truyện ngắn không hề chịu
sự chi phôi của một dịnh luật, một phương pháp sáng tạo nào
- phương pháp hiện thực phê phán hay hiện thực xã hội chủ nghĩa, thỉ pháp tả thực hay thi pháp huyền ảo dền dược cả, nêu nó kích được vào cảm nhận con người những nghĩ ngợi sâu
xa, trong lành về thê giới, về cuộc dời ngổn ngang.
9
Trang 13Những bài báo nêu trên đã đi vào từng khía cạnh cụ thế của truyện ngắn giai đoạn 1975- 1995 Điếm chung của các tác giả là đều đánh giá cao truyện ngắn hiện nay, nhìn nhận sự phát triển, dổi mới của truyện ngắn rứnr một qui luật tát yếu của sự phát triển văn học Dạng bài này không nhiều vã đôi lúc không hoãn chỉnh, có trường hợp chỉ lã nhữ ng ỷ kiến ngắn có tính chát kinh nghiệm.
2.2 Những bài nghiên cứu vẻ tác giả :
Hai tác giả dược chú ỷ nhiều ở giai doạn này là Nguyễn Minh Châu vã Nguyễn Huy Thiệp Hà Minh Đ ứ c cho rằng “truyện ngắn có sự phăn hoá, có những dõi thay về tu- tưởng trong truyện ngẩn Trong sự dóỉ thay này có hai tác giả phải chú ỷ: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huỹ~Thiệp^-Theo Nguyen~Ngoc “Có hai tác giả dua truyện TigấTĩ chúng ta sang hiột diện khác dó là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp” (Hội thảo vẽ truyện ngắn Báo Văn nghệ số' 48, ngày 30 - 11- 1991) Đ ánh giá các cây bút mới trong giai đoạn 1975 - 1995, Nguyễn Đ ăng Mạnh cho rằng “lý thức
cả nhân thức tỉnh, mạnh mẽ Phong cách nghệ thuật có điều kiệu hình thành và phát triển mạnh mẽ Đã có dấu hiệu xuất hiện nhiều tài năng độc dáo, dặc biệt qua những tác phấm gđn dãy của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài” (Dấn luân nghiên cún tác giả văn học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1.1993).
Đáng ch ỷ là chuyên luận Vản học h iện đại - văn học Việt Nam, giao lu n gặp gỡ của Trẩn Thị Mai Nhi Tác giả dã dành một chương dể lãm sáng tồ nhữ ng ảnh hưởng của văn học hiện dại phương Tây vào một sõ hiện tượng văn học Việt Nam hiện nay, đặc biệt là ở các tác giả Nguyễn M inh Châu, Nguyễn Huv Thiệp, Phạm T h ị Hoài.
Trang 14về tác giả Nguyễn Minh Châu - người được xem lã một ưong những nhã văn dầu tiên có cống trong sự đối mới văn học sau
1975 - cõ rất nhiều bài viết Phần lớn những bãi viết vẻ Nguyễn Minh Châu dược tập trung trong chuyên luận tổng hợp Nguyễn Minh Châu - con ngirời và tác phẩm (Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ãn biên soạn) Tập sách gổm nhiều bài viết về cuộc dời
vã các giai đoạn sáng tác của Nguyễn Minh Châu - trong đó nhửng truyện ngắn tứ những năm 80 trở về sau được tập trung phân tích, dánh giá.
Phan Cự Đệ nhìn nhận những dóng góp của Nguyễn Minh Châu về mặt giọng điệu, đề tài Ổng cho rằng “Gan đáy giọng- diệu, cách nói riêng của Nguyễn Minh Cháu rõ hơn Anh dã dóng góp d ể lấp di một mảng yếu trong văn học viết về chiến tranh
dó là mảng dề tài viết về cuộc sôhg binh thường hàng ngày, là
số phận cá nhăn trong cộng dồng" (50, 175). Nhận dịnh về Nguyễn Minh Châu, Phan Cự Đệ dã khái quát tình hình truyện ngắn sau
1975 Theo ông, một trong những ưu điểm của truyện ngắn sau
1975 là ở chỗ “nó không dừng lại ỏ trực giác mà di sâu vào tâm lỷ, tiềm thức” (50, 175) Phan Cự Đệ đã chỉ ra được cái cốt lõi trong quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn hiện nay.
Đ i vào khía cạnh thi pháp truyện ngắn Nguvễn Minh Châu
có một sõ' bải tiêu biểu của các tác giả Đỗ Đ ứ c Hiểu, Trần Đình
Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Lã Nguyên Các tác giả đã di sâu phân tích truyện ngắn, tứ đố khái quát đặc điểm và những đổi mới cùa thi pháp Nguyễn Minh Châu từ sau 1975.
Các nhả nghiên cứu Vương Trí Nhàn, Phong Lê, Lê Thành Nghị, các nhà vãn B ù i Hiển, Nguyễn Kiên, Tô Hoài Xuân T h iề u ' đều phát biểu ỷ kiến Nhìn chung những ỹ kiến chưa thõng nhất.
Trang 15vể Nguvên Minh Châu đều tập trung vào hai yêu tô : nhãn vật vji chủ để tác phẩgi.
về tác giả Nguyễn Huy Thiệp, tình hình tranh luận có phức tạp hơn Khởi dẩu cho cuộc tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp là một loạt bãi báo dăng trẽn tuần báo Văn nghệ Hà Nội (tháng 9/1987) xoa}' quanh truyện ngắn Tirớng về hiru Những bài viết của Chu Huy, Nguyễn Hoà, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tứu dều nhìn nhận nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp Sau dó Nguyễn Huy Thiệp ửrực sự thành “hiện tượng'’ gãy tranh luận sôi nổi từ khi bộ ba K iê m sắc, và n g lửa, vã Phẩm tiết xuất hiện - nhất là hai tác phẩm sau Nhìn chung ỷ kiến về Nguyễn Huy Thiệp hoãn toàn trái ngược nhau Nhóm phê phán triệt dể gồm những bài viết của Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, B ùi Hiển, Đỗ Chu, Mai Ngứ Nhóm khẳng định gồm những bài viết của Hoàng Ngọc Hiên, Lại Nguyên Ân, Đặng Anh Đào, Văn Tâm Sau nãy tập sách- Nguyễn H uy Th iệp tác phẩm và dir luân dăng lại một sô bài với khuynh hướng chọn những bãi dại diện cho các cách đánh giá khác nhau.
Luận án khống có ỷ định đi sâu vào lịch sử vân đề truyện ngắn Nguvễn Huy Thiệp, cũng không gợi lại không khí tranh luận những năm cuôì thập niên 80 Đề cập truyện ngắn No;uvễn Huv Thiệp, luận án sẽ có những nhận định cụ thể dôi với những vẫn
đề trong phạm vi khảo sát của luận án.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo hoặc từng ỷ kiến ngắn về các tác giả khác B ù i Việt Thắng thiẽn về phát hiện những cây bút mới Nhiều bài viết của anh phân tích sâu sắc và thú vị một sổ' tác giả như Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Th ị Hảo
Trang 162.3 Những bài viết về từng tác phẩm:
Loại bài này rất nhiều, đăng tải trên báo trung ưr/^g và địa phương dưới dạng thức diểm sách hoặc phê bình Lo''*1 b;ú viết nãy phẩn lớn đều nêu lên những suy nghĩ, cảm nh^*1 về nội dung hoặc nghệ thuật biểu hiện của tứng truyện ngắn ':v thê.
ơ trên, chúng tôi đã trình bày một cách sơ lược ,ini| hinh nghiên cứu truyện ngắn từ 1975 đến nay Không thé 'hong kẽ một cách dầy dủ các bài báo cũng như ỷ kiến phát biểu truvện ngắn sau 1975 Nhìn một cách tổng quát, từng bài bã'' nir>i chỉ- điểm qua hoặc dửng lại ở khía cạnh này, khía cạnh ^h;‘0 cua một tác giá5, tác phẩm Do thực tiễn văn học chuvển '>iêu trong một thời gian còn quá ngắn nên chưa có một công tri/ -1 'láo có tinh chất tổng kết, chỉ có những bài báo dăng rải rá' tr<n Các bão và tạp chí Cũng chưa có bài nghiên cứu nào đ '/* một cái nhìn bao quát về diện mạo, đặc điểm thể loại S1-' k' thừa
và đổi mới, qui luật nội tại và ngoại sinh trong sự triển truyện ngắn đương dại Tứ dó luận án đi đến kết luậr- : 'ấn dể Đặc điểm truyện ngắn Việt Nam tứ 1975 - 1995 chưe lã 'lề tài tập trưng của một chuyên luận nào đã xuất bản.
III N H IỆ M VỤ VÀ Đ Ố I TƯ Ợ N G N G H IÊ N CÚTJ
1 Nhiệm vụ của luận án
1.1 Nghiên cứu đặc trưng thê loại truyện ngắn cu-<= n-ột ậiai đoạn cụ thể, xuãt phát từ những quan diêm mới về r-.-iẽ -rjỉịi.
1.2 Nghiên cứu cơ sở phát triển thể loại truyệr- n^án tứ
1975 -1995 như việc tiêp thu yêu tô folklore, truyện r.-ặắr trung đại, truyện ngắn giai doạn 1930-1945, truyện ngắn 1945- ruyện ngắn và tiểu thuyết phương tây hiện đại Trên cơ sơ 3ó xháng dinh thành tựu của truyện ngắn hiện nay.
13
Trang 17Luận án có nói đến nguồn gõc và lịch sử truyện ngắn Nhưng vân dề không dặt nặng ở chỗ xác định một cách chính xác thời điểm cụ thể mã lã ở chỗ xác định dược những cội nguổn nào
đã làm nên sự phát triển một hình thức thể loại và qui định những dặc trưng cơ bản của nó
2 Đối tượng khảo sát.
Những truyện ngắn trong nước.
Luận án chọn môc thời gian 1975 vì đây là nâm đánh dâu
sự chuyên biến lớn lao của đất nước Văn học củng bẩt dầu vận động theo qui luật đời thường Tuy vậy lát cắt 1975 chỉ có tính chãt tương dôi, vì trong thực tế truyện ngắn nói riêng và văn học nói chung phát triển chậm hơn Truyện ngăn thực sự thay dô ỉ là bắt dầu tử nhúng năm ỉ 980. Vì vậy luận án khảo sát chù yếu những truyện ngắn trong giai đoạn tư 1980 - 1995.
Xét riêng về mặt sô' lượng, truỵện ngắn sau 1975 phát triển rất mạnh, bất cứ một tờ báo nào cũng dăng tải truyện ngắn
Đê khoanh vùng phạm vi khảo sát, luận án thông kẽ, nghiên cứu truyện ngắn 1975-1995 theo các tiêu chí sau :
a Những truyện ngắn được giải thưởng của các cuộc thi truyện ả các báo trung ương.
b Nhứng tập truyện ngắn có tiêng vang hoặc gâv dư luận trong công chúng.
c Những truyện của một số’ tác giả dã định hình và
có thể xem là tiêu biểu cho những xu hướng truyện ngắn hiện nay về mặt này luận án chú ỹ phân tích một cách hệ thông tác phẩm của các tác giả Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Phạm Thị Hoài vã một sô cây bút khác Luận án không khảo sát toàn
Trang 18bộ các truyện mà chủ yếu ở những tác phẩm luận án cho là có tính chất tiêu biểu, dại diện.
Những tiêu chí nêu trẽn chỉ có tính chât tương dôi, luận án tạm thời nêu ra đê khả dĩ có thể khoanh vủng phạm vi khảo sát một đôi tượng khá phong phú và phức tạp lã truyện ngắn 1975-1995.
IV G IỚ I H Ạ N PH Ạ M VI N G H IÊ N CỨU:
Chọn vấn dề lả “Những dặc diêm cơ bản của truyện ngán giai đoạn 1975 - 1995" chúng tôi dã tiếp xúc một dôì tượng phức tạp Đây lã đõì tượng khá rộng, không thuần nhất và chưa ổn dịnh V ì vậy luận án chỉ chọn những vấn đề đã dược định hình
mã luận án cho là dặc trưng nhất và đáng quan tâm của truyện ngắn 1975 - 1995 Đó là kết cấu cốt truyện, hệ thõng nhân vật, vấn đề không gian thời gian, ngõn ngử thể loại là những câ'p độ quan trọng của câu trúc truyện ngắn, đồng thời lã nơi bộc lộ rõ những, nét dổi mới của truyện ngắn giai đoạn này.
Chúng tôi quan niệm rằng khảo sát dặc điểm truyện ngắn trong một giai đoạn có nhiều phong cách sáng tạo đa dạng như hiện nay, không nhất thiết phải bình quân mọi giá trị v ấ n dề là ở chỗ phải xác định dâu là những đôi mới cơ bản về mặt thể loại, những yếu tô nào ớ đó các tác giả một mặt đều bộc lộ những đặc trưng thê ioại, mặt khác lại lã nơi thể hiện rõ nhất những phong cách khác nhau Trong quá trình phân tích chúng tôi sẽ loại bỏ những yêu tô' bên ngoài hệ thông dã nêu, trừu tượng hoá những vếu tô ít liên quan dể tập trung vào những vấn dề chính (theo tinh thẩn luận án) V ì vậv có thê có nhữ ng vấn dề khác của truyện ngắn luận án không dể cập.
15
Trang 19V P H Ư Ơ N G P H A P T IE N HAJVH :
1 Phương pháp cấu trúc - hệ thông :
Phương pháp nãy xem mỗi tác phẩm là một cấu trúc nhỏ,
là thành tô' tạo nên hệ thông câu trúc lớn’ - câu trúc thể loại, bao gồm nhiều thành tô’ và có quan hệ với các hệ thõng khác, các thê loại khác.
2 Phương pháp lịch sử :
Nghiên cứu tiến trinh vận dộng của truyện ngắn, khảo sát truyện ngắn 1975 - 1995 trong sự vận động và phát triển qua các giai doạn lịch sứ.
3 Phương pháp so sánh đỗng đại, lịch đại.
4 Phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp.
VI MỘT S Ố K H ÁI N IỆ M s ử D Ụ N G TRO NG LU ẬN ÁN.
1 vế khái niệm truyện ngẩn :
Truyện ngắn là một khái niệm rất khó xác định cả về nội dung lẫn hình thức Chung quanh khái niệm truyện ngắn dã có rất nhiều ỷ kiến Dạng ỷ kiên phong phú hơn cả là của các nhã sáng tác trong và ngoài nước Phần lớn những ỷ kiến này chỉ là những kinh nghiệm chứ chưa có tính chất khái quát và đôi lúc không thông nhât Các tữ điển cũng dưa ra nhiều định nghĩa về truyện ngắn Nhìn chung, người ta thưởng đúc kết trong mọi định nghĩa nhirng nét ổn định nhâ't o ia thể loại Và như thế, các khái niệm được đưa ra thường chỉ phủ họp vói một mò hình thế loại trong một giai doạn lịch sử cụ thể Trong thực tế sáng tác da dạng như hiện nay, những khái niệm đã dưa ra dường như không đáp ứng hẽt những yêu cẩu của truyện ngắn Bàn về thể loại tiểu thuyêt, Bakhtine đã từng nhận định rằng người ta cứ đưa
ra định nghĩa về thể loại, chỉ ra những dâu hiệu xác định và chắc chắn của nó, rồi lại phải dính chinh (5.27) Điều dó cho thâv,
Trang 20cũng tương tự như tiểu thuyết, khó khuôn truyện ngắn vào một định nghĩa chật hẹp ứng với mọi trường hạp trong thực tiễn sáng tác Nếu quá chặt chẽ sẽ không phù hợp với thực tế văn học Nhưng nếu phá vỡ nội hàm khái niệm thì truyện ngắn không còn
là chính nó nữa mà sẽ chuyển sang một cấu trúc mô hình khác Luận án không có ỷ định đưa ra một định nghĩa hoãn chỉnh, chính xác (và cũng không làm dược diều nãy), chỉ dề xuất một cách hiểu về truyện ngắn trong quá trình tiến hành luận án Trẽn
cơ sở tham khảo ỷ kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà viết truyện ngắn, theo dõi các sách lý luận, văn học sử vả các từ điển luận án xem truyện ngắn là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ,
có hình thức ngắn, nội dung truyện là đời sông bât tận Truyện ngắn có tính chất tự do, cô dúc, để ngõ ổ truyện ngắn có những khoảng trông gợi mở; tình tiết diễn biến nhanh gọn, tập trung,
sô lượng ngôn ngứ ít nhât nhưng chứa đựng một lượng thõng tin nhiều nhất.
2 về khái niệm truyện truyền thống vã truyện hiện đại : Cho đến nay, các khái niệm truyện truyền thông và truyện hiện đại thường được dùng để phân biệt hai hình thức biểu hiện khác nhau trong quá trình vận động của truyện qua các giai đoạn lịch sử.
Thật ra, về mặt lý luận, chưa có một tiêu chí thật rạch ròi
để phân biệt hai loại trên Bản thân hai phạm trủ truvền thõng
và hiện dại tự nó chưa làm người ta thoả mãn và củng khó phân biệt Trong thực tế sáng tác có những tác phẩm xét về mặt lịch đại lã hiện dại nhưng về mặt thẩm mỹ lại lã truyền thông/ Luận án sử dụng hai khái niệm trên củng chỉ có tính chất tương đõ'i Truyện truyền thõng để chỉ những truyện ngắn được sáng tác theo sự qui định chặt chẽ cùa những qui tắc thế loại (có cốt truyện nghiêm chỉnh qua năm bước phát triển, khỏng gian,
J■■■" HA NOI
I
Trang 21thời gian thuận chiều, kết thúc hoàn tất v.v ), với những dấu hiệu dặc thù mang tính lịch sử Truyện hiện dại dược dùng để chỉ những truyện ngắn tiêu biểu cho kiểu tư duy nghệ thuật mỡi, linh hoạt hơn trong cách xây dựng truyện Truyện hiện dại là một khái niệm mở.
18
Trang 22PHẨN THỨ HAI : NỘI DUNG CHÍNH
Chọn cốt truyện làm dôi tượng nghiên cứu dầu tiên, luận án muốn nhân mạnh tính chất quan trọng của một yếu tô ngliệ thuật góp phần làm nên sự phát triển của truyện ngắn C ũ n g như nhirng vếu tô' khác, cốt truyện dã trải qua những chặng dường khác nhau trong lịch sử văn học nói chung Không nghiên cứu
sự vận dộng của cốt truyện sẽ không Lỷ giải dược sự phát triẽn- của truyện ngắn hiện nay.
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1 Khái niệm cót truyện :
Khái niệm cô! truyện Là một phạm trù đa dạng vã đầy biến dộng, về khái niệm côt truvện, các cõng trĩnh lý luận trong và ngoài nước, các tứ điển đã dề cập nhiều Nhìn chung cốt truyện được hiểu theo hai nghĩa:
19
Trang 231.1 |[5ot truvenj, lã cái lõi diễn biến của hàrứL-động truyện
từ lúc xảy ra dêh kết thúc, là cái tóm tắt những điểm chủ yếu lãm thành một câu chuyện ngắn hơn nhiều lẩn so với toàn tác phẩm .Cốt truyện giúp nhà văn tổ chức, sắp xếp các sự kiện, biến cô' theo một trình tự hợp lý dể thể hiện chủ dề và tư tướng tác phẩm Nhờ cô’t truyện mã truyện có khả năng chứa đựng một nội dung khá lớn mà khống bị rơi vào tình trạng rô’i rắm.
1.2 Khái niệm cô't truvện đôi khi được dùng để chỉ sự lặp lại thường gặp ở một sô môtip hoặc tình huông truyện Cách hiểu này bị bó hẹp Cõt truyện không dơn giản chỉ Là một môtip hay một tình huống nào đố mà là “một chuối sự kiện cụ thể sinh dộng'’ (86, 107)
Luận án khảo sát dặc điểm côt truyện truyện ngắn hiện nay theo nghĩa rộng (1), xem cốt truyện là môt hê thồ'ng những biến
cỗ sir kiên đưac hình thành từ các hành dông nhân vát - hay nối cách khác lả sư vân dỏng khống gian, thài gian của cái đưữc nhà văn miêu tả Cốt truyện dược tạo nên là do hành dộng nhân, vật Cõ hành động bên ngoài và hành động bên trong nên cũng
có côt truyện sự kiện và côt truyện tâm lý Côt truyện sự kiện
là sự vận dộng của một chuỗi sự kiện, biến cô’ Cốt truyện tâm
lý là sự vận dộng của tư tưởng, suv nghĩ, tình cảm của nhân vật, là quá trình tự nhận thức của nhàn vật.
2 về vai trò của cốt truyện trong thể tự sự hiện nay có nhiễu V kiến khác nhau Phần lớn các ỷ kiến cho rằng C(3t truyện trong văn học hiện đại dang và sẽ đóng vai trò ngày càng nhò hơn so với vai trò trước đây dành cho nó.
Một sõ nhà phê bình phương Tây khẳng định rằng “việc trí tuệ hoá văn xuôi dang diễn ra hiện nay khiến cho cốt truyện trỏ nên một thành tố ít quan trọng trong văn xuôi".
2 0
Trang 24Lại có ý kiến cho rằng việc xây dựng cõt truyện của các tác phẩm nghệ thuật là một ưong những trở ngại cơ bản đõi với sự phát ưiển nghệ thuật mới Andrế Malraux quan niệm: “Muoh—Cho nghệ thudt hién dai ra dời thi cốt truụên cẩn phải mat đi bài vì
sẽ xuất hiện một cốt truuẽn mới - sư hiện diẽn của người nghệ
sĩ trong tác phẩm” (46, 181).
M i-ghen Đê-li-bét, một nhà văn Tây Ban Nha, phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa tiểu thuyết hôm nay và tiểu thuyết cách đây 50 năm trẽn cơ sở cốt truyện Theo õng “Điều xảy ra trong ngày hôm nay là các nhà tiểu thuyết đặc biệt quan tàm dến cẩu trúc và ngôn tử; trong khi dó, cách dãy 50 năm chúng tôi quan tâm nhiều hơn dẽh nhãn vật dêh cốt truyện, tức là dến cái diều minh kế Cuộc hành trình hiện đại của tiêu thuyết Tây Ban Nha dược biếu hiện rõ ở chỗ dược kê như thế nào và được cấu trúc như thế nào” (15, 10).
Nghiên cứu tiểu thuyết Pháp hiện đại; Phùng văn Tử u đã chỉ
ra một hiện tượng phổ biến “Trên dường diễn biến của tiêu thuyết càng ngày vai trò của cốt truyện càng giảm, và trong một tiêu thuyết cốt truyện càng đơn giản bao nhiêu, ít các sự kiện, các biến cố bao nhiêu, hầu như chưa “kể lạ i” dã hết thì chính lả ỏ dấy ”nội dung nghệ thuật càng nỏĩ lẽn bấy nhiêu" (99 139).
o ta, cho đến nay vẫn chưa có sự thông nhất trong cách nhìn nhận vai trò của cô’t truyện Có ỷ kiên cho rằng vai trò của
cốt truyện ngày càng trở nên mờ nhạt Cũng có V kiến xem dấy chỉ là giao hoán giữa côt truyện sir kiện và côt truyện tâm lỷ.
Suy cho đến củng, tính chất có cô’t truyện là một trong những đặc điẽm của các tác phẩm thuộc thể tự sự Nhưng khống phai côt truyện nào cũng chứa đựng những tình huông ly kỹ, gay cấn, đầy xung dột vẫ n có những truyện kể về những diều nhỏ nhặt.
21
Trang 25bình thường, gây cảm giác như không có chuyện Đã'y chính là những dạng truyện khác nhau Thự c chất, trong tác phẩm côt truvện vẫn thực hiện một vai trò dặc biệt chỉ có nó mới có: liên kết các môi quan hệ giữa các nhân vật, tổ chức sắp xếp các sự việc xảy ra trong truyện, ơ dạng nãy hay dạng khác bao giờ côt tru vện củng là cái “cốt lõi của văn tự sự ” (7, 60).
3 Sơ lươc về sư vân đông cốt truvện truyện ngắn qua câc giai đoạn lịch sử văn học.
Trên tiến trinh vận động thể loại, về mặt cô't truyện truyện ngắn dã có những bước phát triển rõ rệt Truyện ngắn Việt Nam
có một bề dày lịch sử đáng kể Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định những truyện ngắn đẩu tiên bằng chữ Hán xuất hiện vào dời Trần (41, 195). C ác truỵẽn dời Trán mới chỉ ghi chép lại các sư tích đới trước chứ chưa có hư cấu, phóng tác Nhìn chung cô’t truyện được vay mượn, thiếu phong phú.
một cái môc cho sư phát triển truyện ngán dân tộc Đ ây là một tập truyện ngắn phóng tác, phần tưởng tương, hư- cấu rất lớn Ngoài những câu chuyện lịch sử, dã bắt đầu xuất hiện những cốt truyện huyền ảo, cổ't truyện phiêu lưu, cõ't truyện đời thường Nhìn chung, cỗ't truyện rất hấp dần, bao gồm những tình huống căng thẳng, đẳv ki ch tính Có thể nói với Tru yền k ỳ m ạn lục truvện ngắn Việt Nam với nhữ ng dặc diểm truvển thông đã hình thành Từ chỗ gắn với vãn chép sử, ghi chép sự thực lịch sư, ghi chép sự tích có sẵn trong truyền thuyết, cổ tích truyện ngắn dân tộc đã tiến đến chỗ sáng tác với nhiều hư càu.
Sang [cíaũ^ thê' kỷ 20| nền văn xuôi quốc ngứ ra đời với sự đóng góp của tfuyenHngaa Nam Phon^j Truyẽn ngắn Nam Phong
lã bước chuyển hon cúa truyện ngắn dân tộc sang nham trù hiên dại, về mặt cô’t truyện đã có sự đổi mới Nhiều truyện ngắn có
22
Trang 26cốt truyện khõng lấy trong văn học cổ mà bất nguồn từ dời sông, với nhiều yếu tô hiện dại.
Sự phát triển vượt bậc của truyện ngắn những năm dầu thế
kỷ 20 dến giai đoạn (1932^ - 1.945) dã dược- khẳng định Đ ây là bước phát triển ijiSay^vafr của thể loại, một sự thay dổi về chất, một sự cách tân thực sự của truyện ngắn hiện đại Nhiều nhã nghiên cứu dã đánh giá đúng đắn sự dóng góp của truyện ngắn giai doạn nãy Nguyễn Hoành Khung nhìn nhận sự đóng góp nôi bật của truyện ngắn 1932 - 1945 trong tiến trình vận dộng' thể loại “Chỉ vài mươi năm, tứ một thê" loại hoàn toàn mới mẻ., truyện ngấn dã nhanh chóng trưởng thành và tự hoàn thiện d ế tạo nên
cả một cái nền chác chán, dủ làm thành một truyền thôhg cho
sự phát triêh lâu dài về sau của thê” loại này” (47 22) “Cái mặt phẵng dơn diệu của truyện dược dựng lên thành một cấu trúc, dược tô’ chức lại thành một không gian nghệ thuật ( ) hé mở nhứng tiềm năng nghệ thuật phong phú mà truyện ngấn trước dãy chưa có” (103, 108).
Xêt về mặt cot truyện, nhìn chung truyện ngắn 32 - 45 có nhiều dạng phong phú, cốt truvẽn dỏng vai trỏ quan trong Truvệrĩ ngắn Nguyễn công Hoan tiêu biểu cho loại có côt truyện rõ ràng, với những xung dột căng thẳng, diễn biến hành dộng truyện thường theo 5 bước phát triển của cõt truyện truyền thông Đến Nam Cao truyện ngắn đã bắt dầu bứt ra khỏi khuôn khổ Nhiều truyện ngắn của Naci^^Cap không có tình huông, sự kiện gì đặc' biệt, truyện chỉ là một chuỗi tâm trạng hoặc suy nghĩ của nhân vật Đãy là loại côi-tF«yệiL-iâiĩ^ lý về mặt này, Nam Cao Là một trong những nhà văn đầu tiên có sự cácìi_Jãn thể loại Lặng lẽ trường tồn qua nhiều thập ký Nam Cao dã có ảnh hưởng m ạnh mẽ đến truyện ngắn của nhiều nhã văn sau năm 1975 trong đó_Jỉgưvễn- Minh _Cbáu là hiện tượng nổi bật Có thể xem truyện ngắn giai
Trang 27doạn 1932 - 1945 với sự da dạng về phong cách, kiểu sáng tác, giọng điệu là một cái mốc dặc biệt của sự phát triển truyện ngắn Truvện ngắn đến giai đoạn này đă đạt đến độ hoàn chỉnh, khơi mầm cho những giai đoạn về sau.
Từ năm ^ 945 1975Ị nền văn học hiện thực xả hội chủ nghĩa tiếp tục tìm tòi những hình thức phũ hợp dể xây dựng côt truyện trong một giai doạn kỳ vĩ của dân tộc Truyện ngắn được mùa vào những nãm 60 O đây côt truyện vẫn đóng vai trò đáng
kê để phản ánh những vấn dề lớn lao của cuộc sổng trong chiến tranh, dể nêu bật những tính cách phi thường trong nhữ ng hoàn cảnh quyết liệt của đất nước Cốt tru vẻn truyện ngắn giai doạn nãy chình lả “phựơrựỊ tiện để thế’ hiên sư thật—cũa cuộc, sõhg là phương tiện nahiên cứu nhũ-nn tinh_cách” (46, 91). Nhìn chung nhiều truyện ngắn đã chú ỷ xây dựng những tình huôrig gav cân, căng thẳng, kết cấu côt truyện thường dira trẽn hai tuyến dối lập địch ta, cảm hứng chủ đạo là cảm hứng ngợi ca, cảm hứng lãng mạn anh hùng C ôt truvên tâm 1Ỷ_ ímỏt dạng côt truyện manh nha
từ giai đoạn trước) dường như ,ít xuất_hiỀn, Truyện ngăn sau
1945 đã đi theo một hướng khác, theo sự chi phối chung của qui luật chiến tranh (kể cả những truyện viết về dề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội).
Từ ^sau 1975) nhãt lã những năm 80 trở về sau, thực tiễn văn học chứng minh rằng cái gây nên sự hâp dẫn, lôi cuôn ở
truyện ngắn khòng phải là những tinh huống li k ỹ dỏ căng cùa những cảnh ngố éo le mà là ở chỗ truyện ngắn dã hướng đến nhứng tình hi 1 ống—dõi—thuxmg, di vào chiều sáu tâm hồn con người Chính những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá nhân dã trở thành yếu tô thúc đấy côt truvện Truyện ngắn tử sau 1975 dẽn nay có khuynh hướng tự nới rộrtỉí, tự
^ ợ t thoát khung thể loại Nó phong phú hơn trong hình thức
Trang 28diễn dạt, da dạng hơn ở nội dung phản ánh, tự do hơn ở cách
thức dựng truyện Có những côt truyện dẩy kịch tính Củng có
những ccvt truyện nghèo sự kiện nhưng giàu tâm trạng Có những kết câu - côt truyện rõ ràng, có mở dẩu, có kết thúc Cũng- có
những truyện có cấii trúc lỏng lẻo, lắp ghép, kết thúc mở Có những truyện phản ánh hiện thực cuộc sôVig hỏm nay Củng có những truyện có cô't truyện huyền ảo, cổ tích Tát cả các dạng thức trên đều nhằm phân tích, lỷ giải những vân dề phức tạp của con người, cuộc sõhg hiện tại.
Sơ lược sự vận dộng của truyện ngắn qua các giai đoạn phát triển của văn học chúng tôi muôn khẳng dịnh rằng : cùng với các yếu tố nghệ thuật khác, cốt truyện dã giữ ưai trò không
nhỏ trong việc thể hiện nội dung, cốt truyện dã vận động, thay dổi trong sự phát triển thể loại. Những kiểu và những dạng' côt truyện, cũng như tỷ trọng của cô't truyện đã thay đổỉ, không đồng đều trong những thời kỹ văn học khác nhau Truyện ngắn tứ
1975 đến nay đặc biệt có sự đổi mới trên cơ sở kế thừa truvền thông Côt truyện được tổ chức và xây dựng như thế nào? Nó vận dộng thay đổi ra sao? Nó mang lại cái gì mới mẻ cho sự phát triển thể loại? Đáy chính là vấn đề chúng tôi tập trung giải quyết ở chương nãy.
II ĐẶC Đ IỂ M • c ố t t r u y ề n« n g ắ n t ừ s a u 1975 :
1 Nhận định về sự đa dạng của truyện ngắn, U.Xaroyan - một nhã văn Mỹ, cho rằng : “cuộc sống trải ra vô tận và đổĩ ưới các nhá văn, truyện ngấn là một hình thức khó di tới hết bật nhất, chứng nào trên quả đất này còn nhà uãn và họ còn viết, truyện ngán còn tìm được cách nhập vào mọi phong cách và nô cũng có thể vượt ra, phản ánh mọi hình thức, mọi khuôn khó', phong cách dó" (71 83). Tử 1975 dến nav, trong sự đối thay chung của thời đại - như một hệ quả tât vếu travện ngắn củng
Trang 29majpLg tr ộ n g ^ b ả n _ t i i â r u m ì n h n h ữ n g d á u h i ệ u k h ô n g ố n d i n h N h in
chung, hiện nay những dặc trưng thẩm mỹ của truyện ngắn phẩn nào bị phá vỡ Những nguyên tắc thể loại không cỏn chi phỏt chặt chẽ ngòi bút người sáng tạo Hiện nay người đọc chứng kiến một phòng trưng bày truyện ngắn đủ dạng vẻ o đó các tiêu chí trường dộ, lát cắt, moment, thể loại dường như không còn quan trọng Có những truyện ngắn là bài thơ - văn xuôi, có truyện ngắn nghiêng về bút kí, có truvện ngắn như vở kịch một màn Cũng có những truyện có dạng một kịch bản phim Có truyện là một khoảnh khắc, có truyện lã cả đời người, cả dòng họ Có truyện chỉ mươi dòng, cũng có truyện ngắn mang độ dãi cua một tmvện vừa Có truyện là cả một xã hội thu nhỏ, có truyện dưỡng như không có nhân vật nào.
2 Cùng với sự biến chuyển của truyện ngắn cốt truyện cũng thay dổi Khả năng của cô’t truvện phong phú dần trong lịch sứ truyện ngắn Nghiên cứu sự vận động của cõ’t truyện truyện ngắn, Vương Tri Nhãn cho sự da dạng của truyện ngắn là từ chỗ "truvện ngắn phải có một cốt truyện kì lạ cảng thảng, bất ngờ" dến usự xuất hiện của những truyện ngấn trữ tinh” (71 148). Theo Vương Trí Nhản sự phát triển của truyện ngắn bắt dầu từ chỗ truyện ngắn phân chia thành hai cực - loại truyện kể có cõt truvện và loại truyện tâm lí Sự phân cực rõ rệt nhất là tứ giai đoạn 1932
- 1945 với hai tác giả tiêu biểu cho hai cực là Nguyễn Cõng Hoan
và Nam Cao.
ft
Như vậy qua từng giai đoạn văn học loại côt truvện tâm lí xuât hiện muộn hơn và trong quả trình phát triển của thể loại côt truyện tâm lí chiêm tỉ trọng lớn dẩn Hiện nay vần dề phân loại côt truyện không đơn giản Giữa hai cực truyền thông dó là
vó vàn những sắc thái biểu hiện khảc nhau Suy cho dến củng,
dừ biên thái ở nhiều dạng thức, côt truyện truvện ngắn sail 1975
Trang 30vẫn xoay quanh hai cực truyền thông - nhưng mức dộ của nó không dồng đều Truyện ngắn có côt truyện sự kiện thưa thớt dần và côt truyện tâm lí tăng lên, thậm chí có nhiều truyện hoàn toàn không có cốt truyện.
3 Mọi việc phân chia chỉ có tính chã't tương dôi Nhưng như thế không có nghĩa lã không thể định dạng các loại cõ't truyện truyện ngắn hiện nay Dựa trên những tiêu chí chuẩn xác, trên tẩn sô’ lặp lại của một sõ’ dạng ưuyện ngắn, chúng tôi sơ bộ phán loại côt truyện truyện ngắn tứ 1975 dến nay thành hai kiểu: Kiểu 1:
Gồm những truyện ngắn có côt truyện chặt chẽ, có dầu cuôi
rõ ràng vói nhiêu sự kiện, nhiêu biến cỏ ơ loại này cốt truyện trở thành cái khung chi phôi phần lớn tính cách nhân vật Sức hấp dẫn của truyện ngắn loại này lã do sự phát triển của cô't truvện Do ảnh hưởng của thi pháp dựng truyện truyền thõng, vai trò của côt truyện vẫn quan trọng và được nhà văn dụng công thê hiện nhưng đã biên hoá linh hoạt hơn.
Có thể kể ở kiểu (1) một sô' truyện ngắn ở giai doạn dầu những năm 80 của Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Người dàn bà trẽn chuyến tàu tốc hành), truyện ngắn Dương Thu Hương, một sô truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ, truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (tập truyện Con mèo của Foujita) Truvện ngấn Nguyễn Quang Sáng có nhiều tình huông bất ngờ, đầy kịch tính Những truyện ngắn Con ma da, Ngtrời đàn bả đức hạnh
có côt truyện được triển khai trẽn lõi kể chuyện thẳng đuột có đẩu cuôi, bô cục chặt chẽ Nhã văn vẫn giữ quan niệm C1Ĩ cua minh, tức là “truyện ngắn phải có chuyện, tức có thể kệ' cho người khác nghe dược Mà muôn kế', cãu chuyện phải chặt chẽ hấp dấn" (71, 33). Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng tiêu biểu cho loại truyện chân phương nhưng vẫn hấp dẫn Một phẩn do dung lượng
27
Trang 31truyện mở rộng trong một khuôn khổ hạn hẹp Truyện của õng thường ngắn, mỗi truyện chỉ vài trang nhưng tích tụ được nội lực và tạo sức hút Vì vậy cách viẽt không lạ nhưng vẫn thành công.
Ngtrời dản bà trên chuyến, tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu thể hiện sự thành công của nhà văn trong việc tạo nên chiều sâu và kịch tính của tâm lí nhân vật Xét vẻ mặt cô't truyện truyện này cố dung lượng của một truyện vữa, thậm chí tiểu thuyết do “chất tiểu thuyết” có trong truyện ngắn Bố cục truyện chia thành 5 phần, thoạt trông có vẻ ròi rạc nhưng lại liên kết chặt chẽ từ bẽn trong Cô't truyện dàn trải trong một thời gian dài và có tính châ”t li kì, hấp dẫn của một cốt truyện phiêu lưu (cuộc phiêu lưu tình ái của Quì) Ố dây vai trò của cô't truyện vẫn cần thiết Nguyễn Minh Châu vẫn chú ỷ xây dựng những tình huông rắc rôi, li ki, căng thẳng như trong một sô truvện phiêu Lưu - nhưng nhã văn sử dụng nó là nhằm để đi vào chiểu sâu tâm lí nhân vật Nguyễn Minh Châu đã nêu rõ quan niệm của mình “Tồi muốn nhấn mạnh ưai trò của cốt truyện truyện ngăn không phải d ể tạo ra cốt truyện li k l rác rối một cách hình thức
ưô ích, nhung ỉà d ể tạo ra một sức chứa cho tính tư tưởng chủ đề” (50 116). Bằng cách ây, cũng coi trọng yếu tô cốt truyện' nhưng Nguyễn Minh Châu đã thay đổi nhiều trong cách thể hiện, mang lại một cách viết mới mẻ hơn cho truyện ngắn hõm nav.
Vấn coi trọng cốt truyện, tứ sau 1975 đến nay xuất hiện nhiều truyện ngắn nhại cách viết chicomg hổi, với cách lắp ghép, xâu chuôi các chuyện kể, với nhân vật người kế chuyện thòng suô’t, với diễn biến truyện theo trình tự trước sau của thời gian Kẽt cấu chương ■ hỗi “dựa vào sự phát triển liên tục của hành dộng lảm chính Tác giả khi kế chuyện ít dừng lại d ể phản tích tám 'ú mà dựa vào hành dọng dế bộc lộ tàm ir (26.129). Những
28
Trang 32truyện ngắn kiểu này thường mang tính chất nhại (parodie) “Nhại
là một thê° văn châm biếm, dùng sự bắt chước dê chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trào lưu nghệ thuật Phương tiện chủ yếu của nhại lá bắt chước phong cách” (27 155). Nhại thực chãt là bắt chước, nhưng cô' ỷ bắt chước một cách sai lệch Có thể nhại một thi pháp, một tác giả, một thể loại Thõng thường hình thức
“nhại” xuất hiện trong những giai đoạn vãn học giao thởi, lúc dó nảy sinh nhu cầu vượt lên cái cũ dể thể nghiệm, tìm tỏi cái mới Tất nhiên đây không phải là một sự phủ định triệt dể đôi tượng
bị nhại Theo Bakhtine, văn chương nhại, củng như mọi hình thức giễu nhại đều có tính chát hai chiều : nó củng một lúc vừa phủ dịnh, vửa khẳng dinh Ỏ phương Tây, thời ki phục hưng hình thức Parodie xuất hiện ở Cervantes Don Q uỉchotte lã hình thức nhại thể loại Với cuôn tiểu thuyết này Cervantès vừa đưa truyện
kị sĩ tới dỉnh cao, vữa hạ bệ thể loại này Parodie trở thành một hiện tượng khá phổ biến ở Dostoievski Th ế giới nhân vật của Dostoievski thường có những cặp nhân vật bổ sưng - nhân vật nãy là bản sao, nhại lại của nhãn vật k ia :Raskolnikov - Svidrigallov, Ivan Karamazov- - Smerdiakov Ở ta, từ Nam Cao dã có hiện tượng “nhại”. Truyện ngắn Một chuyên xú-vơ-nia là nhại lại lôi văn lãng mạn, tình cảm sướt mướt một thời Sau 1975 có hiện tượng nhại theo lôi viết truyền thông Phổ biến nhất lã loại nhại lôi viết chương hồi và “giả cô" tích”.
Có thể xem truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tiêu biểu cho lôi viêt trên Một sô truyện của l^Jguyejx Huy ThJgjT) chia th à n h 'từ n g phần nhỏ, có đánh sô’ thứ tự, cách viết ngắn gọn, thièn về kể hơn tả.
Truyện ngắn Ị ễ ỉọ Ĩ m áuj chia thành |T4~phaẶ dánh sô' tứ I đến XIV, viêt về cả một dòng họ - dòng_iiíL_Ehạii thất đứ£ loạn luân
vã cả mảy thế hệ con cháu phải trả giá Cô't truyện diễn tiến liền
29
Trang 33mạch, có đầu cuối rõ ràng, mổi đoạn của truyện có chất kết dính bẽn trong theo logic nhân quả, nhằm nêu bật chủ đề “ác giả ác báo” một chủ đề truyền thống.
Tirớ ng về htru với kết câu văn bản chia- thành 13 phẳn nhỏ, đánh sộ' chương m ục I, II, III viết theo lời kể của người kể chuyện ngôi thứ nhât, vai trò, giọng điệu của người kể chuyện bộc lộ rõ Trong từng chương mục nhân vật tôi - người kê chuyện dều trực tiếp nói với người đọc.
Phẩn I : Mở dầu với lời người kế’ chuyện “khi viết những- dòng này ”
Phần II : “Trước khi kể tiếp, tôi xin nói về gia đỉnh tôi ”
Phẩn III : “Tôi quay lại doạn kê ”
Phần X III ; “Có lẽ câu chuyện của tôi kết thúc ở day "
Hình thức dẫn truyện này chính là lời nhại lại cách thức sứ dụng những lời rao trước ở lôi viết chương hồi (“íại nói về ”.
“hổi sau sẽ rõ ”). Mang hình thức của lôi viết chương hồi (lời rao, côt truyện hẵp dẫn, lôi dẫn dắt câu chuyện nhanh gọn )- nhưng truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã yirơt qua kết cân khép kín_của—lỏj—vipt rbirang hổi Cái chết của nhân vật ông tướng trong tác phẩm không chấm dứt mà gợi mở ớ người dọc nhiều vấn để Tác giả không giải quyết hết mọi việc trong tác phẩm mã để nhữ ng khoảng trông cần thiết Quen mã vô cùng Ịa, truvên ngấn của Mguyea-H u y-ĩ h i êp dã- làm “la hod" bô mặt truyên
n gán tứ
sau_L&7Ã-^íóT^Vaĩig) củng thường viết ở dạng “phỏng nhại" Truyện Nhân
sứ (gịaị_nhì cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1991) củng nhại theo lõi viết chương hồi - ỏ đây là nhai cốt trnvên Tâv Dn Truyện chia lả n ^ ba phán/,riêng biệt (không kể lời mờ đầu truyện).
30
Trang 34mỗi phần có thể xem là một tiểu truyện khá hoãn chỉnh Trước mỗi phần tác giả đặt tiêu đề riêng Đây cúng lả hình thức rao trước Đầu truyện có phẩn giới thiệu, dẫn dắt, mào dầu cho câu truyện sẽ kể Cuối truyện có vài lời nhắn gởi, giải thích hoặc răn- de.
Nhại lại hình thức cũ Hoã Vang muôn chuyển tải một nội dung mới- đấy là chủ đề khát vong lảm người Nhân vật Sa Tăng - Kim thân la hán, người nhạt nhất trong bộ tứ di thỉnh kinh, lại
là người duy nhất có thể đại diện cho con người, ngày đêm đau đáu một ước ao làm con người bình thường giữa cuộc dời trẩn tục, bụi bặm Cốt truyện cũ dược sứ dụng lại, mở rộng thêm nhằm đôì thoại với T ây du kí Hoà Vang “nhại” lại đồng thời tránh được hạn chế của lôi viết chương hồi (tức là chạy theo côt- truvện, nhân vật hãnh dộng là chủ yếu chứ chưa có quá trình hạnh dộng và chiều sâu tâm lí) bằng cách tạo bề dãy tâm trạng Nhân vật hiện ra không chỉ theo lời kể mà có chiều sâu tàm lí
- với chứng mất ngủ hành hạ, những suy nghĩ dằn vặt, tự ý thức, những khát vọng người, ơ dây có sự hoà hợp giữa cỏt truyện sự kiện và cốt truyện tâm lí Vai trò của côt truvện vân dáng kể nhưng không qui dinh chặt chẽ tính cách nhân vật mà
có sự chuyển biến linh dộng.
ơ thể loại “nhại” nói trên, văn bản nhại lại (bản sao) thường
ẩn chữa yếu tô hài hước, những hình tượng không tương, hợp,
sự thăng hoa - hạ bệ (Nhãn sứ, Con gái thuỷ thán ), sự giễu cợt, sự thay đổi tõn ti trật tự dã được thiết lập sẵn, kể cả sự
vi phạm những gì vôn quen thuộc thông thường Vừ a phủ định vứa khẳng dịnh, các cây bút hôm nay dã mở ra nhiều hướng rộng rãi cho truyện ngắn Hình thức biệu hiện, cách tiếp cặn hiện thực của thể loại “nhỏ" này ngày càng phong phú hơn.
31
Trang 35Không phải mọi hình thức “nhại” dều thành công, ơ dây chúng tôi chỉ muôn nhãn mạnh một nét rât mới của truyện ngắn hôm nay Hình thức “nhại” nêu trên thể hiện sự dổi mới của truyện ngắn so với truyền thông một sự đổi mới không phải bắt nguồn tứ hư vô.
Kiểu 2 :
Những truyện có cốt truyện “lỏng”, chất “chuyện” mờ nhạt., truyện ỷ thức, tâm trạng - khó tóm tắt, khó kể lại Truyện ít có những chuyển động về mặt hành động bên ngoài, nếu có cũng không tác dộng đến cốt truyện bao nhiêu Hiếm có những xung dột phức tạp, những tinh huông kịch, hoặc lõi kể chuyện có trước
có sau ơ loại này, những nguyên tắc truyền thcTng dường như biên hoá hơn Các yếu tô sự kiện, tình tiết, nhân vật dược triển khai theo m ạch vận dộng của cảm xúc, suy nghĩ lầ chủ yếu Loại côTt truyện lỏng lẻo này hiện nay khá phổ biến Mở dầu
có thể kể Nguyễn Minh Châu Tác phẩm gây nhiều tranh luận là
K h á ch ở quê ra Đ ây lã truyện ngắn có kết câu - cốt truyện rời- rạc, thiếu tập trung; gây cảm giác có sự phân tán chủ dê Khách
ở quẽ ra có qui mô, sô' trang và dung lượng của một truvệnvUÀ Truyện chia ra nhiều doạn nhỏ (llđoạn) Câu chuyện bắt đầu bằng chi tiết bữa rượu gặp mặt vã kết thức khi nhân vật Khúng đáp tàu ra đi Thê nhưng bằng lời kế vã hồi ức của nhân vật, cổt truyện tải ra thành nhiều vân dề thoạt trông có vẻ rời rạc, không ăn nhịp Việc tổ chức kết cấu cốt truyện lỏng lẻo, lắp ráp này là cơ sở để nhiều nhà phê bình băn khoăn.
Lê Thảnh Nghị cho rằng : có cảm giác dôi lúc tác giả “sao
nharipZ—trong việc đảm bảo tính chặt chẽ của kết cấu tác phẩm
(50 187) Triều Dương cho rằng “Nguyễn Minh Châu bộc lộ lối viết
”rôĩ rắm, Lan man'1 K h á ch ở quẽ ra vẫn lại lõi biểu hiện ây, nhưng do độ dài và dung lượng của côt truyện, sự lõi rắm câng
32
Trang 36tăng lẽn" (50, 189) Phong Lê nhận xét: ‘‘Trong truyện ngấn Nguyễn
nghi nọờ phải nghĩ”, “Khách ớ quê ra dề cập dẽh nhiều Dấn dề ( ) nhung rốt cục uẩn không biết dâu là vấn đề của truyện'' (50, 183). Thật ra Nguyễn Minh Châu có cách viết khá tự do tác giả
sứ dụng, xây dựng những chi tiết, tình huô'ng tưởng như ngẩu nhiên, vụn vặt, lộn xộn nhưng đều kết dinh vào hai mạch truvện:
dó là tính cãch nông dân của nhãn vật Khúng vã sự hình thành
dô thị mới qua suy nghỉ của nhân vật nãy Giải thích cách viết
tự do của Nguyễn Minh Châu, Trần Đình sử nêu ra luật “hội tụ ánh sáng” và cho rằng Nguyễn Minh Châu sử dụng luật “hội tụ ánh sáng” d ể soi rọi vào một chi tiết ỉàm cho hình tượng của anh tay bề ngoài rat cá biệt nhưng lại có tẩm khái quát dáng
kế ’ (50, 213). Chính luật “hội tụ ánh sáng” mà Trần Đình Sư nêu
ra khiên cho K h á ch ở quê ra có vẻ rôi rắm ở bề ngoài văn bản nhưng lại chứa mở nhiều vấn đề trong một khuôn khổ tru vện ngắn Tính chât đa thanh của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu một phần là ở đấy.
Truyện ngăn Ị Bttc ^thir gủ-i mẹ Âu C a /cua Y Ban cũng triển khai trên trục tâm trạng, o đây điẽm nhìn đã chuyển vào tâm trạng nhân vật vì thế cô”t truyện dựa trên sự phát triển của tình tiết, biến cô' sẽ trở nên yếu di Khó có thể soi tìm đâu là cốt truvện của truyện ngắn này Toàn bộ câu chuvện lã tiếng kẽu thông thiết đồi quyền làm mẹ của người phụ nữ Với hình thức viết thư ,Y Ban đã khơi sâu vào tãm trạng của nhân vật Truyện không còn là truyện mà lã sư tuôn chảy của dòng thác tâm trạng Kết cấu truyện cũng lỏng lẻo, chỉ là sự lắp ghép bất chợt các chi tiết, sự kiện trong quá trình diễn biến tâm trạng Nhân vật
ảo mẹ Au Cơ không xuất hiện trực tiếp trẽn văn bản và xem ra không dinh dáng hay tham gia vào CÔI truyện, nhưng trong mạch tiên triển của truyện lại ià tác nhân kèt nôi các dỏng mạch cưa
33
Trang 37truyện - những câu chuyện trong quá khứ vả càu chuyện dang
diễn ra ưong hiện tại Nhân vật này không xuất hiện nhưng thấu
suôi; mọi chuyện, là chứng nhân im lặng trong suõt cuộc đôi thoại
với cô gái Sự dán ghèp các chi tiết rời rạc, sự hoà lẫn quá khứ
hồi tưởng, quá khứ diễn ra sự việc (cô gái bị mẹ buộc phải phá
thai) cùng với hiện tại nhãn vật viết thư - tất cả phân ánh tãm
-trạng hoảng loạn của cô gái trong và sau cơn dau, cả thê xác
lẩn tâm hồn.
4 Trên cơ sở phân loại hai kiểu côt truyện của truyện ngắn sau 1975, có thể khái quát một sô' dặc diểm cơ bản sau:
4.1 Đặc điểm nổi bật của cách dựng truyện ngấn hiện nay
là xây dựng cốt truyện theo dòng tâm trạng nhân vật Điều này
giúp phân biệt với dạng cô't truyện truyền thõng, cõ't truyện sự
kiện -Phần lớn truyện ngắn tữ sau 1975 đến nay có kết cấu theo
truyện tâm li Truyện ngắn ngày càng bớt di những côt truyện
gay cân, li kì Nhiều truyện triển khai theo sự vận động tâm trạng
làm thành một kiểu cỗ't truvện riêng, mới mẻ Ó nhứng truyện
như thế vân dề được cảm nhận bằng suy nghĩ, tám trạng nhân
vật hơn là bằng câu chuyện được trường thuật.
Hiện nay dã xuất hiện lại lôi viết bằng trưc cảm, linh cảm
đã từng thây ở Thạch Lam Những cây bút nữ Võ Thị Hảo, Nguyễn
Thị Ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Thị Xuãn
Hà dã góp phần làm nên sự da dạng của truyện ngắn hôm nav
bằng khả năng miêu tả nhay bèn hiên thưc cuộc ■ sông qua thẻ
giới tâm hồn.
Đặc điểm của các cây bút nữ lã khả năng nhận thức trực
giác Nhận thức trực giác ở đây là một năng lực nhận thií-c tông
hợp bao £ĩồm câ ỷ thức lẫn vô thức sảng tạo, không loại trứ trí
tuệ Đảy lã cách viết lạ, dựa trẽn trực g iá c, linh cám để nắm bắt
cái phần sâu xa của cuộc sõng, ơ những truyện ngắn như thế.
34
Trang 38khi lấy tâm trạng làm cô’t lõi của mạch truyện, nhã văn ít quan tâm cụ thể đến hành dộng của nhân vật Môi quan hệ giữa cô’t truyện và nhân vật đã bị lật ngược trở lại so với truyền thõng Thật ra, loại truyện triển khai theo tâitì trạng nhân vật dã xuãt hiện khá sớ m Đ ây lả xu hưỡng chung của truyện ngắn thẽ giới hiện dại Khái quát về truyện ngắn Mỹ, ba tác giả người Mỹ Sylvan Bam et, Morten Berman, Wiliam Burto, nhân mạnh rằng xu hướng xây dựng cốt truvện trên cơ sớ trạng thái tãm tưởng của nhân vật không phải là một sáng kiến của thế kỷ 20 Các tác giả cho rằng “ít ra xu hướng này dã xuất hiện ỏ ba nhà vãn
M.ỹ quan trọng hồi dđu thế kỷ 19 Washington Irving, Mathaniel Hawtheme and Edgar Allan Poe” (7,22). Theo họ vai trò của côt truyện hôm nay không còn quan trọng như trước “Trong truyện ngẩn hiện đại, sự việc xảy ra tự nó không lý thú bằng trạng thái tám tuxỉng của nhãn vật bộc lộ qua sụ- việc dó” utrong truyện ngẩn ta cảm nhận được tãm thức hoặc nhân cách nhãn vật dược bộc lộ nhiều hơn là cảm nhận dược ỷ nghĩa câu chuyện do tường thuật” (7,23).
Sang thế kỷ 20 có Hemingway, nhã văn tiêu biểu cho cách dựng truyện trẽn cơ sở các diễn biến của ỷ thức nhân vật ổ
/Vga có lôL-iâẽt “lữ ng irr_ cảm _giác” của Paoustovski với dôi tượng miêu tả chủ yếu là trạng thái tâm lý của nhản vật.
ơ Việt Nam ngay tứ giai doạn 1932- 1945- giai đoạn hình thành vã phát triển truyện ngắn tứ phạm trù cổ điển sang phạm trù hiện đại, một sô' tác giả như Thạch Lam, Nam Cao, Xuân Diệu cũng dã tìm đến những cốt truyện tâm lí.
Tứ sau cãch m ạng tháng ìam, cách triển khai mạch truvện theo dòng tâm trạng vẫn có ờ một sỗ' nhả văn như Đỗ Chu, Nguyễn Ngọc Tấn với lỗi viết ít hành dộng, nhiều tâm tư Do hoãn
35
Trang 39cảnh dặc biệt của đất nước trong chiến tranh, một thòi gian dài cách viết nãy ít phổ biến.
Tữ năm 1975, nhát là những năm 1980 về sau, dạng truyện tâm lý được khôi phục, bắt đầu tứ Nguyễn Minh Châu, người dược xem là nhà văn dẳu tiên khơi nguồn cho dòng văn học- thời
kv mới Sau Nguyễn Minh Châu hãng loạt phong cách sáng tạo độc đảo đã dưa truyện ngắn sang một giai đoạn phát triển mới
0 dây không loại trừ khả nảng ưêp thu, chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây hiện đại Ván đề là ở chỗ từ một hiện tượng đơn nhất vã có phần riêng lẻ, việc khai thác tình huổng tâm lý
dã phát triển vã trở thành một nét của thi pháp cốt truyện truyện ngắn hiện nay với sự đóng góp của nhiều thế hệ nhà văn.
4.2 Một dặc điểm nữa của thi pháp cô't truyện truyện ngắn-
tứ sau 1975 đến nay là xu hướng lấp ghép liễn văn bán Đây lã nghệ thuật kể chuyện trượt ra ngoài mọi quy ước thể loại- Truyện được viết một cách tự nhiên, không bị gò ép bởi thi pháp truyền thõng Theo xu hướng này, truyện hình thành bằng cảch lắp ghèp các mảnh cốt truyện không theo trình tự thời gian mà hỗn độn, dảo ngược theo dụng ỷ của tác giả Những tình huo’ng tưởng như khống quan hệ dược dịch lại gần nhau, các biến cõ’ xa dược dặt các biến cô' gần Cùng với sự dán ghép đó lã sự di chuyển thường xuyên các điểm nhìn Có thể xem Có một dẽm như thế của Phạm Thị Minh Thư là một thành công dộc dáo của nghệ thuật lắp ghép Câu chuyện được ưiển khai bằng cách lắp ghép hai côt truyện song hãnh - một mảng hiện thực đời thường với gạo cơm, tem phiếu, lương hướng ồn ã vã một mảng hiện thực của măm tháng chiến tranh đẹp và cao cả Có thể tách truyện ngắn này thành hai truyện hoàn toàn dộc lập, tứ chi tiết, sir kiện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, ơ đây, tác giả dã kết hợp hai mạch truyện một cách sinh dộng, lạ lùng và thú vị - hiện tại, quá khứ,
36
Trang 40quá khứ của quá khứ, tương lai của quá khứ từng mảng không gian, thời gian dan quyện nhau khiến cho câu chuyện có dạng íhức rất đặc biệt vã cùng một lúc, trong một phạm vi thể Loại hẹp, câu chuyện thể hiện được nhiều vân đề Đó là lôi sông và cách suy nghĩ của con người trong chiến tranh và trong cuộc sông thời bình Cách lắp ghép tài hoa của Phạm Thi Minh- Iti\r tạo cho t.ác phẩm một giọng điệu đa dạng : vứa trí tuệ vứa trực cam, vứa cao cả vừa dời thường, hiện thực nhưng vô cùng lãng mạn, vừa mang cảm hứng ngợi ca vừa phê phán tinh tế Đấy chính
là hiệu quả của sự lắp ghép theo kỹ thuật điện ảnh.
Truyện ngắn Phạm Thị Hoài tiêu biểu cho xu hướng lắp ghèp này.
Truyện ngắn Phạm Thị Hoài với cái tự do nằm ngav trong câu cứ, nhịp điệu, cách dãn dựng chi ưết, thậm chí nhân vật
Ỏ Phạm Thị Hoài, mỗi truyện ngẩn là một mảnh nhỏ, không đẩu đuôi Tập truyện Mẽ Lộ gồm 20 truyện ngắn (truyện dài nhất củng chỉ 17 trang, truyện ngắn nhất 2 trang) chỉ có hai truvện
là xem ra có côt truyện - theo nghĩa có thể tóm tắt, kể : Người đàn bà với hai con chó nhỏ và Bảy nổi ba chìm Những truyện còn lại chỉ là nhữ ng mẫu đôi thoại vu vơ, những mảnh tâm trạng, dòng suy tưởng Phạm Thị Hoài không dụng công cho kỹ thuật dựng truvện, không quan tâm nhiều dến khái niệm hay nguyên tắc thể loại Với một sô lượng truyện ngắn ít ỏi Phạm Thị Hoài
đã thực hiện nhiều thao tác Lạ so với những nhà văn t-rước cũng như đổng thời, về mặt côt truvện, truyện ngắn Phạm Thị Hoài rất dơn giản Dạng thức của câu chuyện có thể chỉ xoay quanh một cuộc gặp gỡ (Mẽ Lộ), có khi chỉ là một mẫu đôi thoại (Mê
Lô , Khách), một cảm nghĩ (Hoa Sửa), một dạng suy tư tiiết lí (Kẻ giết ý n gh ĩ, Người suy tu* )- Ở những truyện này cõt truyện
sự kiện dược lược giản mộr cách tôi đa Đọc truvện nơắn Phạm