1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ẩn dụ tu từ trong một số tác phẩm văn học được giảng dạy ở bậc phổ thông cơ sở dưới ánh sáng của kí hiệu học

103 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 30,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đê có được những đặc tính trên, các tác giả văn chương luôn phải tìm tòi, sáng tạo những phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ và những biện pháp tu từ đê tạo nghĩa hình tượng cho ngôn từ, b

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

* £ ềĩ'ể @ fỉể /ể ớ / ỉ

,jp/ft /Tf/fử' ft ừ ự /rf /ỉì/ff/ rf/ỉ J/rrr iff ế' sT êíi {///if* / / / ' £7/?// J i

/ỉ/itỉếi /ff9f' Oĩợỉfựễ/i Ẩỉst/ - ffỢ fúì7 t/èp /i/iếỉíỉợ r//ĩ/f r/ỉt /itìếìỉi Ưỉàí/A ///tỉ// ỈUĨ/Ỉ ỉỉếìự Cis/ỉt ử/iếĩ/t //tiffi/t ếiìíỉỉt f>// ùáe //tếĩự (tổ ớếú' ////ít /i/ỉáít /ỉ fie fTí/ỉ/tf ỉ'íhtợ /fíỉ' fí/ỉ Ọỉợ/ỉểi ftự/ĩ' ettt/ ểiỳ'//ự <ĩ)ff/ /f 04

/ỉfU' //sĩ/ từì f///ỉĩ/i tuĩ/t iùi f7Jíêỉi Oĩợếỉ/t ftfft/'/ffýfi sfiĩ /ĩỉ/ỉ /////

S///Í/1 ế/ĩĩ' f/ff //'Ở/ỈS/ ợ/iếí Ỉrĩ/ỉ/ỉ /ỉ/U' /ếĩp.

Oừ/ìĩỉt ếTíỉự, /sỉ/ í/}//ợ ,!'/// S//Í7 //ỳ/ /'///// /ý'// f'/tfftt ////}//// Ớ/Ííi //f?ểt/t /rí/ /ĩếỉti /tè /im/tợ ftf//ỉ/ffi MÌ ợ/ếỉ /fĩ/t/tý /ỉ/ỉ/T/ềợ /ỉỢíírì/ /tã rfĩr}/iếj n/êểi S///Í/Ỉ /fĩĩ' /sĩ/ //'á//ợ f/íffí /rỉỉi/t ///ỉif' /ííê/t /ệtếĩíi fýàff,/.

Trang 3

M Ụ C LỰC

PHẦN MỚ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tà i

2 Đối lượng nghiên cứu, mục dích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu

2.2 Mục đích - ý nghĩa của luận án

2.3 Nhiệm vụ của luận án

3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp luận

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thống kê so sánh

3.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở liên ngành

khoa học: Ngôn ngữ học, Ký hiệu học, Thi pháp học 4 Lịch sử vấn đề

5 Cấu trúc của luận án

CHUƠNG 1 NHŨNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC VỀ Ẩ n dụ tu từ 1.1 Khái niệm về ẩn dụ

1.1.1 All dụ từ vựng là gì ?

1.1.2 Ân dụ tu từ

1.2 An dụ tu từ dưới ánh sáng của Ký hiệu học

1.2.1 Ký hiệu học

1.2.2 An đụ tu từ dưới ánh sáng của Ký hiệu học

1.3 An dụ tu từ dưới ánh sáng của Ngôn ngữ học

1.3.1 Màu sắc tu từ và phương tiện tu từ

1.3.2 An dụ tu từ là phương tiện tu từ ngữ nghĩa

/? 1.4 An dự tu từ dưới ánh sáng của Thi pháp học

1.4.1 Thi pháp học

1.4.2 Ân dụ tu từ dưới ánh sáng của Thi pháp học

CHUƠNG2 ẨN DỤ TU TỪTRONG CA DAO VÀ "TRUYỆN KIỀU" 2.1 Phép ẩn dụ tu từ trong ca dao Việt Nam

2.1.1 Đặc diểm của ẩn dụ tu từ trong ca dao

2.1.2 Phương thức triển khai hình tượng của ẩn dụ trong ca dao

2.2 Ân dụ tu từ trong túc phẩm 'Truyện Kiều" của Nguyên Du

2.2.1 Đặc điểm của ẩn dụ tu từ trong "Truyện Kiều"

2.2.2 Giá trị biểu hiện của ẩn dụ trong một số đoạn trích giảng

văn "Truyện Kiều" ở lớp 9 phổ thông.

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PH Ầ N MỞ ĐẦU

1 LỶ DO CHON DỂ TẢI:

Trong hoạt động dạy và học V f i n học trong' nhà trường từ xưa đến nay, vấn để tiếp nhận hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn học là vấn để cốt tử nhất Muôn tiếp nhận được hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn học chỉ có một con đường duy

nhất dứng là thông' qua ngôn ngữ của tác phẩm bởi v ì "Văn học là

hỉnh thức sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn từ" [V.I Lê Nin].

Ngôn ngữ trong văn chương' có những dặc trưng riêng của ngôn ngữ nghệ thuật Nó là một mả phức tạp được cấu tạo nôn từ ngôn ngữ tự nhiên Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong các tác phẩm văn chương được thê hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trỏ' thành yếu tô" tạo nên hình tượng Và muôn thực hiện dược chức năng' thẩm mỹ, ngôn ngữ nghệ thuật phải có những đặc trưng như: Tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hoá và tính cụ thô hoá

Đê có được những đặc tính trên, các tác giả văn chương luôn phải tìm tòi, sáng tạo những phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ

và những biện pháp tu từ đê tạo nghĩa hình tượng cho ngôn từ,

bởi vì: "Nghĩa hình tượng chỉ xuât hiện bằng con đường biểu

trưng hoá các tín hiệu ngôn ngữ, bằng biện pháp thay thế lảm thời về nghĩa đê làm cho cách diễn đạt thêm bóng bay và có hàm

ý sâu sắc" [4; 130] Trong hệ thông các phương tiện biểu cảm của

ngôn từ, ẩn dụ tu từ lả một phương tiện biểu cảm đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học

An dụ là một hiện tượng ngôn ngữ được quan tâm nghiên cứu trong nhiều the kỷ và từ nhiều góc độ khác nhau Song đối với giáo viên ngữ văn trong các nhà trường phô thông và các giáo sinh khoa ngữ văn của các trường Cao đang sư phạm, việc nghiên cứu- tìm hiểu để có một hộ thống kiến thức sâu rộng về ẩn clụ tu

từ không phải là clễ dàng, tíởi hiện tượng ngôn ngữ này có cơ sở lý luận từ trong ký hiệu học, ngôn ngữ học và thi pháp học; và trong thực tiễn, ẩn dụ tu từ còn mang đâu ấn văn hoá gắn liền với truyền thông ngôn ngữ, tâm lý dân tộc và thòi dại của nhà văn

Kê thừa các cách tiêp cận từ ký hiệu học, ngôn ngữ học, thi pháp học, luận văn hệ thông hoá và phát triển thêm vê ẩn dụ tu

Trang 5

từ nhằm đạt tới mệt cách nhìn bao quát, đa chiều về hiện tượng ngôn ngữ này Luận văn cũng khảo sát các đặc trưng biểu hiện, đặc trưng văn hoá của ẩn dụ tu từ trên tư liệu Ca dao Việt Nam

và tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du để thấy được dấu ấn

tài năng của cá nhân nhà văn trong sáng tạo và sử dụng ẩn dụ tu

từ cùng giá trị biểu hiện của nó trong việc tạo hình tượng nghệ thuật văn chương

2 Đ ổĩ TƯƠNG NGHIÊN c ứ u , MUC ĐÍCH VẢ NHĨẺM v u CỬA LUÂN ÁN

2.1: ĐỐI TƯƠNC; NC.HĨẺN CỨU VẢ PHAM Vĩ Tư L1ÉU.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận của ẩn dụ

từ góc độ ký hiệu học, ngôn ngữ học, thi pháp học và những đặc điểm của ẩn dụ tu từ trong thi ca

Luận án cũng giới hạn sự nghiên cứu vấn đề trong phạm vi khảo cứu lý luận và khảo sát ẩn dụ trong ca dao người Việt và

tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du Đặt vấn để nghiên cứu

trong phạm vi khảo cứu lý luận về ẩn dụ bởi vì ẩn dụ là đối tượng

đã được các ngành: Ký hiệu học, Ngôn ngữ học, Thi pháp học xem xét ở từng góc độ Để có được nhận thức đầy đủ về diện mạo của hiện tượng ngôn ngữ này, cần thiết phải khảo cứu toàn diện các kết luận khoa học từ các ngành trên Đặt vấn đề nghiên cứu ẩn

dụ trong phạm vi kho tàng Ca dao của người Việt và "Truyện

Kiều" của thi hào Nguyễn Du vì thi ca chính là lãnh địa đắc dụng

nhất của ẩn dụ Đây là lĩnh vực thể hiện tập trung nhất, sâu sắc nhất tâm hồn, trí tuệ của dân tộc và cũng là nơi thể hiện rõ nhất đặc điểm ngôn ngữ và tài năng sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ của nhà văn

Nghiên cứu trên tài liệu ca dao và thơ cổ điển sẽ cho phép luận án nhìn vấn đề ẩn dụ trong tính hiện thực của nó và minh chứng được luận điểm: Ấn dụ tu từ mang đậm dấu ấn văn hoá của truyền thống và thời đại; trong sáng tạo nghệ thuật, tác giả văn chương đã kế thừa truyền thống và phát huy sáng tạo để ẩn

dụ luôn mới mẻ và độc dáo trong sự biểu đạt hình tượng nghệ thuật

2.2: MUC ĐÍCH - Ỷ NGHĨA CỨA LUÂN ÁN.

Mục đích của luận án là khảo cứu để có được cái nhìn hệ thông, bao quát toàn diện các phương diện của một hiện tượng ngôn ngữ Đó là cơ sở lý luận chung giúp cho người nghiên cứu và

sử dụng ngôn ngữ cỏ được khái niệm chính xác và thông nhất về

2

Trang 6

ẩn dụ tu từ, phân biệt rõ ranh giới của các phương tiện tu từ ngữ nghĩa: ẩn dụ, so sánh nghệ thuật, hoán dụ, nhờ cơ chế tạo nghĩa đặc trưng của ẩn dụ Khảo sát trên tư liệu thơ ca nhằm mục đích làm sáng tỏ đặc điểm, cơ chế và giá trị của ẩn dụ trong sáng tạo nghệ thuật thơ ca Hy vọng điều đó sẽ gợi mở và cung cấp một số

cơ sỏ có tính chất thao tác để tiếp cận,khai thác và tiếp nhận thơ

ca theo phương hướng đúng đắn nhất đó là khai thác văn bản ngôn từ

2.3: NHIÊM VU CỦA LUÂN ÁN.

Luận án xem xét ẩn dụ ở phương diện là ký hiệu ngôn ngữ Đặc điểm của loại ký hiệu này và cơ sở xác định tính thẩm mỹ của nó nhằm làm sáng tỏ cơ chế chung của ẩn dụ tu từ Trên phương diện ngôn ngữ học, ẩn dụ được so sánh để phân biệt với các phương tiện biểu cảm khác như so sánh tu từ, hoán dụ tu từ

là những phương tiện có cơ chế tạo nghĩa khác nhau Đồng thời cũng phân biệt các phương tiện cùng nhóm (cùng cơ chế tạo nghĩa) như: ẩn dụ, nhân hoá, phúng dụ và tượng trưng, làm rõ đặc trưng từ vựng học và phong cách học để có khái niệm đúng về

ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ

Trên phương diện thi pháp học, luận án xem xét ẩn dụ với

tư cách là chất liệu của thơ ca, nó có giá trị hình tượng và giá trị biểu cảm cao và mang dấu ấn văn hoá của thời đại cùng dấu ấn tài năng của nhà văn Ẩn dụ trong thơ ca cũng chịu sự chi phối của thi pháp học cho nên ẩn dụ trong ca dao khác với ẩn dụ trong

"Truyện Kiều" của Nguyễn Du v.v Luận án góp phần xem xét

những biểu hiện khác nhau ấy của ẩn dụ

3 PHƯƠNG PHÁP LUÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

cụ thể dó là mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và lời nói

Trang 7

Với cái nhìn lịch sử, luận án sẽ xem xét ẩn dụ tu từ trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học và trong lịch sử của thơ ca nhằm rút ra khái niệm chính xác về ẩn dụ tu từ và nhận ra đặc

trưng văn hoá dân tộc qua Ca dao và "Truyện Kiều", thấy được sự

kế thừa và phát triển trong sáng tạo nghệ thuật, trong sử dụng ngôn từ của các thế hệ thi gia Chính trong quá trình sáng tạo

ấy, ẩn dụ được khẳng định là phương tiện ngôn ngữ đặc biệt đối với ngôn ngữ nghệ thuật

3.2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.

Tìm hiểu về ẩn dụ tu từ, lý giải nó qua các sáng tạo văn chương, luận án được thực hiện trên cơ sở tổng kết và kế thừa thành tựu của các công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn học của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học sư phạm, Viện Ngôn ngữ học, Viện Văn học, của các nhà

khoa học Nguyễn Lai, Hoàng Trinh, Đô Hữu Châu, Đinh Trọng

Lạc, Đào Thản, Trần Đình sử, Hà Minh Đức, Hà Công Tài, Hữu

có giá trị hình tượng và giá trị biểu cảm cao cho nên được sử dụng rộng rãi trong các phong cách chức năng ngôn ngữ và đặc

biệt trong thi ca Luận án sử cỉụng phương pháp thống kê các ẩn

dụ tu từ trong ca dao và thơ, so sánh với các phương tiện ngữ

nghĩa khác nhóm (so sánh, hoán dụ) và phần nào với các phương tiện cùng' nhóm (nhân hoá, phúng dụ, tượng trưng) để làm sáng

tỏ những đặc trưng cơ bản của ẩn dụ như : Cơ chế tạo nghĩa, giá trị biểu cảm, giá trị hình tượng, đặc trưng văn hoá của phương tiện ngôn ngũ này trong sáng tạo và tiếp nhận thơ ca

3,2.2: Phướng pháp phân tích, tổng hớp trẽn cơ sỏ? liên

ngành khoa hoc: Ngôn ngữ hoc, ký hiẽu hoc, thi

pháp hoc.

Ký hiệu học và Ngôn ngữ học là hai ngành khoa học cùng nghiên cứu về ngôn ngữ vì vậy cùng xem xét>về vấn đề ẩn dụ, tuy

4

Trang 8

nhiên mỗi ngành có góc độ nghiên cứu riêng và mô tả ẩn dụ ở

những phương diện khác nhau "Nếu Ngôn ngữ học nghiên cứu

ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp với những quy luật của

nó về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ thỉ Ký hiệu học nghiên cứu ngôn ngữ như một hệ thống biểu hiện hay biểu trưng,

hệ thống tạo nghĩa trong giao tiếp xã hội thông qua các ký hiệu với các chức năng và các hiện tượng chuyển hoá về hình thức và chất thê của nó Cụ thê hơn, nếu Ngôn ngữ học chủ yếu bóc tách hai mặt câu thành và tạo nghĩa của một ký hiệu ngôn ngữ thì Ký hiệu học chú ý đến sự kích thích, sự thông báo của ký hiệu bằng

sự gợi lên một vật kích thích tương ứng nhằm thông báo một cái

gì Đó là hai hướng đi khác nhau về mặt nghiên cứu phương thức tạo nghĩa" [18; 29].

Từ luận điểm trên, luận án tiếp thu phương pháp của Ký hiệu học và Ngôn ngữ học để làm rõ đặc trưng bản chất của ẩn

dụ tu từ

Bổ sung cho cách tiếp cận nêu trên là phương pháp của Thi

pháp học Coi ẩn dụ tu từ là đối tượng của thi pháp học chất liệu,

Thi pháp học đã chỉ ra đặc điểm của ẩn dụ tu từ trong hoạt động sáng tạo thơ ca Ẩn dụ tu từ là chất liệu quan trọng của ca dao, đồng thòi của thơ cổ điển Ẩn dụ tu từ là một hình thể từ ngữ trong hệ thông hình thể ngôn từ, nó chính là đốì tượng nghiên cứu của thi pháp học chất liệu Phương pháp của thi pháp học giúp cho luận án cách tiếp cận ẩn dụ trong môi trưòng cụ thể của

nó là văn bản thơ ca, bằng phân tích và so sánh ẩn dụ trong tính

hiện thực của nó mà luận án làm rỗ được đặc trưng văn hoá và tư

duy của ẩn dụ tu từ, điểm cơ bản khiến cho ẩn dụ của ca dao

khác ẩn dụ của thơ cổ điển, ẩn dụ của mỗi tác giả cũng không giống nhau - nó là biểu hiện cụ thể của mỗi tài năng nghệ thuật

Nói tóm lại, luận án đã tiếp thu phương pháp của Ký hiệu học, Ngôn ngữ học đê nghiên cứu ẩn dụ ở trạng thái tĩnh và tiếp thu phương pháp của Thi pháp học để nghiên cứu ẩn dụ ở trạng thái động, trong môi trường sông của nó là thơ ca

4 LICH SỬ VẤN ĐỂ:

Nghiên cứu ẩn dụ có một truyền thống nhiều th ế kỷ Có thể nói A-ri-xtốt - nhà triết học và mỹ học Hy Lạp (384-322,-CN) lồ người đã đặt nền móng cho truyền thống này Từ th ế kỷ IV trước công nguyên, A-ri-xtỐt đã phát hiện ra cách sử dụng ngôn ngí

Trang 9

theo hình thể (Figura), đó là những cách thức, những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn và lôi cuốn trong khi

trình bày Ông đã tổng kết một số hình thể như: So sánh

(Similis), ẩn dụ (metaphoria), hoán dụ (metonymia), tương phản (antothelis), khoa trương (hyperbole) và đặc biệt chú ý đến ẩn clụ

Trong cuổn "Thì học", ồ Chương 21, A-ri-xtỐt đã định nghĩa ẩn

dụ: ỉà một từ với một nghĩa nào dó khác nó, có thể chuyển nghĩa này hoặc nghĩa khác, từ một loài sang một giổng hoặc từ một giông sang một loài, hoặc từ một loài sang một loài khác hoặc

được dùng theo kiểu đồng dạng Đến phần Tu từ học (Cuôn III, Chương I -> XII) ông nêu tiếp: Ẩn dụ có nhiều loại rất quan trọng trong cả thơ lẫn văn xuôi, nhưng trong thơ nhiều hơn Ẩn dụ có tính sáng sủa, clễ yêu và tác động mạnh Ông cho rằng: Mọi từ đều có thể dùng chung hoặc dùng làm ẩn dụ, hoặc clùng làm cái

tu sức, hoặc dùng' làm cái kích thích, hoặc dùng làm cái biến đôi

Ẩn dụ là một sự chuyên dạng, ''một cái tên lạ" mà Arixtốt gọi là

"aliens" ( một cái tên thuộc về cái khác, một cái tên xa lạ, không

dùng' bình thường)

Có thể nói: phát hiện ra các Figura (cách tu từ) trong đó có

ẩn dụ là một đóng góp đáng kê cho Mỹ từ pháp cổ đại

Thế kỷ sau Arixtốt, Xiceron (106-43, -CN) chú ý đến ẩn dụ bởi sự hấp dẫn, duyên dáng, ông chú ý đến cấu tạo hình thức của

ẩn dụ: đó là phép so sánh bớt đi một từ

Thế kỷ XVIIĩ, ẩn dụ tiếp tục được Đuymacxe (Pháp) nghiên cứu sâu về tu từ học, tức là cách dùng để gây hứng thú Quan điểm này được tiếp nối ở thế kỷ XIX bởi tác giả Phôngtaniê (Pháp)

Thê kỷ XX, các nhà Ký hiệu học và Ngôn ngữ học có nhiều ý kiến về ẩn dụ, đặc biệt là nhà Ngôn ngữ học - Ký hiệu học - Thi pháp học người Mỹ Roman Gia kop sơn (ông vôn là một nhà Hình thức luận Nga, thành lập nhóm Ngôn ngữ học Praha năm 1926,

là cầu nối giữa Hình thức luận Nga với Cấu trúc luận hiện dại) Theo ông, ẩn dụ- dó là kết quả của sự tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng; là hình ảnh ngôn từ mang tính chất nước đôi, tức là cùng một lúc có hai nghĩa, vừa là cái này vừa là cái kia Ẩn dụ chính là ký hiệu này thay thế ký hiệu khác và có thể viết một hệ ngữ pháp về cách sắp xếp các ẩn dụ

6

Trang 10

Bên cạnh R.Giakopson còn có các nhà khoa học khác cũng'

có bàn về ẩn dụ Đó là Ghêra Ghê nét (Gerard Genette), Pôn Ri

cơ (Paul Ricoeur), Pôn Đơ Men (PauldeMan), Mac Blac (Max Black) Giooc giơ Le Kop (Georges Le Koff), Mac Giôn-Xơn (Mark

Johnson) Theo Pôn Ri cơ trong cuốn "Quy tắc ẩn dụ" [dẫn theo

18; 62]: A-ri-xtốt đã có công nêu được quan hệ tu từ của sự hùng biện, thuyết phục và quan hệ lôgíc về thế khả năng của sự thuyết phục Tu từ và Thi pháp là hai thê giới biệt lập và ẩn dụ đều có chân ở cả hai bên Ẩn dụ có một cấu trúc nhưng hai chức năng Chức năng tu từ là đi tìm chứng cớ để thuyết phục khi tranh luận, chức năng thi pháp là mô phỏng hành động thực Theo ông, hiện tượng chuyên nghĩa tập trung vào từ là chính mà không phải là từ ngữ

J.Le Kôp và Mác Giôn xơn (Mỹ) quan niệm : Ấn dụ thường thấy trong ngôn ngữ tu từ, ngôn ngữ mỹ văn Nhưng nó không chỉ thuộc lĩnh vực sử dụng mà tồn tại ngay từ trong khái niệm và

cả trong hành động của con người trong cuộc sông Ẩn dụ là cái cấu trúc của cái ta cảm nhận, cái ta nghĩ và cái ta làm Còn Mac Blek khi bàn về ẩn dụ đã nhấn mạnh đến tác động qua lại giữa hai mặt (mặt nổi và mặt chìm) và cũng là hai sự vật cùng tồn tại trong ẩn dụ

Trên quan điểm Thi pháp học, trong công trình "Thi pháp

văn học Nga cổ" xuất bản ỏ Mát xcơ va năm 1967, Li-kha-sép đã

nghiên cứu ẩn dụ trong mục "Thi pháp của các biện pháp khoa

học" Tác giả quan niệm : Ẩn dụ trước hết phải là sự biểu hiện

bằng hình ảnh thực, hình ảnh của đòi sông dựa trên những quan sát thực tế, khác với hình ảnh tượng trưng vôn thấm nhuần tính chất thần học trong văn học Nga cổ, tách ròi đời sống phong phú sinh động Trên phương hướng này tác giả đồng ý với nhà Thi pháp học lịch sử và Hình thức luận Nga Vê-xe-lôp-xki là cần nghiên cứu chúng trong hệ thông mỹ học cụ thể Còn theo tác giả Bakhtin, trong thi ca, ẩn dụ là phương tiện miêu tả nhưng khi đi vào tiểu thuyết thì ẩn dụ thi ca lại trở thành đốì tượng miêu tả dưới bàn tay sáng tạo hình tượng của nghệ sĩ Trong các công trình lý luận văn học của Timôíêép, Khráptrencô, ẩn dụ được nghiên cứu theo qu:\n điểm ngôn ngũ trong tác phẩm văn học và các phương thức tổ chức lòi văn nghệ thuật

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu Ngôn ngữ thường xem xét

ẩn dụ từ góc độ Từ vựng - ngũ nghĩa hoặc từ góc độ những phạm

Trang 11

trù phong cách học ngôn ngữ Giáo sư Đỗ Hữu Châu nghiên cứu

ẩn dụ với tư cách là một ỊDhương thức chuyển nghĩa của từ, ẩn dụ

là một quy luật, một phương thức tạo nghĩa làm giàu vốn từ tiếng Việt và đó là ẩn dụ từ vựng Các nhà Việt ngữ học : Nguyễn Lai, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Thiện Giáp v.v nghiên cứu ẩn dụ từ góc độ những phạm trù phong cách học Trong các giáo trình phong cách học, ẩn dụ được

coi là một phương tiện tu từ ngữ nghĩa hoặc biệp pháp tu từ theo quan hệ liên tưởng ngữ nghĩa Các tác giả đều cô" gắng miêu tả an

dụ ở các phương diện: Cấu tạo, giá trị nhận thức, giá trị hình tượng và biểu cảm của ẩn dụ Cách đánh giá nhìn chung là thông nhất nhưng trong' các chi tiết, các tiêu chí phân biệt, các tác giả cũng có điếm phản biệt Chang hạn, một sô tác giả: Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thái Hoà chú ý phân biệt các phương tiện tu từ với các biện pháp tu từ và xếp Ẩn dụ tu từ vào nhóm các phương tiện tu từ ngữ nghĩa, thì tác giả Cù Đình Tú lại không phân biệt phương tiện và biện pháp mà gọi chung là các cách tu từ, tuy nhiên trong các cách tu từ, tác giả có phân định dựa trên tiêu chí quan hệ ngôn ngữ cho nên có các cách tu từ theo quan hệ liên tưởng và các cách tu từ theo quan hệ tồ’ hợp Ẩn dụ thuộc cách tu từ theo quan hệ liên tưởng Có thể nói các nhà Việt ngữ học đã nghiên cứu ẩn dụ tu từ từ góc độ Ngôn ngữ học, đã đi đên khái niệm hoàn chỉnh vê hiện tượng ngôn ngữ này, đã chỉ ra

cơ chế tạo nghĩa, giá trị biêu dạt của nó trong giao tiếp của người Việt Ẩn dụ là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt và khá phổ biến trong giao tiếp bằng Tiếng Việt

Từ góc độ lý luận văn học, các nhà nghiên cứu: Hà Minh Đức, Trần Đình sử, Phương' Lựu, Nguyễn Xuân Nam trong các công trình lý luận văn học cũng đề cập đến ẩn dụ và nghiên cứu

nó với tư cách là một phương tiện chuyển nghĩa, một biện pháp khai thác ngữ nghĩa, nhờ dó ngôn ngữ trong tác phẩm đã phong phú lại càng giàn cỏ thêm Ân clụ mang ý nghĩa cá thổ cao, gây ấn tượng mạnh mẽ vì thô' trở thành một trong những phương- tiện cấu tạo nên hình tượng văn học

Trên phương diện Thi pháp học, nhà nghiên cứu Hoàng Trinh, Hà Công Tài nghiên cứu ấn dụ trong tư cách là một hình thể từ ngữ trong hệ thông hình thể ngôn từ và ẩn dụ chính là chất liệu của thi pháp học, là yếu tố thuộc về cấu trúc của chỉnh thể nghệ thuật, trong chức năng xây (lựng hình tượng

Trang 12

Luận án tiếp thu những ý kiến quý báu của các nhà khoa học vê ẩn dụ tu từ đã dược trình bày ở trên, ngoài ra luận án tiếp tục tìm hiểu những vấn đề sau của ẩn dụ:

Thứ nhất, những đặc điểm nào của ẩn dụ tu từ khiến cho nó trở thành một phương tiện diễn cảm đặc biệt, được sử dụng trong nhiều phong cách chức năng ngôn ngữ và nhất là trong thơ ca Cách nhận biết và phân tích ẩn dụ tu từ trong văn bản trữ tình

Thứ hai, ẩn dụ trong ca dao có những đặc trưng' phân biệt vói ẩn dụ trong thơ cổ điển bỏi ẩn dụ luôn thể hiện đặc trưng văn hoá, những dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo

5 CẤU TRÚC CỦA LUÂN ÁN

Luận án được chia thành các phần và chương mục như sau:

PHẦN MỞ ĐẨU

1 Lý do chọn đề tài

2 Đôi tượng nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của luận án

3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4 Lịch sử vấn đề

5 Cấu trúc của luận án

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Những luận điếm khoa học về ẩn dụ tu từ.

1.1 Khái niệm về ẩn dụ.

1.2 Ân dụ tu từ dưới ánh sáng của Ký hiệu học.

- Khái niệm Ký hiệu học

- Ẩn dụ tu từ là một ký hiệu đặc biệt

- Ẩn dụ tu từ là một hình thê từ ngữ thuộc mã thẩm mỹ

1.3 Ân dụ tu từ dưới ánh sáng của Ngôn ngữ học.

- Màu sắc tu từ, phương tiện tu từ.

- ií n dụ là phương tiện tu từ ngữ nghĩa có các đặc điểm sau:+ Khái niệm

+ Cơ chế chuyển nghĩa và việc phân loại ẩn dụ

+ Những nhân tô" để nhận biết ẩn dụ

+ Giá trị, tác dụng của ẩn đụ tu từ

1.4 Ấn dụ tu từ dưới ánh sáng của Thi pháp học.

Trang 13

C hương 2: Tìm hiểu ẩn dụ tu từ tro n g kho tà n g ca dao

người Viêt và tro n g "Truyện Kiêu" của N guven Du

2.1 Án dụ tu từ trong ca dao ngưìỉi Việt.

- Đặc diêm của ấn dụ tu từ trong ca dao

- Phương thức triển khai hình tượng của ẩn dụ trong ca dao

2.2 ân dụ tu từ trong "Truyện Kiêu " của Nguyễn Du.

- Đặc điểm của ấn dụ trong "Truyện Kiều"

- Giá trị biếu hiện của án dụ trong một sò đoạn trích gián

văn ''Truyện Kiểu" ó lớp 9 phố thông.

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Trang 14

dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ.

1.1.1 Ẩn du từ vựng là gì ?

Là phương thúc chuyên nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới Đó là cách lấy tên gọi của đối tượng này

để biểu thị đôi tượng kia, dựa trên cơ sở môi quan hệ liên tưởng

vã nét tương' dồng giữa hai dôi tượng

Ví dụ: Người Việt thường nói: một ý nghĩa sôi nổi, một trái tim rực cháy, một thái độ lạnh lẽo, anh ở đầu sông, đêm qua tát nước đầu đinh, chân trời lui mãi v.v

Phân tích cách nói trên, chúng ta thấy các từ ngữ dược chuyến nghĩa là: Sôi nổi, rực cháy, lạnh lẽo, đầu sông, đầu dinh, chân tròi

+ "Sôi nôi" là từ vốn chỉ trạng thái nhiệt độ của sự vật đang

bốc cao (VD: nước í>ôi) nhưng trạng thái suy nghĩ của con người cũng diễn ra ở nhiổu cấp độ khác nhau, có khi mạnh mẽ khác

thường, vì vậy có thê dùng "sôi nôi" đê chỉ sự suy nghĩ ở trạng'

thái dó

+ "Rực cháy": Chi sự vật cháy ở giai doạn cực thịnh, tình cảm

của con người phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao trào cũng

như vậy nên có thê dùng "rực cháy" để biểu thị.

Đặc điểm của ẩn dụ từ vựng: là sự chuyên nghĩa mang tính

xã hội, ôn định và cố định Những nghĩa chuyển này được cộng

Trang 15

đồng sử dụng ngôn ngữ thừa nhận và sử dụng như nhau Chúng được ghi trong' từ điển Đó là trường hợp từ đa nghĩa.

Ví dụ: "đầu":

1 Phần trên cùng của cơ thê (trái ưới chân, đuôi).

2 Phần trên, phần ngọn của vật gì dài (trái với cuối).

3 Trước nhất.

Cần lưu ý thêm rằng: ẩn dụ từ vựng là một phương thức chuyển nghĩa của từ, nó tạo ra từ nhiều nghĩa và làm phong phú thêm vốn từ của mỗi ngôn ngữ Chẳng hạn, theo phép ẩn dụ, Tiếng Việt có thể tạo ra những cặp danh từ (gồm một từ chỉ bộ phận cơ thê động vật và một từ chỉ động vật) dùng để gọi tên, chỉ loại hay miêu tả hình dáng, màu sắc của đồ vật như sau: Cánh

én, cánh gà (sân khấu), cánh phượng (trầu têm), cánh trả (màu xanh), mũ lưỡi trai, mắt cá chân, lưới mắt cáo, chum da lươn (màu), mũ tai mèo, đầu ruồi súng, màu lòng tôm, màu lông chuột, đất gan gà, ngô răng ngựa v.v

- Ẩn dụ từ vựng là phương thức chuyển nghĩa có tính chất quốc tế, nó là quy luật chung của nhiều ngôn ngữ Ví dụ: ẩn dụ

"cánh" chỉ "dơn vị chiến dấu bố trí ở hai bên" xuất hiện trong tiếng Việt, trong tiếng Pháp, trong tiếng Anh và cả tiếng Nga Các từ cùng ý nghĩa biểu vật với "cánh" như "aile" của tiếng

Pháp, "Wing" của tiếng Anh và "YutÁUo" của tiếng Nga đều có cái

nghĩa phụ trên [3; 156] Tuy nhiên, cũng bắt đầu từ nghĩa chuyển này, tính dân tộc được thể hiện rõ nét vì vậy, có thể nói

ẩn dụ mang tính dân tộc đậm đà, nó mang đặc trưng văn hoá dân tộc và phân biệt sự khác nhau giữa các ngôn ngữ

Sở dĩ có ẩn dụ từ vựng là vì nguồn gốc của ẩn dụ ở ngay trong tư duy và đòi sống của con người chứ không phải chỉ biểu hiện ở trong ngôn ngữ Đê chứng' minh cho quan điểm triết học trên, hai nhà ngôn ngữ học G.le-cốp (Georges lekoff) và Mac Giôn

- xơn (Mark Johnson) [dẫn theo 18; 67] đã đưa ra một số ví dụ sau

* Từ trong quan niệm, lý luận cũng được xem là những "công trình xây dựng" cho nên chúng ta đã nói theo kiểu ẩn dụ:

- Đây có phải là nền tảng lý luận của anh không ?

- Chúng ta cần xây dựng một lập luận mạnh về điểm này.

- Lập luận đã đổ’rồi

- Chúng ta phải đặt một cái sườn của lý luận.

12

Trang 16

* Ý tưởng được quan niệm như thức ăn:

- Đây là thức ăn cho tư duy

- Anh ta là người ngốn nhiều sách

- Nó đọc nghiến ngấu cuốn sách.

* Ý tưởng được quan niệm như con người:

- Thuyết tương đối sinh ra một khối lượng lớn những tư

tưởng vật lý học

- Ông là người cha của sinh vật học hiện đại.

- Tâm lý học về nhận thức còn trong thời kỳ thơ ấu.

* Ý tưởng được xem như cây cối

- Tư tưởng của anh ta cuối cùng đã khai hoa kết quả (thực

hiện được)

- Anh ta có một trí tưởng tượng’ màu mỡ.

- Anh ta có một trí tuệ khô cằn.

* Ý tưởng được xem như sản phẩm:

- Anh ta sản sinh ra những tư tưởng mói.

- Đây là một tư tưởng thể hiện, nó cần được làm cho tỉnh tế

hơn

- Chúng ta đã tạo ra dược nhiều tư tưởng mới.

* Tình yêu được xem như sự điên loạn;

- Tôi phát điên lên vì cô ta.

- Anh ta thường xuyên phát khùng vì chị ấy.

- Cô ta lái tôi ra ngoài trí óc của tôi.

* Tình yêu như chiến tranh:

- Anh ta được biết đến nhờ sự chinh phục nhanh chóng của

mình

- Anh ta bỏ tron từ sau những cuộc tấn công của cô ta.

- Cô ta đuổi sát anh ta một cách kinh khủng.

* Cuộc sồng như một cái hộp, cái thùng:

- Tôi có một cuộc sống đầy ắp hạnh phúc.

- Cuộc sống đói với hắn ta là trông rỗng.

- Cuộc sông của hắn ta chứa chất toàn là những buồn

phiền.

Trang 17

Đó toàn là những thành ngữ, những công thức từ ngữ có giá trị như một từ Hai tác giả cho đó là "những từ ngữ gồm những từ thông thưòng được cấu trúc hoá bởi khái niệm ẩn dụ".

Giáo sư Hoàng Trinh nhận xét: Quan niệm trên rất đúng và rất bổ ích Nó giúp cho ta thấy rõ thêm cội nguồn bản thể luận của ẩn dụ và sự sáng' tạo tự thân, nguyên thuỷ của tư duy và trí tuệ con người Ẩn dụ thuộc ngôn từ nhưng tự gôc cũng nằm sẵn trong tư duy và sự vận động của tư duy Bởi vậy trong trường hợp này nói ra là đã ẩn dụ không phải thông qua một sự tìm tòi Con người ta thường nói bằng ẩn dụ một cách không ý thức Ngôn ngữ

tự nhiên, tự nó đã có sự giàu có này là vì như vậy,

vế^ẩ^dsriìÌPiv-ảĩĩh [18; 69]

Nói tóm lại, trong quan niệm về ẩn dụ cần phân biệt giữa

ẩn dụ từ vựng với ẩn dụ tu từ Ấn dụ từ vựng là một phương thức chuyến nghĩa, một quy luật tạo từ theo cơ chế ẩn dụ, quy luật này phổ biến ở mọi ngôn ngữ nhưng những biểu hiện cụ thề của

nó, tức những ẩn dụ từ vựng cụ thể lại mang đậm bản sắc dân tộc Ẩn dụ từ vựng là cách tạo ra nghĩa ổn định, mang tính xã hội Nó làm giàu vốn từ vựng của một ngôn ngữ

Ẩn dụ từ vựng không phải là dôi tượng khảo sát trong luận văn này Nó được xem xét đến đế phân biệt với ẩn dụ tu từ

Trang 18

" Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng dã có ai vào hay chưa"

"Này lắng nghe em khúc nhạc hường Này lắng nghe em khúc nhạc thơm"

(Xuân Diệu)

"Từ điển thuật ngữ văn học" do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1992, ở mục ẩn dụ, trang 9, coi ẩn dụ là một phương thức tu từ Công trình này nói đến ẩn dụ văn học (ẩn dụ tu từ), nhấn mạnh các đặc điểm của nó, và như vậy là có sự phân biệt vối ẩn dụ ngôn ngữ học (tức ẩn dụ từ vựng) Các tác giả định nghĩa :"ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương' tự, thê hiện cái này qua cái kia, mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi một cách kín đáo:

(Nguyễn Du - Truyện Kiều)

Thuyền và bến chỉ người con trai, C01Ì gái, người đi, người

đợi Vàng, ngọc chỉ tình yêu Nhưng ẩn dụ làm cho cái được nói

tới có thêm ý nghĩa bổ sung, nhấn mạnh, biêu hiện cảm xúc

Thuyên là yếu tô" vô định, có thê ghé bến khác, còn bến thì không

di dịch Vàng ngọc là thứ quí giá Trong ẩn dụ văn học, sự chuyển nghĩa không chỉ xảy ra trong từ mà cả trong câu, trong hình tượng, quan hệ như trong câu ca dao trên đây Ẩn dụ được thể hiện nhiều trong th(i ca, thể hiện phong cách cá nhân và thời đại

Có thể nói hai định nghĩa trên là sự xem xét, đánh giá ẩn

dụ từ góc độ văn học, thể hiện được những nét bản chất của ẩn

dụ tu từ

Trang 19

1.2 ẨN DU TU TỬ D ướĩ ẢNH SÁNG CỬA KỶ HIỂU HOC:

1.2.1 Ký hiẻu hoc:

Ký hiệu học (Semiotics)*15 là "công cụ của các khoa học"

Ngày nay Ký hiệu học thâm nhập vào nhiều ngành khoa học như Triết học, Ngôn ngữ học, Nghiên cứu văn học, Thi pháp học, Xã hội học, Tâm lý học đồng thòi nó cũng bổ sung cho mình những kiến thức cần thiôt của nhiều ngành, đặc biệt là của Ngôn ngữ học

Ký hiệu học và Ngôn ngữ học đều có một đôi tượng chung là ngôn ngữ con người Nhưng nếu Ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp với những quy luật của nó về các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì Ký hiệu học nghiên cứu ngôn ngữ như một hộ thống biểu trung hay biểu hiện, hệ thông tạo nghĩa trong’ giao tiếp xã hội thông qua các ký hiệu với các chức năng và các hiện tượng’ chuyên hoá về hình thức và về chất thê của nó

Những thành tựu của Ngôn ngữ học đã được tiếp thu dể vận dụng vào việc nghiên cứu hai mặt của ký hiệu (CBĐ và CĐBĐ) và những liên hệ giữa chúng với nhau đê tạo ra nghĩa, (lưới các hình thức khác nhau, tuỳ theo từng' loại ký hiệu

Theo F.d.Xot xuya (f.d.Saussure), xốt về mặt ngôn ngữ học thì tín hiệu ngôn ngữ là một loại ký hiệu nhân tạo "kết liên thành không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh - âm thanh" còn theo P.Ghi-rô (P.Guiraud): "Ký hiệu là một vật kích thích (Stimuli) có khả năng liên kết với một vật kích thích khác mà nó gợi lên trong dầu óc ta

để thông báo một cái gì" [dẫn theo 18; 29]

Nếu định nghĩa trên của Ngôn ngủ học chủ yếu tách hai mặt cấu thành và tạo nghĩa của một Ký hiệu ngôn ngữ thì định nghĩa của Ký hiệu học chú ý đến sự kích thích, sự thông báo của

Ký hiệu bằng sự gợi lỏn một vật kích thích tưdng ứng nhằm thông báo một cái gi Đó là hai hướng đi có nét phân biệt ngay từ diêm xuất phát ban dầu của hai ngành khoa học trong việc nghiên cứu các phương thức tạo nghĩa

(1) Semiotics hay Semiotique John Loch, nhà triết học Anh là người dầu

tiên đặt ra chữ Semiotik trong triết học Charles Sanđor Preirce ở Mỹ đặt ra

chữ semiotics trong lô gíc học F.d.Saussure đặt ra chữ Semiologie (từ Hyỉạp

Sctncion ỉà hý hiệu) Năm 1938, Charles Morris ồ Mỹ đặt ra chữ Semiotics

đ ế chỉ ký hiệu học.

16

Trang 20

Ký hiệu học đã nghicn cứu các mặt sau đây:

1.2.2 Ẩn du tu từ dưởi ánh sáng của Ký hiêu hoe

a Ần dụ tu từ là một ký hiệu của hệ thống ngôn ngữ, nó cỏ những đặc thù của một ký hiệu.

Một ký hiệu có hai mặt: Cái biếu đạt (Signifiant) và cái được biếu dạt (Signifie') liên hệ với nhau qua một quan hệ vỏ đoán Ngôn ngữ bao gồm những tín hiệu mang ý nghĩa và chỉ ra những sự vật ở bên ngoài Trong' ký hiệu ngôn ngữ , CBĐ chính

là âm thanh ngôn ngữ và phía sau nó là một khái niệm; hai mặt này dính liền nhau "có thể so sánh với một tờ giấy" (Xốt Xuya),

hễ có cái này là phải có cái kia, không thê tách rời Một tiếng động nào đó, không mang một khái niệm gì bên trong thì chỉ là tiếng động Một khái niệm nào đó mà không được hiện diện ra ngoài bằng một âm, một CBĐ, thì đó chỉ là một sự im lặng Như vậy, nguyên tắc cơ bản rút ra từ thực tiễn của một ký hiệu ngôn ngữ là: một ký hiệu bao giờ cũng bao gồm hai vế, sinh ra cùng một lúc, như hai mặt của một tò giấy

CBĐ (âm thanh ngôn ngữ) và CĐBĐ (khái niệm) kết hợp với nhau đã tạo thành một thực thê ngôn ngữ: ký hiệu, một từ

Sự kết hợp này sẽ tạo ra cho từ một nghĩa Ký hiệu học gọi sự kết hợp đó là một "quá trình", tức là một liên hệ lại với nhau giữa hai

vế Đó là "quá trình tạo nghĩa" CBĐ là mặt vật chất của ký hiệu, nghe được, nhìn được và CĐBĐ là mặt tinh thần, im lặng ở bên trong CBĐ đóng vai trò biểu hiện, qua đó CĐBĐ bộc lộ ra ngoài

Cả hai cái đểu không thô thiếu dế có thể tạo ra một nghĩa - tức giá trị cơ bản của ký hiệu

Có thể nói: Cơ chế hình thành ký hiệu là cơ chè hai mặt, thông nhất cùng tồn tại

Điều quan trọng trong cơ chế trên là mối quan hệ giữa CBĐ

và CĐBĐ Theo F.d.Xot Xuya (F.d.Saussu) và nhiều nhà ngôn ngữ hoc, đó là một quan hộ võ đoán, tự phát, không có nguyên do

và chưa thể giải thích được Đó là quaa hệ vồ đoán, tự tiện nhưng

Trang 21

không ai có thể tùy tiện sửa đổi Như vậy là võ đoán nhũng ký hiệu khi ra đời đã được cả một tập thê (cộng đồng sử dụng ngôn ngữ) chấp nhận và sử dụng - như một "khê ước xã hội” bất khả xâm phạm Tính võ đoán của ký hiệu là một quy luật.

Tính võ đoán vất lợi hại bởi nó đã mở ra một thế giới ngôn ngữ đa dạng và phong phú Lúc dầu ký hiệu là võ đoán, sự kết hợp giữa CBĐ và CĐBĐ là không nguyên do Nếu mọi ký hiệu đều có nguyên do một CBĐ phải có một CĐBĐ tương ứng, có ]ý

do rõ ràng, minh bạch thì một từ chỉ có một nghĩa duy nhất và chỉ dùng một lần do tính tất yếu kia quy định Và như vậy., trong' thế giới khách quan có bao nhiêu sự vật, hiện tượng, bao nhiêu mối quan hệ thì trong ngôn ngữ cũng phải có bấy nhiêu từ và vốn

từ của một ngôn ngữ sẽ là vô cùng, vô tận Điều này là một trơ ngại vô cùng lớn cho người sử dụng ngôn ngữ (vì con người ta sẽ không thê nào học được clủ vốn từ dó) Nhưng do ký hiệu ngôn ngũ mang tính võ đoán, không có tất yếu nào ràng buộc mổi liên

hệ giữa CBĐ và CĐBĐ cho nên những' ký hiệu đầu tiên không' nguyên do đó sau này đã được vận dụng như những "nguyên do"

để tạo thêm ra các từ và các nghĩa tức là con người đã biết lợi

dụng những từ đã có, lồng vào đó nhiều khái niệm theo những

liên hệ nhất định

Ví dụ: Các tên nhân vật trong tác phẩm văn học:

Chị Sứ - (Sứ : loài hoa ở miền Nam),

Chị Tư Hậu (nhân hậu)

Nhò vậy dã đáp ứng được nhu cầu tiết kiệm của tư duy và của ngôn ngữ

Vì những lý do trên, ký hiệu ngôn ngữ đã có đặc trưng phân

biệt với cắc ký hiệu thuộc hệ thông ký hiệu khác Nếu ở các hệ

thông ký hiệu khác như hộ thông tín hiệu giao thông, hệ thống' báo thời gian trong trường học v.v mỗi ký hiệu chỉ gồm có một hình thức (CBĐ) úng với một nội dung’ (CĐBĐ), chẳng hạn : đèn đỏ = dừng lại, đèn xanh = đi tiêp, ba tiếng trống = vào giò học, năm tiếng trông = hết giờ học v.v thì ở ngôn ngữ, các ký hiệu không chỉ có sự tương ứng 1 : 1 giữa CĐBĐ và CBĐ mà có thê có các ký hiệu :một hình thức ngữ âm nhưng diễn đạt nhiêu nội dung ngữ nghĩa Vô sô" từ đã mang ít nhất là hai nghĩa chung sông với nhau Tuỳ vào ý định của người sử clụng và tùy vào văn canh mà nghĩa nào của từ sẽ trỏ thành nghĩa chính Đó là một sự

kỳ điệu của ký hiệu ngôn ngũ Ví dụ trong Tiếng Việt: từ

"thuyền" được dùng với các nghĩa như sau: '

18

Trang 22

(1) Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lưốt giữa mây cao với biển bằng

(Huy Cạn)(2) " Người đã đưa C011 thuyền cách mạng đến bến bờ

thắng lợi."

(3) " Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng' khăng đợi thuyền"

(Ca dao)(4) "Người giai nhân: bến đợi dưới cây già

Tình du khách: Thuyền qua không' buộc chặt"

(Xuân Diệu)(5) "Để lòng anh hoá bến

Nghe thuyền em ra đi"

(Chế Lan Viên)Trong văn cảnh (1), "Thuyền” được dùng vối nghĩa chính, nghĩa

đen, nghĩa được ghi trong từ điển

Trong văn cảnh (2), "Thuyền" được clùng với nghĩa phụ, nghĩa

phái sinh, chỉ sự nghiệp cách mạng do Bác khỏi xướng, Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện

Trong văn cảnh (3), "Thuyên" được dùng đế chỉ người con trai

Trong văn cảnh (4), "Thuyền" được dùng chỉ tình cảm của người

con trai, khách làng chơi đôi với người kỹ nữ Trong văn cảnh (5), "Thuyền" được dùng chỉ tình yêu của ngưòi

con gái đối với tình cảm của ngưòi con trai.Nhà ngôn ngữ học A-len Tết (Allen Tate) gọi toàn thể nghía của một từ là một sự "kéo co", một "độ giằng" (Tension), tức sự cùng tồn tại nhiều nghĩa trong một từ

Nói tóm lại, Kỷ hiệu học vận dụng nguyên lý của F.d.Xot Xuya đã làm sáng tỏ những vấn đề sau:

(1) Nghĩa là vấn dề sông còn của ký hiệu,nhưng nghĩa đó luôn được biểu đạt qua một hình thức của ký hiêu Vì vậy, trong ký hiệu: hình thức và nội dung có quan hệ chặt chẽ với nhau trong tương quan CBĐ vồ CĐBĐ - một tương quan "như hai mặt của một tờ giấy" (F.cl.Xot Xuya) Trong ký hiệu ngôn ngữ , đó là tương quan giữa hình ảnh - âm thanh (CBĐ) và khái niệm (CĐBĐ) Các ký hiệu nói chung, mối tương quan này là một : một

Trang 23

CBĐ -> Hình thức

Ký hiệu

CĐBĐ -> Nội dung(2) Trong ký hiệu ngôn ngữ, CBĐ là hình ảnh - âm thanh và CĐBĐ là khái niệm, mối quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ là quan hệ

võ đoán, tự tiện, không có lý do Quan hệ đó được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ lựa chọn, quy ước Nó được hình thành trong lịch

sử giao tiếp Vì vậy, ký hiệu ngôn ngữ có một đặc trưng khác với các ký hiệu khác, đó là tính đa nghĩa của ký hiệu ngôn ngữ Ký hiệu ngôn ngữ có thê chuyển nghĩa bởi quan hệ liên tưởng hay tổ hợp trong những văn cảnh giao tiếp cho phép Cơ chế chuyển nghĩa đó có thê mô hình hoá như sau:

I

v CĐBĐ' /

Mô hình này là cơ sở để phân tích các ẩn dụ tu từ mà luận

án thông kê được trong chương sau

Mô hình của ký hiệu được giải thích như sau:

Là ký hiôu ngôn ngữ bình thường nhưng trong hoàn cảnh

rn R n ■ s*a0 kiêp cụ thể này, ký hiệu này có ý nghĩa như là CBĐ'

của một ký hiệu ngôn ngữ khác, tức là CBĐ' trong kiến

trúc của ẩn dụ tu từ

: Đây ]à quan hệ liên tưởng nét tương đồng giữa CBĐ' và CĐBĐ', chúng vốn là hai yếu tô' khác loài, không cùng

Trang 24

phạm trù nhưng giữa chúng có nét giông nhau nào đó khiên cho khi nói đên cái này, người ta nghĩ đến cái kia Chính ở điểm này, yếu tô" môi trường, tâm lý và văn hoá cộng đồng có vai trò đặc biệt quy định sự chọn lựa CBĐ'

và CĐBEV

CĐBĐ' :Là yếu tô' được nói đến, là mục tiêu diễn đạt nhưng lại ẩn

đi dưới CBĐ' Yếu tô' này được nhận ra nhờ (quan hệ liên tưởng nết tương đồng) ở trên CĐBĐ' thường là yếu tô thẩm mỹ và biểu cảm hơn Con người sáng tạo và tiếp nhận CĐBĐ' cũng nghệ sỹ hơn

Mô hình này khái quát cho kiến trúc của ký hiệu ngôn ngữ

ẩn clụ tu từ.

Ví dụ: Câu thơ "Hai Kiều e lệ nép vào dưỏi hoa"{]) (câu 146

"Truyện Kiểu" - Nguyễn Du) Trong văn cảnh này, từ "hoa" là một ký hiệu ngôn ngữ bình thường, CBĐ = [hua1] CĐBĐ = một

bộ phận của thực vật, sinh ra khi cây trưởng thành, thường có màu sắc, hương vị, có chức năng thụ phấn, sinh hạt để duy trì nòi giống' của loài

Nhưng trong câu thơ sau: Nàng rằng: "Chút phận hoa rơi

Nửa dời nếm trải mọi mùi dắng cay" (câu 3035- 3036 "Truyện Kiều" - Nguyễn Du) thì từ "hoa" không phải là một ký hiệu ngôn ngữ bình thường' nửa Mặc dù CBĐ và CĐBĐ của ký hiệu này vẫn giông như trường hợp (1) nhưng trong văn cảnh này CBĐ/CĐBĐ đã trỏ thành CBĐ' dể diễn đạt một nội dung mới mà

ta ký hiệu là CĐBĐV CĐBĐ’ ở đây là: thân phận nàng Kiều từ ngày bán mình chuộc cha, 15 năm lưu lạc nay đây mai đó, chịu đựng bao nhiêu gian nan vất vả : gia đình li tán, tình yêu tan vỡ, làm gái thanh lâu, lảm nô tì, làm vợ lẽ, tu hành bất đắc chí

CĐBĐ' nà}7 được ẩn giấu dưới CBĐ’, nhờ sự liên tưởng' nét giông nhau giữa CBĐ' (hoa) và CĐBĐ' (nàng Kiều) mà người dọc nhận ra nghĩa hàm ẩn của từ "hoa" trong văn cảnh này Nét giông nhau đó là tính chất của hai đôi tượng: bông hoa lìa khỏi cành thì rơi rụng xuống đất, bị gió mưa làm trôi dạt, vô định Ngưòi con gái như bông hoa, lìa xa gia đình cũng chịu kiếp trôi dạt, vô định như hoa rơi Mặt khác, trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thẻ: nàng Kiểu nói về mình trong ngày gặp lại gia đình, không có ngôn từ nào giúp nàng nói dúng về thân phận mình bơn từ "hoa rơi"

Trang 25

b an dụ tu từ là một hình thể từ ngữ thuộc mã thấm mỹ.

Ngoài ra, Ký hiệu học cũng coi ngôn ngữ là một hệ thông tín hiệu có tính chất ước lệ, một bộ mã được xây dựng theo những liên hệ và cấu trúc rất chặt chẽ, theo những luật lệ vô hình, được 'cam kết" một cách thống nhất tuyệt dối trong một cộng đồng ngôn ngữ Khi giao tiếp bằng nói, người ta rút từ mã này những tín hiệu cần thiêt và tố chức chúng thành những thông điệp Ký hiệu học gọi đó là "mã hoá" (encoder) Khi nhận thông điệp, người nhận "giải mã" (de'coder), tức chuyển dịch ngay mã sang nội dung cụ thể Trong dời sống xã hội, do có nhiều phạm vi giao tiếp, con người cũng phải tạo ra nhiều loại mã Các mã có thê chia thành ba loại:

Mã logic là loại mã có tính "khách quan, trí tuệ", tác động vào sự thông hiểu là chính Ví dụ: mã tín hiệu giao thông, các mã khoa học (toán học, hoá học, vật lý ), các mã chiêm tinh, bói toán, tướng sô (xem sao, xem mặt, xem bàn tay, tướng người để đoán sô"phận)

Mã xã hội: Là mã xuất hiện trong các liên hệ thông đạt, cho biết Ví dụ: Phù hiệu, biển (biển quảng cáo, biển báo hiệu), những cử chỉ giao lưu, những động’ tác, giọng nói, cách ăn mặc, các nghi lễ v.v

Mă thẩm mỹ: Là các loại mã mang tính "chủ quan, xúc cảm", nhằm tác động vào tư tương, tình cảm, trí tuệ thông qua những hứng thú Ví dụ: Các nghệ thuật (nhạc, hoạ, điện ảnh ), văn hoá, văn học

Mã thẩm mỹ Irong văn học bao ị>'ồm các hình thổ từ ngủ (Figures du discours) được chia thành nhiều loại và đã trở thành đôì tượng của cả ký hiịiU học và cả tu từ học [18; 57],

Vậy: Hình thể từ ngữ là gì?

Theo Phông- ta- ni-ê [dẫn theo 18; 59], hình thể từ ngữ là những nét, những hình thái hay những cách xếp đặt theo đó ngôn ngữ đi xa ít hoặc nhiều cách thể hiện giản đơn và thông dụng, cách thế hiện giản đơn và thông: đụng tức là theo nghĩa đen, nghĩa sát từ

Trang 26

Hình thể từ ngũ thay thế một từ ngữ thông thường bằng một từ ngữ khác, giúp người ta hình dung sự vật dưới một bộ mặt mới, một màu vẽ mới tương ứng Như vậy, trong các hình thể đều

có sự chuyên hoá về "không gian", chuyển hoá trên bề mặt của ngôn từ

Các từ đều có một nghĩa gốc và một nghĩa đã được chuyển hoá - thường gọi là nghĩa bóng Nghĩa bóng là sự chuyên hoá từ một nghĩa cụ thể đến một ghĩa trừu tượng, một nghĩa mang tính tương đồng, tương ứng về hình thức, sắc thái với nghĩa đen

Ví dụ: "một đường bóng đẹp" "một cú sút ác"

Như vậy: Hình thể từ ngữ là những phép chuyển nghĩa đồng thời có sự thay đổi ngôn từ Khi nói phép chuyển nghĩa tức chủ yếu có sự thay đổi về nghĩa, còn khi nói hình thể chủ yếu là

sự thay đổi vể từ

Trong mã thẩm mỹ có các hình thê từ ngữ sau:

(1) Chuyển nghĩa qua tính đồng dạng : Ẩn dụ tu từ

(2) Chuyên nghĩa qua tính tương ứng : Hoán dụ tu từ

(3) Chuyển nghĩa qua tính chất liên quan: Đề dụ

Các hình thể từ ngữ trên được chia thành các tiểu loại nhỏ hơn và trở thành dối tượng nghiên cứu của cả Ký hiệu học và cả

tu từ học Gác hình thể ngôn ngữ không phải chỉ của ngôn ngữ

mà còn là sự biểu hiện của thế giới nội tâm, của tình cảm Một ví

dụ trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du về hình thể ẩn dụ tu từ :

Trước sau nào thấy bóng ngươi

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Câu thơ trên nằm trong đoạn thơ miêu tả tâm trạng của Kim Trọng sau khi về quê chịu tang chú, trở lại tìm Kiều thì gặp cảnh nhà cửa tiêu điều, người xưa vắng bóng Hình tượng hoa đào tượng trưng cho mùa xuân, cho cuộc sông, cho tình yêu,nhưng trong đoạn thơ này, 11Ó dường như lạc lõng giữa cả một thêgiới hoang tàn cỏ câ}', lau lách Nhưng chính bông hoa đào này đã hoà nhập vào thế giới này Bỏi vì đây là bông hoa của một tâm trạng tìm kiếm tuyệt vọng Hoa đào ỉà hình bóng duy nhất còn lại của quá khứ: hoa đào năm ngoái - hoa đào với bóng dáng của Thuý Kiều cùng cành kim thoa của nàng trong những ngày đầu hội ngộ dẹp ctẽ xưa kia: ." Dưói dào dường có bóng người thướt tha Trên đào nhác thấy một cành kim thoa " Tình yêu thiết tha của Kim Trọng, ước mong sôi nổi (lược gập lại người yêu cũng

Trang 27

như nỗi niềm thất vọng sâu xa của chàng như thấm đượm lên từng cảnh vật, biểu hiện qua từng từ ngữ Có thể thấy: Không có sức biêu hiện của thế giới nội tâm sẽ không có nghĩa nội hàm tức

là không có ẩn dụ "Sự thật ẩn dụ tạo ra một độ căng giữa nghĩa nội hàm vối hình ảnh của nghĩa, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng, giữa sự đồng nhất và sự khác nhau trong sự đồng dạng" [18; 107],

Từ những phân tích trên, có thể khái quát một luận điểm: Khi dùng ẩn dụ, con người nghệ sỹ hơn, thẩm mĩ hơn và biểu cảm hơn Bởi vì ẩn dụ không phải là một ký hiệu bình thường, nó

là ký hiệu thẩm mĩ

1.3 ẨN DU TU TỨ DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA NGỔN NGỮ HOC.

Trong ngôn ngữ học, ngành phong cách học chuyên nghiên cứu đặc điểm tu từ của các loại đơn vị ngôn ngữ , một trong những đóng góp cơ bản của ngành học này ỉà phát hiện ra "màu sắc tu từ" Với khái niệm "màu sắc tu từ" người ta sẽ đi đến những vấn đề : Phương tiện tu từ, biện pháp tu từ trong đó có ẩn

dụ tu từ đối tượng nghiên cứu của luận án

1.3.1 Màu sắc tu từ và Phương tiên tu từ.

Màu sắc tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần thông

tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một

thực từ Nói cách khác, màu sắc tu từ là khía cạnh biểu cảm - cảm xúc của ý nghĩa của từ bên cạnh khía cạnh sự vật - logic của nó

Đa sô" các từ trong ngôn ngữ chỉ có phần thông tin cơ bản (còn gọi là ý nghĩa chỉ xuất), nhưng có một sô' từ, ngoài phần thông tin cơ bản ra còn có thông tin bô sung (còn gọi là ý nghĩa hàm chỉ) Màu sắc tu từ chính là ý nghĩa hàm chỉ

Màu sắc tu từ là phần ý nghĩa bổ sung, là yếu tô" nhỏ bé, tinh tê làm nên sự đôi lập giữa các phương tiện "trung hoà" với các phương tiện "tu từ" của ngôn ngữ

Phương tiện tu từ là gì? Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật- logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ Người ta còn gọi chúng là những phương tiện "được tu sức" về mặt tư từ hoặc đôi khi, những phương tiện được đánh dấu về mặt tu từ

24

Trang 28

Các phương tiện tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản

là đối tượng nghiên cứu của phong cách học (hay "tu từ học")

Như vậy, người sử dụng' ngôn ngữ cần ý thức rằng trong ngôn ngữ luôn có hai loại phương tiện ngôn ngữ là phương tiện trung hoà và phương tiện tu từ Các phương tiện tu từ gồm:

Phương tiện tu từ từ ngữ, phương tiện tu từ ngữ nghĩa, phương

tiện tu từ cú pháp và phương' tiện tu từ văn bản Ẩn dụ tu từ thuộc phương tiện tu từ ngữ nghĩa

1.3.2 Ẩn du tu từ lá phương tiên tu từ ngữ nghĩa.

Dưới góc độ tu từ học, các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra đặc điểm,

cơ chế của ẩn dụ tu từ như sau:

a) Khái niệm: " Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thòi lấy tên gọi của đôi tượng này đê biêu thị đối tượng kia, dựa trên cơ sỏ mốì quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng [16; 46]

Ví dụ: Em tưởng nước giếng sâu

Em nốì sợi gầu dài

Ai ngờ giếng cạn em tiếc hoài sợi dây

(Ca dao)

ở trong văn cảnh trên, "giếng sâu' "sợi gàu", "giếng cạn" được dùng đế biểu thị một đôi tượng khác, trừu tượng hơn đó là :

"giếng sâu" = tình yêu sâu sắc, chung thuỷ, vẹn tròn

"sợi (clây) gàu"= tình cảm dáp lại của người con gái (em)

"giếng cạn" = tình yêu hòi hợt, nông cạn của người con trai

Như vậy, trong ngữ cảnh cho phép, các từ trên đã lâm thòi chuyển đổi ý nghĩa, chúng vốn biêu thị những đôi tượng cụ thể nhưng trong câu ca dao, chúng lại biểu thị những đối tượng trừu tượng và vì thế, đằng sau câu ca dao có một tầng nghĩa mới Tuy nhiên, những nghĩa này chỉ là tạm thời, chỉ tồn tại trong văn cảnh cụ thể này, trong cách nói này, của người con gái này, trên văn cảnh này

b) Cơ chế chuyển nghĩa và việc phàn ỉoại ấn dụ.

Vì sao người đọc có thể hiểu được nghĩa bê sâu trong văn cảnh này của các từ ngữ trên? Có thê nói, giữa đối tượng được biểu đạt (tình cảm) với đối tượng biểu đạt (giếng, dây gầu) có một nét tương đồng mỏng' manh mà người Việt đẳ phát hiện ra Đó là

Trang 29

độ nông, sâu của từng cái giếng, có thể đo được và độ nông, sâu của tình yêu mà người ta có thể cảm được nhưng không có công

cụ đe đo, đê tính Nhờ nét tương' đồng mòng manh ấy, mà người Việt đã lấy cái cụ thể, có thể đo được (giếng, dây gầu) để biểu thị cái trừu tượng (tình cảm) Trong tâm lý người Việt, cách biểu đạt

ấy đã được chấp nhận qua cách so sánh tu từ:

Đàn ông nông nổi giếng khơiĐàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu (Ca dao)Nói tóm lại, cơ chế của ẩn dụ tu từ chính là sự chuyển nghĩa lâm thời của từ ngữ dựa vào mối quan hệ liên tưởng nét tương đồng giữa hai đôì tượng - và sự chuyên nghĩa này chỉ là tạm thòi và chỉ được nhận biết nhờ vào văn cảnh, tính logic và thói quen tham mỹ

Từ góc độ ngôn ngữ, có thể phân loại ẩn dụ tu từ dựa trên

cơ chế chuyến nghĩa Ân dụ tu từ cấu tạo dựa trên quan hệ tương dồng, trên lý thuyết, có bao nhiêu kiểu tương đồng sẽ có bấy nhiêu loại ẩn dụ tu từ Vì vậy nếu phân loại được quan hệ tương đồng sẽ phân loại được ẩn dụ tu từ Tuy nhiên, trên thực tế sẽ phổ biến một scT loại ẩn dụ sau:

1 ẩn dụ dựa trên sự tương đồng về màu sắc, hình dáng, hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượng.

Ví dụ: "Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang"

"Mai côt cách, tuyết tinh thần"

"Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông"

Hình dáng tròn trịa, đầy dặn của trăng => có thể chỉ khuôn mặt

của người con gái phúc hậu , phúc phận.

Dáng vẻ thanh mảnh của cây mai => chỉ dáng vóc thanh thoát

của người thiếu nữ đẹp

Màu sắc trắng tinh khôi của tuyết => chỉ vẻ trong trắng, tinh

khôi của thiến nữ con nhà nề nếp, gia giáo

Màu đỏ của lửa => chỉ hoa lựu cũng có màu đỏ

Đây là loại ẩn dụ phổ biến

2 Ân dụ dựa trẽn sự tương đồng về tính chất của các sự vật, hiện tượng.

26

Trang 30

Ví dụ: "Vàng đá": chỉ tình cảm vợ chồng chung thuỷ, đoan chính

"Trăng hoa" chỉ tình cảm trai gái tạm bợ, chơi bời

dựa trên tính chất bền vững của vàng', của đá, hoặc tính chất nhanh tàn của hoa, chóng khuyết của trăng

3 Ân dụ dựa trên sự tương đồng về trạng thái của sự vật.

Ví dụ: Trạng thái tan, vỡ, gẫy của dồ vật khiến vật không còn tồn tại nữa với trạng thái không cồn sự sông' của người thiếu nữ:

"Trâm gãy bình tan" "trâm gãy gương tan" "nát ngọc tan vàng" hoặc: trạng thải lặn của sao chỉ Bác Hồ qua đời

"Ngôi sao ấy lặn hoá bình minh" (Tố Hữu)

4 Ần dụ dựa trên sự tương đồng về hành động.

Ví dụ: "rào cây lâu cũng có ngày bẻ hoa " (câu 2018 "Truyện

Kiều") '

rào cây = giam hãm người

bẻ hoa = hãm hại người

"nghĩ đà bưng kín miệng bình" (câu 1577 "Truyện Kiều")

bưng kín miệng bình = giấu kín được việc lấy vợ lẽ.

5 Ân dụ dựa trên sự tương đồng về cơ cấu.

Ví dụ: "một cây gánh vác biết bao nhiêu cành" (câu 674)

một cây = người cha , bao nhiêu cành = những người con

c) Những nhân tô đ ể nhận biết ẩn dụ tu từ

Trong ẩn dụ tu từ, đôi tượng biểu đạt luôn hiển hiện, còn đối tượng được biểu dạt luôn ẩn kín, nhưng nhờ các nhân tố: văn cảnh, tính logic và thói quen thấm mỹ mà người ta luôn luôn nhận ra đối tượng được biểu đạt Đây chính là đặc trưng phân biệt ẩn dụ tu từ với so sánh tu từ

Nếu ở so sánh tu từ, người ta công khai dối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy, nhằm diễn

tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đôì tượng thì ở ẩn dụ, chi hiển hiện một dôi tượng, nhờ ìiôn tưởng, nhờ so sánh ngẳm mà người dọc nhận ra dổi tượng kia

Trang 31

Chẳng hạn: Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra vũng lầy

(Ca dao)Cách diễn đạt của câu ca dao trên là so sảnh tu từ, là phép đôi chiêu hai đôi tượng vôn không cùng loại nhưng giông nhau ở một vài phương diện, nhò so sánh mà ta có thể có nhận thức mới

mẻ về đặc điểm của dôi tượng kia Qua so sánh "thân em" với

"hạt mưa sa", dân gian muôn thế hiện một cách hình ảnh thân phận người con gái trong xã hội xưa, đó là thân phận vô định của con người không có quyền làm chủ bản thân Thân phận của con người "tại gia tòng' phụ, xuất giá tòng' phu, phu tử tòng tử", sống theo khuôn phép: cha mẹ đặt dâu con ngồi đấy, cho nên gặp nơi

tử tê thì dược cậy nhò, (hạt vào dài các), còn gặp chôn chang lành thì khác nào sa vùng lầy

Trong so sánh tu từ luôn hiển hiện cả hai đối tượng, dó là đổì tượng so sánh và đôì tượng được so sánh, giữa hai dối tượng

có từ so sánh (như, là, bằng, bao nhiêu bấy nhiêu), song cũng có khi không có từ so sảnh Chẳng hạn:

Gái thương chồng dang đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiểu hôm

(ca dao)Trong khi so sánh, có thê bộc lộ rõ phương diện so sánh ; ví dụ:

Cầu cong như chiếc lược ngà Sông dài mái tóc cung nga buông hờ

(Nguyễn Bính)nhưng cũng có nhiều so sánh không bộc lộ phương diện so sánh

ví dụ: " Trẻ em như búp trên cành"

(Hồ Chí Minh)Những so sánh không bộc lộ phương diện gọi là so sánh

chìm, đây là cách biểu đạt rất uyển chuyển, gợi nhiều liên tưởng

và so sánh chìm chính là chiếc cầu nối so sánh tu từ với ẩn dụ tu

từ Bởi có

" Thân em như hạt mưa sa" trong ca dao nên Nguyễn

Du mới viết về cô Kiểu bằng những ẩn dụ sau:

" Hạt mưa sá nghĩ phận hèn"

" Cũng lieu một giọt mưa rào"

Qua phân tích so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ, chúng ta có thể nói, ẩn du tu từ là so sánh ngầm, là cách nói chỉ còn cái so sánh, còn cái được so sánh lại ẩn đi Vì nội dung biểu đạt lại được ẩn đi, cho nên ẩn dụ tu từ rất cần nhân tố hỗ trợ đê bộc lộ ra được

28

Trang 32

Ngôn ngữ học đã chỉ ra ba nhân tô cơ bản giúp người nghe hiểu được đổi tượng ẩn giấu trong ẩn dụ, đó là: Văn cảnh, tính logic và thói quen thẩm mỹ.

Văn cảnh là bôi cảnh văn học mà ở đó từ ngữ xuất hiện, ở

đó sẽ có những "tiền giả định" để dẫn đến ngữ nghĩa của từ Văn cảnh chỉ rỏ hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và nội clung giao tiêp cụ the trong một thời diêm, thời gian cụ thê Người viết tạo ra văn cảnh, người đọc cản cứ vào văn cảnh mà tìm ra dấu hiệu bị dấu kín đi nhưng' lại là mục đích biêu đạt của người viết

Ví dụ, khi dọc Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du viết:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay Cho đành lòng kẻ chân mây CUỐI tròi

<Câu 545-546>

Nếu không đặt trong văn cảnh, người đọc sẽ không hiểu đúng ẩn dụ "vàng", "ngọc" và cả "kẻ chân mây cuôi trời" trong câu thơ trên là nói về cái gì, nói về ai Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã dùng từ "vàng" "ngọc" hàng nhiều chục lần, nhưng mỗi lần với một nghĩa khác nhau Câu thơ trên đặt trong văn cảnh cụ thê: sau khi Kim - Kiều gặp nhau, tình yêu giữa họ bừng cháy, hai người đã dính ước thề nguyền và họ đang bên nhau trong những ngày tình yêu nồng cháy Bỗng Kim Trọng nhận được tin chú mất, chàng' phải vể Liêu Dương hộ tang chú; buổi chia tay, chàng Kim dặn dò người yêu bằng câu thơ trên Vì vậy

"vàng" "ngọc" ỏ đây được hiếu là tình cảm yêu thương sâu sắc mà Thúy Kiều đã dành cho Kim Trọng, đối với Kim Trọng, tình yêu

đó quý giá, dáng trân trọng, gìn giũ như ngọc, như vàng Và "kẻ chân mây cuối tròi" ỏ đây chỉ Kim Trọng trong những ngày xa Thúy Kiều Nếu không có văn cảnh và không đặt trong văn cảnh thì không thể tìm thấy, không thể đến được với nội dung chính của ẩn dụ tu từ Một ví dụ nữa là câu thơ "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ" của nhà thơ Tố Hữu, Nếu không đặt trong bài "Từ ấy"

và nếu ta không đọc cả bài thơ thì ta không thể hiểu được ẩn dụ

"nắng hạ" ở đây chính là lý tưởng cộng sản, là tư tưởng đã đem

lại cho nhà thơ sự phấn khỏi, sáng suốt và minh mẫn trong tâm hồn

Có thể nói văn cảnh là yếu tô" quyết định đối với ẩn dụ tu

từ Nó chính là yếu tố để phân biệt ẩn dụ tu từ với ẩn dụ từ vựng, với so sánh nghệ thuật và với các phương tiện tu từ ngữ nghĩa khác

Trang 33

Nhân tố cơ bản thứ hai của ẩn dụ tu từ là tính lôgíc: Để lấy đôi tượng A biểu thị đối tượng B thì giữa A và B phải có nét tương đồng, phải giông nhau thực, quan hệ giữa A và B phải hợp

lý thì ẩn dụ mới có sức thuyết phục và mới giúp người đọc liên tưởng, nhận ra được, ví dụ:

" Cứ nghĩ: hồn thơm đang tái sinh Ngôi sao ấy lặn, hoá bình minh Cơn mưa vừa tạnh Ba Đình nắng Bác đứng trên kia vẫy gọi mình

( "Theo chân Bác"- Tô" Hữu)

"Ngôi sao ấy lặn" là ẩn dụ tu từ, chỉ Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam về cõi vĩnh hằng Lấy "ngôi sao" chỉ Bác là rất hợp lý bởi ngôi sao toả sáng, soi sáng cho nhân gian và Bác cũng

là người đem lý tưởng cách mạng soi đường chỉ lối cho nhân dân

ta làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để đến được độc lập, tự do

và hạnh phúc Vì vậy "ngôi sao lặn" chỉ Bác qua đời cũng là hợp

lý và dễ hiểu "Ngôi sao ấy lặn hoá bình minh" đề nói Bác mất đi nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam Bác mất là nỗi đau vô hạn nhưng dân tộc Việt Nam đã biến đau thương thành hành động và quyết tâm thực hiện bằng được ước nguyện của người: đất nước được độc lập, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" "thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to dẹp hơn" Và sự thật là Bác đã ra đi nhưng một thời đại mới đang bắt đầu trên đất nước ta Từ bấy đên nay, đất nước ta ngày càng đổi mới

Từ phân tích trên, ta thấy đặc điểm diễn đạt của ẩn dụ tu

từ là rất mềm dẻo, rất uyển chuyển Có thể lấy cực nọ biểu thị cực kia, các đối tượng có khi không phải chỉ có một dấu hiệu tương đồng mà có thể có nhiều dấu hiệu tương đồng Vì vậy, phát hiện ra các dấu hiệu dể tạo ra ẩn dụ tu từ là do sự tinh tế, khéo léo của người sử dụng ngôn ngữ Song muốn sáng tạo đến đâu, cũng cần lưu ý đến tính hợp lý, tính logic của các đôi tượng Nếu không chú ý đến nhân tô' này, người sử dụng ngôn ngữ sẽ phạm sai lầm, sẽ tạo ra những cách nói cầu kỳ, bí hiểm và "Thơ" sẽ

"phản thơ" như tác giả Trần Mạnh Hảo đã phân tích (tác phẩm

"Thơ phản Thơ" của Trần Mạnh Hảo)

Sau văn cảnh và tính logic là nhân tô" thói quen thẩm mỹ của ẩn dụ tu từ Thói quen thấm mỹ là nhârl tố chi phôi sô' lượng

30

Trang 34

ẩn dụ tu từ Dựa vào cơ chế cấu tạo ẩn clụ tu từ, ta có thể thấy một nguyên lý : Các dôi tượng nếu có được dấu hiệu giông nhau (tương dồng) nào dó, thì có thể lấy đối tượng này để biểu thị đôi tượng kia hoặc ngược lại Dựa trên nguyên lý ấy, về mặt lý thuyết: Có bao nhiêu quan hệ tương đồng sẽ có bấy nhiêu ẩn dụ

tu từ Nhưng trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, thói quen thẩm mỹ

đã khiến cho chỉ một sô" quan hệ tương đồng nào đó mới hình

thành nên ẩn dụ bởi vì "không phải mọi vật đều có thể dùng làm cái tu sức" (Arixtốt) Minh chứng cho điều này, chúng ta có thể lấy những ẩn dụ trong ca dao của dân tộc Việt

Trong ca dao có 128 từ biểu thị sự vật, hiện tượng được dùng vối tư cách ấn dụ [2; 19] Điều đáng lưu ý là những sự vật này rất gần gũi, quen thuộc với đời sông của nhân dân Việt Nam như cây đa, bến nước, con thuyền, giếng nước, mái đình v.v

Một ví dụ: Ca clao không chọn "búa", chọn "đinh" mà chọn

’’thuyền" chọn "bến" đê chỉ người ở, người đi bởi vì trong đời sông của người dân quê Việt Nam, thuyền - bến là nơi hò hẹn, là nơi gặp gỡ, chia ly rất tình, rất đẹp Thuyền lại mang đặc tính của vật luôn vận động, luôn đi xa cũng như người con trai nên chọn

"thuyền" để chỉ "anh", chọn "bến" để chỉ em - người ở lại luôn mang đợi, chò đón người đi xa trỏ về Thói quen thẩm mỹ của dân

tộc cũng thừa nhận những cách nói: "ăn quả nhố kẻ trồng cây",

Làm thân con gái chớ ăn trầu người"

(Ca dao)chứ không chấp nhận những kiểu sáng tạo ẩn dụ thiếu hợp lý hoặc không phù hợp với thói quen thẩm mỹ của dân tộc, chẳng hạn:

"Ngàn mày tràng giang buồn muôn đời" hoặc

" Hãy bóp cô những nương cằn bãi cọc Bắt nhả ra ngàn tấn lương vàng."

d) Tác dụng của ân dụ tu t ừ

Ẩn dụ tu từ là một phương tiện ngôn ngữ mềm dẻo, uyển chuyển rất phù hợp với đặc điểm giao tiếp của người Việt: kín đáo, nhẹ nhàng, lấy gần để nói xa, ví von, lời ít mà ý nhiều

Ẩn dụ tu từ rất hàm súc, sâu sắc và "hữu dư ba" Có thể nói

đó là phương tiện tu từ mang cả hai chức năng: nhận thức và biểu cảm Có thể thấy điều này qua phân tích ẩn dụ tu từ sau:

Trang 35

Cứ ngỡ hồn thơm đang tái sinh Ngôi sao ấy lặn hoá bình minh.

(Theo chân Bác - Tố Hữu) _'Ngôi sao" là ẩn dụ tu từ, biểu thị Bác Lấy "ngôi sao" dể biểu thịBác, tác giả dã phát hiện ra không phải chỉ một nét tương đồng

mà giữa "ngôi sao" và "Bác" có nhiều dấu hiệu An dụ trên đã gợi liên tương đến những dấu hiệu sau:

Ngôi sao: 1, Soi sáng cho thế gian

2, Soi dường, chỉ lối cho người đi trong đêm

3, Sao lặn sẽ mỏ ra bình minh mới

4, Biểu tượng cho niềm ước mong, hy vọng của con người.

Từ ẩn dụ "Ngôi sao", ngưòi đọc nhận thức về Bác như sau:

1, Tư tưởng của Bác góp phần soi sáng cho nhân loại

2, Bác là người chỉ lôi, dẫn dường cho cách mạng Việt Nam

3, Bác mỏ ra một thòi đại mới cho dân tộc Việt Nam

4, Bác là niềm tin, hy vọng của loài người

Có thể nói, ẩn dụ tu từ có giá trị nhận thức sâu sắc Nhưng lớn htín thế là giá trị biêu cảm của nó

Pao Lô đã nhận dinh: Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của ẩn dụ là biểu cảm Ân dụ thường tạo ra một sô" nét nghĩa mà từ dó chưa có Nét nghĩa ấy tạo nên giá trị của từ trong ngữ cảnh Chang hạn, trong ca dao, người con trai có khi dược gọi là "mận":

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

có khi được gọi là "thuyền" :

"Thuyền vể có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

có lúc được gọi là "gió":

"Gió đưa trăng rồi trăng đưa gió Trăng lặn rồi gió biết dưa ai

cũng có khi lại là "con bò gầy":

Đôi ta gặp gỡ nhau dâỹ Như con bò gầy gặp bãi cỏ non

32

Trang 36

và lúc khác lại là con bướm:

Bướm già thì bưốm có râu Thấy bông hoa nở, cúi đầu bướm châm Bưốm châm mà bưốm lại nhầm

Có bông hoa nở, ong châm mất rồi

hoặc là con nhạn:

Nhạn về biển bắc nhạn ơi Bao giờ nhạn hồi để én đợi trông

Có thể nói, người con trai có thể được gọi là bất cứ một cái

gì, nếu ở đó có một nét tương đồng mỏng manh Những "mận",

"thuyền", "bướm", "nhạn", "gió", "trăng" có nét giông nhau ở mặt chức năng và sự "vi phạm chuẩn" nhưng lại rất khác nhau

về mức độ biểu cảm Chính mức độ biểu cảm ấy làm nên đời sông của ẩn dụ trong hệ thông, làm nên sức sống' cho ẩn dụ, khiến nó luôn mới mẻ, sinh động, không bao giò nhàm chán

Mặt khác, ẩn dụ tu từ là cách lấy xa nói gần, lấy vòng nói thang, nó giúp cho người ta dễ mượn điều này đê nói điều kia cho nên có thể nói được những điều tế nhị, khó nói một cách nhã nhặn, kín đáo mà vẫn diễn đạt được đầy đủ tình cảm của mình qua cách nói đó Chẳng hạn, trong cuộc sông có khi ngưòi con gái yêu chân thành, say đắm một chàng trai nhưng rồi bị phụ tình; biết bao đau khổ trong lòng' nhưng làm gì với kẻ phụ bạc kia Cô gái mượn "nước giếng sâu" và "sợi gầu dài" mà bày tỏ lòng mình

Em tưởng nước giếng sâu, em nối sợi gàu dài

Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây

Một lời trách móc nhẹ nhàng mà sâu sắc, hiền từ mà thâm thuý, giết chết bậc "nam nhi" bạc tình bằng ngôn từ ngọt ngào và thánh thiện

Ẩn dụ tu từ - nhờ chức năng nhận thức và biểu cảm mà

giá trị biểu đạt cao Trong giao tiếp, có những tình huống thật là khó khăn, có những điều thật là khó nói, nhưng bằng ẩn dụ có thể nói được và có thể nói một cách rất hay, rất kín đáo cái diều khó nói ấy Vấn đề là người sử dụng ngôn từ có biết sử dụng ẩn

dụ hay không Trong' "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã xử lý một tình huống như vậy, đó là phần nói về tình yêu của đôi "tài tử - giai nhân" Kim - Kiệu Sau khi đính ước và thề nguyền, tình yêu của họ đến độ:

Trang 37

" Sóng tình dường đã xiêu xiêu Xem trong âu yếm có chiều lả lơi".

Thúy Kiều đã có một đoạn thoại giúp Kim Trọng kìm chê được cái "sóng tình" kia; trước hết nàng nói về mình bằng các ẩn

dụ tu từ :

" Vẻ chi một đoá yêu đào

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh"

và dùng câu chuyện tình "Thôi Trương" để thức tỉnh người yêu:

" Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương

Mây mưa đánh đô đá vàng

Quá chiểu nên đã chán chường yến anh

Trong khi chắp cánh liền cành

ra những ẩn dụ mới bằng tài năng sử dụng ngôn ngữ kỳ lạ của mình

Nói tóm lại, ngôn ngữ học đã chỉ rõ: ẩn dụ tu từ là một

trong những phương tiện tu từ ngữ nghĩa có những đặc trưng'

riêng biệt Nó chính là tên gọi thứ hai mang tính hình tượng và

có giá trị biểu cảm của sự vật An dụ tu từ không phải là phương' tiện ngôn ngữ có sẵn Nó được lâm thời tạo ra trong một ngữ cảnh cụ thể với một hoàn cánh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp cụ thể Cơ chế ngôn ngữ để tạo nên ẩn dụ tu từ chính là nét tương đồng giữa các đốì tượng được phát hiện nhờ quan hệ liên tưởng trong ngôn ngữ Cơ chế đó có thể được nguyên

lý hoá như sau: Có hai đôi tượng A và B Nếu phát hiện được dấu hiệu giống nhau (tương đồng) nào đó giữa hai đối tượng thì có thể lấy A mà biểu thị B hoặc ngược lại

34

Trang 38

Trong thực tế, các sự vật có thể giông nhau ở nhiều phương diện và vì vậy, trên lý thuyết, có bao nhiêu quan hệ tương đồng

sẽ có bấy nhiêu ẩn dụ tu từ Tuy vậy, trong sử clụng ngôn ngữ, nhờ tài năng của mình, người sử dụng ngôn ngữ sẽ chỉ chọn một sô" an dụ có giá trị biểu đạt cao bởi vì như Arixtôt đã nhận định:

"Không phải mọi vật đều có thê dùng làm cái tu sức" Văn cảnh tính lô gíc và thói quen thẩm mỹ có tác dụng hạn chế số’ lượng ẩn clụ tu từ

An tlụ tu từ khác so sánh tu từ ở chỗ: nó là sự dôi chiếu ngầm giữa hai đối tượng cho nên đối tượng được biểu đạt được ẩn

di, không hiện diện trong' văn cảnh Ân dụ tu từ cũng khác hoán

dụ tu từ ở cơ chế chuyển nghĩa Nếu ẩn dụ tu từ dựa trên quan

hệ liên tưởng nét tương đồng thì hoán dụ tu từ dược tạo ra trên

cơ sở quan hệ liên tưởng nét tương' cận (gần nhau) giữa các đôi tượng Nếu so sánh tu từ có giá trị nhận thức thì ẩn dụ tu từ, ngoài giá trị nhận thức còn có giá trị biếu cảm và giá trị hình tượng

Trong các phương tiện tu từ ngữ nghĩa, ngoài dạng ẩn dụ toàn phần [15; 68] còn có một dạng ẩn dụ gọi là ẩn dụ bộ phận hay ẩn dụ bổ sung hoặc an dụ chuyển đôi cảm giác, ở đó có sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thúc cũng như trong diễn đạt bằng ngôn ngữ [9b; 114] Có thể coi

đó là một biến thê của ẩn dụ tu từ

Ẩn dụ tu từ thể hiện phong cách sáng tạo nghệ thuật của tác giả, của thời đại và của dân tộc

1.4 ẨN DU TƯ TỪ DƯỔI ẢNH SÁNG CỬA THI PHÁP HOC.

1.4.1 Thi pháp h oc;

Trong hệ thông các khoa học về văn học thì Thi pháp học là

bộ môn còn non trẻ Thi pháp học là khoa học về hình thức nghệ thuật, có nhiệm vụ phát hiện ra những quy luật chi phối cái thế giới hết sức đa dạng và phong phú các hiện tượng nghệ thuật

[12; 303].

Thi pháp học thực chất là khoa học nghiên cứu về thơ, về câu thơ, về những biến hoá từ vị trong thơ, về các từ - giá trị và các từ thơ [ dẫn theo 18; 139], Thi pháp học chỉ ra tính gián tiếp trong' ngôn từ thơ tức là chỉ ra sự khác biệt‘giữa ngôn ngữ thông

Trang 39

thưòng và ngôn ngữ thơ, chỉ ra một yếu tô" của "tính thơ", một phép tắc, một cách làm của nhà thơ [18; 94] Chú ý mối quan hệ

giữa cái tôi trữ tình và hình thức thơ trữ tình ỏ cấp độ hình thức

là chú ý tới phương diện Thi pháp học chủ thể, Thi pháp học tư duy và Thi pháp học chất liệu

1.4.2 Ẩn du tu từ dưởi ánh sáng của Thi pháp h oc.

Thi pháp học quan niệm ẩn dụ tu từ là một yếu tô" chất liệu quan trọng để thể hiện lòi nói bên trong, lòi nói tâm tư tức là tầng hàm ngôn của lời nói Bởi vì trong thể loại trữ tình, một nguyên tắc cơ bản là phân biệt lời nói bên ngoài với lời nói bên trong, lời nói văn bản với lời nói tâm tư Đây là hai tầng hiên ngôn và hàm ngôn của lời nói Lời nói bên trong, lời nói tâm tư mới đích thực ]à tiếng nói trữ tình Thế giới trữ tình là thê giới tập trung những điều sâu kín nhất, tinh vi nhất, tế nhị nhất nên không thể trình bày thẳng thắn rõ ràng ma phải tìm đường đến

sự xa xôi, bóng gió, ngụ ý, nói vòng, lắt léo, hàm ẩn và đa nghĩa

Ẩn dụ tu từ là một phương tiện ngôn từ đáp ứng được những yêu cầu cần có đê diễn đạt thế giới trữ tình Là phương tiện hình tượng hoá mọi sự vật, đối tượng từ những' tư tưởng, tâm

lý, xúc cảm đến hiện thực được miêu tả,

Ẩn dụ là phương tiện ngữ nghĩa có tính hình tượng và biểu cảm, song nó là kết quả của tư duy sáng tạo của nhà thơ, vì vậy

nó thể hiện một quan niệm về thế giới của tác giả Điều đó lý giải

vì sao ẩn dụ của thơ cổ điển không giống ẩn dụ của thơ lãng mạn,

ẩn dụ trong văn chương bác học không giống ẩn dụ trong thơ ca dân gian

*

36

Trang 40

CHƯƠNG 2

ẨN DỤ TU TỪ TRONG CA DAO VÀ "TRUYỆN KIỂU"

2.1: PHÉP ẨN DU TU TỬ TRONG CA DAO VIẺT NAM.

Có thể nói không có lĩnh vực nào của đời sống con người lại không có tiếng nói của ca dao Nhân dân đã sáng tạo ra ca dao và

ca dao theo dân trong suốt lịch sử trường' kỳ đấu tranh và xây dựng đất nước Ca dao bao quát toàn bộ đời sống của nhân dân -

nó là một phần quan trọng của bộ mặt dân tộc - một mảng bách khoa thư của cuộc sống dân tộc

Do tính chất tự biên, tự tác của người dân lao động cho nên ngôn ngữ trong ca dao chủ yếu là ngôn ngữ hàng ngày, ngôn ngủ của nhân dân Vì vậy trong ca dao có một thuận lợi cơ bản là tinh thần làm chủ ngôn ngữ dân tộc, làm chủ một cách tự nhiên, thoải mái, khoáng đạt, không có sự câu thúc nào về mặt tri thức, học thuật do luật lệ hay khuynh hướng, thể loại đòi hỏi như trong các loại thơ của văn chương bác học

Ca dao là sáng tác lự phát nên nó có tính vô đanh, vô chủ vì thê không thế tìm thấy cá tính của người sáng tác như trong văn chương bác học Ca dao được làm theo mô thức, khuôn khô có sẵn cho nên tính mô thức, tính biến thể, tính liên văn bản về mặt thi pháp là đặc điểm đầu tiên của ca dao về phương diện hình thức ngôn từ

Một đặc điểm nổi bật của ca (lao là tính sáng tạo Sáng tạo trước hết ở đôi tượng phản ánh Có thể nói trong' ca dao có từ dôi tượng bình thường nhất (tên những dôi tượng phức tạp nhất, từ đối tượng cụ thể đến những đối tượng trừu tượng trong lĩnh vực

tư tưởng và tình càm của con người Triết lý dân gian trong ca dao vừa thiết thực, vừa cao sâu Mặt khác, ca dao củng' chứa đựng một ý thức thẩm mỹ rất cla dạng, đa dạng trong cách nhìn nhận đánh giá, da dạng về cảm xúc của con người và đa dạng cả

về " Thi pháp mờ tương" Trình độ sáng' tạo này còn thể hiện ỏ hệ thông tạo nghĩa; trong ca dao, các từ, cụm từ, ngữ đoạn đều là những hình thô từ ngữ kiêm những phép chuyển nghĩa dạt được tính thơ cao Có thế nói ca dao là một kho tàng tu từ mà trong đó nơi bậl nhất Jà ân (lụ, cùng các cách tư từ ngữ nghĩa khác như:

So sánh, phúng dụ vả ngoa clụ

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w