1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Y học cổ truyền của người dao quần chẹt ở xóm mạ, xã tu lý, huyện đà bắc, tỉnh hoà bình

169 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 40,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng các chất liệu khác 56 Chương III: Y học cổ truyền trong đời sông kinh tế, văn hoá , xã 63 hội của người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ.. Một Irong các mục tiêu củ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOa ■ ■

ĐẠI HỌC QUỐC (jIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIIOA IIỌC XÃ HỘI & NHÂN VÃN

*

ĨR Ầ N H Ò N G IIẠNII

V HỌC CỔ TRUVCN củn NGƯỜI Dno OUHN CHẸT

XÓM MIỊ, XÃ TU IV, HUVỄN DÀ BBC, TỈNH HOÀ BÌNH

LUẬN VÃN THẠC s ĩ KHOA HỌC LỊCH s ử CHUYÊN NGÀNH DẤN TỘC HỌC

1 2 /M đ

HÀ NÔI - 2000

Trang 3

Chương I: Cảnh quan và cu dân Dao Quần Cliẹt ở xóm Mạ, xã Tu 13

Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình

Chưưng II: Y học cố truyền cíia nguời Dao Quẩn Chẹt ỏ xóm Mạ 33 trong việc phòng và chữa bệnh

MỤC LỤC

Trang 4

2.1 Thu hái 37

3 Một số bài thuốc phòng và chữa bệnh được dùng tại xóm Mạ 43

3.1 Một số bài thuốc nam chữa bệnh thông thường 44

3.2 Một số bài thuốc nam phòng và chữa bệnh cho phụ nữ 5 13.3 Một số bài thuốc nam phòng và chữa bệnh trẻ em 53

3.5 Một số bài thuốc chữa bệnh bằng các chất liệu khác 56

Chương III: Y học cổ truyền trong đời sông kinh tế, văn hoá , xã 63

hội của người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ

2.3 Các hoạt động tín ngưỡng có liên quan đến phòng và chữa bệnh 74

2.4 Sự kết hợp của việc dùng thuốc và “ma thuật” chữa bệnli 85

1

Trang 5

3 Y học cổ truyền của người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ trong tình 87

Trang 6

d ầ n l u ậ n

1 Lý do chọn đè tài:

Sức khoẻ là điều kiện tiên quyết để con người có thể lổn tại, làm việc

và sản xuất ra nhiều của cái vật chất cho gia đình và xã hội Con người có sức khoẻ tốt là động lực phát triển kinh tế- xã hội làm cho chất lượng cuộc sống tốt hơn Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp cồng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nirớc do Đảng đề

ra, một trong những yếu lố quan trọng không lliể thiếu được là sức khoẻ

và trí tuệ của con người

Vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là một trong những vấn đề cấp bách trong chiến lược phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực ở nước la hiện nay Hội nghị Ban chấp hành Tiling ương Đảng lẩn thứ lu' (khoá VII) dã chỉ rõ: "Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu, ứng dụng và hiện đại hoá y học cổ truyền dân tộc, kết hợp với y học hiện đại Phát triển nuôi trổng cây con làm Ihuốc, trang bị thêm phương tiện cho việc khám, chữa bệnh và sản xuất thuốc y học cổ truyền dân tộc, khấn trương dào lạo đội ngũ cán bộ và cán bộ đầu đàn y học dân lộc Tăng thêm đầu tư và nàng cấp các cơ sở y học dân tộc" (31 ;78) Thực hiện Nghị quyêì của Bail chap hành Trung ương Đảng, Chính phủ dã ra Nghị quyết số 37- CP về dịnli hướng chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dàn trong thời gian 1996- 2000 và 2020 Y liọc cổ truyền dân tộc là một trong 5 quan điểm chỉ đạo cống tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân với nội dung sau: "Kết hợp y học hiện điii với y học cổ truyền (lân lộc Y học cổ truyền là mội di sản văn hoá dân tộc cần dược bao vệ, pluíl huy, phát Iriển Triển khai mạnh

mẽ việc nghiên cứu ứng dụng và hiện đại hoá y học cổ Iruyền kếl hợp với y học hiện đại nhưng không làm mất đi bản chấl của y học cổ truyền Việl Nam Tăng cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực y học cổ truyền, ngăn

Trang 7

chặn và loại trừ những người lợi dụng chính sách của Đảng, Nhà nước đối

với y học cổ truyền gây tổn hại đến sức khoe nhân dân" (3 I ;78-79)

Ngành Y tế cũng có chí thị số 03- BYT năm 1995 và chủ trương dổi

mới cuộc vân động trồng, sử dụng thuốc nam cũng như phương pháp

không dùng thuốc trong việc chăm sóc sức klioẻ ban đẩu cho nhân dân

Mục tiêu của y học cổ truyền, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, Irong

cơ chế hiện nay, là phát huy tiềm năng y học cổ Iruyền, tận dụng nguồn dược

liệu sẩn có ở địa phương, ở mỗi gia dinh dể tự bảo vệ chăm sóc sức klioẻ

Thêm vào đó, hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và

dưới tác động của cơ chế thị trường, văn hoá truyền thống của nhiều tộc

người ngày càng có nguy cơ mai một Do đó, muốn bảo lưu và phát triển

văn hoá của các tộc người, vấn để có lẩm quan Irọng hàng đầu là phải

nghiên cứu, khám phá các giá trị truyền thống của các dân tộc Trong đó y

học cổ truyền là một trong các di sản văn hoá dân tộc cẩn dược bảo Ill'll, phát

huy và phát triển Chính vì vậy, tôi đã chọn "y học cổ truyền" làm vấn dề

nghiên cứu của mình

- Đối urựng nghiên cứu của bíin luận văn này là người Dao Quail Chẹt Sở dĩ có sự lựa chọn này là do; Dân tộc Dao là niôt (lân tộc cổ Iruyen

thống sử dụng thuốc dân gian trong chăm sóc sức klìoẻ nhân dân Mặc dù

hiện nay người Dao đã có sự thay đổi trong cách ăn, mặc, ở nhưng họ vẩn

giữ được truyền thống chữa bênh dân gian lừ lâu đời nhằm giữ gìn sức

khoẻ cho các thành viên trong và ngoài cộng dồng Tuy nhiên, dân tộc

Dao lại bao gồm nhiều nhóm khác nhau: Dao Tiền, Díio Thanh Y, Diio

Quán Trắng, Dao Đỏ, Dao Quần Cliel Trong dó, mỗi mội nhóm Dao lại có

những kinh nghiệm đặc thù riêng trong việc chăm sóc sức khoẻ Do tính

đa dạng đó, chúng tôi chỉ lựa chọn một nhóm dân tộc để nghiên cứu

Trong các nhóm dân tộc Dao thì ngươi Dao Quần Chẹt có Iruyền ihống

phòng và chữa bệnh bằng Ihuốc dân lộc nổi trội hơn ca Them vào đó,

nghicn cứu về y học cổ Iruycn của (ỉfm lộc Diio nói chung, người Dao OiiầM

2

Trang 8

Chẹl nói riêng vẫn còn là môt diem trống ít nguồn tài liệu đê cập đên ván

đề này Một trong những lý do không kém phẩn quan trọng nữa là: Gần

dây Viện Dân tộc học (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân vãn Quốc gia)

đã phối hợp c ù n g Tnrờng Đại học Xã hội Chiang Mai, I hái Lan tổ cliức

thực hiện dự án: "Các dân tộc thiểu số trong môi trường biến đổi", dưới sự

tài trợ củạ quỹ Ford Dự án kéo dài trong 2 năm (1997-1998) Một Irong

các mục tiêu của dự án là nghiên cứu tình hình kinh tế- xã hội- văn l»oá, trong

đó có y học cổ truyền của các dân lộc thiểu số trong lình hình đổi mới hiện

nay Đối tượng nghiên cứu của dự án giới hạn ở ba dân tộc là Hmông, Dao và

Thái- là những dân tộc đều có ở hai nước Việt Nam và Thái Lan, thuận tiện

cho việc so sánh Tôi may mắn được tham gia vào dự án nàỵ và nhận thấy vấn

dề nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu của dự án hoàn toàn phù hợp

v ó i ilự (lịn h m illio n t'lh i t'l’iii m ìn h C ó th ể n ó i, đ â y là in ộ t d ịp m a y h iế m c ó dế

lòi ti lực iiiẻn Juậji vàn này Do đó, tỏi đã chọn "Y học cò truvển cíia người

Dao" để nghiên cứu và cũng chỉ giới hạn ở người Dao Quần Chẹt

- Về địa bàn nghiên cứu: Đây cũng là vấn đề làm tôi băn khoăn vì mục tiêu của để tài là làm sao nghiên cứu y học cổ truyền của người Dao

Quần Chẹt nhưng cũng muốn tìm hiểu sự biến đổi của nó dưới tác dộng

của kinh tế thị trường Năm 1993, Viện Dân lộc học đã có dợt khảo sát về

tình hình kinh tế- xã hội của xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình thông

qua phiếu hỏi Mặc dù đã có nghiên cứu bước đầu song vấn đề chăm sóc

sức khoẻ của người Dao Quẩn Chel ở dây vẫn chưa đươc cỊLian tâm nhiều

Đây là một địa bàn chí cách Hà Nội 110 km về phía Tây Bấc, đường sá di

lại thuận tiện Người Dao ở đây đã có nhiều điều kiện tiếp xúc với người

Kinh và các dân tôc khác trong vùng nên họ thông thạo tiếng phổ thông và

văn hoá của họ, dưới rác động CỈUÌ kinh tế thị trường cũng có nhiều thay

dổi Dây cũng là (liều kiện tlmậii lợi dể lie'll lùmli nghiáì cứu so sánli Ho

dó, lỏi tin lựa cliọn clịii bìm này dể liên liìmli nglúén cứu y hoc cổ truyền

của người Dao Quán Chẹt

3

Trang 9

Tóm lại: Việc tìm hiểu y học cổ truyền của người Dao Quần Chẹt không những có ý ngliĩa to lớn trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân mà còn

có thể thấy được cách úng xử của cư dân địa phương dối với môi trường sinh thái, dồng thời khai thác tri lliức địa phu'o'ng về lĩnli vực này nhằm phát huy bán sắc tộc người, góp phần thiết thực Irong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá dất nước như Đảng ta dã đề ra Chính vì vậy,

tôi dã chọn 'Y học cổ truyền của người Dao Quần Chẹt ỏ xóm Mạ, xã Tu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Có thể nói, việc nghiên cứu y học cổ truyền của nước ta từ trước đến nay đã là vấn đề quen thuộc của giới y - dược học Từ rất sớm ông cha ta dã biết khai thác nguồn dược liệu lừ các loại cây cỏ, động vật phục vụ cho việc chữa bệnh Từ thế kỷ XV Phan Phù Tiên biên soạn cuốn “Bản tháo cương lục toàn yếu” là cuốn sách ihuốc đầu tiên (năm 1429)

Sau Phan Phù Tiên, một thày thuốc nổi tiếng đã được biết đến, đó là Tuệ Tĩnh Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, đạo hiệu là Hồng Nghĩa Tuệ Tĩnh đã ra sức sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân và để lụi

bộ sách "Nam dược thẩn hiệu' quý giá, trong đó 499 vị thuốc được mồ ta

cùng với 3932 phương thuốc nam dùng cho 10 khoa, về sau sách của ông

đã bị quân Minh tìm mua gẩn hết, nay chỉ còn: "Nam dược thần hiệu",

“Tuệ Tĩnh y thứ”, “Thập tam phương qỉa qiảm” và “Thương hàn tam thập tliđt írùniị pháp" Cuốn sách "Nam dược thăn hiệu"của Tuệ Tĩnh dã dược

nhà xuất bản Y học tổ chức XLiất bản đến nay là lẩn thứ 3 (lấn thứ nhất năm I960, lần thứ hai năm 1972 và lần thứ ba vào năm 1993) nhằm thực hiện chủ trương llùrn kế và phát huy nén y học cổ truyền clíìn lộc “Nam dược lluìn liiộu” là một kho làng phong plní và quý giá, lổng kết tliíợc nhiều kinh nghiệm

vể lý luận dùng thuốc nam chữa bệnh, là một lài IÍỘL1 lịch sừ Ihê hiện phương châm của cha ông ta ngay xưa "Thuốc nam chữa bệnh người Nam"

Trang 10

Sau Tuệ Tĩnh một tlìời gian dài không thấy một tác giả nào đề cập đến vấn đề này Mãi tới thời Lê Dụ Tông mới xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông- tên thật là Lê Hữu Trác (1721- 1792) Ông [à người am hiểu về y lý, đọc nhiéu sách thuốc Trong mười năm khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông

viết bộ “Lãn Ông tâm lĩnh” gồm 6 6 quyển đề cập đến nhiều vấn để về y lý,

dược liệu, chẳng hạn như quyển “ Y huấn cách ngôn”, “K lý thần nhân”,

“Lý ngổn phụ chế”, “Y nghiệp thần chương” xuất bán năm 1772 Mặl kliác,

ông mở trường đào tạo y sinh, truyền bá lu' lương và hiểu biếi của mình về y học Do dó, ỏng duực coi là ông lổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam

Đến năm 1859, Tiẩn Nguyên Phương soạn bộ “Nam bang thảo mộc”

kể tên và công dụng trên 100 cây thuốc Năm 1937 Vũ Như Lâm cho l a đời

cuốn “Bắc nam dược tính” Cuốn sách dày 135 Irang, đề cập lói mội sô vấn

đề về một số vị thuốc bắc, thuốc nam, cách bào chế, cồng dụng, một số kiêng cữ khi dùng chúng

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với phương châm tự lực cánh sinh, ngành y tế đã tích cực đẩy mạnh và phát huy vai trò của lliuốc nam trong việc phòng và chữa bệnh Ớ miền Nam, các cán bộ làm công tác y học dã đúc rút kinh nghiệm xây dựng “toa căn ban” với phương pháp chữa bệnh bằng 10 vị thuốc nam llìông lliường

Từ năm 1954 trở lại đây, dược sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Y tế dã tạo điều kiện cho đông y phát triển nên việc nghiên cứu thuốc nam được xúc tiến mạnh mẽ

Nãm 1957 tlươe sT Đô Tất Loi soan bô "Diử/C liệu học và các vị

thuốc Việt Nam” gồm 3 lập Đốn năm 1961 tái ban Ihành 2 lập lìộ sách tlíi

mô tá, ghi công dụng của hơn 1 0 0 cây thuốc nam

Năm 1962 Viện Dược liệu xuất bán cuốn “CY/y thuốc Việt Nam” và cũng trong năm này xuất bản cuốn “450 cây thuốc nam có tên tronỵ bản

Trang 11

Nãm 1962- J965 Đỗ Tấl Lợi soạn bộ “Nhũng cây lliuốc và vị Ihuôc Việl Nam” gồm 6 tập Năm 1969 lái ban ihành 2 tập Nãni I9K6, 1991 iái bản thành 1 tập Cuốn sách giới lliiệu trên 500 vị lluiốc có Iiguổn gốc link) dược, động vật và khoáng vậl Mỗi vị thuốc dều giới thiệu lí mỉ tên dị a pliưưng, tên khoa học, mô lá, phân bố, thành phần hoá học và công dụng Ngoài ra, tác giá còn giới Ihiệu những nél CÍÌII bản cỉia các lliuyốl: âm dương ngũ hành, kinh lạc Đây là bộ sách có giá trị khoa học cao, có ý nghĩa thực tiễn lớn, đã làm khoa học dân gian xích lại gan hơn với khoa học hiện đại.

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình khoa học khác liên quan đến

vấn đề này Đó là cuốn “Tóm tắt đặc điểm của các cây ÌÌỌ thuốc' của dược

sĩ Vũ Văn Chuyên (1966) Cũng trong năm dó, Thanh Tuyền cho ra dời

cuốn “Chữa bệnh thông thườnq bằníỊ thuốc nam” Cuốn sách này dã dược

tái bản năm 1968 Viện Dược liệu với “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1973),

"kỹ thuật trổng cây thuốc' (1978) và "Tài nquyền cây thuốc Việt Nam"{ 1993) "Trồng hái và dừng cay thuốc" của Lê Trần Đức (1986) Năm

1989 Nhà xuất bản Đổng Tháp xuấl bán cuốn “Cây rau làm tìiuốc” Và

còn rất nhiều công trình khoa học của nhiều học giá quan lâm, đề cập đến nguồn thảo dược vô cùng phong pluì ở nước ta Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu, khám phá các loại thảo dược và ứng dụng của nó trong việc trị bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân dưới góc

độ y dược học hoặc thảo dược học Vì vậy các lác phẩm này chưa dề cập một cách có hệ thống về tầm quan Irọng của dược liệu Irong dời sống kinh

tế, văn hoá - xã hội của cư dân địa phương

Người Dao ]à một trong các dân tộc thiểu số ở Việl Nam từ lâu dã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà dân tộc học Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị vẻ người Dao đã dược công bố Đáng chú ý hơn cả là cuốn

“Người Dao ở Việt Nam” của Bế Viếl Đắng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông

Trung, Nguyễn Nam Tiến do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 197 I Có

Trang 12

thể nói, đây là tác phẩm dầu tiên dể cập một cách có hệ thống về người Dao ở Việt Nam, từ nguồn gốc lịch sử, tộc danh, phân loại các nhóm Dao đến các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và tri thức dân gian trong một sổ linh vực như sinh đẻ, nuôi con và y học dân gian Tuy nhiên, tri thức dân gian của người Dao về dùng thuốc dân tộc dược đề cạp trong cuốn sách này mói chỉ được khai thác bước dầu.

Tiếp dó cuốn “Các dân tộc ít nÍịiíời ở Việt Nam (các tính phía bắc)"

của Viện Dân tộc học do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm

1978 Cuốn sách này đã đề cập đến tất cả các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có dân lộc Dao Tuy nhiên, y học cổ truyền của các dân tộc ít được khai thác

Mới đây nhất hội thảo quốc tế về người Dao đã được Trung lâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, uỷ ban Dân tộc và miền núi, Hội

Dim tộc học Việt Nam và Uỷ ban nhân drill lỉnli I3ắc Thái đã phối hợp lổ

chức tại thành phô' Thái Nguyên từ 12-15/12/1995 dưới sự tài trợ của quỹ TOYOTA Nhật Bản Cuốn kỷ yếu hội thảo “Sự phát triển văn hoá - xã hội của người Dao: hiện tại và tương lai” bao gồm nhiều bài viết về người Dao không những ở Việt Nam mà còn ở một số nước khác như Trung Quốc, Lào, Mỹ Đặc biệt là phải kể đến các bài viết của GS.TS Bế Viết Đẳng với:

“Người Dao ở Việt Nam - Những truyền thống trong thời đại hiên lại”;

“Cội nguồn lịch sử người Dao” cíia CÌS.TS Nguyễn Đình Khoa; bài viết của PGS Nguyễn Khắc Tụng: “Nhà cửa người Dao, xưa và nay”; PGS Lê Thị Nhâm Tuyết & Hoàng Bá Thịnh với: “Một số vấn dề giới trong đời sống của người Dao”; “Một số kiêng kỵ và tục lệ liên quan đến sinh dẻ

chăm sóc trẻ sơ sinh củít người Díio Til Píin Ví'ì Diio Áo Dài a Mà Ciinng”

cỉia TS Hoàng Lương; PSCi.TS Lê Sĩ Giáo với: “Tục cấp sắc CIIÍI người Dao và tính giáo dục của nó”; GS.TS Phan Hữu Dật với bài viêì: “Văn ho;í

và phái Iriển, trường lìựp người Dao Quần Cliẹl ơ hợp tác xả llựp Nliấl, liíi

Vì, Ha Tây” Mặc dù hội thảo đã đề cập đến nhiểu mặt, nhiều klìía cạnh

1

Trang 13

của dời sống người Dao: Đặc điểm tlân lộc Dao, lình hình kinh lê, văn hoá,

xã hội nhưng y học cổ truyền của người Dao, dặc biệl là Dao Quán Cliẹl vẫn còn là một khoảng trống

Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết về người Dao cỉia một số học gia như: Nguyễn Khắc Tụng, Khổng Diễn, Lý Hành Sơn, Trẩu Văn Mà, Nguyễn Anh Cưòng đăng trên các tạp chí Dân lộc học, tạp chí Khoa học về phụ nữ, tạp chí Môi trường Tuy nhiên, vấn đề được quan tâm ở các bài viết này chủ yếu

là về dân số tộc người, trang phục, nhà cửa, tang ma của người Dao

Nghiên cứu y học dân tộc của các dân lộc ihiểu số dưới kliía cạnh dân tộc học là một vấn đề còn mới mẻ ở Việt nam Theo Giáo sư Diệp Đình

Hoa thì bốn phạm trù khoa học xưa kia của nước la là y, lý, toán, số Y ở

dây phải được hiểu là y học cổ truyền Trong phạin vi ngành dân tộc học,

nó dược đặt trong lĩnh vực dân tộc - thực vật học (24;59) Giáo sư Diệp Đình Hoa đã có nhiều bài vict VC vấn đổ này Đó là những bài đãng trôn tạp

chí Dân lộc học, lạp chí Môi trường, chẳng hạn như "Dân tộc - thực vật hục

ở nước ta" (24; 59-70), ''Dân tộc thực vật học và vấn đê bảo vệ môi trườn q

ở Việt Nam" (25; 12 - 14) "Nhữnq nhận xét sư bộ về dược học dân tộc qua vườn thuốc nam của bác Thức Ngoãn" (26;71-92) và nhiều bài viết khác

đirợc trình bày tại các hội ihảo khoa học trang và ngoài nước Gần dây,

dáng kể nhất là cuốn "NÍỊUỬÌ ỈI'môni> và thể ÍỊÌỚĨ thực vật" của Diệp Đìnli

Hoa do nhà xuất bản Văn hoá dân tộc ấn hành năm 1998 Đày ]à cuốn sách đầu tiên viết về các loại thực vật mà người Hmông sử dụng: dùng làm lương thực, làm thức ăn và chữa bệnh Tác giả phân loại những loại ill ực VỘI mọc hoang và cỉược lrồng Đây là cuốn sácíi dầu liên về dân tộc - llìựe vật học của một nhà dân tộc học Việt Nam Thực vậl kliông chí là (lối tượng nghiên cứu của các nil à tliực vật học, dược học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác, trong đó có Dân tộc học

Có thể nói, mười năm trỏ lại đây, dân tộc Dao dược các học giá trong

và ngoài nước đặc biệt quan tâm, nghiên cứu, đã có nhiều tác phẩm, bài

8

Trang 14

viết của nhiều học giả viết vé người Dao song các lác phẩm, bài viết này bên cạnh việc nghiên cứu tập quán trong sinh đẻ và nuôi con thì chủ yếu vẫn là nghiên cứu về văn hóa vật chất và vãn hoá tinh thần của người Dao

Từ trước đến nay chưa có một tác phẩm, bài viết chuyên biệt nào của các học giả trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề y học cổ truyền của người Dao ở Việt Nam, đặc biệt là y học cổ truyền của nhóm Dao Quần Chẹt Mặc dù vậy, các tác phẩm và các bài viết đề cập đến người Dao từ nước đến nay là một nguồn tư liệu vô cùng quý giá để chúng tôi có cái nhìn tổng

q u a il vổ n g ư ờ i D a o ở V iệ t N a m , trc n CO' s ơ đ ó , c h ú n g lô i liế n h à n h k h a i th á c

tri thức dân gian của người Dao trong việc phòng và chữa bệnh- một trong những thành tố của văn hoá tộc người

4 Nguồn tài liệu và phưưng pháp nghiên cứu:

Để thực hiện để tài này, chiìng tôi tìm đọc các tài liệu về người Dao

và các tài liệu có liên quan đến đề lài

- T rư ó c h ế t và c h ủ y ế u d ó là n g L iổ n là i liệ u c h ú n g tô i llu i Ih à p đ ư ợ c ớ

địa bàn nghiên cứu tại xóm Mạ, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, lỉnh Hoà Bình

- C á c là i liệ u c ủ a c á c h ọ c g iá ( lo n g và n g o à i n ư ớ c liê n q u a n đ ế n Víìn

đề chăm sóc sức khoẻ các dân tộc nói chung và dân lộc Dao 1 lói liêng (biK) gồm sách, báo, tạp chí, báo cáo khoa họe )

- Các luận văn cũng như luận án khoa học liên quan đến vấn đề y học cố truyền và chăm sóc sức kliòẻ được lưu giữ lại thu' viện Đại học Quốc gia Hà Nội

9

Trang 15

Cơ sở lý luận ci'ia chủ nghĩa Mác -Lê Nin chính là nến tảng lu' lường của luận văn này.

Để có thể thu thập tài liệu nơi điền dã, chúng tôi đã sử dụng phương

pháp “điền dã dán tộc học” là chu yếu (quan sát trực tiếp, phóng vấn, ghi

chép, chụp ảnh )

- Quan sát trực tiếp: Thông qua quan sát trực tiếp, chúng tôi có thổnhận biết được các cây thuốc, đồng thời cĩing là những cây ăn qua, rau xanh ăn hàng ngày của cu' dân địa phương Bên cạnh đó, chíing tôi cũng có thể quan sát được các cách thày lang chẩn bệnh và một số nghi lễ cúng bệnh được thực hiện tại xóm Mạ Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thì chúng tôi sẽ không thể thấy được những cây thuốc quý hiếm thường mọc ở trong rừng hoặc ở những nơi xa và cũng khổ có ihể nlìận biết được các loại thuốc đã bị chặt nhỏ, dóc vỏ, nghiền nát

- Phỏnạ vấn: Có thể nói, phỏng vấn là mội liong những phương pháp

quan trọng nhất mà chúng tôi sử dụng khi nghiên cứu Đối tượng phỏng vấn chủ yếu của chúng tôi là các thày lang, thày cúng, phụ nữ, những người gìa có nhiều kinh nghiệm Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn các đối iưựng chia theo giới tính và độ tuổi ở trong xóm Hầu hết người Dao ở đây đều biết tiếng Kinh Điều đó cũng tạo điều kiện thận lợi cho chúng tôi phỏng vấn, thu thập thông tin Thông qua phỏng vấn, chúng lôi có thể biết tên nhiều loại cây thuốc (cả tiếng Kinh và liếng Dao); một số.cách thu hái và

sử dụng thuốc, kèm với nó là những kiêng kỵ; quan niệm của người dán (lịa phương về nghề thuốc cổ truyền cũng như y học hiên đụi dang ngày càng xâm nhập vào đời sống của họ Chúng lôi cũng Ihu thập dược mộí số hài thuốc, trong đó đáng quan tâm là các bài thuốc phòng và chữa bệnh cho

p h ụ n ữ và trẻ e m Đ ặ c b iệ t là th ô n g q u a p h ỏ n g v ấ n sâ u , c h ú n g tô i SU'U lầ m

được các ioại thuốc để chữa cho cùng một bệnh Điều đó có nghĩa là bên

c ạ n h n h ữ n g h iể u b iế t c h u n g về th u ố c th ì h ọ c ũ n g c ó n h ũ n g b à i th u ố c liê n g

của mình Chúng lôi cũng biết được sự kết hợp giữa việc chữa bệnh bang thuốc nam với "ma thuật chữa bênh" Bên cạnh những Ihiậm lợi khi sử

10

Trang 16

giao tiếp, còn những thuật ngữ chuyên ngành hoặc lên lluiốc theo liếng Kinh nhiều khi liọ không biết Vì vậy, chúng tôi khó có Ihổ dối chiếu dể tìm ra tên khoa học của cây thuốc đó Do tính chất nghề nghiệp (bí quyết nghề nghiệp), chúng tôi cũng khó cỗ thể thu thập dược những bài thuốc hay, quý dùng để chữa những bệnh nan y như: thuốc chữa bệnh vô sinh, thuốc kế hoạch hoá gia đình, thuốc chữa bệnh viêm gan

- Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung để

thu thập tư liệu Thông qua phương pháp này, chúng tôi cla khai thác các tư liệu về "ma thuật chữa bệnh" cũng như những bài thuốc được dùng phổ biến ở đây Thêm vào đó, chứng tôi cũng dễ dàng nhận thức được niềm tin của người dân đối với hình thức chữa bệnh bằng "ma thuật" thông qua các câu chuyện kể cũng như thái độ của họ

- Bên cạnh đó, chííng tôi còn sử dụng các công cụ như: sổ ghi chép, máy ảnh, máy ghi âm trong nghiên cứu của mình

- Ngoài ra, để có thể hoàn thành bail luận vãn, chííng lôi còn sử đụng một số phương pháp khác như; phưưng pháp phân tích dữ liệu, phương pháp thông kê, phương pháp điểu tra xã hội học, phương pháp so sánh lịch sử

Nhìn chung, để thực hiện đề tài này, chúng tôi phải áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Tuỳ thuộc vào (ừng yêu cầu của những vấn dề cụ thể mà có sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp

5 Đóng góp aia luận văn:

- Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ llìống chuyên sâu về y học cổ truyền của người Dao ở một địa phương cụ Ihể (xóm Mạ,

xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình)

- Đóng góp thêm nguồn lu' liệu điển dã mới, qua đó thấy được ban sắc văn hoá của một nhóm người Dao, góp phần nghiên cứu han sắc văn hoá dân tộc Việt Nam

- LuẠn VÌÍII bước tirìti cl;il lít mọl số vấii (lề vổ chàm sóc sức klioe

người dán irơng sự nghiệp dổi mỏi hiện nay của (.lất nước.

Trang 17

Chuưng II: Y học cổ truyền trong việc phòng và chữa bệnh cua

người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ

Chương III Y học cổ truyền trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội.Khi bắt tay vào thực hiện ban luận văn này thì chúng tôi gặp một số trở ngại sau: Dân tộc- Y dược học là một ngành khoa học còn non trẻ ở nước ta, ít nguồn tài liệu đề cập đến vấn đề này Bên cạnh đó, việc giấu

nghề của các thày lang ở dây cũng là mộl khó khăn không nhỏ đối với clúmg

lôi Irong việc tìm hiểu, kliilm phá môl số hài ihuốc hí Imyền cửa cư dân này

Bên cạnh nliững khỏ khãii vừa nêu, cliúng tòi cũng có niộl sô lliuặn lợi Trước hết, đó là sự khuyến khích động viên của các thầy giáo thuộc hộ môn Dân tộc học (Khoa Sử, Trường Đại học Khoa hoc Xã hôi và Nhàn vãn), ban lãnh dạo Viện Dân tôc hoc, phòng miền núi miểii Bắc (Viện Dân tộc học, Trung lâm Khoa học Xã liội và Nhân văiì Quốc gia), cán hộ và nhân dân địa phương nơi chúng tôi đến ngliiên cứu Tôi đã nhộn được sự gợi ý, giúp đỡ, chỉ bảo tân lình của Phó giáo sư Nguyễn Kliắc Tụng- người

đã hướng cho tôi những định hướng đầu liên khi đối mặt với lĩnh vực nghiên cứu phức tạp này Sau cùng, đặc biệt là lôi đã nhận đivợc sự giúp dỡ, chí bảo tận tình của thầy giáo TS Lâm Bá Nam - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này Tôi xin trAn trọng cám ơn sự giúp dỡ quý háu đó

Do sự mới mẻ của dề tài, cùng với Irí thức của bản lliân còn nhiều hạn chế nên mậc dù chúng tôi đã hết sức cố gắng nhưng bán luận văn này không tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ giáo của các thày, các cán bô đi trước và các bạn đồng nghiệp

12

Trang 18

CẢNH QUAN VÀ Cư DÂN DAO QUẦN CHẸT

CHƯƠNG I

1 Cảnh quan xâ Tu Lý, luiyện Đà Bác, tỉnh Hoà Hình:

Người Dao ở nước ta lính đến năm 1989 có 450.051 người (12;208)

Họ sống xen kẽ với nhiều tộc người khác rải lác khắp vùng rừng núi biên giới Việt- Trung, Việt - Lào cho tới một số tỉnh trung du và miền biển Bắc

Bộ Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạ 11, Lai Châu là các tĩnh có nhiều người Dao hơn cá Trong gần hai chục năm trở lại đây ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ đã có hàng ngàn người Dao đốn 1Ù11Ì án sinh sống

X c l vé m ặ t c ả n h q u a n đ ịa lý , c ó th ể th ấ y n g ư ờ i D a o CU' trú trê n ba v ù n g

khác nhau: vùng cao, vùng giữa, vùng thấp nhưng chủ yếu là vùng giữa

Người Dao lự nhận mình là “Kiềm miền” (kìm mùn) hay “Dìu

miền”, “Ỳu miền” nghTa là “người ở rừng” Tên gọi này chỉ là một tên

phiếm xưng, không thể trở thành tên dân tộc, vì những người sinh sống ở rừng núi thì rất nhiều, không riêng gì người Dao (12; ] 5-16)

Người Dao ở Việt Nam vốn có nguồn gốc ỏ Trung Quốc Người Dao

đi cư vào Việi Nam qua nhiêu lliừi kỳ, bằng nhiều dường và nhiều nhóm khác nhau Những người Dao hiện nay CƯ trú ở vùng Tây Bắc đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ Xííĩ và đi llieo đường bộ Còn những người Dao ó Đông Bắc và một số tính trung tlu cũng bát đầu đến Việt Nam vào khoảng thế

kỷ XIII cho tới đầu Ihếkỷ XX, họ di bằng đường lliLiỷ là chủ yếu (Ỉ2;22).

ở Việt Nam, người Dao gổm có nhiều nlióni nhỏ với các tôn gọi khấc lìliau Ngay như cùng mội nhóm, ỏ'các địa phương khác nhau cũng có

13

Trang 19

tên gọi khác nhau Tiếng nói người Dao là thống nhât, báo dam mối quail

hệ giữa các cộng đồng Dao, luy họ sông lấl pliân tán và cách biệt

Hoà Bình là một trong các lỉnlì có người Dao cư ngụ và sinh sống Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm trong toạ dộ địa lý từ vĩ luyến 21u8 bác tiến 20°39 tay và từ kinh tuyến l()4°40 bắc đến 104°48 tây Diện tích lự nhiên là 4749 krrr, phía bắc giáp tinh Vĩnh Phúc và tỉnh Hà.Tây, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hoá, phía dông giáp tinh Hà Tây và tĩnh Nam Hà, phía tây giáp tỉnh Sơn La Hoà Bình là cửa ngõ của Tây Bắc, cách Ihủ đô Hà Nội 72 kill vé phía tây theo dường quốc lộ số 6 Địa hình của Hoà Bình chủ yếu là núi rừng, xen giữa các sườn núi là các tilling lũng hẹp, còn gọi là thung lũng chân núi, dộ cao trung bình so vói mặí biển cao nhất

là huyện Đà Bắc (560 mét) và thấp nhất là thị xã Hoà Bình (20 mét) Tỉnh Hoà Bình có 11 ngọn núi cao lừ 101 I mét đến 1370 mét

Hoà Bình có 2 con sỏng chính là sông Đà và sông Bôi Sông Đà bắl nguồn từ Trung Quốc chảy qua các tỉnh Tây Bắc Việt Nam ra Việt Trì nhập vào sông Hồng, có chiểu dài chảy qua Hoà Bình 151 km Sông Bôi bát nguồn từ Kỳ Son chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Tliuỷ ra Nho Quan- Ninh Bình, có chiều dài chảy qua Hoà Bình 60 km Hoà B ìn h có một hổ nước lấn Đập thuỷ điện Hoà Bình ngăn sông Đà tạo thành hồ nước lớn, diện tích rộng gần 1 vạn ha

Cư cấu dấl dai phrìn lỏn là dâì lâm nghiệp chiếm 46,5% , (.lất nòng nghiệp chỉ chiếm 15,3% (trong dó, dất cấy lúa chí chiếm 5,9%) còn lại là núi chí vôi và đồi núi trọc (58;441).

Tìr tháng 4 năm 1976 tiến tháng 10 năm 1991 Hoà Bình nlựip với

Hà TAy và dược gọi là í là Sơn Bìnli Ngày I tháng 10 mím 1991, tinh Hoà Bình được rái lạp với 9 huyện và một rhị xã: Huyện Đà Bác, Mai Châu, Tân Lạc, Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ và thị xã hoà Bình

14

Trang 20

Đà Bắc là huyện có độ cao trung bình so với mặl biển lliuộc loại cao

nhất tính (560m) Nằm ở vị trí cực bắc tính lloà Bình, Đà Bắc có dường

ranh giới giáp với tỉnlì Vĩnh Phiíc về phía bắc, giáp với huyện Kỳ Soil vổ

phía đông, phía nam là huyện Mai Châu và phía tây là lính Son La Đà Bắc

hiện nay có 14 xã và một thị trấn huyện (14 xã dó là: Hào Lý, Tu Lý, Miên

Lương, Cao Sơn, Toàn Sơn, Tân Minh, Tân Pheo, Đồng Ruộng, Mường

Tuổng, Giáp Đắt, Đồng Nghê, Suối Nánh, Đoàn Kết và Tân Dân), chia làm

hai vùng kinh tế lớn: Vùng phòng bộ xung yếu ven hổ lloà Bình và vùng

đ ịn h c a n h đ ịn h CƯ Đ â y là h u y ệ n c h ịu lá c d ộ n g lớ n n il rú c ủ a v iệ c c h u y ể n

dân ra khỏi vùng lòng hồ sông Đà Ở Đà Bắc nói riêng, Hoà Bình nói

chung có hai ngành người Dao là Dao Tiền và Dao Quần Chẹt

Xã Tu Lý là địa bàn khảo sát của chúng lôi cách Irung tâm huyện

khoang 5 km và cách Hà Nội 110 km về phía Tây Bắc, hắc giáp xã Hào Lý,

nam giáp xã Cao Sơn và Ihị trấn Đà Bắc, đông giáp xã Thịnh Lang (huyện

Kỳ Sơn), tây giáp xã Tân Minh Ớ xã Tu Lý có hai xóm người Dao sinh

sống, đó là xóm Mạ và xóm Mít Xóm Mạ là xóm Dao Quần Chẹt duy nhất

ở Tu Lý và chỉ cách trung lấm xã khoáng 2 km Bây giờ, chúng tôi xin dề

cập tới các điều kiện tự nhiên của vùng này

1,2 Các điều kiện tụ nhiên:

1.2.1 Đất; So sánh giữa các xã miền núi nói chung trong cả nước cũng như của tỉnh Hoà Bình thì Tu Lý thuộc loại xã miền núi tương đối

dông dân Tỷ lệ số dân sống bằng nông nghiệp chiếm đại da số (97%), do

đó đất đai canh tác đối với họ râì quý và được khai Ihác lất triệt để Tính

bình quíln ruộng nước, ca mỏl vu và hai vụ, trong loàn xã là 0,98 sào/nhím

khẩu và 2,16 sào/lao động (trong dó ở người Dao là 0,80 sào/nhân khẩu và

1,69 sào/ lao dộng), 'rinh bình quân diện lích míong rầy trong loàn xã là

1,42 sào/nhân khẩu và 3,13sào/ lao dộng Như vậy, mặc dù hầu hết dân số

trong xã sống bằng nghề nông nhung bình quân đất llieo dầu người và lao

động khá thấp Diện tích đất đai không đáp ứng dược nhu cầu việc làm cho

15

Trang 21

người lao động Thêm vào đó, châì lượng của ciâi ở đây kế.ca đíú ruộng và

đất đồi núi khai thác thành nương rẫy dền (hấp, sail lượng chưa cao (13; 14)

Nguyên nhân của tình trạng Ihiếu mộng đất canh lác chủ yếu là do láu nay dân

sỏ' phát Iriển không iheo kế hoạch, kế cả lăng lự nhiên và lãng cư học

1.2.2 Bên cạnh đất canh lác, rừng ờ đây cũng đóng một vai Irò vô

cùng quan trọng trong dời sông của cư dân địa phương Người Dao ớ dây

sống gắn bó mật thiết với rừng Thôn xổm của họ ở xóm Mạ đưực thiết lập

ngay sát chân núi Rừng có thể chia làm hai loại là rừng tự nhiên và rừng

trồng Khu rừng thiêng của dồng bào Dao Quần Chẹt cũng thuộc loại rừng

tự nhiên, tuyệt đối không được ai xâm phạm đến vì đây là noi thờ cúng Bàn

Vương - tlniỷ tổ của người Dao, nơi thờ Ihổ công của cộng dồng, lliờ những

người khai sinh ra bển làng Khu rừng thiêng của làng là nơi có nhiều cây

cối, khổng khí Irong lành, yên tĩnh, người và súc vậl không lai vãng tic’ll

Tại các khu rừng tư nhiên, thẳm thực vật phong phú và đa dạng hơn ở rừng

trồng Các cây dược liệu cũng nhiều hon và thường là những cây dược liệu

quý, hiếm Từ thập kỷ 80 trở về trước, lừng bị tàn phá nhiều Nguyên nhân

trực tiếp dẫn đến việc tàn phá rừng, tàn phá môi trường ở đây là do việc

khai thác gỗ và đốt rừng làm nương rẫy một cách ổ ạt, với tốc độ cao

Chính vì vậy, rừng tự nhiên đã bị thu hẹp và ngày càng kiệt quệ, Đứng

trước tình hình nạn phá rừng ngày càng trầm trọng đồng thời dể giải íỊLiyết

vấn đề lao động ở nông thôn miển núi và để ổn định đời sống của người

dân, được sự chỉ đạo của Đảng và Chínli phủ, chính quyền địa phương dã tổ

chức thực hiện việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình Màng năm,

chính quyển địa phương đều tổ chức các đợi trồng rừng và khoanh nuôi,

chăm sóc, báo vệ rừng Xã Tu Lý là một trong 4 xã của huyện Đà Bắc (Tu

Lý, Toàn Sơn, Hiền Lương, Giáp Đắt) được (hực hiện khoán rừng Năm

1997 huyện Đà Bắc đã Irồng được 1365 ha rừng và diện tích rừng dược

khoanh nuôi, chăm sóc, háo vệ là 263 13 ha (3;4); trong dó, xã Tu Lý clíĩ dạt

112 ha rừng Irổng mới và 2500 lui rùng (.tược chăm sóc, hao vô (2;3) Ở

Trang 22

xóm Mạ hiện nay nhiều hộ đã được nhận đất trổng lừng và dã trổng được quế, lál, bạch dàn Nhiều khu lừng mới dã xuấl hiện và nhiều loại lliực vạt lại nẩy sinh và phát triển Đây là điều kiện lôì dể báo tồn dộng - thực vậl, trong đó có cây thuốc ììam Nguồn dược liệu này đã góp phần không nhỏ vào việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng tại địa phương.

1.2.3 Ngoài dấl canh tác, tlâì l ừng thì người dân ớ Tu Lý nói chung, người Dao Quần Chẹt ỏ' xóm Mạ nói liêng còn có đất vườn Vườn nhà của người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ gồm các loại thực vát mọc hoang và được trồng Thực vật mọc hoang nhiều khi cũng là các cây dược liệu, chẳng hạn như: cây chó đẻ, cỏ xước, cây đơn dỏ, cù biệt, dền chua, xả, cỏ mần trẩu Vườn nhà thường được trồng các loại cây ăn quả (cam, quýt, bưởi, khế, đào, mận, quất ), rau xanh ăn hàng ngày (rau ngót, rau mồng tơi, rau dền, rau cải ), cây gia vị (hành, tỏi, ớt, húng, kinh giới, tía tô ) và các loại cây canh (cây xương lổng, đơn lá đổ ) Những loại thực vật có tác dụng chữa bệnh có rất nhiều ở trong vườn nhà (những cây thuốc lấy từ rừng, đồi về trồng trong vườn nhà, các loại rau xanh, một số thực vật mọc hoang), một

sô hộ phẠn của một số cAy ỉìn quả: ỉ;í, cành, rễ, vỏ hoặc ngay chính cỊiiả cua các cây đó cũng có tác clụng chữa bệnh (chẳng hạn như quất dùng dể chữa ho; cam có tác dụng mát, hạ nhiệt, giàu vitamin C; du đủ có lác dựng nhuận tràng ) Thực vật trong vườn của người Dao ở đây, cho dù mọc hoang hay được trồng, theo kinh nghiệm y học dân gian, hầu hết tiểu là nhũng loại thuốc chữa bệnh và thuốc bổ

1.2.4 Nguồn nước: Nước để canh tác phần lớn [à nhờ nước trời Nguồn nước cung cấp cho ruộng một vụ của xóin Mạ được dẫn từ hồ Cháu theo con kênh Cháu (dài ỉ,5 kin) nhung cũng lất thiếu Hệ thông thuỷ lợi ờ đây (đập, máng dẫn nước, hồ chứa nước) đã được xây clựng, tuy nhiên do Ihời liết Ihay đổi nên vài năm Irỏ' lại dây hồ chứa nước luôn bị cạn Nước cho sinh hoạt ở dây phần lớn là đùng nước giếng Bẻn cạnli dó, với chương liình

Trang 23

nước sạch nông thôn Ihì toàn xóm Mạ hiện nay có ba bể nước xây, nguồn nước này đã đáp úng một phẩn nhu cầu sinh hoạt cho cư dân địa phương.

] 2.5 Khí hậu: Hoà Bình là một tỉnh có khí hậu lục địa nhiệt đới gió mùa Có hai mùa rõ rệt trong năm là mùa mua và mùa khô Mùa mưa lừ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô lừ Iháng [ I tiến lining 3 Nhiệt clộ trung bình hàng năm là 240 Lượng mưa Irung bình hàng năm loàn tỉnh là I900mm (trong đó ở Đà Bắc, lượng Iĩiưa trung bình hàng năm là 1500mm) Tháng mưa nhiểu nlìất là tháng 7, 8 Tháng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 Trong tỉnh, khí hậu các vùng không giống nhau, ỏ' Đà Bắc, từ tliiíng 7 đã bát dấu lạnh, về mùa rét, thường có gió mùa đông bắc gây ra mưa phùn và dôi khi có sương muối gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng Mùa hè có gió đông nam, hay gây ra mưa bão ở Đà Bắc về tháng 5 thỉnh thoảng có gió Lào làm hại mùa màng

Tại Mo à Bình, độ ẩm trong không khf tương đối cao, giữa các vùng thường không chênh lệch nhau nhiều lắm Độ ẩm tương dối trung hình hàng tháng là 85%

2 Tình hình dân cu và các điều kiện kinh tế, vãn hoá, xã hội:

2.1 Tình hình dân cư, dãn tộc (13;3- 17)

Theo số liệu năm 1993 toàn tỉnh có 713.663 người, mật đô dân số là

150 người/ km2 Sự phân bố dân cư trong tỉnh có những chênh lệch dáng

kể Nếu như ở Kim Bôi và Lạc Sơn, mỗi huyện có trên 118.000 người ihì ỏ’ Lạc Thuỷ, Mai Châu, mỗi huyện lại chí có trên 45.000 người Trong khi mật độ dân số của thị xã Hoà Bình là 672 người/ kirr hay huyện Lạc Sơn là

203 người/ km2 thì mật độ dân số của huyện Mai Châu chí là 71 người/ kirr

và Đà Bắc là 57 người/knr ( 13;3)

Iloà Bình là tlịa bàn cư Iriì ciìa liliiổu dân lộc: Mường, Dao, Tliái, Hmông, Tày và Kinh Trong dó, người Mường là lớn nhất, chiếm khoang

60,3% dân số toàn tỉnh và sống chủ yếu ỏ' các huyện như; Lac Son (90,2%

dân số toàn huyện là người Mường), Kim Bôi (83,2%), rân Lạc (84%)

Trang 24

Tuy nhiên, người Mường còn ở các huyện khác trong tỉnh Người Kinh có

số lượng lớn thứ hai sau người Mường, chiếm 3 I % số dân toàn tỉnh và sống chủ yếu ở thi xã Hoà B ìn h (chiếm 81% dân sô thị xã) và ở Lạc Tluiỷ

(68,2% dân số huyên) Ngoài ra, người Kinh còn cư trú ở các huyện khác,

mà chủ yếu là ở các thị trân huyện Người Thái chiếm 4% dân số toàn tính

và cư trứ chủ yếu ở Mai Châu (chiếm 60,2% dân số loàn huyện) Người Tày chiếm 2,6% dân số toàn tỉnh, sống chủ yếu ở Đà Bắc, Kim Bôi, mộl ít thì cư trú ở Kỳ Sơn, Lương Sơn, Mai Châu và thị xã Hoà Bình Người Hmông chỉ có khoang hơn 3000 người, sinh tụ chủ yếu ở Hang Kia và Pà Cò (huyện Mai Châu) (58;443) ở tỉnh Hoà Bình, người Dao phân bố ở 5 huyện: Kim Bôi, Mai Châu, Lương Son, Đà Bắc, Kỳ Sơn Trong đó, huyện Đà Bắc có số lượng người Dao nhiều hơn cả

Tốc độ phát triển dân số của tính Hoà Bình tăng khá nhanh nhưng có

sự chênh lệch khá lớn ở các giai đoạn khác nhau Trong vòng 35 năm nay, hai giai đoạn I960- 1965 và 1986- 1990 có tỷ lệ tăng dân số bình quàn hàng năm cao nhất (1960- 1965 là 5,9% và 1986- 1990 là 3,9%), thấp nhất

là giai đoạn 1991- 1994 (2,1%) Sở dĩ có lình trạng tăng dân số Ihât thường như vậy chủ yếu là do tăng giảm cơ học Những năm đầu thập kỷ

60, dân số của tỉnh Hoà Bình tăng nhanh do có chủ trương vận dộng người dân miền xuôi lên xây dựng và phát triển kinh lế, văn hoá miền núi Khi bắt đầu xây dựng công trình thuỷ điện sông Đà, dân số của tính lại lãng lên nhanh chóng Đến khi công trình này hoàn thành đã diễn ra một đợt di dân ngược lại với thời gian đầu, một bộ phận đáng kể cán bộ, công nhân viên

và các thành viên trong gia dinh họ đã chuyển di các vùng dấl khác, thêm vào đó có một bộ phận dân cư là đồng bào các dân tộc thiểu sô ỏ' vùng lòng

hổ và các huyện khác đã di chuyển vào các tỉnh miền Nam làm ăn sinh sống, xây dựng các vùng kinh tế mói Từ năm 1991- 1993, số hộ và số nhân khẩu của Hoà Bình di chuyển vào Tây Nguyên là 637 hộ với 3372 nhân khẩu (27;71).Chính vì vậy, lốc độ lăng dân sô của lỉnh lloà Bình giủm đi rõ rộl

Trang 25

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của l loà Bình trong các thập ký 60, 70,

K0 khá cao mà nguyên nliân cliínli là (lo lỷ suấl sinh vẫn giữ ở mức cao, trong khi đó tỷ suất chết giảm Do thực hiện có hiệu quả công tác kế hoạch lioá gia đình nên vào những năm nửa cuối thập kỷ 80, đặc biệt là vào những năm đầu thập kỷ 90 tỷ suất sinh tổng cộng giam dán lừ 4,91 con ( 1991) xuống còn 3,34 con (1994) Trong toàn tỉnh cũng như ở từng huyện, việc giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không đồng đều, có năm giảm nhiều,

có năm giám ít, có huyện lăng, có h u y ệ n giam, nhưng nhìn chung Đà Bắc vẫn là huyện có tỷ ]ệ tăng dân số tự nhiên cao hơn cả (13;9) Dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu về tình hình dân cư, dân tộc của huyện Đà Bắc

So với các huyện khác trong tỉnh Hoà Bình thì Đà Bắc là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất (831,75 kill2) nhưng lại là huyện có dân số ít nhất, chỉ là 44.255 người (năm 1994) Huyện Đà Bắc là huyện vùng cao, thêm vào đó lại là nơi chịu ảnh hưởng trực liếp của hổ Hoà Bình (đập thuỷ diện sông Đà) Do ảnh hưởng của hổ Hoà Bình nên trong toàn huyện đã có khoảng 8000 ha (trong đó có trên 600 ha ruộng Iiước) bị ngập nước, có 16

xã (chiếm 76,2% số xã trong huyện) phải di chuyển dân, trong đó có 2 xã

bị ngập trắng Năm 1991 có gần 14.000 người phải di chuyển, chiếm 30% tổng số dân của toàn huyện, Sau khi công trình thu ỷ điện CO' bán được hoàn thành, Nhà nước đã có chủ trương vân dộng nhân dân vùng lòng hồ chuyển đến nơi khác làm ăn sinh sống Tuy nhiên, CỈO chưa có biện pháp tích cực

và thiết thực, người dân lại chưa nắm vũng hoặc chưa tin những diện Líclì sẽ

hị ngập lụt lại 1Ó I1 đến thế, chưa lường hếl những hậu quá có lính cục bô khi công trình đưa vào sử dụng nên việc di chuyển dân còn chậm chạp Chính vì vậy, những năm đầu thường là chuyển vén, nước ngập đến đâu thì chuyển lên những vùng cao hon đến đó Khi nước lút, do không có nước dùng trong sinh hoạt nên lại phải theo mực nước chuyển xuống thấp, hình Ihành một kiểu du canh, đu cư mới- theo mùa nước- sống có tính tạm bợ,

I ill11 lliời Mặc dù vậy, từ năm 1980 đến năm 1987 loàn huyện Đà Bắc dã có

2520 hộ với trên 13000 nhân klìẩu (li chuyển theo kế hoạch Tính clến

20

Trang 26

lining 5- 1991, toàn huyện có 2630 lìộ với gần 15000 nhân khẩu di chuyến

cư trong nội huyện Ngoài ra, dồng bào còn di chuyển đến các huyện khác của tỉnh như Kim Bôi, Lạc Sơn với hàng trăm hộ và hàng ngàn nhân khẩu Trong những năm qua có hàng ngàn hộ từ Đà Bắc đã chuyển cư vào các tỉnh đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên, tập trung đông nhất là ở các huyện: Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum), Chư Prông (tĩnh Gia Rai) ( 13;6-7)

Mặc dù Đà Bắc là huyện có mật độ dân số thấp ĩihất tỉnh (57 người/

km2) nhưng chủ yếu là đồi núi, những nơi không thuộc diện di chuyển thì tình hình sản xuất và đời sống V Ố I 1 dã khó khăn nay lại phải tiếp nhận, cưu mang một số ngưòi từ lòng hồ chuyển đến thì tình hình càng khó khăn, plìức tạp hơn Tu Lý là một trong các xã của Đà Bắc vừa phải tiếp tục thực hiện công tác định canh, định cư của cư dan tại chỗ, vừa phái liếp nhận cư dán ở một số xã lân cận vùng lòng hổ chuyển đến nên lình hình sản xuất jũng như dân cư, dãn tộc của Tu Lý có một sô biến dộng, khó khăn và phức tạp Đây là một trong những xã có dân số đông nliâì của Đà Bắc Dân số

'n xã Tu Lý năm 1996 là 5510 người, trong đó người Dao chiếm 16,96% dân

<ô' loàn xã Xã Tu Lý có 12 xóm: Sèo, Tày Mãng, 1 lương Lý, Kim hý, Họp Lý, lìình Lý, Riềng, Mó La, Mạ, Cháu, Đồng Lý và xóm Mít với tổng diện tích lự ìhiên của xã là 8768 km2 Đây là xã có nhiều tộc người cùng chung sống:

víLròng, Kinh, Dao, Tày, Thái Xóm Mạ là xóm Dao Quẩn Chẹt duy nhất ở xã

ru Lý Dân số toàn xóm năm 1996 là 372 người với 69 hộ gia đình, trong đó :ó 4 hộ người Mường và một hộ người Tày, còn lại là người Dao

Nhìn chung, dân số của Tu Lý không có biến dộng nhiều nhưng xét 'ề mặt dân tộc thì cũng có những thay đổi đáng kể, Tỷ lệ người Mường rong tổng dân số giảm 5,30%, người Kinh tăng 3,27%, người Dao giảm

,71%, người Tày tăng 4,58% (I3;9), người Thái chí chiếm 0,2% tổng số

ân của toàn xã (2J ;58) Nguyên nhân của sự biến dộng (lân sổ các (.lân lộc ong xã IIIỘI 111.11 (lo lãng lự nhiên nhưng chu yốu vần là lit) liing giiiin C(V

ọc và vấn dề quá trình tộc lìgười (huy nói chính xác hơn là ý tluíc lự giác )C người) Sự đa dạng của tình hình dán cư và dân tộc ở Tu Lý chủ yếu là

21

Trang 27

do các dơi di dân từ các nơi khác đốn có thể cliên ra lừ những nãm dáu thê

kỷ nhưng chủ yếu là trong 2, 3 thập kỷ trở lại đây Các Ỉ1Ộ gia đình người Mường thuộc các dòng họ Nguyễn, Xa, Đinh, Lường, Hà từ các xã khác trong huyện đi tìm đất canh tác và định cư tại các xóm vào thời gian sau giai phóng (1954) Những người nông dân lừ các huyện đồng bằng của lỉnh

Hà Tây (Thanh Oai, Quốc Oai, Thạch Thất) theo chủ trương đi xây dựng kinh tế mới của Nhà nước cũng đến định cư tại đây trong hai thời điểm

1963 và 1985 Thực hiện cuộc vận động định canh định cư llieo chỉ thị 3X

CP của Thủ tướng Chính phủ, người Dao đã hạ sơn định cư tại các xóm Mít, Mạ và Tày Măng vào năm 1968 (21 ;59)

Về kết cấu gia đình: Loại gia đình gồm vợ, chổng và các c o i l tính chung toàn xã chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm tỷ lệ 55,67%), trong đó ỏ' dân tộc Dao là 38,24% Đặc biệt đối vói dân tộc Dao, loại gia đình gồm vọ

chổng, anh chị em, các COI1 (kể cả con nuôi) chiếm tỷ lệ cao nlìííl 58,K2%

Loại gia đinh gồm bố mẹ, vợ chồng và các con tính chung toàn xã chiếm 13,79% trong các loại gia dinh, trong đó ở dân tộc Dao loại gia dinh này chí chiếm 2,94% (13;9)

Về quy mô gia đình: Quy mồ gia đình bình quân toàn xã năm 1994

là 4,8 người nhưng ở người Dao là 5,35 người, Đây là quy mô gia đình lớn nhất so với các dân tộc khác trong xã

Cư trú xen kẽ giữa các dân tộc có chiều hướng tăng lên Do đó số lượng gia đình có nhiều dân tộc cùng chung sống cung ngày một gia tăng Tuy nhiên, ở mỗi dân tộc tỷ lệ này có khác nhau Chẳng hạn, năm 1992 tỷ

lệ gia dinh hồn hợp đAn lộc lính chung trong toàn xíì In 12,x% 1 hì <’•>• (lAn lộc

Mường tỷ lệ đó là ! 3%, Kinli 6,3%, Dao 3,5% và Tày là 45%( 13,9) Sở tiĩ ử

dân tộc Tày có tỷ lệ gia dinh hỗn hợp dân lộc cao như vậy vì dân tộc Tày ở đây có dân số ít lại là cư dân sinh tụ lâu đời ở địa phương (giống dân tộc Mường), có quá trình tiếp xúc hiểu biết lẫn nhau nên tỷ lệ hồn nhân hỗn hợp dân tộc cao hơn Trong khi dó, (.lân tộc Kinh tuy là dân tộc có quan hệ

2 2

Trang 28

ticp XUC lộng, trong tập quán ít có những thành kiên về quan hệ hôn nhân ngoại tộc (dân tộc) nhưng do mới chuyển cư đến khu vực này, là từ các dòng họ và địa phương khác nhau nên tỷ lệ hôn nhân hỗn hợp cũng ít Còn

ớ dân tộc Dao, tuy đã định cư ồ đây được vài chục năm nay nhưng do còn

tàn dư của tính đóng kín tộc người nên tỷ lệ hôn nhân hồn hợp dán tộc khá thấp Người Dao hầu như rất ít có quan hệ hôn nhân với các dân tộc khác, thậm chí giữa các nhóm Dao vói nhau Irong cùng một địa phương, chắng hạn như: giữa người Dao Tiền và người Dao Quần Chẹl ở Tu Lý

Người Dao Tiền ở xóm Tày Măng cho lằng, sờ dĩ họ không lấy vợ, lấy chồng người Dao Quần Chẹt vì ở đó thách cưới lớn Ngirực lại, người Dao Quần Chẹt ở xóm Mạ lại cho rằng không phải íà vấn đề kinh tế, đám cưới người Dao Tiền nhiều khi còn lớn hơn người Dao Quần Chẹt, sở dĩ hai nhóm Dao này không có quan hệ hôn nhân vói nhau là do xưa kia người Dao Tiền bay đánh bẫy thú rừng, người Dao Quần Chẹt tlnrờng hay mắc bầy Một lần, người phụ nữ Dao Quần Chẹt mắc bẫy, bị ngã nhưng do mặc váy nên hở cả mông, đùi ra, xấu hổ Từ đó, người Dao Quần Chẹt không mặc váy mà mặc quần chít ống, và cũng từ dó hai nhóm dân lộc này không

cư trú trong cùng một bản và không có quan hệ hôn nhân với nhau Mặc till những giải thích trên ít có sức thuyết phục nhưng nó cũng phán ánh phần nào tâm lý của hai nhóm Dao ở Tu Lý nói riêng và các nhóm Dao ở Việt Nam nói chung

Vấn đề tăng dân số tự nhiên: Tăng giảm dân số ở mộl khu vực hay [rong một quốc gia đều phụ thuộc vào hai yếu tố là lăng tự nhiên và tăng cơ

J,iờ xin xél hai tiêu chí sinh và chối của xã Tu Lý

Về tình hình sinh, ở đây chỉ tập trung vào xem xét iỷ suất sinh Ihô :ủa dân sô Tu Lý Năm 1994, tỷ suất sinh thô tính chung trong toàn xã là ì9%o, trong đó người Dao là 31%o Trong cùng một thòi gian tỷ suất sinh

hô ở đay cao hơn lình hình chung của toàn tỉnh là 1,3%o (2 9 % 0 so với

Trang 29

27,7%o) Nhìn chung, tỷ suất này chỉ rơi vào các bà mẹ đang ở độ tuổi sinh

dẻ, có năm sinh vào quãng thòi gian lừ năm 1960 đến những năm 1970 Các bà mẹ có số lần sinh 3- 4 lần vẫn chiếm tỷ lệ cao, tính chung trong toàn xã là 37,9% (trong đó ở người Dao là 20,6%); số lần sinh từ 5- 6 lẩn tính chung trong toàn xã là 20,7%, trong đó, số lần sinh ỏ' dân tộc Kinh là cao nhất 38,1% và dân tộc Dao là thấp nhất 14,7% Đặc biệl số lần sinh 7 lần tiở lên của dân tộc Dao là cao nliâì Irong toàn xã, chiếm 32,4%, (rong khi đó số lần sinh 7 lần trở lên tính chung trong toàn xã chỉ là 17,3%- Sở tlĩ dồng bào sinh đẻ nhiều ngoài các nguyên nhân như tuổi kết hôn lần dầu sớm, trình độ văn hoá thấp, chiến tranh, tâm lý và các đặc tính tộc người iliì còn là do lỷ lệ chết cao, đặc biệt là chết lie sơ sinh Năm 1994, lỷ íệ chết cúa trẻ em so với tổng số trẻ được sinh ra tính chung trong toàn xã chiếm 10,72%, trong đó ở dân tộc Mường là 9,19%, dân tộc Tày là 10,09%, dân tộc Dao là 13,21% và dân tộc Kinh là 14,71%

Về tình hình chết, tập trung vào tỷ suất chết ihô của dân số Tu Lý Năm 1994 trong toàn xã có 37 người chết Tỷ suất chết thô lính chung trong toàn xã là 7,4%o, trong dó dân tộc Dao là 9,4%o, dân lộc Mường là

8,8%0, dân tộc Tày là 8,2%o và dàn tộc Kinh là 8,l%o Như vậy, tỷ suất chết thô ở nguời Dao là cao nhâì (9,4%ơ) mà chủ yếu là chết bệnh ở người già So với tỷ suất chết thô của tỉnh Hoà Bình trong cùng một thòi gian thì

ở Til Lý cao hơn l,7%o (7,4%o so với 5,7%o) Trong 37 trường hợp chết (mím 1994) thì chốt già chiếm 45,95%, cliếl bệnh 32,43%, còn lại là chết khác trong đó có hai trường hợp chết trẻ (5,4%) Những Iháng cuối năm, dặc biệt là 3 tháng cuối có số lượng ngưòi chết nhiều Iiliất (chiếm 48,64%)

Liên quan đến mức chết trong dân cư là tình hình bệnlì tột Năm

1993, số người mắc các loại bệnh chí chiếm 17,1% dàn số của xã, trong đó bệnh bướu cổ và viêin não chiếm lỷ lộ lớn Nếu như bướu cổ có xu thế

^iiiin 11lì viCm IUU) lại có ehiồu hướng lãng Oumg lum như: Imng các năm 1992- J993 bệnh bướu cổ chiếm 73,33% so với lổng số người mắc bệnh

Trang 30

Irong xã (trong đó: Tày là 87,18%, Dao 7 1,43%, Mường là 68,94%) 111I hai năm sau (1994- 1995) tý lệ người mắc bệnh này lính chung trong các bệnlì của toàn xã còn 52,48%, trong đó Dao 55%, Mường 53,33% và Kinh là 33,33% Ngược lại, bệnh viêm não lại tăng lừ 6,15% so vói những người mắc bệnh trong xã (1992- 1993) lên 21,78% (1994- 1995).

Như vậy, tỷ suất sinh thô và lỷ suất chết thô của Tu Lý so vổ'i lình hình chung của các dân lộc trong cả nước Ihì thuộc loại thấp, nhưng nếu so với chính CU' dân các dân lộc tỉnh Hoà Bình t h ì l ạ i cao hon chúi ít Nhung

do hiệu số giữa mức sinh và mức chết thấp nên tỷ lệ lăng dân số tự nhiên của Tu Lý thấp hơn chút ít so với tình hình chung của tính íloà Bình

Về lao động, năm 1993 lỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao dộng của Tu Lý khá thấp, tính bình quân trong loàn xã là 33,6%, trong đó ở người Mường

là 33,8%, người Kinh 34,3%, người Tày 34,3% và người Dao 32,1 % Trong khi đó, tỷ lệ người già từ 60 tuổi trở lên so với dân số toàn xã thuộc loại tưưng đối cao Tuy nhiên, mức độ ỏ' mỗi dân lộc có khác nhau: ở người Mường là 9%, người Kinh 5,6%, người Dao 6,8%, người Tày ỉ0,4% Như vậy, tý lộ số dim dưới tuổi lao dộng so vổ'i lình hình chung của ca nước thuộc loại tương đối thấp nên những người ở độ tuổi lao dộng (15- 60 tuổi) chiếm một tỷ lộ đáng kể, tính chung trong toàn xã là 57,8% Năm 1994, số lao động của Tu Lý là khoảng 2900 người

2.2 Điểu kiện kính tè, văn hoáy xã hội.

2.2.1 Hoạt dộng kinh tế:

Tu Lý được chia thành hai vùng cảnh quan lõ rệt: Vùng cảnh quan sườn núi với lối canh tác nương rẫy và đất đồi hay nói cách khác có thể gọi

là cảnh quan nông nghiệp khô (là vùng quen thuộc của cư dân Dao và một

/ìmg lining lũng chAn núi hẹp có cơ cấu kinh tố mộng và nương Cư dân Dao ỌuÂn Chẹt ở xóm Mạ thuộc môi 1 rường cảnh quan nông nghiệp khô chuyên canh tác đất nương, bãi) (20;58-59) Nguồn sống chính của họ là

25

Trang 31

dựa vào kinh tế nông nghiệp: làm nương bằng Ihiìiiì canh và luán canh trên

đất dốc, trồng lúa ruộng bộc thang (một vụ) và chân nuôi Tuy có ruộng

- Nương là một loại hình sản xuất nông ngliiệp phổ biến ở hâu hốt

các nhóm Dao Nông lịch của người Dao ở Tu Lý cũng tliể hiện truyền

thông canh tác nương lẫy của đồng bào

Tháng giêng: trỉa ngô, trồng sắn, phát nương, trỉa đậu lương, trổng mía

Tháng hai : Làm cỏ ngô, sắn Trổng dong riềng Trỉa lục

Tháng ba, tháng tư: Trỉa lúa nương, làm đấl cấy lúa ruộng, gieo mạ,

lliu hoạch đậu các loại, thu hoạch đậu tương

Tháng năm: Cấy kìa chiêm

Tháng bảy: Tlui hoạch ngô

Tháng lám: Thu lioạcli kìa sớm (lúa niíưng) Cúng com mới.

Tháng chín: Thu hoạch lúa ruộng

Tháng mười, mười một: Chuyển lúa về nhà kho Thu hoạch sắn,

dong riềng, mía

Tháng chạp: Tiếp tục thu hoạch cây màu

Người Dao ở Tu Lý phân biệt dất canh lác ngoài ruộng gồm có hai

loại là đất bãi và nương Đất bãi là loại đất canh tác bằng phẳng hơn,

thường là dưới chân núi hoặc các khoang thung lũng thấp Nương là đất

canh tác dược khai phá licn sườn núi và có độ dốc cao Ihường là lừ 25 - 30

độ Người Dao Quẩn Chẹt ở xóm Mạ gọi nương dốc là Ịiàng và đất bãi

bằng là hườn (lức vườn) Người Dao ở dây còn gieo í rồng trên dát bườn các

loại cây trổng như ngô, mía, lạc, chè, gừng, đậu tương, dong riềng (ít) Ngô

là cây lương thực được trồng nhiều thứ hai sau cây lúa Ngô thường dược

Irổng thành từng dám riêng hoặc Irổng xen vói cây chè hoặc dậu tương

9A

Trang 32

(lược trồng xen với cây ngô Năng suất cây ngỏ ơ xóm Mạ đạl 17 tạ/ha Ngô chiêm trỉa vào tháng chạp, thu hoạch vào lining lư, đậu tương là cây hồng xen được trỉa vào tháng giêng và thu hoạch vào tháng 3 Mía được irổng vào tháng giêng và Hiu hoạch vàơ tháng niộl, chạp Lạc là cây liổng xen, trỉa vào tháng hai và thu hoạch vào tháng 5 Đất bãi gieo hồng được 2

vụ Trong khi dó, nương dốc chỉ làm một vụ Cây Irổng chủ yếu trên nương

dốc là sắn và dong liềng Nhung ở Iiluìng nơi có độ dốc không lớn, nhiều

hộ trổng cây chè Trong tập quán canh tác, bởi lối ứng xử đối với từng loại tlâì, dồng bào dầu tư phân bón các loại chí lập trung ờ dất bãi và ruộng, còn nương dốc thì chỉ tận dụng dộ màu tự nhiên để trồng trọt mà không có việc bón phân làm tăng thêm độ mùn cho đất Việc thay đổi tạp quán canli tác cùng với áp lực về mặt dân số và mức độ ngày càng giảm thiểu về năng suấl

do kha năng dầu tư thám canh bị hạn chế là nhân tố lạo nên clộ giám thiểu về

an toàn lương thực Hiện nay, nhiều gia đình dã phiíl triển kinh tế hộ Iheo hướng sail xuất hàng hoá theo mô hình vườn rừng

Chan nuôi: Ngưòi Dao ở Tu Lý chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia

cầm: trâu (1150 con), bò (314 con), lợn (2481 con), dê (6 con), gà, vịt và Iiuồi ihá cá ở các ao nhỏ liong các XÓI11 (diện tích ao tha cá là 15 ha) (2;3) Trâu bò thường dược dùng dể kéo cày và vận chuyển Các loại gia cầm thường được dùng chủ yếu trong các nghi lễ cííng bái, cưới xin, hội hè hoặc được đùng khi có khách, bổi dưỡng khi đau ốm

Kinh tế chiếm đoạt: Như đã đề cập ở trên, tuy dã chấm dứt cuộc

sống du canh, du cư nhưng ngoài mội số ít ruộng nước, thu hoạch chính của đổng bào Dao ư dây vẫn là dựa vào nương dịnh canh Nlurng bình quán đất canh tác Iheo đầu người và lao động lại thấp nên chưa đảm bảo an toàn lương thực cho cư dân ở đây Nhằm giảm thiểu nhũng thiếu hụi về lương Ihực, thực phẩm và cải thiện đòi sống hàng ngày, lừ lâu cư dân ở đây

đã biết khai thác các nguồn lợi từ rừng Vào những ngày nông nhàn, giáp hại nhiều người phải vào rừng đế thu lượm cây, qua, mãng, rail (các loại) ,

97

Trang 33

một số loại chim lliú nhỏ đem bán, hoặc dể dùng, góp phán nhỏ nhoi vào tim nhập kinh tế gia đình và các bữa ăn thường ngày Bén cạnh dó, rừng

c ò n là n g itổ n c u n g c ấ p c ù i, lie , nứa c h o c á c CH' d â n ơ đ â y C á c lo ạ i c â y

lliuốc cũng đưực tìm thấy nhiều ỏ' trong rừng Một số người thin, dạc biệl là

các thày lang chuyên vào lừng tìm thảo dược về chữa bệnh cho CƯ dân

trong và ngoài cộng đồng Nguồn dược liệu này đã góp phẩn không nhỏ Irong chăm sóc sức khoẻ cộng dồng lại dịa phương, ctồng 1 hòi cũng là mộl trong những nguồn thu nhập của một số thày lang ở dây

2.2.2 Văn hoá - xã hội:

M ặc dù sống phân lán và có nhiều nhóm Dao khác nhau nhung về nhà ở vãn có những yếu lố dặc trung của cá cộng đồng Người Dao có ba loại hình nhà ỏ' là nhà đất, nhà nửa sàn- nửa đất và nhà sàn Những cư dân

sống trôn rẻo cao và rẻo giữa (hường ả nhà đất và nhà nửa sàn- nửa đất

Còn nhà sàn phổ biến ở những người Dao đã xuống thấp sống xen với người Tày hoặc gần người Việt và chủ yếu là làm ruộng nước Xóm Mạ là một trong các xóm của Tu Lý đã định canh định cư Cu' dân ở dây cư trú tập trung Mật độ nhà ở trong thôn ngày càng gia tăng do tăng dân sô và đo tách hộ Nhà ở của người Dao Quẩn Chẹt ờ xóm Mạ tlniộc loại hìnli nhà nền dâì Hiện nay, người Dao ở dây ngày càng có xu hướng làm nhà theo kiểu của người Kinh, thậm chí có môt vài hô gia đình còn thuê thợ người Kinh ở Thái Bình làm nhà Tuy nhiên, cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà cho dến nay vản được duy liì theo truyền thống, đặc biệt là vị trí đê bàn thờ, vị trí dặt bếp Có thể nói, giò' đây kiểu nhà đất cổ truyền, nhà nửa sàn- nửa đất và nhà sàn của người Dao dang ít dần Xu hướng chung là làm nhà dấl theo kiểu nhà người Kinh cùng dịa phương Chính sự Ihay đổi này làm cho những yếu tố dặc Irưng của nhà cổ truyền người Dao không còn nữa Quá Irình phái triển nhà người Dao cũng là quá Irìnli mat dán Iiluìng

yếu lô đặc trưng cỉia nhà cổ truyền.

28

Trang 34

về trang phục: Trang phục cổ Imyền của người Dao râl đa tlạng và phong phú về kiểu cách cũng như hoa văn Irang lií Ớ mỗi nhóm Dao, Irang phục có những nét đặc trưng l iêng cho từng nhóm.

Áo truyền thống của đàn ông Dao gồm 2 toại: áo ngắn và áo dài Ao ngắn được mặc thường xuyên hàng ngày, áo dài giống áo của người Kinh chỉ mặc vào dịp đi chơi xa, đi chợ phiên ílự hội Áo ngắn có thể phân thành 4 loại: 1 Áo năm thân giống như áo của người Kinh trước đây; 2 Áo

cổ to, nẹp ngực lo, đính rất nhiều khuy lếl bảng vái hoặc khuy đổng; 3 Áo cánh như áo của nông dân Kinh, màu chàm hoặc nâu; 4 Áo cổ ihấp, xỏ tnrớc ngực, thân bên trái có lai tlìêm một cái nếp lừ cổ áo xuống gần gííu Nẹp thêu công phu, có khi còn đính thêm nhiều mảnh bạc liòn hoặc sao tám cánh Khuy áo nhỏ bằng bạc hoặc bằng đồng Cửa tay thêu bằng chí màu, sau lưng áo, giữa hai bả vai được Ihêu “cái ấn của Bàn Vương”

Quần của đàn ông người Dao được may bằng vải nhuộm chàm, cắt iheo kiểu “chân quê”, cạp “lá loạ” nhuộm chàm hoặc dể trắng Trang phục dừng trong ngày lễ, ngày cưới cua đần ông Dao cũng không khác gì ngày thường (14; 145- 149)

Khác với trang phục nam, trang phục nữ dược cắt may tỉ mỉ, công phu hơn và được thêu các hoa văn vói nhiều màu sắc rực rỡ hơn Phụ 11LV Dao Quần Cliẹl trước đây cắt tóc ngắn chải đẩu sáp ong, dội khăn dài màu chàm IIọ mặc áo dài Cửa tay áo không Ihêu mà dáp bằng vái dỏ Gấu áo thêu íl nhưng có dáp những miếng vai hình vuông màu Irắng, đỏ lioặc bằng vai hoa “lui nét” Sau lưng áo cũng có thêu “cái ấn của Bàn Vương” (Tầm pièng) Yếm được làm lừ vai nhuộm chàm, lliên nhiều hoa văn bằng chí màu ở phân cổ và dính thêm bạc ở giữa yếm

Phụ nữ Dao Quần Chẹt mặc quần bằng vái.chàm, độ doling của quần khá IÓÌ1 (khoảng I2 0o) ống quần rấl hẹp, bó sál vào chân và chỉ dài tlưói drill

?L)

Trang 35

g ố i m ộ t c h ú t G ấ u q u ẩ n d ư ợ c lliê u v ó i h o a vã n c h ín h là h ìn h lá c â y , c h ữ lín h ,

hìnli cái bừa, các đường thẳng song song và các dường chéo ( 1 4 ; 1 5 3 - ] 54).

Iliện nay, bộ trang phục cổ truyền của người Dao Quần Chẹt ở xã Tu

Lý đã có nhiều biến đổi, đặc biệt là bộ nam phục truyền thống của họ nay hầu như không còn lại gì Bộ nữ phục Dao Quần Chẹl cũng có nhiều thay dối, lừ chất liệu vải, màu sắc, cách cắl may cho tới kỹ thuật thêu Cách ăn mặc của người Dao ở đây đã có sự pha tạp nhất định Cái áo cổ truyền đã

và đang clán bị che khuất bởi cái áo khoác ngoài hiện đại Cái còn lại nguyên vẹn duy nhất là hoa văn trang trí trên y phục: ỏ' các loại hình hoạ liết và vị Irí của chúng Irên lừng ihành lố của bộ y phục Nhìn clumg, bộ y phục cổ truyền của người Dao Quần Chẹt tuy vẫn được sử dụng nhưng đang dần nhường chỗ cho y phục hiện đại Người la thường chỉ mặc y phục truyền thống trong các dịp lễ tết, cưới xin, ma chay hoặc các dịp dặc biệt khác (11 ;31 - 35)

Đổng bào Dao vãn duy trì một số tục lệ trong đời sống, chẳng hạn như: sinh đẻ và nuôi con, ma chay, cưới xin, lề lết Người Dao Quần Chẹt

có tập quán sinh con tại nhà, do một bà mụ người địa phương đỡ đẻ Thai phụ và sản phụ (thâm chí có khi cả những người trong gia đình, nhất là người chổng) phải tuân thủ những kiêng kỵ để tránh cái xấu có ihể xảy ra

vói ban thân hoặc dối vói những người và những vật xung quanh Từ lâu,

đồng bào Dao đã biết phòng và chữa bệnh cho lliai phụ, sản phụ và trẻ em

bằng thuốc cổ liuyền Bên cạnh đó, họ còn tổ chức cúng lễ để lổ tiên, thần

Ihánh phù hộ cho việc sinli dẻ và nuôi nấng con dược (ốt lành Người Dao rấl yêu thương con Cha mẹ íl khi dánli dập, chửi mắng con, kế cả con nuôi cũng vậy Con nuôi dược đối xử như con dé Chính vì vậy, con nuôi cũng gắn bỏ với elia mẹ nuôi không kliác gì dối với cha mẹ dỏ

Tục cưới xin của người Dao ở xóm Mạ nhìn chung về căn ban vẫn theo lập quán dân tộc Trai gái đến tuổi Irưỏìig thànli (17- 18 tuổi) được lự

do tìm hiểu Khi đôi trai gái đã ưng nhau thì nhà trai đến nhà gái (lánh

Trang 36

liếng Nếu nhà gái đổng ý, nhà Irai cùng nhà gái bàn hạc chọn ngày tốl cíé lie'll hành lẻ án hói chính (Jure và sau lỉỏ là tổ chức lc cưới Trong dám cưới

cỏ dàu chú rè pjuii làm lẻ bái gia ticn vói áự Jam phép cua thày cung clc trừ

tà và CÍỈLI mong dôi vự chổng yêu thương nhau SUỐI đời Truức dây, nguủi í;ỉ thưònc tiên hành đám cưới từ 5- 7 ncàv .\ay đám cưới chi kéo dài 2

ngà)': Iieày đâu ăn ở nhà gái và ngày sau ăn ở niià trai

Người Dao quan niệm cliết là vể vói thế giói hên kia sống cùng vói

tổ tiên Cuộc sống ở thế giới dó không khác gì sống ở thế giới Irần gian

làm ma chay Làm ma là công việc phải làm ngay lúc cliếl để dưa người chết về nơi an nghỉ- khu mộ chung của làng Sau khi làm ma mới làm chay

; để giải quyết phần hồn người chết đối với Ihế giới bên kia

N liì n c h u n g , về CƯ ba n n g ư ờ i D a o ư d â y v ẫ n d u y Irì n h ữ n g p h o n g tụ c

tập quán iron g sinh dẻ, nuôi con, m a c h a y , cưới x in v à đã dấn lừng bước

xoá bỏ dược mộl số hủ lục lạc hâu ảnh hưởng xâu tiến sinh hoạt hàng ngày

của dồng bào; chẳng hạn như: lục iháclì cưới cao, ăn uống linh dinh kéo dài nhiều ngày, để người chết lâu trong nhà Đồng bào từng bước xây đựng nếp sống mới phù hợp với cuộc sống dang biến đổi

Về giáo dục: Tinh hình giáo dục ở Tu Lý luôn dược quan lâm Toàn

I xã có ba trường liêu học với 44 lớp học và 949 học sinh 99,9% sô Ire (lốn tuổi đi học (6 tuổi) vào lớp một Trung học cơ sở cổ 14 lóp với 376 học sinh Năm học J996 -1997 tổng số liọc sinh của xã Tu Lý clạl 1494 học sinh, trong đó câp I đạt 1001 hoc sinh, cáp II đạl 332 hoe sinh và mầm non

là 161 cháu Toàn xã có nìộl trường mầu giáo gồm I I lớp với 425 cháu

N g o à i ra tạ i từ n g th ô n b á n c ò n c ó c á c n liỏ m lie d o n h ữ n g n g ư ờ i p h ụ 11Ữ ( lừ

43-55 tuổi) Irong xóm trông Iioni Tính đến năm 1997 loàn xã có I I nhóm lie gia dinh, với 152 cháu Số lượng trường lớp và số học sinh ngày Cíing tlirợc dấn lư và lăng nhanh, hên cạnh (lổ cliíìì lượng giáo dục cũng khỏng

31

Trang 37

Lý thuộc loại thấp nhưng thực ra chưa bền vững.

Hiện nay, do tính đa dạng của môi ưưừng canh (ác vùng màu, người Dao nói riêng, người dân ở Tu Lý nói cluing dã hình thành sự thích nglii nhằm tạo ra nhiều kiểu canh tác khác nhau : làm ruộng bậc thang, trồng xen canh các loại cây màu, cây lâu năm từ vùng đất rừng và chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thả cá đã tạo ra một cơ câu kinh tế thu nhập từ nông nghiệp đa dạng.Mặc dù văn hoá vật chất (nhà cửa, trang phục, ăn uống ) của người Dao ở đây có nhiều thay dổi song họ vẩn duy trì được nhiều phong tục tập quán trong các lĩnh vực như: sinh đẻ, cưới xin, tang ma, tục cấp sắc, tết nhảy và chữa bệnh bằng Ihuốc dân tộc

Trang 38

Y HỌC Cổ TRUYỀN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT ở XÓM MẠ

TRONG VIỆC PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH

Việc khai thác khọ tàng tri thức dân gian về cách sử dụng và chế biến thảo dược trong việc phòng và chữa bệnh của người Dao Quần Chẹt Jà việc làm có ý nghĩa to lớn nhung đồng tliòi cũng là vấn dề khó khăn phức tạp Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lưọl trình bày các loại dược liệu (íừ lliao mộc,

từ các loại động vật và các loại dược liệu khác), kỹ thuật nuôi, trổng, chế biến, bảo quản thuốc và một số bài thuốc cơ bản được sử clụng tại xóm Mạ

1 Một số loại thảo dược.

Nfíitổn dược liệu của đ ồ n g bào Dao ở đây phong phú và đa dạng,

chúng mọc tự nhiên ở trong rừng, trên dồi và một phẩn được trồng và chăm

sóc ở trong vườn nhà Cây ăn quả, cây canh, rau ăn hàng ngày của cư dân địa phương thường cũng có tác dụng chữa bệnh Tlieo thống kê bước dầu của chúng tôi, hệ thực vật tháo clược mà đổng bào khai thác gồm nhiều họ loài khác nhau

Trong các nguồn dược liệu được nhận biết bước đầu có thể thấy số loại được sử dụng ở đây chủ yếu là cây hoang dại, thu hái từ rừng về, đạl

111/138 (chiếm 80,4%) Đó là các loại Iháo dược: Bạc hà, bạch đồng nữ (tên Dao: Pèng pệ), biến hoá, chè dại (kèn tại trà), cây hoa cứt lợn (tùníị

gưi chặt), chó đẻ, chua me, cỏ mần trầu, cỏ tranh, cối xay, củ qấu, cúc tán, dây kỷ ninh, dây máu người ịrriìa dám), diếp cá (cù mua mỉa), í>ai (phiềfii> đeèng), gắm ịđeẻng mui), hoắc hương, hương nhu tía, ích mẫu, ké đồn t? tiên (kon chiên tỉhiển), mã đề, mạch môn, mộc thônq, nhọ nồi, rau má, rau sam, sài đất, thòng bong, thồm lồm, thuốc bỏng, tô mộc (vang), trám trắnạ (piẻu ĩam), vông vang, xương cá (điêng ton nhiền), ỷ dĩ, xì puông đất, mia im

CHƯƠNG II

33

Trang 39

tắnq, qiào mỉa, tầm qửi cây chanh, cỏ (ỉtiâi phượng (nhài), sình giang, phàn

ììùa liết, ttììa xeèn q meeiiỊỊ, mill XVètiỊị p h a , pùn tâiìịi m ây, d â y nín ÌỊCÌII, trơ,

pin xẩy mía, clây bướm (cu ét mâây), phây đeèng veèng, pia, ghìm tửu ngan, ỉhitốc qiớ, ngựa độc, trảu, sình pẩu, đúng, sùi liềm, hồi, đìa ùi, đìa sản, cù

biệt, cù tay mây, lổ lào, phàm lụa, phàm sất, sung, goong mùn mia, bo, đù thèng menli, tiền sả, chiệp nhạy nòm và các loại dược liệu khác như dầu lim, (lá, mật ong, nước tiểu, sừng son đương, than, phân dái cá, sừng bò rừng, giun tlâì, con cầy cậy Các loại dược liệu được khai Ihác từ nguồn lợi tự nhiên hầu hcì dùng làm llmốc chữa bệnh

Dược liệu được nuôi, trồng là 45/138 (chiếm 32,6%) Đó là các loại

thảo dược được trồng ở trong vườn nhà, trên đồi như: bưởi (mil pộc piêu),

cà chua, cai canh, cải cúc, cau (pằn loòng nghim), chanh (cầm chay), cây chè

(niiổn trà), cây dâu (chằm phoong), đại, dào (quả kào), đậu xanh, dim Villi

vòng), khế (lố lằng), khoai lang, kinh giới, mía (cằm cliía khí), mồng tơi, mơ tam thể, nghệ đen, nhãn, ổi (mù ủi), ót (phằn chiu), quýt, ran ngót (đeèng cam), rau răm (lầy lưu), sắn dây, táo la, tía lô (cù phíìu), trầu không, gừng dỏ, lỏi íphủn), bàu (goong), bí (nhâm), củ kiệu (kill), chuối liêu (chì piêu), quất, inít và nuôi gà (lấy trứng, lông làm ihuốe), mèo (lấy mật làm lhuốc) Như vậy,

có m ộ t SỐ th ả o d ư ợ c v ừ là c â y h o a n g d ạ i, vừ a là c â y trồ n g

Ớ đây cần phàn biệl giữa những cây trồng có ý Ihức và những cây Irổng ngẫu nhiên Những cây trồng có ý thức là nhũng loại cây trổng để có mục đíclì sử dụng rõ làng, có ý Ihức về quyền sở hữu dể khai thác sau mội ihời gian dài (28;99), chẳng hạn như các loại cây ăn tịLia tỉmộc họ Cam quýt (Rutaceae), họ Dâu lằm (Moraceae), họ Hoa lìồng (Rosaceae), họ Đu

đủ (Papayaceae), họ Chua me (Oxalidaceae), họ Bổ hòn (Sapindaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Táo ta (Rhamnaceae) hoặc các loại rau xanh thuộc

họ Cà (Solanaceae), họ Cải (Brassicaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ Bìrn bìm (Convolvulaceae), họ Mổng rơi (Basellaceae), họ Thrill (hill (Ruphor

34

Trang 40

biaceae) Những cây trồng có ý thức còn bao gồm những loại cây gia vị,

chẳng hạn như những loại cây thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), họ Mànli lỏi

(Liliaceae), thuộc họ Cà (Solanacaceae), họ Rau răm (Polygonaceae), họ

Hoa môi (Lamiaceae), các loại cây cho hạt thuộc họ Cánh bướm Fabaceae

(Papilionaceae) và các loại cây cho củ thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), họ

Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae)

Những loại cây trổng ngẫu nhiên gồm có cây Chó dẻ (thuộc họ Cúc

Asteraceae), cây Cúc tần (thuộc họ Cúc Asteraceae) dùng để trồng làm

hàng rào, vì dễ mọc bằng cách dâm cành

Trong số các loại cây trồng trên thì có các loại cây được trồng do cạn

kiệt nguồn tài nguyên, chẳng hạn như các cây Mào gà vàng (Chì coòng (ỊÙn

veènọ), cây bonạ gân, dền chua (lay lên thui) Hảu hết các cày trổng đều là

những loại cây trồng kết hợp- dừng dể ăn và làm thuốc, chiếm 93,5% lổng

số cây được trổng Ngoài ra còn phải kể đến các loại cây vừa là cây Irồng,

vừa là cây hoang dại, chiếm 8% so với tổng số dược liệu dược khai thác

Qua bảng phân loại môt số cây lliuốc được sử dụng tại xóm Mạ (xem

phụ lục ]), ta nhận thấy:

- Về mặt chủng loại, dược liệu từ thảo mộc chiếm đa sô 89% (đại

Ị 123/138) so với tổng số dược liệu được khai thác bước đầu, dược liệu từ

các loại động vật chiếm 5,8% (đạt 8/138), còn lại là các loại dược liệu khác

(5,2%) như đá, nước tiểu, than nóng đỏ, tro bếp, nước điểu, sữa mẹ, bạc ,

-Vổ mặt giá í rị sử dụng, đối với các loại cây thao nhỏ iluíờng sứ

ỉ; dụng toàn bộ cày hoặc toàn thân lá Lá, cành lá là những bộ phân hay được

sử dụng hơn cả (chiếm 66,7% số thảo được được sử dụng) Trong số này

đáng kể có mò trắng (pèng pệ), biến hoá, chó đổ, cối xay, hoắc hương,

huyết dụ (quyền diêm thí), ích mẫu, ngải cứu (lai nqọi) Rễ, thân rễ, rễ củ

cũng là những bộ phận được dùng thông dụng (chiếm 18,3% tổng số cây

thuốc thu được) Các bộ phận này Ihường dược (lùng khô là chính, ít được

35

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w