1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lễ hội pang a nụn ban của người la ha ở bản lót, xã ít ong, huyện mường la, tỉnh sơn la

179 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 25,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ta có thể thấy từ khi g ieo trổng đến khi thu hoạch họ, những cư dân nòng nghiệp đã thực hiện nhiều nghi thức, tín ngưỡng không nằm ngoài mục đích đó như: lễ hội xuống đ ổn g của người

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA IỈÀ NỘI TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VÃN

-

0O0 -Vũ Tú Quyên

LỄ HỘI PA N G A NỤN BAN CỦA NGƯỜI LA HA Ở BẢN LÓT, XÃ ÍT ONG,

HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của ricng tôi Các số liệu, kết quả ncu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

H oc viên cao hoc

Trang 3

LỜI CẢM ON

Với lòng biết ơn sâu sác, chúng tôi xin chân thành cám ƠI1 PGS.TS Lâm

Bá Nam , người đã hướng dẫn chúng tỏi hoàn thành luận văn Chung tôi xin chân thành cảm ưu PGS.TS Hoàng Lương, PGS.TS Lê N g ọ c Thắng; chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Viện Văn hoá thông tin, Báo tàng tỉnh Sơn La,

U ỷ ban nhân dân huyện Mường La, bà con nhân dân bán Lót, bản Nà Tòng xã

íl Ong, bán Chiến xã Chiềng San, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn này.

Trang 4

m ụ c: l ụ c:

TrangTrang phụ bìa

Lơi cam đoan

1.2.1 Sơ lược về lịch sử tộc người và tên gọi 15

Trang 5

1.3.2 Về vãn lioá - xã hội 22

Chương 2 - LỄ HỘI PANG A NỤN BAN CỦA NGƯỜI LA HA ở 32

B Ả N LÓT, XẢ ÍT ON G , H U Y Ệ N M U Ờ N G LA, T Í N H S Ơ N LA

Chương 3 - LỄ HỘI PANG A NỤN BAN TRONG ĐỜI SONG 66

TỘC NGUỜI VÀ QUAN HỆ TỘC NGƯỜỈ

3.3 Giá trị lịch sử vãn hoá của lễ hội Pang a nun ban 86

Trang 6

MỚ ĐẨU

1 T ín h c ấ p th iết c ủ a đê tả i:

1.1 N ông nghiệ " 1 '' ' ' ' tố chú đạo cửa các cư dàn Việt Nam

từ đổng bằnu cho tới các tỉnh trung till, miền núi Các loại hình kinh tố nống nghiệp của m ỗi tộc người thường gán liền với những sinh hoạt văn hoá, những phong tục tập quán cũng như những tôn giáo tín ngưỡng l iêng của từng tộc người đó Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với nông nghiệp được thể hiện qua từng giai đoạn, từng chu kỳ trồng trọt, từng loại hình irồng trọt từ khi g ie o trồng đến khi thu hoạch N ghicn cứu một hình thức tôn giáo, tín ngưỡng nông nghiệp của một tộc người ta có thể hiểu được phần nào nhân sinh quan và thế giới quan của họ Các lễ hội đều có tính chất cầu mùa rõ nét với các hình tliírc tín ngưỡng có tính ma thuật cũng như tính phồn thực nhằm

m ục đích cầu m ong cho mùa m àng được tươi tốt, bội thu Ta có thể thấy từ khi

g ieo trổng đến khi thu hoạch họ, những cư dân nòng nghiệp đã thực hiện nhiều nghi thức, tín ngưỡng không nằm ngoài mục đích đó như: lễ hội xuống

đ ổn g của người Nùng, một số lẻ hội của người Việt, lỗ hội của người Thái, cũng như của người Khư mú, người La Ha, Kháng

Việt Nam nói riêng, Đ ôn g Nam Á nói chung, vốn là cái nôi trổng trọt, nơi phát sinh ra nghề trồng lúa Chính vì vậy, trong dời sống tinh thần của các đàn tộc nơi đây, các tín ngưỡng, lỗ nghi nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng, góp phần hình thành ncn bản sắc vãn hoá dân tộc Là cư dân canh tác lúa truyền thống, người La Ha ở Việt Nam vẫn còn lưu giữ dược nhiều till ngưỡng, nhiều lễ nghi nông nghiệp phong phú và đặc sắc, trong dó có “ Lỗ cúng m ãng hoa” (Pang a nụn ban) Nghiên cứu lỗ thức này sẽ dóng góp vào việc báo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc như Đ ang và Nhà nước đã dề

24913768

Trang 7

1.2 Những năm gần đây, do sự phát triển kinh tố, quá trình cộng cư và giao lưu văn lioá mạnh m ẽ, văn hoá của người La Ha ở Sơn La đang biến đổi nhanh chóng Những yếu tố văn liơá truyền thống có nguy cơ mai một trong dời sống cộng đổng.

1.3 Đ ịa bàn được chọn để nghiên cứu là một trong 8 bản thuộc diện di (lân vùng lòng hổ thuỷ điện Sơn La nên việc nghiên cứu một trong những thành tố văn hoá tiêu biểu của tộc người sẽ không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa

học, V nghĩa về mặt thực tiễn nhằm góp phần vào việc biio lưu những di sán

văn hoá truyền thống độc đáo của Iigưừi La Ha nói riêng, di sán văn hoá quốc gia nói chung mà nó còn có tác dụng làm phong phú hơn nguồn tài liệu vé văn lioá tộc người trong kho tàng văn hoá Việt Nam.

Không như một số tộc người có số dân cư đông như Thái, Tày,

Hm ông vấn đề nghiên cứu văn hoá tộc người La Ha cho đến hiện nay vẫn

11 ít được các nhà khoa học quan tâm Trong một số tài liệu chuyên ngành, người La Ha được biết đến với tên gọi “X á”, nhưng cũng thật khó khăn cho những người làm công tác nghiên cứu sau này vì những tài liệu này được viết vào những năm 60 trở về trước thường quy một số tộc người sống bên cạnh người Thái là “X á” Trong số những tài liệu này có thế kê đến cuốn Các (lân

N guyễn Hữu Tuấn, Mai Văn Trí, N g ọ c Anh và Mạc Như Đường xuất bail năm

1959, bài viết của S.A Aruchiunỏp, A.I Mukhơlinôp do Nguyễn Việt Nga

dịch Về dặc trưng (lân tộc học các dân tộc nhóm Xá lưu tại Viện Dân tộc học nam 1972 Chính vì vậy, việc phân biệt tộc người La Ha với một số tộc người láng giềng là rất khó khăn.

Cuốn Các (lân tộc IIÍỊUỒH lỊốc Nam Á à miên Bắc Việt Nam của Vương Hoàng Tuyòn xuất hán năm 1963 chi đé cập đến các dân tộc thuộc nhóm ngôn

Trang 8

ngữ Môn - Khơme (ông không xếp người La Ha vào nhóm ngôn ngữ này)

N am 1972, nhóm tác gia Đặng Nghiêm Vạn, N guyễn Trúc Bình, N guyễn Vãn Huy, Thanh Thiên viết cuốn Nhữ/lị! nhóm dân tộc thuộc niịữ hệ Nam Á à Tùy

Cuốn Cúc (lán tộc ở miền Bắc Việt Nam của N guyễn Đ Ì11I1 Khoa xuất hán năm 1976 lại là tài liệu về nhân chủng học Trong cuốn sách của mình,

óng xếp người La Ha vào nhóm ngôn ngữ M òn - Khơ me và đưa ra một sô cứ

liệu vé nhân chủng học của tộc người Ông cũng khảng định: cùng với một số tộc người anh em, người La Ha trước dày được gọi chung cùng một tộc danh

“Xá” và người “X á” vốn được xem là những người bán địa lâu đời ớ vùng này.

Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, một số công trình nghiên cứu đã để cập đến dân tộc La Ha Đ áng chú ý là cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam

quát về người La Ha và xếp ngôn ngữ La Ha vào nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác như Nịiitổn ÍỊỐC

Chí Huyên, H oàng Hoa Toàn, Lương Văn Bảo xuất bản năm 2000, Nghiên

cứu ngôn ngữ c á c d â n tộ c thiểu s ổ V iệ t N a m của Trần Trí Dõi xuất bản năm 2000 Những nghiên cứu này dề cập đến tộc người La Ha trên cư sớ để làm

cứ liệu về nguồn gốc tộc người và ngôn ngữ tộc người.

Cho đến gần đây có một s ố nghiên cứu về tộc người này như: đề tài về

của Sở V H T T Lào Cai về Một số phong tục truyên ihốiiiỊ của niỊiíừi La Hư ớ

7

Trang 9

nhưng đổ tài này cũng chí mới dừng lại ở hước nghiên cứu sư lược ve lỗ hội này mà thôi Do đó, dây còn là một khoang trống đòi hỏi sự đáu tư nghiên cứu xứng đáng với những giá trị cứa nó.

Trên cơ sở kế thừa người đi trước, tiếp tục đào sâu thêm và tập trung

1 hoi gian hưn, chúng tỏi chọn đề tài Lẽ hội Panỉị a mill ban cùa người La Ha ứ bản Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La với mong muốn tìm ra những giá trị văn hoá cổ truyền còn được lưu giữ thông qua việc kháo sát các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu diễn ra irong lỗ hội, qua đó Iièii

ý nghĩa thực liễn của những giá trị văn lioá đó trong dời sống hiện tại.

3 Đ ô i tượng và p h ạ m v i n g h iê n c ứ u :

3.1 Đ ối tượng của luận văn “Lễ cúng m ăng hoa” của người La Ha ở bản Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Đ ây là lễ thức mang nhiều yếu tô phồn thực có tính chất cầu mùa, phổ biến hầu hết các dân tộc có nền s;ín xuất nông nghiệp cổ truyền Việt Nam Ngoài những đặc trưng chung, ở mỗi dân tộc, các hình thức cầu mùa lại có nét đặc sắc riêng Nội dung của luận văn chủ yếu tập trung vào những vân đé sau: tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú cũng như về kinh tế, văn hoá, xã hội của tộc người; Miêu thuật không gian, thời gian diễn ra lỗ hội cũng như tiến trình của lễ thức; So sánh với lỗ thức (Xên lẩu nó) của người Thái đen Sơn La đế tìm ra những nét tương đổng trong văn hoá của hai tộc người.

3.2 Với đề tài “Lễ hội Pang a nun ban của người La Ha ở bail Lót, xã ít Ong, huyện Mirừng La, tỉnh Sơn La” luận vãn tập trung nghiên cứu tại địa bàn bail Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Ngoài ra, luận văn còn tìm liiéu vổ lỗ hội Xên lẩu nó của người Thái đen trên địa bàn Sơn La đê có những

cứ liệu so sánh về lễ thức của hai tộc người

Trang 10

4 M ụ c (líc h n g h iê n c ứ u :

4.1 Tập hợp các thông tin, tư liệu về các thành tố vãn hoá của người La

Ha, đặc biệt là các tư liệu về Lễ cúng măng hoa, góp phần làm phong phú hơn

nguồn tư liệu về văn hoá tộc người

4.2 Giới thiệu về không gian, thời gian và các hình thức tín ngưỡng,

phong tục tiêu biểu diễn ra trong lễ hội dân gian truyền thống Qua đỏ thấy

được vai trò, tác động cửa văn iioá dàn gian trong sinh hoạt van hoa cộng

đồng, đổng thời ta có thể thấy những ánh hưởng nhất định của điều kiện địa lý

đối với đời sống và lnrớng hoạt động của con người qua quá trình nghi lỗ lioá

lịch canh tác và phép thuật nông nghiệp cùa cư dân nông nghiệp.

4.3 So sánh “Lễ cúng măng hoa” của người La Ha với lẻ “Xên lẩu nó” của người Thái đen Sơn La để thấy sự ảnh hưởng văn hoá của tộc người có số dân đông hơn, văn hoá bao trùm hơn, giúp chúng ta thấy được cái riêng trong cái chung, cái chung trong cái riêng, tính (hống nhất trong đa dạng của văn hoá V iệt N am Hơn hết, đây sẽ là cơ sở để clìiing ta có những giải pháp kế

thừa và bảo tổn những thành tố vãn hoá tộc người, di sản văn hoá quốc gia

5 P h ư ơ n g p h á p n g h iê n c ứ u :

5.1 Luận văn vận dụng quan điểm của chủ nghĩa M ác-L ênin về k ế thừa vốn văn hoá truyền thống, vận dụng đường lối của Đ ảng C ộng sán và Nhà nước V iệt N am trong việc bào tổn và phát huy vốn di sán văn hoá dân tộc đế xây dựng nền vãn hoá mới tiên liến, dậm đà bản sắc dán tộc.

5.2 Luận văn sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học như quan sát, tham dự, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm, mô tả, sưu tầm tư liệu, chụp ảnh,

quay phim

5.3 Luận văn sử dụng phương pháp phàn tích, phương pháp lổng hợp

nhằm tìm hiểu ý nghĩa trong các hoạt động cùa đối tượng được nghiên cứu.

9

Trang 11

Luận văn CÒI1 sử dụng phương pháp so sánh, dối chiếu với các tài liệu nghiên

cứu dã có về lẻ hội Pang a mill ban của người La Ha và Xên láu I1Ó của người

Thái đen nói chung và tài liệu 111 ực tê về hai lẻ thức này nói liêng đê thây dược những ánh lnrởng vãn hoá giữa các cộng đồng người cư trú trong cùng một

kim vực, đổng thời sẽ giúp ích cho việc nhận diện nét đặc thù cửa văn hoá dân

gian La Ha.

Những khó khăn và thuận lọi:

Khi thực hiện luận văn chúng tôi đã gặp một số khó khăn như: bán ihân

là nữ lại nghiên cứu tại địa bàn xa (một tỉnh m iền núi phía Bác), đi lại klìó khăn, ngoài đoạn đường bộ đang thi công từ Hoà Bình đến M ộc Châu, chúng tòi còn phải đi thuyền ngược sông Đ à 13km mới đến được địa điếm nghiên cứu K hông chỉ nghiên cứu ở một tộc người (La Ha) tại bản Lót xã ít Ong, cluing tôi còn khảo sát về người Thái ở bản Nà Tòng xã ít O ng và bản Chiến

xã C hiềng San Với địa bàn thực tập như vậy, chúng tôi thực hiện khao sát thành 2 đợt: đợt 1 trong 12 ngày (từ ngày 3 /5/20 0 0 đến ngày 14/5/2000), đợt 2 trong 15 ngày (từ ngày 15/4/2003 đến ngày 2 9/4/2003) N goài ra, chúng tôi còn gặp rất nhiều trở ngại trong việc giao tiếp với người ban địa là người Thái hoặc người La Ha thuộc diện đối tượng cần phỏng vấn do đó, chúng tỏi chi có ihê hoàn thành phần nào trong khôi lượng lớn côn g việc cua luận văn.

Bên cạnh những khó khăn vừa nêu, cluing tôi cũng có một sổ những

thnẠn lợi khi thực hiện luận văn như: k ế thừa nguồn tư liệu về đối tượng được

nghiên cứu của Viện cũng như của Sở V H T T Sơn La, Sở V H TT Lào Cai, Hội Van nghệ dân gian Sơn La Ngoài ra, chúng lôi cũng nhận được sự giúp dữ tận tình của Báo làng lỉnh Sơn La, Uý han nhân dân huyện Mường La, các cán bộ đồng nghiệp cũng như của cán bộ địa phương

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham kháo và phụ lục, luận vãn được trình bày gồm 79 trang và được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát về người La Ha ở bản Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tinh Sơn La.

Chương 2: Lễ hội Pang a nun ban của npười La Ha ở bail Lót, xã ít Ong, huyện Mường La, tính Sơn La.

Chương 3: Lễ hội Pang a nụn bail trong đời sống tộc người vù quan hệ tộc người.

6 Bỏ cục của luận văn.

11

Trang 13

KHÁI QUÁT VỂ NGƯỜI LA HA Ở BẢN LÓT, XÃ ÍT ONG,

HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- huyện Thuận Châu; phía tây giáp xã Mường Trai - huyện Mường La; phía bắc giáp xã Pi Toong - huyện Mường La.

Xã có độ cao trung hình từ 600 đến 700m so với mực nước biển, địa hình phức tạp Các dãy núi ở xã thường cao, dứng Phía bác Sông Đà địa hình nghiêng từ đông bắc xuống đông nam Địa hình như vậy gây ánh hưởng nhiều cho việc phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là về giao thông đi lại rất khó khăn

1341.

Xã gồm có 21 bản: bản Pá Mu, Chà Lào, bản Lót, bản Pểnh, Hua Lon,

Nà Lo, Con Cu, Nà Kè, Nà Nong, Hua ít, ban Tráng, Dạng trên, Hua Nà, bản

Mé, Nà Chà, ban Till, Pííng Quài, ít Bon, Nà Tòng, Co Liu, Dạng dưới và 4 tiểu khu: tiểu khu I, tiểu khu II, tiểu khu III và tiểu khu IV.

Bán Lót, còn được gọi là bản Van Lót, một ban nhỏ thuộc xã ít Ong Iniyện Mường La, tính Sơn La Bản được gọi theo tên COI 1 suối Van và cây Lót

ớ đáu nụuổn COI1 suối Theo tiếng La Ha thì “V an” có nghĩa là khe, suối (?).

Trang 14

Còn “L ó t ” nghĩa là cày nhót (một loại cây thuộc họ cây leo có hoa trắng, quá chín đỏ tlurờng kết trái vào mùa xuân) Người dân nơi dây thường gọi bán Van Lót là han Lót hoặc bản Huổi Lót Trên bán đồ hành chính bán có tên là bíin Lót thuộc xã ít Ong.

Bản Lól nằm ở lưng chừng núi bên dòng sông Đà, cách trung tâm huyện Mường La khoảng 13km về phía tây Đường giao (hông duy nhất là đường sông (họ đi lại, vận chuyên hàng hoá bằng thuyền trên sông Đà), không có đường ỏ tô tới bản Phía Dông giáp bản Mon - xã ít Ong;' phía Táy giáp han ( ’ha - xã Ít Ong; phía Bác giáp xã Pi Toong; phía nam giáp sông Đà (bên kia sông Đà là Liệp Tè, huyện Thuận Châu).

1.1.2 Đãc điểm tư nhiên:

Diện tích tự nhiên của xã ít Ong là 4739 ha, trong đó:

+ Đất sán xuất nông nghiệp 925,29 ha, chiếm 19,53% lổng diện tích

tự nhiên; đất trổng cây hàng năm chiếm diện tích khá lớn so với diện tích đất nông nghiệp 866,46 ha.

+ Đất lâm nghiệp là 1249,84 ha, chiếm 26,37% tổng diện tích tự nhiên,

chủ yếu là rừng khoanh nuôi tái sinh và rừng trổng bảo vệ đầu nguồn.

+ Đất chuyên dùng là 174,86 ha, chiếm 3,69% tổng diện lích tự nhiên

trong đó đất xây dựng là 17,25 ha gồm: trụ sở các cơ quan hành chính, trường học, bệnh viện, trạm y tế Đất giao thông 17,92 ha có 0,6 ha đường cấp phôi còn lại chủ yếu là dường mòn Đất thuỷ lợi là 103,64 ha, mặt nước chuyên ilùng là 100 ha, còn lại là kênh mương thuý lợi.

+ Đất đô thị là 39,77 ha, chiếm 0,84% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung xung quanh huyện lỵ còn một số phân tán rải rác ở lưng chừng đổi.

13

Trang 15

+ Đất clura sử dựng là 2349,24 ha, chiếm 49,57% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có kha năng khai thác đưa vào sản xuất nông, làm nghiệp còn khá lớn.

Con sông Đ à chảy qua địa phận của xã với chiều dài gán 13km, ngoài

la còn c ó các suối nhỏ chảy vào sông Đà Các sồng, suối của xã về mùa mưa thường chảy rất mạnh, ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống vù kinh tế của nhân đùn trong xã Ngoài nước trời, các sổng, suối và một sô I11Ó nước lit nguồn, cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân ứ đây 134].

N guồn nước sinh hoạt cíia người dân bản Lót là nước khe, suối từ trong núi ch ảy ra.

Rừng ở địa bàn xã chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn.

Là một ban thuộc xã ít Ong nên bán Lót cũng ít nhiều có những đặc tính đất đai của toàn xã Đất đai của xã ít Ong gồm các loại chính như sau:

- Đất feralit bao trùm hầu hết vùng đổi núi có mầu đỏ vàng, đỏ nâu, chứa nhiều Fe, Al, có phản ứng chua nhẹ Loại đất này thích liựị) cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả dài ngày.

- Đ ất phù sa sông suối phân bố chủ yếu ven các suối N ậm M e thích hợp ch o việc trổng lúa, hoa màu và cây ăn quả.

- Đất dốc tụ phần lớn phân bố ở các thung lũng, trong quá trình canh tác

dà biến đổi dần, thích hợp cho việc trổng lúa, hoa màu, cây ăn quả.

X ã nằm trong vùng khí hậu m ang tính nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của g ió mùa đông bác, có hai mùa rõ rệt.

Trang 16

+ Mùa mưa từ tháng 3 đến tháng 10, mùa này Ihường nóng và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình từ 21-25° Đ ộ ẩm không khí trung bình là 75% Lượng mưa từ 1.400-1.500m m /năm , tập trung vào các tháng 7, 8, 9.

+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này khí hậu thường lạnh, có nơi còn có sương muối.

D o ảnh hưởng của các dãy núi, sông Đà, hệ thống các suối của xã ít

O ng nên khí hậu ở đáy có nhiều tiếu vùng nhò Vùng dọc sông Đ à có nhiệt độ bình quân thường cao hơn xung quanh từ 1-2° [34].

D o nắng và mưa không điều hoà cho nên gây rất nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân v ề mùa khỏ nhiều nơi thiếu nước, về mùa mưa thường gây 1Q lụt, xói lở mạnh.

1.2 S ơ lược lịch sứ tộc người và sự p h ả n bô dân cư ở bản Lót, x ã í t O ng:

1.2.1 ■ Sơ lươc vé lịch sừ tốc nmrời và tên Roi:

T heo các tác giả Đ ặng N ghiêm Vạn, Cẩm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim  n, trong cuốn liệ u về lịcli sử VCI xã h ộ i dân tộc T h á i, vào những năm thuộc thiên niên kỷ thứ I trước Công nguycii người Thái đã cư trú ở một phần nhỏ Tây Bấc Việt Nam Tuy nhiên số lượng người Thái chưa nhiều vì đó chủ yếu lù đất đai của các cư dân Môn - Kliưme và các nhóm Nam Á khác Trong các truyền thuyết của người Thái đều ghi nhận hồi đó có “555 giông Xá và

333 g iố n g Thái” [40: 29],

T heo truyền thuyết trong “Q uắm tố m ường” thì lớp người đáu tiên được Then cử xuống “ăn” đất trần gian dể dựng bản, lập mường “gồm có mười gióng Xá có năm giống Thái” [40: 49], sail đó là những lớp người khác (lược

cử xuống nhưng đều không trụ lại được, cuối cùng Then cử một nhóm người khác xu ốn g với “ba trăm ba mươi họ X á, năm trăm năm mươi họ Thái” [40: 54|.

15

Trang 17

Cũng theo “Quắm tố m ường” Lò Lạng Chirợng trong quá trình di tìm (lát đã gặp sự kháng cự của các tộc người Xá bán địa Khi đèn Mường La Lạng Chượng “đã phải đánh nhau với người Xá do tướng Khun Quàng cầm đấu”

Nlnr vậy, các tư liệu tlnr tịch cổ và truyền thuyết của người Thái dã công nhận sự có mặt của các tộc người Xá (trong đó có người La Ha) ứ vùng Tây Hắc Việt Nam với tư cách là những cư dân ban địa.

Đ ặng N g h iêm Vạn, trong côn g trình nghiên cứu Sư liỉực về sự thiên dỉ

Xá là dân tộc chủ thê ở Tây Bắc hổi đó cư trú ở khắp ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ H ọ là tổ tiên người X á Khao và các nhóm Xá khác thuộc ngữ

hệ Môn - K h ơ m e ” [38: 401],

Một tài liệu khác cũng ghi nhận “Tổ tiên người La Ha đã sớm có mặt ớ

m iền Tây Bắc nước ta V ào th ế ký X I-XII, khi ngành Thái đen thiên di đến

m iền này, tổ tiên người La Ha đã cư trú ở nhiều nơi, với rất nhiều tên gọi được ghi chép trong các sách cổ chữ Thái” Cũng theo tài liệu này thì người La Ha thuộc ngữ hệ N am Á Cùng với ngôn ngữ Pu Péo (Hà Giang), ngôn ngữ La Ha

có nhiều yếu tố M ôn - Khơm e, Tày - Thái và M alayô - Pôlinêdia Dàn tộc La

Ha được chia thành hai ngành La Ha ủ n g (La Ha ở nước) và Klilá Plilạo huy

La Ha Phlạo (người La Ha ở cạn) [42: 243], Hiện nay, chúng tôi chưa xác định được người La Ha ở bản Lót xã ít O ng thuộc vào nhóm La Ha nào.

Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm địa lý hoặc đặc trưng tộc người mà người

La Ha được các tộc người láng giến g gọi bằng những cái tên khác nhau Người Thái gọi họ là: “Xá Cha” , “Xá Bung” , “Xá khao” , “Xá táu nhạ”, “Xá Poọng”, “Xá U ộ n g ” Người Kháng gọi họ là “ BỈI Ha” Người Khơ mú gọi họ

là “ pụa” [35: 211].

Trang 18

Trong các tài liệu dân tộc học những năm 60 trư về trước, người La ỉ ỉa, cùng với nhiều tộc người khác ở vùng núi phía Bác, thường dược biết đến với tộc danh là “X á” Theo bán thống kê của nhóm tác giá Lã Văn Lô vào năm

1959 thì tộc người Xá được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tạng-M iến thuộc ngữ hệ Hán Tạng, gồm: Xá Khao, Xá Cảu, Xá Xíp, Xá Phó, Xá Kha và người Tinh (vùng Bá Thước, khu IV) với tống dân số là 18.872 người [31: 241] Cũng theo tài liệu này, tiếng nói của người Xá Phó, Xá Khao Mường Tè thuộc ngữ

hệ Tạng-M iến, còn tiếng nói của người Xá Ciíu, Xá Khao Mưừng La thuộc

ngữ hệ Môn Khơ me Ớ Mường La, người X á có 1.182 người 133: 151-152]

Trước đây, cùng với người Kháng, Cống, người La Ha được gọi là XII Khao [4: 106] Trần Trí Dõi, trong nghiên cứu vể ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô' Việt Nam, đã xếp người La Ha vào nhóm ngôn ngữ Ka đai thuộc họ Thái - Kactai cùng với người La Chí, Cơ Lao và Pu Péo [4: 145].

Theo các tác giả N guyễn Chí Huyên, Hoàng Hoa Toàn, Lương Vãn Bao thì “có thể “L ão” ở đây là tên phiếm chỉ chung cả các tộc người ngôn ngữ Môn - Khơ m e (Kháng, La Ha, Xinh Mun mà trong thư tịch Thái xưa gọi chung là người Xá) bản địa xa xưa cư trú ở Tây Bắc nữa” [8: 112].

Đ ặng N ghiêm Vạn cũng cho rằng “Lão tức là Lạc Đ ó là bộ phận tiền ihân của ngành Tày - Thái Rất có thể trong đó còn có cá tiền thân các dân tộc

Xá thuộc ngữ hệ Môn - Khơme nữa” [37: 389J.

Trong một nghiên cứu khác, Đ ặng N ghiêm Vạn và N guyễn Trúc Bình,

N guyễn Văn Huy, Thanh Thiên cho rằng “có lẽ người “Xá Cha” và người “Xá

La N ga” là tổ tiên cùa người La-ha hiện nay, vì cho đến nay người La-ha ở Than-Ưyên (N ghĩa Lộ - nay là tỉnh Lào Cai - VTQ) vẫn đirợc người Thái gọi

là “Xá Cha”; còn “Xá La N ga” có thể là tên gọi chệch từ tên "La-ha” ” Ị35: 212-213],

Trang 19

T heo hồi ức của người La Ha ban Lót, huyện Mường La, Sơn La thì tổ liên của họ (cách đây khoảng 4-5 đời) di chuyển từ Lai Châu xuôi bò dọc sòng

Đà xuống, khi đến vùng đất này thì bè của họ bị mắc cạn Cho ràng dây là vùng đất tốt, họ lên bờ làm nhà, lập bản và sinh sống ở đó Vì thế, người La

Ha ở đây tự gọi mình là K ỉ á khạniỊ vạy Còn người Thái gọi họ là Sạ kanii chạv

nghĩa là La Ha trôi mắc (?)'.

Người La Ha ở bản Lót hiện nay có ba (lòng họ: họ Lò, họ Quàng và họ Tòng N goài ra, cư dân bản Lót còn có họ Cà nhưng chi cp người Thái trong bản mang họ này.

1.2.2 Sư phân bố dân cư:

Theo tổng điều tra dân số năm 1999, dán số của người La Ha là 1.800 người, phân bố trên địa bàn hai tỉnh Sơn La và Lai Châu, ở Sơn La, người La

Ha cư trú rải rác tại các huyện Mường La, Thuận Châu và Quỳnh Nhai Họ thường sống xen kẽ với người Thái, quy m ô của mỗi ban từ vài chục đến vài tràm người.

Dân số toàn xã ít Ong, huyện Mường La là 7998 người với 1445 hộ (làn

cư, chủ yếu có 4 dân tộc, trong đó:

- Dân tộc Thái là 5 360 người, chiếm 66,34% dân sô toàn xã.

- Dân tộc Hm ông là 316 người, chiếm 3,95% dân sò toàn xã.

- Dân tộc La Ha là 114 người, chiếm 1,42% dàn số toàn xã.

- Dân tộc Kinh là 2262 người, chiếm 28,29% dân số toàn xã [34].

Các thành phần dân cư này phân bố rái rác: người Thái cư trú ở 16 bán như Hua ít, Hua Nà, Nà Tòng, Nà Kè, Nà Lo, Con Cu, Bán M é, Co Liu, Nà

M ong, ít Bon ; người La Ha ở 3 han đó là bán Pểnh, bủn Lót và Cha Lào;

Trang 20

người Hm ổng sinh sống ở 2 bán Nà Trà và Pứng Quài; người Kinh sinh sống chủ yếu ở trung tâm xã.

Năm 2003, bán Lót có 39 hộ gia đình với 223 nliân kháu, trong đó nam giới có 111 người chiếm 49,7% dân số, nữ giới có 112 người chiếm 50,3% dân số Dân cư trong bản là người Thái và người La Ha Người La Ha có 22 hộ gia đình với 114 nhân khẩu, trong đó nam giới có 54 người chiếm 47,3% , nữ giới c ó 60 người chiếm 52,7% Nam giới trong độ tuổi lao dộng là 25 người,

ch iếm 21,9%; nữ giới trong độ tuổi lao động là 28 người, chiếm 24,5%; còn lại là tre em và người già với 61 người chiếm 53,6% 17 hộ gia đình người Thái có 109 nhân khẩu, trong đó nam giới có 57 người chiếm 52,2% , nữ giới

có 52 người chiếm 47,8% Nlur vậy, gần một nửa dân số trong bản là người Thái.

1.3 Đ ò i sôn g kinh tế - ván hoá - x ã hội.

1.3.1 Về kinh tế:

Người La Ha sinh sống chủ yếu bằng phương thức canh tác lúa nương theo hình thức luân canh M ỗi gia đình có khoảng sáu, bảy mánh nương để trổng lúa nhưng m ỗi nương chỉ trồng một vụ rồi bỏ hoá chừng năm sáu năm sau mới quay lại canh tác ở nương cũ Trước đây, m ỗi khi chuyển nương là một lần cả bản phải chuyển đến nơi ở mới, đến nay tuy vẫn duy trì việc canh lác nương rẫy theo kiểu luân canh nhưng hình thức du canh này không gắn liền với việc du cư nữa Đất rừng làm nương rẫy được chia đều theo từng nhân khẩu V iệc làm ăn riêng rẽ, lấn chiếm , phá rừng làm nương không được phép xáy ra Mọ cùng nhau canh tác tại một khu vực, cứ sau khoảng năm năm họ lại quay trở về điểm canh tác đầu tiên.

C ông cụ làm nương rất đơn giản, chỉ có con dao đê phát nương, cái gậy chọc lỏ dế tra hạt, con dao dùng để cào cỏ.

ly

Trang 21

Nương (har) được chia thành ba loại: nương thoải (har qua), nương dốc dứng Ợ ia r să n ), và nương dốc bằng (h a r p in li). Tuỳ lừng loại nirơng m à họ

trổng lúa, ngỏ, khoai, sấn, bông, dậu tương Cũng như nhiều dân lộc canh tác nương rầy khác, quy trình làm nương của người La ha ở bán Lót vẫn là phát, đốt, chọc, chia Nương thường được phát vào tháng 3, đốt vào tháng 4 và tra hạt vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 (chuẩn bị vào mùa mưa) Tuỳ từng loại mrơng mà họ thu hoạch vào những thời điếm khác nhau, ví dụ: nương ngô thường thu hoạch vào tháng 7, sắn thu hoạch vào tháng 12, và lúa thường được

gặt vào khoảng tháng 9-10 và thu hoạch vào tháng 11-12 (sail khi gặt họ

thường chát thành từng đống ở ngoài nương rồi inới chuyên dần về nhà).

Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các hộ gia đình trong bản là không lớn

V ới tinh thần tương thân tương ái, họ giúp đỡ lẫn nhau những khi giáp hạt, những lúc khó khăn.

Ngoài những con vật nlnr gà, lợn nuôi chủ yếu là dùng để cúng lễ và tiếp khách, người La Ha còn nuôi trâu, bò, dê để bán Trâu, bò thường được

nuôi ớ ngay dưới gầm sàn, dê được nuôi ở cạnh nhà Người La Ha đã biết làm

vườn, và bắt đáu nuôi thả cá, vườn c ó hàng rào bao quanh đế bao vệ.

Dán cư ử bản Lót còn có nghề đánh bắt cá trên sông nhằm đáp ứng nhu

cầu thực phẩm tươi sống Bắt cá, xúc tôm là công việc thường ngày của trẻ

em , quăng chài, thả lưới là công việc của đàn ông Đ ôi khi phụ nữ cũng tham gia vào công việc đánh bắt cá lấy thức ăn hàng ngày M ỗi gia đình đều có thuyền g ỗ nhẹ làm phương tiện đi lại, chuyên chở hàng hoá, nông sản, đổng thời là phương tiện đánh bắt cá N goài ra, người phụ nữ La Ha còn lên rừng hái cúc loại rau, củ, qua về cải thiện bữa ăn Hoạt dộng săn bán ván diễn ra

nhưng không thường xuyên Đây là m ột nguồn Cling cáp thịt cho bữa an trong

gia dì nil Cuộc sống ớ đây vẫn m ang tính tự cung tự cấp

Trang 22

Trẻ cm thường dược bô mẹ iruyền lại những kinh nghiệm canh tác nương rẫy và đánh bắt cá Ngoài ra, tuỳ theo giới tính vù độ tuổi, chúng còn dược dạy những kỹ năng khác như dan lát, thêu dệt, may vá Họ cho ráng

COI1 trai thì phải biết đan lưới, đan chài, con gái thì phải biết trổng bỏng dệt vái, làm khăn piêu.

V ề ăn uống, thức ăn cơ bản của đổng bào là ngô và gạo nếp sán và khoai sọ cũng chiếm một vị trí lớn trong lương thực của họ Gạo nếp Ihường được đồ lèn bằng cái ninh xôi Trong tnrờng hợp nhà có khách từ xa đến khổng ăn được cơm nếp thì nâu cơm tó cho khách và ông chủ nhà ăn (nụười thay mặt gia đình tiếp khách) còn các thành viên khác trong gia đình vần dùng cơm nếp.

Trong nhà của người La Ha nào cũng có khung cửi, họ thường tự dệt vải

để phục vụ ch o nhu cầu m ặc của bản thân và gia đình N goài ra, các thiếu nữ

La Ha còn phải tự trang bị đệm, chăn, gối để làm của hổi môn khi xuất giá

N gày nay hoạt động này không diễn ra tlnrờng xuyên nữa Trang phục cùa phụ nfr người La Ha bản Lót có phần gần gũi với trang phục I1Ữ giới của người Thái đen Họ cũng mặc áo cánh ngắn có hàng khuy bạc, váy màu đen, có cạp

và có thắt lưng màu xanh Phụ nữ La Ha cũng đội khăn piêu có thêu hoa vãn như phụ nữ Thái đen Họ búi tóc ngược lên đỉnh đầu khi đã lập gia đình Trang phục của nam giới đơn giản hơn, gồm có áo ngán, quần và khăn đội đầu, tất cả đều được nhuộm chàm Á o gồm bốn thân ghép lại, hai thân trước

và hai thân sau, may xẻ tà, cài khuy đằng trước, có hai túi ở hai bên thân áo, tay áo dài, được nối ở phần trên khuỷu tay c ổ áo được nẹp bằng m ột m iếng vải cùng màu cao 3 phân, quanh cổ có khâu lót một m iếng vái hình vành khuycn có tác dụng để cho cổ áo được bền chắc và tiện cho việc m ang vác Nịiày nay nam giới mặc quần áo như người Kinh, trang phục truyền thống chỉ mạc khi cứng bái hoặc những dịp lẻ hội trong năm.

Trang 23

Cũng Iilur người Kháng, người La Ha hán Lót đựng hán ớ c h â n núi, ven sòng Đà Nhà trong bán được xây dựng theo lôi mật tập, ranh giới giữa các nhà hầu như không có Nhà cửa dược làm theo kiêu nhà cùa người Thái đen, cách bố trí trong nhà cũng tương tự như của người Thái Nhà của người La Ha bản Lót cũng có hai cửa ra vào m ở ở hai vách đầu hồi, trước cửa người ta làm

m ột cái sàn nhỏ Mỗi cửa có một cầu thang, sàn inrớc để ớ đáu hổi cửa sau Nhà lợp bằng tranh, ngày nay phần lớn đã được thay hằng ngói, có hai mái nhưng ở phía đầu hổi nhà cũng thường làm những mái phụ không lên cao đến nóc nhà Cách bố trí nơi thờ cùa mỗi dòng họ của Iìgười La Ha hán Lót là

khác nhau nhưng đều không đặt ở góc nhà nlur của người Thái Nưi thờ cúng, thường được đặt ở gian thiêng, là một cái liếp đan bằng tre đặt ở cạnh cột chủ dựa vào vách ngăn giữa gian ngủ của chủ nhà và gian để đổ (nhà thầy cúng Lò Văn Cậu - bản Lót, xã ít Ong, Mường La).

K ho thóc thường để ở gần nhà, có gia đình để kho thóc bên cạnh nhà,

có gia đình để dưới gầm sàn, cũng có hộ lại để kho thóc ở ngay phía ngoài sàn (X em Phụ lục 7, ảnh 2.3).

Tuy chưa có điện lưới quốc gia nhưng dân cư ban Lót đã khắc pluic bàng cách làm thuỷ điện nhỏ để phục vụ sinh hoạt Nhưng phương thức này

không thuận lợi vì điều này phụ thuộc vào mực nước của con suối cháy qua

bản Do không phải là mùa mưa, lượng nước trong suối không nhiều đê có thê làm thuỷ điện nhỏ nên phần lớn thời gian trong năm ban Lót vẫn C Ỉ 1 Í dùng đèn dầu để thắp sáng.

1.3.2 Về văn hoa - xã hôi:

Ranh giới giữa các bản làng không có sự phân chia rõ rệt, llurờng chí (tược căn cứ vào một m ốc địa lý chung chung nào đó đê phân định giữa hán này với bán khác.

Trang 24

Trước đày, cùng với người Kháng và một số tộc người khác Tây Bác, người La Ha phái “làm pụa, làm cuông” cho bọn “phía, tạo” Thái.

Tiếng nói giao dịch hàng ngày chủ yếu là tiếng Thái, một số lì biết nói tiếng phổ thông (chủ yếu là nam giới, những người tham gia công tác xã hội

và nlũrng người dã từng di học), tiếng La Ha ít dùng Moi phong tục tập quán, nha ở, trang phục, sinh hoạt có ánh hưởng và giao thoa với văn hoá dân tộc Thái.

G iống như người Thái, người La Ha bản Lót cũng oó các dòng họ như:

họ Lò, họ Quàng và họ Tòng Trong dó clnì yếu là họ Quàng và họ Lò, họ Tòng chiếm sô ít, còn họ Cà là họ của người Thái trong hán Những tàn dư cùa

tò tem giáo còn tồn tại khá đậm nét trong văn hoá tộc người, thế hiện qua việc

m ỗi dòng họ thờ cúng một vật tổ riêng với những kiêng khem nghiêm ngặt V í dụ: họ Quàng thờ con hổ kiêng không ăn thịt hố, không giẫm vào vết chân hổ;

họ Lò thờ con chim Tàng lò (loài chim có m ỏ đỏ, chân đỏ, m ình xanh, đến mùa hoa ban nở chim về hót “tàng lò, tàníỊ lò") kiêng không giẫm vào phân chim , không ăn thịt chim; họ Cà thờ gianh (Cả theo tiếng Việt có nghĩa là

lùm trái với n h ữ n g k iê n g kỵ đ ó thì sẽ bị rụ n g h ết răn g , tró c d a, c h â n ta y bị lở

23

Trang 25

sẽ không có người đứng đầu Trong cùng một dòng tộc cũng không cỏ sự phân biệt con anh, con em , nếu ai ra đời tnrớc thì là anh.

Gia đình La Ha là gia đình nhỏ phụ quyền Người chổng và người cha

có quyển cao nhất trong nhà [35: 2 4 4 ị.

Ngày nay, nam nữ La Ha thường lập gia đình sớm vào độ tuổi 15-16 Trong hôn nhân, trai gái được tự do lựa chọn, không có sự ép buộc của bô mẹ, nhưng vẫn phải được cha m ẹ hai bên dồng ý Tiêu chuẩn đê chọn được một người vợ, người chổng tốt chí đơn gián là khoé mạnh và chăm làm Sau khi tìm liiéii và ưng ý với người thương mà mình đã chọn, họ thường Irao cho nhau chiếc khăn piêu, cái vòng tay thay lời ước hẹn V iệc ăn hỏi được diễn ra sau khi chàng trai về nhà và thông báo với cha m ẹ, họ hàng Đ i đến Iìhà gái gồm có ông m ối (Páii sư), ông chú (hoặc ống bác) và bà gì của chàng trai Khi

đi, họ m ang theo chuối, mía, rượu và một con gà Đ ến nhà gái, họ bầy đổ lễ ra giữa nhà, hai bên chào hỏi, nói chuyện với nhau, sau đó bố m ẹ cô gái gọi cỏ gái ra và hỏi xem cô có đồng ý lấy chàng trai không Trong tnrờng hợp cô gái không đồng ý thì số đồ lễ này cũng không được mang về mà hai bên gia đình dùng luôn tại chỗ.

Không như lễ hỏi, lễ cưới (cá khui) thường được tổ chức khi việc thu hoạch đã xong xuôi Sáng sớm hôm tổ chức lễ cưới, nhà trai gồ m ông m ối,

ch ú rể và k h o ả n g 12 người đ ế n tiế p nước, tiếp rượu m a n g đ ế n n h à gái 1 COI1

lợn (khoảng 80kg), 8 con gà, 50kg gạo, 3 xách rượu, 7 chum rượu cấn, 4 giỏ

cá khô (m ỗi giỏ 8 con) Trước tiên, người ta phải làm lễ cúng ma nhà Ngoài lợn, gà, lễ vật đé cúng ma nhà còn phái có 4 giỏ cá, 4 ống cá thịt Sau đó, là mời bà con dân bản cùng dự tiệc góp vui.

Trong toàn bộ tiến trình lễ hỏi và lễ cưới không thế thiếu ỏng mối, đó là người có tài ăn nói và hiếu biết phong tục, mọi công việc giữa hai nhà là do

Trang 26

ông mối điều đình Khi le thức đã hoàn tất, hai họ trá công cho ỏng mối một cân thịt, một cái gối, một cái khăn mặt và một cái khăn piêu.

Sau khi cưới, chàng trai phải ở lại bên nhà gái và bát đáu thời gian ư rê của mình Thời gian ở rể có thê từ 3 đến 5 năm, tuỳ theo hoàn cảnh và thoa thuận của hai bên gia đình Nếu quá khó khăn thì thời gian này có thế dược rút ngán chỉ còn 6 tháng đến một năm mà thôi Sau khi cưới, thính thoảng đôi vợ chóng có thể về hên nhà chồng 2 đến 3 ngày rồi lai phái quay về nhà vợ Trong thời gian ứ rể, chàng trai phải tham gia m ọi công việc bên nhà vợ.

Hết hạn ở rể, nhả trai phải làm lễ "T<hi m ơ i " thì mới chính thức được đón dâu về và bắt đầu cuộc sống mới bên nhà trai Lễ vật trong lỗ thức này cũng tương tự như lỗ vật trong lỗ cưới.

Cô dâu về nhà chổng được cho một ít thóc, một con trâu hoặc bò, một đòi gà để làm giống và chăn đệm, bát, xoong nổi N gày nay, những người trong dòng họ và bà con dân bản đến dự cưới m ỗi người còn cho cô dâu chú rể một ít tiền mừng cho đôi vợ chồng trẻ để làm vốn.

Hôn nhân trong cùng một dòng họ không được phép xảy ra nhưng hôn nhân giữa con cô con cậu lại được chấp nhận Trong trường hợp chổng chết, người vợ có the hạ “tằng cẩu” và chỉ “tằng cẩu” trở lại khi tái hôn Lỗ vật và diễn trình của lỗ cưới này cũng tương tự như một lễ cưới bình thường.

Như vậy, gia đình đã m ang tính chất một vợ một chổng bền vững Hôn nhân đã m ang tính chất mua bán Tục ở rể, tàn dư của hình thức hôn nhân cư trú bên vợ vào thời kỳ mẫu hệ dã trở thành hình thức mua người con gái bằng còng lao động của chú rể [35: 2 4 8 1.

Về sinh đẻ, sán phụ thường đẻ ở nhà Khi sinh nở thường có một bà mụ (tên đỡ đẻ, đôi khi sản phụ tự đỡ đẻ cho mình Họ thường dừng một thanh nứa

VÓI sác đổ cắt lò n ch o đứa bé Sau khi sinh được k h o ả n g I đ ế n 2 th á n g thì g ia

dinh giết gà, m ổ lợn và làm lễ đặt tên cho đứa tre Người La Ha có những

25

Trang 27

kiêng kị (ta bu) nhất định khi trong nhà có trẻ mới sinh Gia đình nào có trẻ sơ sinh thì thường có làm một tấm phên nhỏ đan bằng tre, phía trên tấm phên có gài một ít lá Tâm phên có gài lá này được treo ở cầu thang, người La Ha cho ràng làm như vậy để ma xấu, ma dữ không làm hại được dứa tie và người mẹ

N goài ra, khi nhìn thấy tấm phên này người trong bủn sẽ biết trong nhà đang

có cữ và có trẻ mới sinh (X em Phụ lục 7, ánh 6.2).

Người La Ha theo tục chôn người chết Người chết thường chí được để trong nhà 24 giờ, một số trường hợp để lâu hơn để con cháu đi làm xa, lấy vợ lấy ch ổn g ở xa về kịp, có khi đốn 3 ngày Những khi có người chêì, người trong bán lại cùng nhau góp công, góp của cho nhà có người chết như người

có gạo góp gạo, người có tiền cho tiền, ai có nhiều cho nhiều, người có ít cho

Khi có người chết để báo ch o bà con dân bản cùng biết, người La Ha thường bắn ba phát súng Nếu là ỏng chủ nhà chết thì phải m ở cửa phía sau gian thờ để đưa xác ra, nếu bà chủ nhà chết thì xuống đằng cưi bếp Khi trong nhà có đám thì con trai ngồi ở buồng ma, con gái ngồi ở đầu kia của ngôi nhà, con dâu và con rể ngồi ở chính giữa nhà Người khiêng quan tài đi chôn cất thường là con cháu hoặc những người trong dòng họ D o quan niệm chết là

tiế p tụ c s ố n g ở b ên k ia th ế giớ i, n g ư ờ i ta th ư ờ n g c h ô n th e o n g ư ờ i ch ết ha hộ

quàn áo, nếu người chết là nữ, người La Ha tlurừng chôn theo người chết 3 bộ váy áo (2 bộ để mặc, một bộ m ang ra để ở mộ) Ngoài ra, họ còn để ở m ộ một cái gùi, cái gối và một sỏ đồ dùng m à khi còn sống người chết vẫn dùng.

Người La Ha thường chôn người chết theo hướng dầu quay về bán, chân quay về hướng mặt trời m ọc H ọ ch o rằng chôn như vậy dể khi người chết đứng dậy I1Ó không nhìn thấy bản, không về bán quấy nhiễu ngưừi sống, nếu khống nó sẽ nhớ con, nhớ cháu, con cháu vì thế sẽ hay ốm đau mà chết Chôn cất xong, người ta dựng trên m ộ m ột ngôi nhà mồ Nhà m ổ có hai mái, áp sát

Trang 28

m ái là một cái sàn, trên sàn này để chăn đệm , quần áo Lòng m ộ dược đắp đất cao, xung quanh m ộ có dào rãnh Mộ có hàng rào đan bằng tre và chí có một cứa ra vào Trên m ộ có để những thứ được chia cho người chết như gùi, ghế,

g iỏ dựng cơm (X em Phụ lục 7, ánh 6.5) Phía trước m ộ, người ta trổng một cái cột, đoạn giữa cột làm một vòng tròn hình nón có cám những lá cờ nhỏ hình chữ nhật màu đỏ, trên đỉnh cột cám một cái ô (X em Phụ lục 7, ảnh 6.4).

Sau khi chôn cất xong, người nhà không đến thăm m ộ nữa và tổ chức cúng tại nhà ngay tối hôm đó Hàng năm họ chí tổ chức cúng tổ tiên (ma nhà) vào dịp tết (âm lịch), những khi trong nhà có người ốm đau (mà thầy bói bói

là do tổ tiên về lùm hại), vào dịp cơm m ớ i

Khi chổng chết, người vợ có thể tiếp tục sống ở nhà chồng cho đến khi tái giá Trong trường hợp người vợ không tái giá thì có thể sống ở nhà chồng đến hết đời V ề quyển hưởng gia tài, khi bố m ẹ mất đi, người con nào ớ cùng

bố m ẹ thì được hưởng toàn bộ gia tài trong nhà (thường là con trai cá) Con trai thứ khi lấy vợ mà ra ở riêng thì được làm cho một ngôi nhà Con gái không được hưởng gia tài, nhưng tuỳ theo lòng thương, các anh em trai cũng chia cho các chị em gái của mình ít nhiều.

Ớ người La Ha việc thờ cúng nhà vợ cũng giống như người Thái, khi bỏ

m ẹ vợ của chủ hộ mất đi thì người chồng phải có trách nhiệm dựng một ngôi nhà nhỏ ở phía ngoài ngôi nhà (không dược dựng ở irong nhà hoặc ở phía trước nhà ở) làm nơi thờ cúng bỏ' m ẹ vợ V iệc thờ cúng này không diễn ra Ihường xuyên mà chỉ được tiến hành những khi trong nhà có người ốm đau và (lược thầy cúng bói là do ma đằng nhà vợ làm hại Khi chù hộ mất đi, con trai trơ thành chủ hộ mới thì ngôi nhà này cũng dược dỡ bỏ cho đến khi bố m ẹ vợ của người chủ hộ mới mất thì mới dựng một ngôi nhà khác (X em Phụ lục 7, ánh 6.1).

27

Trang 29

Giống nlnr nhiều tộc người khác, người La Ha cũng llieo tín ngưỡng

“ van vật hữu linh” nên trong cuộc sống hàng ngày họ có rất nhiều kiêng kỵ và thờ cúng rất nhiều loại ma (người La Ha bản Lót gọi là cái dạ, tiếng Thái là

suối

Người La Ha quan niệm trong con người có tám “kần xám” (con hổn): một ớ trên đầu, bốn à hai chân, hai tay, một ở mũi, một ở m ồm , m ột ớ cằm , và trong không gian có rất nhiều “/;<7 dạ" (ma) như ma sông, ma suối, ma núi v.v Đ ồn g hào còn CỈ10 rằng người ta ốm đau và chết là do ma bát giữ hổn [35: 248] Vì vậy, m ỗi khi bị ốm đau, bệnh tật người ta lại nhờ đến sự giúp đỡ của thầy cúng (páu a - đổng thời là thầy lang của cả cộng đồng) N ếu thầy cúng nhận lời chữa cho người bệnh, lúc đó họ phải đến gặp thầy bói (pútt mọ)

nhờ bói xem đó là bệnh do loại m a nào, ở đâu làm hại và lễ vật cần những gì Sau đó thầy cúng mới trổ tài để cứu chữa cho con bệnh Khi được chữa khỏi bệnh, những người này trở thành con nuôi của thầy cúng và có một số nghĩa

vụ nhất định đối với bản thân thầy cúng.

Những người hoạt động tín ngưỡng trong bản gồm : thầy cúng (đồng thời là thầy lang), thầy hói, người thổi pí và một số người chuyên phụ việc cho thầy cúng Trong một bản có thể có nhiều thầy cúng, tuy nhiên không phải ai cũng có thể làm thầy cúng của cả bản, để trở thành tháy cúng người đó phai đạt m ột số tiêu chuẩn như: gia đình có truyền thống làm nghề thầy cúng, là con trai trong nhà và quan trọng là phải có “căn” để làm thầy cúng Người được chọn để trở thành thầy cúng trước hết phải theo vị thầy cúng đến các buổi lẻ đế phụ việc cho thầy cúng rồi dần dần mới được học các bài cúng theo plurưng thức truyền khẩu Đê’ có thể trở thành một thầy cúng cao tay, người đó phái là người di nhiều, học nhiều, thuộc nhiều hài cúng N goài ra, đó còn là người có nhiều COI1 nuôi (những người được thầy cúng chữa cho khỏi bệnh),

Trang 30

những con nuôi này dược hướng một số quyền lợi cũng như phải có một sổ nghĩa vụ đối với thấy cúng (X em thêm chương 2, Phán lỗ).

Rừng thiêng (đồng thời là nghĩa địa, nơi chôn người chết của cá bán), theo phong tục, m ọi cư dim không được xam phạm đến khu vực này Họ khỏng được khai thác, săn băn, không được thả gia súc phá phách, cay lo đố xuống cũng không được lấy Nếu muốn sử dụng cây trong khu rừng thiêng thì người đó phai làm lễ cúng, được thần linh cho phép thì mới được sứ dụng (đây là trường hợp hãn hữu) Rừng thiêng thường ở cuối bán theo hướng đông (hướng mặt trời m ọc) Người La Ha quan niệm nếu rừng thiêng ở lurứng mặt trời lặn thì con cháu làm ăn không phát đạt.

N guồn nước của bản cũng được bảo vệ bàng cách không cho thả rông súc vật, không được chặt phá cây cối ở đầu nguồn mrớc, cây đổ cũng không dược lấy

Người La Ha có rất nhiều kiêng kỵ trong đời sống hàng ngày Ngày nay, những kiêng kỵ đó ít nhiều được bớt đi nhưng vẫn tồn tại N gay như trong không gian của ngôi nhà, mọi hoạt động có thể diễn ra tự nhiên trừ gian thừ, m ọi người không được tự do đi lại, chơi đùa Đ ây cũng là nơi có cột chủ (cột được dựng đấu tiên khi làm nhà) Đầu kia của gian thờ có một cái cửa sổ, được coi là cửa sổ ma, đó cũng là nơi ngồi cúng của tháy cúng m ỗi khi trong nhà có lễ.

N gay cá những thủ tục đầu tiên khi chọn đất để dựng nhà (Sét túc kliạp

dựng nhà, sau khi dã chọn được chỗ đất ưng ý họ đào ba cái hố, vị trí của các

hố tạo thành hình tam giác đều, bên trong mỗi hố dể một hạt thóc, bén trẽn có dậy lá chuối để không có vật gì rơi vào Sáng hôm sau, ra xem nếu có một hạt

bị di chuyển thì vẫn có thể dựng nhà ở đó được, tuy nhiên nêu ca ba hạt nằm nguyên vị trí cũ thì càng tốt Khi dựng nhà bao giờ cũng phái dựng cột chú

29

Trang 31

trước Salt khi hoàn tất ngôi nhà, trước tiên họ phái nhờ tháy hói chọn cho ngày giờ tốt để làm lễ lên nhà mới Đi đầu là ông chủ nhà, một tay cẩm súng,

m ộl tay cám cái ninh đồng Tiếp đến là bà chù nhà cầm nưa bao thóc, rồi mới đốn anh em họ hàng mang chén, chiếu và đồ dùng lên theo.

Trong những năm gán đây, kinh tế của người La Ha ở bản Lót đã có những phát triển nhất định Cả bản có sáu m áy xay xát, bốn thuyền gán m áy,

m ột thuyền sắt, mười tám máy khâu, ba đầu m áy V ideo, ba tivi, gần như nhà nào cũng c ó đài bán dẫn (35 chiếc) Là phương tiện đi lại duy nhất nên hầu như nhà nào cũng có thuyền dộc m ộc (35 chiếc), v ề chăn nuôi, Cii bail cổ 51 con lợn, 80 con bò, 70 con dê, 300 con gia cầm (chú yếu là gà) N guổn thịt này chủ yếu được dùng trong việc cúng bái, các dịp lễ h ộ i, những khi có khách chứ không thường xuyên dược sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày của người dân nơi đây Ngoài ra, chúng còn được đem bán cho nơi khác.

Hoạt động săn bắn vẫn còn tổn tại nhưng không thường xuyên xảy ra, một trong những nguồn thực phẩm tươi sống của người La Ha là thịt thú rừng săn bắn được N guồn thức ăn chủ yếu của họ là cá nên việc đánh bát cá là công việc hàng ngày của phần lớn trẻ em người La Ha Bữa ăn của họ là đồ nếp, họ tuyệt đối không ăn cơm tẻ Gạo tẻ chỉ dược dùng những khi có khách

là người ở nơi khác đến nhà (chủ yếu là những người không ăn dược đổ nếp) Bên cạnh những loại cây trổng truyền Ihống họ còn trồng những loại cày trổng mới cho năng suất cao như: ngô lai L V N 10

Họ thường chuẩn bị thức ăn cho bữa sáng và bữa trưa vào buổi sáng Sau khi ăn sáng họ mang theo bữa trưa rồi đi làm.

Nhìn chung, kinh tế của người La Ha ở han Lót đã có nhiều thay đổi, họ (lã biết làm vườn, quanh vườn làm hàng rào để bảo vệ và nuôi cá Chăn nuôi chủ yếu vẫn theo phương thức thả rông tuy đã có chuồng nhốt ricng cho lợn,

dê, b ò

Trang 32

v ể vãn hoá xã hội, cả ban có một y tá Hấu hết tré em đến tuổi dược đi học, giáo viên là người ở huyện về dậy Trường học được (.lựng ớ ngay đầu bail, m ỗi năm có từ hai đến ba lớp, thường thì cứ mộl năm là lớp 1, 3, 5 thì nam sau là lớp 2, 4 Học hết tiểu học phần lớn tre em La Ha khổng theo học liếp vì m uốn học nữa thì phải lên huyện, cúc hộ gia dinh trong bản không có điều kiện cho con em mình theo học N goài tre em trong bán đến trường, trường còn tiếp nhận một sỏ học sinh từ huyện Tluiận Châu sang học vì đến trường ớ bán Lót gần hơn so với tnrờng học ở Thuận Cháu Tý lệ mù chữ của

cá bản rất cao 123 người chiếm 55,3% ; xoá mù 23 người chiếm 10,3%; học cấp I là 55 người chiếm 24,6%; tốt nghiệp phổ thông là 22 người chiếm 9,8%.

N hìn chung m ọi phong tục tập quán liên quan đến sinh hoạt hàng ngày cùa người La Ha như ngôn ngữ giao tiếp, nhà cửa, trang phục đều chịu ánh hưởng mạnh m ẽ của văn hoá Thái Tuy nhiên, những giá trị vãn hoá truyền thống lâu bền của tộc người vẫn được bộc lộ đậm nét và có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống văn hoá tinh thần của m ỗi thành viên trong cộng đồng.

Tiểu kết chương 1

Trong sự phát triển không ngừng hiện nay, văn hoá - kinh tế - xã hội tộc người La Ha đã có những chuyển biến nhất định Họ đã dần thích nghi với Iilnìng tiến bộ của khoa học kỹ Ihuật, áp dụng công nghệ vào sản xuất kinh tê đạt được năng suất nhất định trong g ie o trồng: như sử dụng giống ngô lai tăng năng suất, áp dụng việc nuôi thả cá, dùng thu ỷ điện nhỏ phục vụ đời sống BC‘11 cạnh đó, nhiều giá trị văn lioá tộc người vẫn được lưu giữ, một số những nghi thức, nghi lẻ vẫn còn được tổ chức (cúng tổ tiên, lỗ hội Pang a I1 Ị1I1 ban, thờ cúng ma nhà vợ ) Tuy nhiên, các hình thức vãn hoá tộc người này đang

bị đe đoạ trước những nguy cơ về di dân, về sự giao thoa văn hoá giữa các tộc người cùng sinh sống trong địa hùn

31

Trang 33

CHƯƠNG 2

L Ễ H Ộ I P A N G A N Ụ N B A N C Ủ A N G Ư Ờ I LA IIA Ở B Ả N L O T ,

X Ã ÍT O N G , H U Y Ệ N M Ư Ờ N G L A , T ỈN H S Ơ N LA

Trước hết, chúng tôi xin làm sáng tỏ tên gọi và mục đích của lỗ llúrc mà

ch ú n g tôi chọn làm đề tài của luận vãn.

T heo tiếng La Ha thì “Pang” có nghĩa là 'LLể"\ “ 4 ” có nghĩa là “citny -,

nghĩa là “Lễ cúng măng hoa”.

T heo quan niệm của người La Ha, Pang a nạn ban là lễ hội để cầu cho

m ột vụ m ùa mới bội thu, cây trổng vật nuôi được sinh sôi nảy nở Lễ thức này

đ o thầy cúng đứng ra tổ chức trong khuôn viên ngôi nhà ông Như đã trình bầy

d u ra n g 1, tháy cúng (Páii ít) đồng thời cũng là thầy lang, ông vừa hành nghề

cú n g bái vừa là người chữa bệnh cho cả bản, chính vì vậy trong dịp này thầy

cú n g còn kết hợp với việc chữa bệnh cho những người bệnh Tuy nhiên, trong Irường hợp bệnh nặng không thể đến được thì người nhà có nghĩa vụ đến thay

N hững người này khi đến dự lỗ thường mang theo lẽ vật hoặc m ang theo áo

củ a người bệnh (trường hợp không thể đến dự lỗ hội) N goài những người bệnli còn có những người đã được thầy cúng chữa cho khỏi bệnh và trớ thành

co n nuôi của thầy cúng, những người này sẽ dược thầy cúng bao trợ, chở che

ch o tránh khỏi bệnh tật Ngược lại, họ cũng phải có một số nghĩa vụ nhất định dôi với thầy cúng (X em thêm Phần lỗ).

2.1 K h ô n g g ia n và thòi gian tổ chứ c lẻ hội.

2.1.1 Đia điểm tổ chức lễ hôi:

Trang 34

Là một sinh hoạt tín ngưỡng vừa m ang tính cộng đổng (có sự góp mạt của dỏng đao bà con dân bản với mục đích cáu m ong mùa màng tươi tốt, người người được khoẻ mạnh), vừa m ang tính cá nhân (là dịp để thầy cúng chữa bệnh và phô diễn những khả năng siêu nhiên của m ình), Pang a mill ban dược diễn ra trong không gian nhỏ hẹp tại nhà của thầy cúng Mọi hoạt động

ma thuật, vui chơi cũng như các hoạt động tín ngưỡng trong lễ hội đều dược diễn ra ở đây.

Diễn ra trong không gian nhỏ hẹp nhưng các lễ thức trong lễ hội, tuỳ theo tính chất của nó, được tiến hành ở nơi thờ tổ tiêii, ứ giữa gian thờ trong nhà và ở cửa sổ ma Tâm điểm của lễ hội là cây hoa thần (xẳng van) được đựng ở giữa nhà thầy cúng Tất cả những khu vực diễn ra lễ hội nói riêng, không gian ngôi nhà của thầy cúng nói chung được coi là không gian thiêng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội (X em Phụ lục 4).

2.1.2 Thời gian tổ chức lẻ hỏi:

Người La Ha có nhiều cách xác định thời gian tổ chức lễ hội Thường thì cứ bốn năm họ tổ chức m ột lần lễ lớn, lỗ nhỏ được tổ chức thường xuyên hơn vào dịp lễ hội hàng năm Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin

m iêu thuật lễ hội Pang a nụn ban trên cơ sở dữ liệu đã có và thu thập được trong đợt khảo sát Đ â y là lần tổ chức lỗ lớn của người La Ha ở bán Lót.

Tuy chỉ diễn ra trong vòng 3 ngày nhưng người La Ha lất cẩn trọng trong việc xác định thời gian diễn ra lỗ hội, ngày này phái do tháy cúng đích thân chọn, căn cứ vào sự thay đổi của thiên nhiên, của thời tiết và xem lịch.

Căn cứ vào thiên nhiên thì thời gian diễn ra lễ hội là khi những mảnh nương cùa người La Ha đã được phát, đốt, dọn và tra hạt xong đang đợi nlũmg cơn mưa dầu mùa, khi những con ve rừng cất tiếng kêu vang Đ ó cũng là lúc mãng rừng (//////) m ọc Khi mới đội đất lên, măng ăn có vị đắng, về sail khi gặp mưa đầu m ùa thì loại m ăng này chuyển dần sang ngọt Lâu nay, N u l l vẫn

33

Trang 35

dược người La Ha coi là m ón ăn ngon, ngoài ra nó còn lù vị thuốc chữa ira dùng cua các thầy cúng, nên khi tổ chức lễ hội phai có m ãng đắng.

Ngoài ra, người La Ha còn căn cứ vào các loại hoa trên rừng như hoa

chùm màu vàng đỏ Loại hoa này có thể ăn được và có mùi rất thơm Loại hoa này thường nở cùng dịp m ãng đắng m ọc, và cũng được coi là một trong những

vi thuốc chữa bênh của các thầy cúng La Ha.

chứa hương thơm dỗ chịu nên thường dược phụ nữ La Ha sứ dụng làm lurơng liệu gội đầu Trước kia phụ nữ La Ha coi đây như một bí quyết làm đẹp nhằm làm nổi bật họ so với phụ nữ thuộc các tộc người khác.

Trong ngày hội của cả bản, những loại hoa này dược trang trí một cách trang trọng trên cây hoa thần, trung tâm của lễ hội.

Ngoài nhìn vào thiên nhiên, căn cứ vào thời tiết, người La Ha thường xem lịch để biết được ngày lành, ngày tốt, ngày giờ đi săn được con thú to, hay tổ chức lỗ hội, cưới xin

Lịch của người La Ha được làm “với hình thù những cái mai nhỏ cán ngắn, mặt nhẵn m ang đầy những ký hiệu, các thẻ xăm đó thường thấy dùng ở nhà thầy bói cả người Xá c ẩ u và người Thái (dẫn theo [1: 5]) T h ế nhưng thầy bói người Thái không biết dùng các thẻ đó trong tất cả sự tinh vi của nó Các tấm thẻ dùng ở người X á c ẩ u g iố n g các cái “lịch” (Calendrier N D ) mà Bu-sê

đã miêu tả khi nói về người Xá X nác Chúng tôi đã thấy những hình vẽ giống với các hình vẽ trên các tấm thẻ đó trong các hình xăm ở cánh tay (kể vai

N D ) của những người vốn là thầy bói và tù trưởng Xá cẩ u Có licn quan với những cái đó, có thể nghĩ đến những người thầy bói Khmer (“ Krep” ) Những người này cũng xăm trên cánh tay hoặc trên ngực những bán lịch dùng đế xác định các ngày “tốt” ngày “ xấu”” [ 1: 5-6].

Trang 36

Dựa vào những cái lịch này mà thầy cúng chọn la ngày tót đê tố chức lé hội Pang a T heo quan niệm dân gian của người La Ha, căn cứ vào lịch này, Iiliững ngày lót là những ngày được ký hiệu bàng "'hai mắt” và “bốn mắt” , những không tốt và rất xấu là những ngày còn lại (X em Phụ lục 5).

N gày nay, bên cạnh việc xác định thời điểm tố chức lề hội dựa vào những yếu tố thời tiết, thiên nhiên, mùa vụ và lịch cổ truyền, người La Ha còn

sử dụng lịch do nhà nước ban hành Tuy nhiên cách tính lịch Iheo truyền thống vẫn được sử dụng phổ biến cả trong lao động sán XIŨÚ lẫn trong các hoạt động tín ngưỡng.

2.2 Quy trình tổ chức lẻ hội Pang a mill ban:

2.2.1 C ông viẽc chuẩn bi:

Sau khi chọn được ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ hội, thầy cúng thông báo cho dân bản trên, bản dưới, với chính quyền sở tại, anh em họ hàng trong vùng được biết chính thức ngày giờ để m ọi người đến góp vui Đ ể lễ hội

có thể diễn ra một cách suôn sẻ, thầy cúng và dân bản phải chuẩn bị đầy đủ cá

về vật chất lẫn tinh thần trước đấy cá tháng trời, có khi là cả năm.

V iệc chuẩn bị lương thực, thực phẩm cũng như nlũrng vật dụng sứ dụng irong suốt thời gian diễn ra lỗ hội là công việc của cả thầy cúng và toàn thể bà con dân bản Họ phải chuẩn bị những loại lương thực, thực phẩm sau:

- Lợn (tu mâu): 4 con (m ỗi con nặng từ 5 -1 5kg);

- Bánh chưng (giống bánh tét): 1 0 -1 8 cái;

Trang 37

- Chuôi, ruột chuối, hoa chuối (má /;/);

- Gia vị: m uối, ớt, tỏi, gừng;

- Rau các loại: Rau má, rau ban, rau cải, rau chát, rau thối (côní> hạc),

rau vả, rau húng, rau thơm

Ngoài ra, còn có một số thứ như: cua (kìiạt), cá (va) Các loại lương thực, thực phẩm này được ch ế biến thành các m ón ăn truyền thống của người

La Ha như luộc, nướng, nấu canh để phục vụ cho việc cúng lỗ và thết đãi bà con dân bản, những người đến dự lễ hội.

Ngoài việc chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm cho buổi lỗ, họ còn phải chuẩn bị một số vật dụng có tính chất tượng trưng làm đạo cu trang trí cho cây hoa thần và sử dụng trong lễ hội Mặc dù Pang a nụn ban là lẻ hội của toàn thể cộng đổng nhưng theo quy định, thầy cúng phái chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị các vật dụng cho buổi lễ Những thứ này gồm có:

- 02 chiếc “/<?/” (vật biểu tượng cho tính dương);

- 03 chùm hoa “chắc chăn" (tượng trưng cho 36 con ve rừng);

- 01 cặp trông vuông ngũ sắc;

Trang 38

- 01 đôi trống tròn sơn xanh, đỏ;

- 02 quá "khòn” bằng vải nhiều màu;

- 01 đỏi chim “Nộk coke” bằng gỗ;

- 02 cặp vũ khí súng và kiếm , chắn;

- 01 cây "lăm mạ" (cây m óc) tượng trưng cho con trâu đen;

- Oi cây "‘lãm lốc" (cây chuôi) lượng tiling cho con trâu irãng;

- 02 cái cày và 02 cái bừa bằng gỗ.

V iệc làm những đạo cụ trên cũng được phân công một cách rõ ràng Những công việc cần sự tỉ m ẩn như làm trống vuông ngũ sắc, quá kìiòn, sùi mòn được phân công ch o phụ nữ, những thứ còn lại như làm lật, đẽo súng, kiếm , vào rừng tìm cây lăm tốc, lăm mạ được giao cho đàn ông.

Lật (biểu tượng cho dương tính): dài khoảng 4 0 -5 0 cm , đường kính khoang 5-6cm Lật gồm hai phần rời nhau: phần đầu là một đoạn tre dài khoang 10-15cm , một đầu được đục lỗ để luồn dây, m ột đầu được khoét thành ngoàm (mộng cái), giữa thân ngoàm cũng được đục lỗ Phần thứ hai là một (loạn gỗ dài khoảng 4 0cm , thân được vót tròn, một đầu được đẽo vát, một dầu (lẽo thành mộnịỉ đực, đầu m ộng này cũng được khoét một lỗ nhỏ Khi ghép

m ộng phần đầu với phần thân thứ hai cứa lật, người ta dùng m ột mẩu tre đe chốt hai phần của cái lật lại Sau khi đã ghép hai phần của lật với nhau, người

ta dùng màu xanh và đỏ vẽ các khoanh tròn trên thân lật để trang trí (X em Phụ lục 7, ảnh 8) Khi múa, lật được điều khiển bàng dây, phấn đầu của lật có buộc một sợi dây để buộc vòng quanh bụng của người múa, phần thân thứ hai cũng buộc một sợi dây để đeo vào ngón chân cái của người múa (đầu kia của sợi tlây được buộc đầu m ộng, sát với chỗ ghép nối giữa hai phần) Lật có thể

37

Trang 39

tạo thành một góc hay xuôi theo thân người là tuỳ thuộc vào sự khéo léo của người múa khi điều khiển hai sợi dây này.

đố tết thành những con ve rừng (loại ve báo hiệu đến mùa làm lễ cúa các thầy lang) Những con ve này được tô m àu vàng, tím, xanh (màu vẽ được làm từ các loại thực vật và cây rừng) Tất cả có 36 con ve rừng, các con ve này được kết lại thành ba chùm, theo hình nan quạt, m ỗi chùm có ba cành, m ỗi cành có bốn con ve, các con ve màu này được xếp xen kẽ và cách cỊều nhau (X em Phụ lục 7, ảnh 9).

Trống vuông ngũ sác (côốniỉ): g ồ m bôn mặt rời hình vuông, m ỗi cạnh khoáng lơ cm , ghép lại với nhau m à thành M ỗi mặt trống dược lùm bằng hai que tre vót nhỏ buộc chéo nhau, m ỗi que dài khoảng 10-15cm , rồi dùng năm loại chỉ màu đan kín, ở giữa là màu vàng, tiếp đến là màu đỏ, màu xanh lá cây, màu da cam , và ngoài cùng là màu xanh dương Các mặt này được ghép thành khối hình vuông bằng cách buộc các g óc của chúng lại với nhau, tại các

g ó c này người ta buộc thêm một s ố tua vai nhiều màu (X em Phụ lục 7, anh

I I )

Trống tròn (còn gọi là chiêng): người ta lấy hai đoạn thân tre rỗng, mỗi (loạn dài khoảng 10cm, hai đầu được bịt kín bằng vải đỏ Một cái tô màu xanh, một cái màu đỏ Ngoài ra, họ còn làm hai cái dùi nhỏ gài bên cạnh hai cái trống này.

(Jail có những tua vai nhiều màu, suốt chiều dài dây là những manh vải vuông nhỏ nhiều màu sắc được để cách đều nhau Tương tự như loại thứ nhất nhưng

Trang 40

Hai quả khàn (còn): được làm bàng vái nhiều màu Người ta làm một cái lúi nhó hình vuông, nhôi vái vụn vào irong ròi khán kín lại, bôn goc dính các rua vái nhiều màu, chính giữa hình vuông dính một sợi dãy dài khoáng 30- 40cm , trên dây người ta đính những tua vái nhỏ nhiều màu đế cách đều nhau Khi tung khàn, người chơi sẽ cầm sợi dây này quay đê lây đà rồi tung cho người chơi ứ đối diện Những tua vái và sợi dây nhiều màu này có tác dung tạo cám hứng ch o người chơi và người xem.

Chim Nộk coke: người ta làm hai con chim bằng gỗ, toàn thân chim (lược tô màu đen điểm những chấm tròn màu trắng Đ ổn g thời làm một cái khung hình chữ nhật hàng tre, cắm hai con chim vào sao cho hai con chim này quay đầu vào nhau Họ cho rằng hai con chim này biểu hiện cho tình yêu đôi lứa, ước m uốn được tự do yêu đương, thành vợ thành chổng.

Ngoài ra, họ còn đ ẽo một con chim nữa bằng gỗ Con chim này có kích thước lớn hơn đôi chim nộk coke và được tô màu tím, toàn thân chim có bọc giấy màu vàng Con chim cu gáy (Tun uột) được coi là thần giữ nương, tuy nhiên nó cũng là một trong những con vật ăn lúa trên nương nên cũng phái thờ cúng và mời nó về ăn để nó bảo vệ nương cho người La Ha (X em Phụ lục 7, ảnh 10).

Lá chắn gỗ: là tấm lá chắn được đẽo từ gỗ, có cán cầm dài, có độ cong thắt ở giữa, dài khoảng 30cm , rộng khoáng 10cm, dày khoảng 2-4cm Mặt lá

c hắn được tô màu đen với những vòng tròn nhỏ màu trắng ở trên bề mặt.

Kiếm gỗ: dài khoảng 6 0 -7 0 cm , có lưỡi rộng khoang 5cm , mũi kiếm nhọn, tay cầm dược vót tròn dài khoang 30cm Tương truyền, dãy là loại vũ khí từ lâu đừi của người La Ha để bảo vệ bản làng.

Súng cũng đưực đ ẽo từ gỗ với chiều dài khoảng 80cm , nòng súng được

vẽ những khoanh tròn màu đen.

39

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w