Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn các bài viết, các công trình nghiên cứu mới chí đề cập tới việc làm trong sáng liếng Việt qua việc hạn chế sử dụng từ nước ngoài, cá
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ
LƯƠNG QUANG v ũ
KHẢO SÁT CÁCH DÙNG TỪ NGỮ
CỦA THANH THIẾU NIÊN HIỆN NAY
(qua báo Hoa Học Trò 2000 -2002)
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đ ế hoàn thành luận văn này, ngoài sự c ố gắng, nỗ lực của bán thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Đỗ Việt Hùng, cùng với sự chí bảo quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học X ã hội và Nhản văn.
Qua đây, tôi xin bầy tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cấc thầy giáo, cô giáo, gia đình, đồnẹ nghiệp, bè bạn đã quan tâm giúp đỡ trong suốt những năm học vừa qua.
LƯƠNG QUANG v ũ
Trang 3Mục lục
T ran g Những kí hiệu và chữ viết tắt trong luận văn
P h ần m ỏ đ ầ u 5
1 Tính cấp thiết của đề tà i 5
2 Ý nghĩa của đề tà i 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứ u 9
4 Đôi tượng và ngữ liệu nghiên cứ u 9
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứ u 10
6 Phương pháp nghiên cứ u 11
7 Cẩu trúc luận văn 12
( hương 1: Co sở lí luận 13
1.1 Chuẩn ngôn ngữ 13
1.2 N gôn ngữ và lời n ó i 17
1.3 Từ - các mặt của từ 19
1.4 Sự lệch chuẩn của từ 26
1.5 Tiểu k ết 30
C h u ô n g 2: Đ ặc đ iểm sử d ụ n g tù ngũ tiên g nước ngoài tron g lòi nói củ a th a n h th iếu n iê n 32
2.1 Mượn nguyên dạng các từ ngữ tiếng nước n g o à i 32
2.2 Sử d ụ n g các từ ngũ' tiếng nước ngoài dưới hình thức t ắ t 41
2.3 Biến đổi dạng thức từ trên cơ sở vay mượn nguyên d ạ n g 43
2 4 Các từ vay mượn được kếl hợp lại với nhau m ans nghĩa tiếng V iệt và theo lối nói của người V iệt 46
Trang 42.5 Tạo từ n g ữ dựa trên việc ghép yếu tố tiếng Anh với yếu tố
t i ế n g V i ệ t 49
2 6 Cách phiên âm từ ngữ vay m ượn 56
2.7 Tiểu k ết 63
C h ư ơ n g 3: Đ ặc đ iếm sử d ụ n g từ ngũ tiến g V iệt tron g lời nói của th an h th iếu n iê n 66
3.1 Sư biến đổi hình thức của từ n s ữ 66
3.2 Thay đổi phạm vi sử dụng của từ n g ữ 89
3.3 Biến đổi ý nghĩa của từ ngữ 95
3.4 Tiểu k ết 129
K ết lu ậ n 132
Tài liệu tham k h ảo 137
Trang 5NHŨNG KÍ HIỆU VÀ CH Ữ VIẾT TẮT T R O N G LUẬN VĂN
Trang 6PHẦN MỞ ĐẨƯ
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
N gôn ngữ là một h ệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
ban và quan trọng nhất của con người Trong giao tiếp diễn ra sự trao đổi thông tin, sự trao đổi nhận thức, tư tưởng tình cảm và sự bày tỏ mối quan hệ,
sự ứng xử, thái độ của con người với con người N ẹôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hoá và lịch sử từ thế
hệ này sang thế hệ khác Khi tiến hành giao tiếp con người dùng ngôn ngữ để thể hiện tư tướng, tình cảm của mình
Ngôn ngữ phát triển từ từ, liên tục, không đột biến Sự phát triển của
ngôn ngũ' dựa trên sự kế thừa, cải tiến và phát huy những yếu tố căn bàn, tích cực của ngôn ngữ hiện có Và sự phát triển của ngôn ngữ thường được thế hiện
rõ ràng, dễ thấy nhất ớ lĩnh vực từ vựng So với ngữ âm và ngữ pháp thì lừ vựng là hộ phận biến đổi nhiều và nhanh hơn cả vì nó trực tiếp phan ánh đời sống xã hội Hệ thống từ vựng khác với các hệ thống ngũ' âm, ngữ pháp ở mấy đặc điểm cơ bản là: nó là một hệ thống mở - gần như thường xuyên phát triển, tiếp thu nhũng yếu tố mới, số lượng đơn vị tạo thành hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ văn hoá là một số lượng rất lớn, chỉ có một bộ phận từ vựng cơ hán mới thật bền vững, hệ thống này là phần chính tạo nên sự giàu có, tinh tế của một ngôn ngũ' Dựa trên cái nền là những từ gốc, từ vựng cơ ban, những từ mới liên tục được sán sinh Sự phát triển đó của từ được bắt nguồn từ sự giống nhau hoặc gần nhau của những cái được biểu hiện hoặc cái biểu hiện
Nhìn một cách tổng thể, trong sự phái triển của ngôn ngũ' có vai trò củanhững nhân tố khách quan và chủ quan Ớ nhân tố khách quan đổ là điều kiện
5
Trang 7kinh tế, vãn hoá, chính trị của xã hội và sự đối lập, mâu thuần giữa các yếu
tố trong niĩôn ngừ ơ nhân lố chủ quan là chính sách ngôn ngừ Hai nhan lố này tác động, chi phối lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng Chính vì vậy nắm vững quy luật phát triển của xã hội nói chung và của ncôn ngữ nói riêng, qua đó đề ra được những chính sách ngôn n sữ đúng đắn là một việc làm thiết veu cho công tác phát triển ngôn ngữ
Đ ất nước ta đã mở cửa được hơn mười năm nay trong xu thế hội nhập
đế cù n s phát triển Cùng với sự phát Iricn mạnh mẽ về kinh tế vãn hoá chính trị nói chung, tiếng Việt cũng có sự biến đổi và phát triển Sự phát triển này
ớ tiến<2 Viêt được thể hiên rõ nét nhất ở lĩnh vực từ vựng với sự xuất hiên của các lừ mới N hững yếu tố tù' ngữ mới bổ sung thêm cho vốn lừ vựng hiện cỏ và làm tàng khá năng diễn đạt trong giao tiếp giữa người với người Ví dụ trong thời gian qua nhiều từ ngữ mới đã xuất hiện phản ánh sự biến đổi của xã hội như: sự du nhập của những khái niệm mới, sự vật mới kco theo tên gọi củachíinsỉ (siêu thị, tiếp thị ); các thuật ngũ' chuyên ngành (ổ cứim, thư điệntủ' ); các từ ngữ diễn đạt các hành dông, tư tưởng, tình cảm của con người mội cách chính xác tinh tế hơn (lều phều, lí lá c ) Tuv nhiên, tron LI quá trình sáng tạo và sử clụng từ mới, bên cạnh việc tạo ra các từ ngũ' mới m an s nội duns: tích cực, làm phong phú hơn vốn từ ngữ của tiếns Việt thì cìínc có không ít những từ được tạo ra m ans sắc thái liêu cực Song song với điều đó là
sự lạm dụng các từ ngữ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt Chính vì (hố vân để
“ íĩiữ gìn sư tron a sá nu của tiến ạ Viêl” mà cố Thủ tưóìm Phạm Vãn Đổniỉ đã ihay mặt Đ áng và N hà nước Việt Nam phát động từ hồi đầu m ùa xuán năm i960 cang cán được quan tâm hơn Iron‘4 tình hình hiện nay Nhiều cuộc hội tháo đã được mở ra cùng những bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành cho thấy những hiện trạng rất rõ về tình hình phát Iriển của tiếng Việi Nuoài
ra cũne đã có một số công trình nghiên cứu về sự biến đổi của từ vựng tiến Lí
Việt hiện đại như: “Từ vưng ngữ nghĩa ticn.il V iệt” (Đỗ Hữu Châu), “Từ vựng CT CT c ? í - ' /1 c r
liếng Việt hiện đại” (Nguyễn Thiện Giáp), 'T ừ và vốn lừ tiếnc Việi hiện dại”
Trang 8(Nguyễn Văn T u) Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn các bài viết, các công trình nghiên cứu mới chí đề cập tới việc làm trong sáng liếng Việt qua việc hạn chế sử dụng từ nước ngoài, cách phiên âm, việc viết tắt
hoặc đề cập tới sự biến đổi ngữ nghĩa của từng từ riêng lẻ m à chưa có được sự
khái quát chung, chưa chú ý nhiều đến chính cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt dưới các dạng thức lệch chuẩn trong các phương thức tạo từ ngữ mang tính biếu cảm Nhìn một cách tổng thể, những tác phẩm trên mới chí nghiên cứu về sự biến đổi của từ ngữ tiếng Việt trong hệ thống cấu trúc ngôn ngữ mà chưa xem xét nó nhiều trong m ối quan hệ với hoạt động hành chức, hoặc nếu
có nghiên cứu sự biến đổi và phát triển của từ ngữ trong sử dụng thì lại chưa
có dược sự khái quát chung
Dựa trên các tài liệu thu thập, nghiên cứu được và qua các khảo sát về việc sử dụng từ ngữ ở các thành phần, nhóm xã hội, chúng tôi thấy rằng nhu cầu, sự sáng tạo trong việc dùng từ ngữ của thanh thiếu niên là rất lớn (M à nói đến thanh thiếu niên là nói đến học sinh - sinh viên, vì trong nhóm thanh thiếu niên số lượng học sinh - sinh viên chiếm một tỉ lệ rất lớn và đó cũng là
bộ phận cơ bản để sáng tạo và sử dụng từ ngữ mới, nhũng người này mang những nét đặc trưng nhất của thanh thiếu niên Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cụm từ “học sinh - sinh viên” mang ý nghĩa như nghĩa của cụm từ “thanh thiếu niên”) Đ ây là nhóm người có khả năng tiếp thu, nhận
thức, nắm bắt và sáng tạo cái mới rất nhanh dù có thể cái mới đổ là tốt hay chưa tốt, đã được khẳng định hay còn đang trong quá trình sàng lọc Họ là những chủ nhân tương lai của đất nước Vì thế nếu khôns có những định hướng đúng, những biện pháp để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giúp học sinh - sinh viên có khả năng sử dụng tốt ngôn ngữ tiếng Việt thì rất có thể đất nước ta sẽ có một thế hệ con người mới trong quá trình giao tiếp của mình
có sự lạm dụng từ ngữ nước ngoài, sử dụng những yếu tố ngôn ngữ không lành mạnh, tối nghĩa để diễn đạt ý của mình trong giao tiếp
7
Trang 9Trong bài viết lần thứ ba của mình cố Thú tướng Pham Văn Đồng đã0 . 0
nêu thực trạng sứ dụng tiếng Việt hiện nay trong nhà trường: “H ọc sinh, sinh viên nói, viết tiếng V iệt còn sai nhiều về chính tả, về cách dùng từ ngữ, về ngữ pháp” Và tác giả cũng đưa ra giải pháp để khắc phục tình trạng này là “Chấn chính việc dạy và học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông và đại học, cũng như việc sử dụng tiếng V iệt trên sách báo, truyền thanh, truyền hình, thônu tin điện tủ'”[13; 5, 6].
Xuất phát từ những nguyên do trên, chúng tôi tiến hành việc khảo sát về
cách sứ dụng từ ngữ lệch chuẩn của học sinh - sinh viên hiện nay thông qua háo Hoa Học Trò Từ đó để tìm ra được những mặt tích cực cũng như liêu cực
trong cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên hiện nay Mặt khác, qua nghiên cứu này chúng tôi cũng có m ục đích làm sáng rõ hơn những vấn đề lí thuyết về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và vị trí của phép tu từ trong việc sáng tạo từ ngữ.
2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Chuẩn mực, nhìn chung, là cái tốt, cái đẹp, cái hay, là cái được cộng đồng chấp nhận Nhưng không phái cái gì lệch chuẩn cũng là không hay, không tốt, không đẹp vì có thể hiện tại nó không chuẩn, không chính thức
nhưng qua thời gian có thể nó sẽ là chuẩn Ngôn ngữ cũng vậy Hiện nay, ở
Việt N am , việc tìm hiểu ngôn ngữ từ cơ ch ế vận hành của nổ là một vấn đề được nhiều người quan tâm Có nhiều công trình níihiên cứu về sự hành chức cua ngôn ngữ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về việc sử dụng từ ngữ
cua giới học sinh - sinh viên còn lẻ tẻ Nghiên cứu về cách sử dụng từ ngũ' lệch
chuán của nhóm xã hội này lại càng không nhiều Vì thế, thóim qua việc kháo
sát, nghiên cứu về việc sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên dưới íĩỏc độ
lệch chuẩn, chúng tôi m uốn thử xác định cơ cấu, tìm hiểu các đặc điểm cấu
lạo, ngữ nghĩa, chức năng của nó, từ đó góp phần làm minh xác thêm những
lien đề lí luận đã có và bổ sung những điểm còn chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Trang 10Luận văn này sẽ cố gắng góp phán làm sáng rõ hơn những vấn đề lí luận về chức năng giao tiếp của ngôn nsữ, các hành vi ngôn ngữ của thanh thiếu niên
hiện nay nói chung và giới học sinh - sinh viên nói riêng, đặc trưng tâm lí của iiiới trẻ được thê hiện trong ngôn ngữ, vị trí của ngôn ngữ học sinh - sinh viên
trên con đường phát triển ngôn ngũ' nói chung, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Các kết quả nghiên cứu sẽ được ứng dụng trong một số lĩnh vực sau:
- Trong biên soạn từ điển tiếng Việt ở dạng phong cách cĩinc như từ
m ới
- Trong nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật.
- Trong nghiên cứu từ khẩu ngữ
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ứ u
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng của những từ ngữ lệch chuẩn được sử dụng trong ngôn ngữ
của học sinh - sinh viên Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi xác định các
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hoá các phương thức cấu tạo từ, các phương thức tu từ từ vựng.
- Cung cấp m ột cái nhìn toàn cảnh về hệ thống từ vựng lệch chuẩn như dấu hiệu về đặc điểm cấu tạo, chức năng trong ngôn ngữ của học sinh - sinh viên Qua đó xác định những mặt tốt cần phát huy và những mặt còn tổn tại cán hạn chế, khắc phục trong việc sử dụng ngôn ngữ của nhóm này.
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ NGỮ LIỆU NGHIÊN c ứ u
Đ ỏi tượng và ngữ liệu nghiên cứu:
Đ ối tượng và tài liệu nghiên cứu của luận văn là các đơn vị từ vựng lệch
chuẩn trên 156 số báo Hoa Học Trò của các năm 2000, 2001, 2002 sỏ' dĩ
chúng tôi chọn các số báo của ba năm này vì:
9
Trang 11- Đây là những năm đầu tiên của thế kí mới Đất nước đã có trên mười năm đổi mới và hội nhập quốc tế, những yếu tố ngoại lai vào tiếng Việt không còn ớ trong thời kì đầu mới chập chững mà đã có sự ổn định.
- Từ năm 2 0 0 0 trở về trước việc nghiên cứu về từ vựng đã có quy m ô, hệ
thống với nhiều loại từ điển, đại từ điển về cá từ toàn dân, từ địa phương, từ
láy Đặc biệt còn có cả một quyển “Từ điển từ mới tiếng V iệt” của Viện Ngôn ngũ' học tập hợp những từ mới của tiếng Việt trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến 2000
Phạm vi thu thập ngữ liệu nghiên cứu:
N gữ liệu của luận văn được thu thập từ tất cả các mục, chuyên mục trên
156 số báo Hoa H ọc Trò (2 0 0 0 - 2002) trừ thơ Khi thống kê các từ ngữ vay
mượn được sử dụng trong ngôn ngữ của học sinh - sinh viên chúng tôi không khảo sát chuyên mục “Vườn A nh” - nơi rèn luyện kĩ năng tiếng Anh cho nsười đọc Có một số chuyên mục có các bài viết không hoàn toàn là của học sinh - sinh viên m à là của nhũng người trong ban biên tập báo, nhưng vì hầu hết những người này đều nằm trong độ tuổi của thanh thiếu niên và cũng viết
và biên tập dựa trên tiêu chí phù hợp với ngôn ngữ của học sinh - sinh viên, do
vậy, chúng tôi vẫn khảo sát cả những từ ngữ lệch chuẩn ở những bài viết này
Các đơn vị từ vựng được chúng tôi Ihu thập khi chúng được sử dụng một cách đặc biệt trong các bài viết dù tác giả là người thuộc mọi vùnc địa lí trên đất nước Việt N am và nói bất kì một phương ngữ nào
5 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
Luận văn tập trung nghiên cứu lớp từ vựng lệch chuẩn trong cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên Đó là lớp từ vựng tập trung rõ nét nhất những dấu hiệu đặc trưng cho phong cách của học sinh - sinh viên Chí cần nói tới những từ ngữ này là khách thể giao tiếp đã có thể biết được chủ thể giao tiếp thuộc nhóm xã hội nào
Trang 126 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú u
- Phương pháp chung:
Trước khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi xác định quá trình tâm lí của nhận thức ngôn ngữ không phái ở nhóm xã hội nào cũng như nhổm xã hội nào Bới vì các nhân tố tâm lí, sinh lí có sự phát triển khác nhau ở những lứa tuổi, nhóm xã hội khác nhau Chính VI thế việc phân tích, tổng hợp đê đưa ra
những nhận xét về hiện tượng sử dụng từ ngữ lệch chuẩn ở học sinh - sinh viên
còn phải đặc biệt dựa trên các đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi này Việc nghiên cứu dựa trên sự vận dụng tổng hợp những hiểu biết cá về ngôn ngữ học, giáo dục học và tâm lí học
Tiếp theo, trên cơ sở những kiến thức đã học và tài liệu chuyên ngành ngôn ngừ học hiện có, chúng tôi đọc, đối chiếu, phân tích đê tìm ra những cách sử dụng từ ngữ lệch chuẩn
Qua các bước chính đó, chúng tôi đi vào các bước cụ thể.
- Phương pháp cụ thể:
Phương pháp thống kê: Luận văn thống kê các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn đặc trung cho phong cách của học sinh sinh viên qua 156 số báo Với phương pháp này, luận văn hướng tới tìm hiểu dung lượng các đơn vị từ ngữ lệch
chuẩn và tần số sử dụng của mỗi loại trong tổng số đơn vị từ ngữ lệch chuẩn
thống kê được, thông qua đó để thấy được vai trò, chức năng của những từ ngữ lệch chuẩn trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Phương pháp miêu tả: Luận văn sử dụng phương pháp này để phần nào miêu ta được hệ thống từ ngữ lệch chuẩn với tất cá sự phong phú, đa dạng và phức tạp của nó Các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn sẽ được nhóm vào thành các ticu hệ thống với những đặc điểm chung và riêng nhất định
Phương pháp phân tích: Mọi đơn vị ngôn ngữ đều có cấu trúc tầng bậc
mà mỗi bậc đều do những thành tố trực tiếp tạo thành Do vậy, việc phân tích các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn dưới góc độ ngữ nghĩa là cần thiết Ó luận án này chúng lôi chia các đơn vị lệch chuẩn ra thành hai dạng là từ và tổ hợp từ Bôn
1 1
Trang 13cạnh đỏ, chúng tôi cũng phân tích sự lệch chuẩn của từ ngữ cá về mặt hình thức (âm và cách viết) Vì để diễn đạt một cách tối đa ngôn ngũ' của học sinh - sinh viên, báo Hoa Học Trò đã có những cách thể hiện độc đáo, cuốn hút Cá hai sự phân tích về ngữ nghĩa và hình thức cua đơn vị từ ngữ đều nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt của từ ngữ lệch chuẩn do cách sử dụng lệch chuẩn của học sinh - sinh viên mang lại với các đơn vị từ vựng khác trong tiếng Việt, đặc biệt là ó' phương diện biểu cảm.
Phương pháp đối chiếu: Trên cơ sở cố gắng truy neuyên về nguồn gốc cùa từ, chúng tôi so sánh, đối chiếu để tìm hiểu những nghĩa gốc của từ qua các loại từ điển toàn dân, từ điển địa phương, từ điển từ láy, đồng nghĩa - trái nghĩa thông dụng
Qua thống kê, ìniêu tả, so sánh, đối chiếu, phân tích chúng tôi tổng hợp lại để từ đó có thê chỉ ra những yếu tố tích cực lẫn các mặt tiêu cực trong cách
dùng và sáng tạo từ của giới học sinh - sinh viên.
Việc trích dẫn các ví dụ, chúng tôi tuân theo nguyên tắc: lấy vừa đủ ngũ'
canh đế người đọc có thê hiểu được chứ không căn cứ theo hình thức câu hay
đoạn văn; sao chép theo đúng nguyên bán (kể cả sai chính tả hay viết tắt )
7 CÂU TRÚC LUẬN VĂN
N goài phần M ở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đạc điểm sử dụng từ ngữ tiếng nước ngoài trong lời nói của thanh thiếu niên (học sinh - sinh viên)
Chương 3: Đ ặc điểm sử dụng từ ngữ tiếng Việt trong lời nói của thanh thiếu niên (học sinh - sinh viên).
Trang 14CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÍ LUẬN
1.1 CHUẨN NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ không tồn tại một cách tự phát, vô tận, ai m uốn khai thác thế nào thì tuỳ, m à ngôn ngữ được con người khai thác trong sự tôn trọng và hướng tới tính chuẩn mực Vậy khái niệm chuẩn trong ngôn ngũ' là như thế nào? Về vấn đề này đã có nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nói tới
YU X Xtêpanov khi nói về sự xuất hiện khái niệm chuẩn mực trong nẹôn ngũ' đã cho rằng: “Tiền đề của chuẩn mực £Ịồm ba khái niệm cơ bản: khá nàng biến đổi, lý tưởng, truyền thống.” [74, 348] Khả năng biến đổi xuất phát
từ tính đa dạng và khả năng biến đổi không ngừng của ngôn ngữ khiến con người luôn luôn đứng trước một tình trạng phải lựa chọn: “Cái gì tốt hơn? Cái
gì cần phai để lại và cái gì cần phủi vút bỏ” Quan niệm về lí tưởng là cơ sở của sự lựa chọn và vứt bỏ Truyền thống sẽ củng cố quan niệm về lí tưởns Chuẩn mực đòi hỏi không chỉ là lựa chọn và giữ lại cái đã được lựa chọn mà còn là huỷ bỏ cái đã vút đi Khi lựa chọn dạng thức ngôn ngữ, mỗi ne ười dựa vào những quy tắc nhất định m à người ấy đã học Những quy tắc được truyền đạt Irons quá trình học tập tạo thành truyền thống, vì vậy chuẩn mực bao giò' cìínẹ có tính truyền thống Quy lắc cơ bán tron2 lựa chọn là phái phân biệt
’ đúng1' và “khône đúng” N hữns khái niệm này bao giờ cũng có tính truyền thống nhưng chúng chỉ có thể xuấl hiện trên cơ sở của sự đa dạnẹ được phát triển, sự phong phú của bản thân ngôn ngữ
Trong “Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương” IU.V.Rozdextvenxki dưa ra quan niệm của mình về việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong xây dựng chuẩn dựa trên các lí do cơ bản là:
13
Trang 15- Đơn vị ngôn ngữ được chọn phải được mọi người chấp nhận, có giá trị
văn hoá, được mọi người sử điinu.
- Đơn vị ngôn ngữ có triển vọng, nghĩa là được đánh giá có tính sử dụng
irons tương lai, được xác định bởi tính thuận tiện như các đoìi vị của phươna
liện giao tiếp.
- Đơn vị ngôn ngữ có tính chất hệ thống: đơn vị đó phải "dề d à n s ” nhập
vào hệ thống ngôn ngữ Tiêu chí cuối cùng - là tiêu chí rất quan trọng, nó xác định được sức sống cho đơn vị đó tro nu lương lai Một hệ ihốim ngôn ngữ tốt
phải có số lượng tối thiểu các quy tắc và ngoại lệ.
- Có đánh giá chủ quan về khả năng biểu nghĩa và m ĩ học của yếu tố
được chọn Đây là yêu cầu đối với bản thân nhà tạo chuẩn [48, 300]
John Lyons trong cuốn “Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết” lại không
dùng khái niệm “chuẩn ngôn ngữ” mà ông cho ràng trong ngôn nu lì “ Vấn đề
dầu tiên phải bàn là tính “trong sáng” và tính “đúng” Hiển nhiên là không có những tiêu chuẩn tuyệt đối về tính “trong sáng” và tính “đúng” trong ngôn ngữ và những từ ngữ như thế chí có thể được giúi thích trong mối quan hệ với một tiêu chuẩn đã chọn trước.” [36]
Nhìn chung, trên thế giới hình thành và phát triển hai quan điểm chính
về chuẩn ngôn ngữ:
- Chuẩn ngôn ngữ là những bó buộc m à trong xã hội mọi nụười phải luân theo; giao tiếp cứ mất dần nền nếp, do vậy, phải lập lại trật tự, phép tắc nếu không thì ngôn ngữ sẽ bị suy thoái, xã hội suy đồi
- Chuẩn ngôn ngữ là nhữnẹ lựa chọn Sự giao tiếp ngày càng phát triển
là do có những yếu tố thúc đẩy từ sự chú động lựa chọn của cá nhân Từ đó ngôn ngũ' phát triển cùng với sự phát triển của xã hội
Ó Việt Nam có thể kể tới một số định nghĩa đáng chú ý về chuẩn (chuẩn mực) ngôn ngữ như sau:
“Chuẩn mực, nói một cách khái quát, là cái đúng Đó là cái đúng có tính chấl chung, tính chất bình thường được mọi người trong mộl cóne đồnẹ
Trang 16ngôn ngữ chấp nhận, ớ một giai đoạn nhất định trong một quá trình phái Iriển lịch sử của ngôn ngữ Cái đúng ấy được xác định theo một tập hợp những quy
tắc nhái định thuộc các phạm vi phái âm, viết chữ, dùng tù' và cấu tạo từ mới,
“Chuẩn trước hết phái là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ” [ 11, 21]
Tuy giữa các ý kiến còn có điểm khác nhau nhưng đã có một số điểm chung về khái niệm chuẩn:
- Chuẩn vừa là một phạm trù ngôn ngữ, vừa là một phạm trù xã hội lịch
sứ Chuẩn là những cách diễn đạt vừa được cấu trúc ngôn ngữ cho phép, vừa được xã hội chấp nhận.
- Chuẩn có tính xã hội nhưng cũng chấp nhận tính cá nhân trong sự sử dụng ngôn ngữ Chuẩn là sự khế ước, là truyền thống nhưng cũng khôns loại trừ sự sáng tạo.
- Sự chuẩn mực của ngôn ngữ có thể thay đổi theo thời gian và tuỳ
thuộc vào điều kiện của từng xã hội cụ thể Sự chuẩn mực này vừa có tính kế
15
Trang 17thừa vừa có tính phát triển K hông thể lấy cái chuẩn của quá khứ để đánh giá, xem xét cái chuẩn của hiện tại.
N gôn ngữ biến đổi không chi trong cáu trúc nội tại mà cả trong việc con người sử dụng ngôn ngữ Do đó chúng ta luôn đứng trước vấn đề chuẩn và không chuẩn Nhìn m ột cách chung nhất chuẩn ngôn ngữ được hiểu một cách đơn gián: là những gì được xác nhận trong thực tế sử dụng ở một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển của lịch sử ngôn ngữ Như vậy, chuẩn nsôn ngữ bao gồm hai tính chất quan trọng iè tính cộng đồng (được cộng đồng bán ngữ chấp nhận) và tính lịch sử (tại m ột giai đoạn lịch sử nhất định) Xét tại thời điểm hiện nay, trong luận văn này, chúng tôi xác định khái niệm chuẩn mực ngôn ngữ được thể hiện ở hai mặt: chuẩn mực ngôn ngữ gắn liền với cấu trúc ngôn ngữ và chuẩn mực ngôn ngữ trong giao tiếp, ơ mặt thứ nhất thì chuẩn ngôn ngữ có tính độc lập nhất định, không phụ thuộc vào những canh huống giao tiếp cụ thể Ớ mặt thứ hai, chuẩn có tính linh hoạt, do xã hội quy định, được toàn dân chấp nhận, mang tính khế ước của cộng đồng N ó được sử dụng thích ứng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, và có thể gọi
nó là chuẩn m ực trong sử dụng Tuy vậy, dù được sử dụng thích ứng trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thì nó vẫn phải được sự chấp nhận của cả cộn g đồng chứ nó không thể chí phù hợp cho một nhóm xã hội hay một giới nào đó mà thôi V í dụ trong phong văn bản hành chính ta không thể viết:
“đồng chí này hơi bị được”, hay “lời nói của đồng chí ấy rất tinh vi con chim ri” được.
Giữa chuẩn mực ngôn ngữ gắn liền với cấu trúc ngôn ngữ và chuẩn mực ngôn ngữ trong sử dụng có nhũng điếm giao nhau, tuy vậy, chúng không hoàn toàn trùng nhau Chuẩn ngôn ngữ gắn liền với cấu trúc ngôn ngữ mang tính ổn định hơn, quy phạm hơn được coi là mẫu mực trong việc sử dụng của toàn cộng đồng và nó cũng ít biến đổi hơn Còn chuẩn mực ngôn ngữ trong sử dune vốn bị quy định bởi thói quen, luật lệ xã hội nên nó liên tục được cập nhật, phát triển - những yếu tố không còn phù hợp với quy luật, với sự phát
1 6
Trang 18triển cua xã hội dần mất đi nhường chỗ cho những yếu tố mới phù hợp hơn
cập nhại hơn đáp ứng được nhu cầu của người nói Chính vì điều đó nên việc
xác định m ột cách chính xác chuẩn mực ngôn ngữ trong sử dụng là rất khó Nhiều khi ta phải dựa vào năng lực cảm nhận của người bán ngữ để xác định Một số sự lệch chuẩn trong quá trình sử dụng ngôn ngữ của một số cá nhân, nhóm xã hội là sự đổi mới một cách cố ý một chuẩn mực ngôn ngữ đang tồn lại Sau một thời gian tiếp nhận và sàng lọc, cộng đồng xã hội sẽ chấp nhận hoặc loại bỏ cách sử dụng yếu tố ngôn ngữ đó Những yếu tố không được chấp nhận sẽ dần dần mờ nhạt đi tương ứng với tần số sử dụng ít dần cho tới khi mất hẳn còn những yếu tố được chấp nhận sẽ được coi như một chuán mực ngôn ngữ m ới và nó hoà vào với hệ thống chuẩn mực nói chung.
Có những kiểu thể hiện ngôn ngữ mà cách đây chí khoảng 20 năm không được coi là chuẩn mực nhưng bây giờ lại được coi là chuẩn như: lối viết tãt kiểu SƯ N H A SA B A , V IN A FO O D , C A SU M IN A , L E G A M E X Hay như
có những từ ngữ trước đây chí dùng ở miền Nam thì giờ đây đã được dùng phổ biến trong ngôn ngữ toàn dân như: gạch bông, bột n g ọ t
Như vậy, chuẩn ngôn ngữ chính là những quy ước hình thành một cách
tự nhiên và được đa số thành viên của cộng đồng tuân theo trong mỗi một 2,iai đoạn nhất định của lịch sử N ó là biểu hiện của sự lựa chọn có ý thức và có sự
ch ế định của cộng đồng Do đó, chuẩn ngôn ngữ thường có tính ổn định tương đối, tính lựa chọn và tính bắt buộc.
1.2 NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI
ơ đâu có yêu cầu giao tiếp, ở đó có ngôn ngữ xuất hiện Trong hoạt
đ ộn s giao tiếp, các nhân vật giao tiếp trao đổi với nhau bằng lòi nói Hoại dộng tạo lời, trước hết phụ thuộc vào nhận thức, hiểu biết, cách đánh g iá của người phát (nói, viết) về người nhận (nghe, đọc), về nội dung giao liếp, về hoàn cánh giao tiếp, phương tiện giao tiếp được sử dụng và m ục đích si ao tiếp
Vì thố mỗi lời nói phát ra đều mang những tính chất cá nhân, cụ thể cho một
17 ! ■ ■ ■ ■
\ - - J
Trang 19irường họp giao tiếp xác định Song, đế người dọc hiếu được lời nói cùa m ì n h ,
người phát phai xây dựng, Cấu tạo lời nói trên cơ sớ những đặc điểm chung
Hệ thống những đặc điểm chung có ở tất cả các lời nói của từng cá nhân tronơ một cộng đồng là ngôn ngữ Như vậy, ngôn ngữ và lời nói được phân biệt nhau ó' tính chất xã hội và tính chất cá nhân N gôn ngũ' mang tính chung cho toàn xã hội, còn lời nói mang tính cụ thể, riêng cho m ỗi cá nhân trong từne
trường hợp sử dụng cụ thể.
Khi ta sử dụng lời nói để tạo ra quan hệ xã hội, thì quan hệ xã hội này vừa là quan hệ của người nói, vừa là quan hệ của người ìmhe Như vậv ớ đây
có sự liếp xúc, có sự hiểu nhau bằng ngôn ngữ, mà thông qua ngôn ngũ' đã có
sự khế ước chung nào đó giữa đôi bên Sự khế ước đó đã m ang tính xã hội
Đ iều này có nghĩa là trong cái gọi là lời nói của cá nhân làm cho người khác hiểu được ấy đã có yếu tố chung thuộc về cá hai người N ó thuộc về phạm trù
xã hội và cũng là thuộc về phạm trù ngôn ngữ Tù' đó ta thấy ngay ràng irong bán thân lời nói mà cá nhân dùng đê giao tiếp đã ấn chứa tính xã hội rồi Lời nói về mặt truyền tin là một cơ ch ế đã có tính quy ước xã hội F de Saussure
đã nêu: Trong lời nói không có 2Ì là tập thể cả, những biếu hiện của nó đẻu có lính chất cá nhân và nhất thời Đ iều này chưa thoá đáng vì đã tách rời một cách tuyệt đối giữa cá nhân và xã hội Mọi sự vận động và phát triển của ngôn
I\ụữ đều bát nguồn từ trong lời nói, còn lời nói thì sử dụng những vật liệu là rmôn lừ Ngôn ngữ và lời nói gắn bó với nhau như hai mãt của m ôl tờ íiiấv.O O O o cr J
Lời nói không thể vượt qua được sự ngăn cách về không gian và thời
iíian, chính VI thế m à chữ viết ra đời Chữ viết là sự kí hiệu hoá của lời nổi Nó iiiúp cho sự giao tiếp của con người được mở rộng hơn, dễ dànu hơn và hơn
thế nó còn có tác dụng thúc đẩy quá trình thống nhất ngôn 11 cũ' và cliLián hoá ngôn ngữ N ếu lời nói dựa vào ấn tượng thính giác thì chữ viết dựa vào thị
si ác.
Nếu ngôn ngữ gắn bổ mộl' cách biện chứng với lời nói, thì Irons’ việc mao liỏp nu ày nay mối liên kếl giữa lời nói và chữ viết cííim là mối liên kci
Trang 20khó có thể tách rời Khi nói tới lời nói, chúng ta cần hiểu đó là sự sử dụne nsôn ngũ' ở cả dạng nói và dạng viết.
Trong luận văn này, chúng tôi kháo sát cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên thông qua hình thức thể hiện ngôn ngữ là văn bản Do đó, bên canh những đặc điểm về hình thức ngữ âm, nghĩa của từ ngữ, chúng tôi khảo sát cá những cách thê hiện đặc biệt về mặt chữ viết của học sinh - sinh viên trong các chuyên m ục của báo Hoa H ọc Trò.
1.3 T ừ - CÁC MẶT CỦA T ừ
1.3.1 Từ
Mỗi m ột ngôn ngữ muốn hoạt động được không thể không có từ Từ là chất liệu cơ bản cho sự hoạt động của một ngôn ngữ Từ những từ ta mới gắn kết chúng lại với nhau theo những nguyên tắc nhất định Hiện nay câu hỏi “từ
là g ì” vẫn chưa có lời giải đáp thống nhất “Các nhà lí thuyết đều cho từ là đơn
vị mà truyền thống xác định rất mơ hồ, vì chỉ theo nghĩa” [69, 15] Vân đề ranh giới từ là m ột vấn đề rất lớn, một vấn đề mà ngôn ngũ' học đại cương chưa giải quyếl triệt để được Theo N guyễn Thiện Giáp, cho tới nay có khoảng hon 300 định nghĩa về từ Riêng trong các nhà Việt ngữ học đã có thể kể đến một số định nghĩa về từ như sau:
"Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.” [6, 165 - 170]
“Tù' là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu Nhưng không phải bất kì từ nào cũng là một đơn vị tế bào của cú pháp
Tất cả những đặc điểm từ pháp, cú pháp quan trọng đó đều bắt nguồn từ một đặc điểm gốc mà m ọi người đều biết là từ tiếng Việt không có biến hoá hình thái.” [dt 75, 331]
19
Trang 21“Đ ê khỏi tham gia vào cuộc Iranh luận về vân đề từ là gì, chúng ta tạm thòi chấp nhận định nghĩa sau đáy về từ của tiếng Việt: tù' cua tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nnhĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng V iệt và nhỏ nhất để tạo câu.” [dt 75, 333]
"Tù' là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định.” [dt 75, 334]
“Định nghĩa từ ngữ Việt Nam N ếu la cho từ ngữ là một đơn vị mang V
nghĩa nhỏ nhất, không thế phân tích được nữa, thì ta có thế định nghĩa một lừ ngũ' Việt Nam là: m ột âm hiệu mang một ý nghĩa riêng biệt và có một phận sự imữ pháp trong câu nói: Theo định nghĩa này trong tiếng V iệt, ta có thể xác định ngay một bên là những từ đơn và bên kia là những từ phức.” [dt 75, 332]
“ Mặc dù trên những bình diện khác nhau, có những đơn vị cấu tạo từ khác nhau: hình trong từ vựng và tiếng trong ngữ pháp, nhưng lừ là giao điểm của nhiều hệ thống đơn vị Là đơn vị sẩn có, nói chung có chức năng định danh (nghĩa rộng), từ mang nhiều tính chất thực dụng trong đời sống Muốn
dẻ xác định một cách khách quan, nên dựa vào tính tách biệt của từ”, [dt 75, 3331
“Từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của lời nói, có tính độc lập”, [dt 75, 333]
“Từ là đơn vị cơ bán của cấu trúc ngôn ngữ giữa hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo bằng m ột hay nhiều đơn vị ở hàng ngang sau nó tức là hình vị và lập thành m ột khối hoàn chỉnh”, [dt 75, 332]
"Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng m ô phỏng tiếng động có khá năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thế về ý nghĩa.” [dt 75, 332]
Ớ luận văn này, chúng tôi không chủ trương đi sâu vào phân tích cách định nghĩa về từ Chúng tôi sử dụng một định nghĩa chun s nhất về từ mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã dưa ra trong các cuốn từ điển phổ thông hiện
Trang 22nay là "Từ điển tiếng V iệt” (H oàng Phê chủ biên, Viện N gôn ngũ' học, 2000)
và “Đại từ điển tiếng V iệt”(N guyễn Như Ý chủ biên, Bộ G iáo dục và đào tạo - Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam , 1999): Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để tạo (đặt) câu Định nghĩa này sẽ đưa lại những đặc điểm của từ như sau:
- Từ là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa độc lập.
- Từ là đơn vị ngôn ngữ tồn tại dưới dạng có sẩn và có cấu trúc ổn định.
- Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh, nghĩa là gọi tên hiện tượng, tính chất, trạng thái
- Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu.
Trên đây là định nghĩa về “từ” trong cấu trúc ngôn ngữ Từ những đặc điểm mang tính phổ quát này, ta có thể nhìn nhận về đặc điểm của từ khi nằm trong hoạt động sử dụng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chinh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái của từ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ Cấu trúc ngữ âm của từ là toàn bộ các hiện tượng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên từ Cấu trúc ngữ nghĩa của
từ là loàn bộ các nghĩa khác nhau của từ cũng như cấu trúc nét nghĩa trong một nghĩa của từ.
Từ trong m ỗi một ngữ cánh lại có sức sống riêng của nó Khi đó lừ không bị gò bó trong khuôn khổ ngữ âm, ngữ nghĩa, hình thái mà nó vốn được quy định là chuẩn mực ó ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, con người trực liếp bày tỏ tư tưởng, tình cảm của mình Những phương thức để diễn tả điều
họ muốn trình bày thường vô cùng linh hoạt Căn cứ vào ngữ cánh giao tiếp, na;ười ta tự do vận dụng năng lực ngôn ngữ của mình sao cho thích hợp nhất
đê dạt được m ục đích Các hành vi ngôn ngũ' mang đậm tính chất cá nhân và phán ánh m ột cách trung thực, hiệu quả về hoàn cảnh thực tế Vì thế những
21
Trang 23phươna tiện được sử dụng cũng m ans những đặc điểm riêng Đ ó là nhĩrntĩ dơn
vị ngón ngữ ó' trạng thái độns.
Phương tiện quan trọng để ngôn ngũ' luôn được sống trong trạng thái
động đó chính là từ vựng Sự lựa chọn và liên kết những đơn vị từ vựng nhất
định của chủ thể phát ngôn sẽ đưa đến một nội dung ngữ nghĩa gắn liền với hoàn cánh giao tiếp cụ thế Nội dung nẹữ dụng và nội dung ngữ nghĩa gắn liền với nhau một cách biện chứng ở mỗi một m ôi trường giao tiếp nhất định Và bèn cạnh những nghĩa vốn có, m ỗi một đơn vị từ vựng lại có thế dần dần nảy sinh nhũng nghĩa m ới thông qua người sử dụng Chúng không đơn thuần là những đơn vị tù' vựng có giá trị bất biến, có ngữ nghĩa và hình thức cố định như khi ở trong từ điển, vì trong những ngũ' cảnh, tình huống phát ngôn những tíiá trị “m ới” của từ đó có thể liên tục được cập nhật Một số đơn vị tù' vựng tuy không mang nội dung thông tin mới về ngữ nghĩa nhưng nó lại có tác dựng hiểu thái Đ ó là thái độ, tình cám của chủ thể phát ngôn, là sự đánh giá cua khách thể khi tiếp nhận phát ngôn đó Giữa các đối tượng giao tiếp luôn
co sự trao đổi về tư tưởng, tình cảm , thái độ thông qua các phát ngôn của
mình Iu.V R ozdextvenxki cho rằng “theo các quy luật tạo lập phát ngôn và diễn dạt suy nghĩ cả người nói lẫn người nghe buộc phái chủ tâm đặt mình vào
vị trí người đối thoại.”[48] Do đó, trong giao tiếp, bên cạnh chức năng thông báo, con người ta thường thể hiện ra ngôn từ của mình những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá của mình Những suy nghĩ, nhận xét, đánh siá đó được thế hiện
ra ngôn ngữ bằng các sắc thái biểu cảm khác nhau Đ ôi khi những sác thái hiếu cảm này lại m ang tới lượng thông tin có giá trị không kém so với nội dung ngữ nghĩa do các đơn vị từ vựng mang lại Có một số lượng khôns nhỏ các đơn vị từ vựng có khả năng chuyển tái nhiều thông tin ngữ dụng kèm theo các thông tin m iêu tả Chính các đơn vị từ vựng này đã góp phần thực hiện một nhiệm vụ cơ bản của ngôn ngữ trong sử dụng là đưa ra nhũng chất liệu ngôn ngữ mới N ó đã góp phần chứng minh rằng điều kiện đẩu liên để ngôn ngữ tồn tại là sự thay đổi liên tục Cùng với đó sự phát triển của níỉỏn Iiiiũ' là
Trang 24mộl loại quá Irình vận động, trong đó có sự lăng số lượng các đơn vị ngôn nnĩr
- mà tù' vựng là cơ bản, và phức tạp hoá tính chất quan hệ của chúng.
Bán thân sự vận động, phát triển của từ đã bao hàm trong nó sự hoại độns của các yếu tố nhỏ hơn Đó là ngữ nghĩa và hình thức thê hiện (ngữ âm irons nsôn ngữ nói và chữ viết trong ngôn nuữ viết) N gữ âm và chữ viết có mối quan hệ gắn khít với nhau Trong giao tiếp bằng ngôn ngũ' nói đôi khi các
vai ẹiao tiếp liên hệ lời nói ra hình ảnh của chúng dưới dạng chữ viết, đặc biệt
là khi giao tiếp bằng ngoại ngữ Còn tro nu giao tiếp bằng văn ban, có những từ ngữ khiến người ta phải liên hệ tới kiểu, cách nói của chủ thể phái ngôn.
1.3.2 H ình th ứ c th ể h iện của tù
N gôn ngữ ngay từ khi hình thành đã tồn tại dưới dạng thức âm thanh
Sau đó âm thanh được ghi lại bằng chữ viết Như vậy, chữ viết chính là kí hiệu cua âm thanh, là vỏ của âm thanh Âm thanh và chữ viết có m ối quan hệ chật chẽ với nhau giúp cho ngôn ngữ tồn tại và phát triển Khi xct về từ ta không
í hể tách rời hai yếu tố này ra khỏi nhau.
1.3.2.1 Ngữ âm
"Hình thức ngữ âm của từ là thành phần âm thanh, bao gồm các âm vù các thanh trong sự phối hợp với nhau của chúng Hình thức ngũ' âm còn là số lượng âm tiết (tiếng) có trong một từ: từ có một âm tiết (đơn tiết) hav cồm nhiều âm tiết (đa tiết)."[63, 43] "Các nhà ngôn ngữ học gọi hình thức âm
thanh của ngôn ngữ là ngữ âm "[12, 31 ] Trong tiếng V iệt, hệ thống âm thanh được nu ười Việt sử dụng để làm công cụ siao tiếp chính là hệ thống ngữ ám của tiếng V iệt, nó là phương tiện đê biểu đạt ngôn ngữ.
Hiện nay, việc xác định chuẩn mực ngữ âm của liếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm Đã có nhiều hài viết trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các côníĩ trình nghiên cứu về vấn đề này và cũns có nhiều quan điểm khác nhau:
23
Trang 25- Dựa trên cơ sớ của tiếng thú đô trong môi tương quan vói chù' viết và các tiếng địa phương khác, phù hợp với xu hướng phát triển của ngữ âm, dễ hiếu và dễ nắm bắt, giảm bót hiện tượng đồng âm.
- Lấy cách phát âm của tiếng địa phương miền Bắc làm cơ sở và hệ Ihống ngữ âm của tiếng Hà Nội là chuẩn mực.
- Lấy sự phát âm của tiếng địa phương miền Bắc mà tiêu biểu là Hà N ội làm cơ sở và bổ sung thêm những yếu lố ngữ âm tích cực của các tiếng địa phương khác.
- Lấy sự phát âm của một tiếng địa phương nào đó mà phân biệt được một cách tối đa các âm và các thanh điệu làm chuẩn mực.
Chuẩn mực về ngữ âm được xác định dựa vào các chính âm Các chính
âm thường được xác định trong m ối quan hệ với các biến thể địa phương và các biến thể cá nhân Những biến thể địa phương và những biến thê cá nhân
nào đáp ứng được m ộl cách có hiệu quả các yêu cầu của sự giao tiếp và được
xã hội thừa nhận thì trở thành chuẩn mực chung.
Nhìn chung, không có một hệ thống ngữ âm địa phương nào có thể đáp ứng được tối đa các yếu tố về âm và thanh của tiếng V iệt, hoặc có đáp ứng được thì cũng mất đi tiêu chí là tính phổ biến D o vậy, tới nay hệ thống ngữ
âm của Bắc bộ mà trong đó Hà N ội là trung tâm được tạm thời coi ià chuẩn.
1.3.2.2 Chừ viết - kí hiệu ngôn ngữ
Chữ viết là kí hiệu thể hiện các âm của lời nói Hệ thống chữ viết biếu thị hệ thống âm thanh của ngôn ngữ, tức biểu thị vỏ vật chất của ngôn ngữ Từ hình thức chữ viết, con người liên hệ đến mặt âm thanh của ngôn ngữ, rồi mới liên hệ đến mặt nghĩa của các âm thanh đó Như vậy, nếu âm thanh là vỏ vật chất thứ nhất của ý nghĩa, thì chữ viết là vỏ vật chất bậc hai của ý nghĩa.
Khi ngôn ngữ xuất hiện dưới dạng âm thanh, đó đã là một sự kiện quan irọng trong lịch sử phát triển của loài người Nhưng những hạn ch ế vẻ khoáng cách không gian và thời gian khiến cho việc thể hiện ngôn ngữ dưới clạng âm thanh gặp nhiều khó khăn khi các phương tiện truyền âm thanh một cách hiện
Trang 26đại nhu' máy ghi âm, điện thoại chưa xuất hiện Chính vì thế sự ra đời của chữ viết có ý nghĩa rất quan trọng Nỏ khắc phục được những nhược điểm của ngôn ngữ khi thể hiện dưới dạng âm thanh Khoáng cách về không gian và thời uian không còn nhiều ý nghĩa Các thông tin được lưu giữ m ột cách chính xác hơn, bảo mật hơn.
Chữ viết được cá nhân sử dụng trên cơ sở những quy tắc chung của
ngôn ngũ' phát triển mạnh và làm cho nsôn ngữ trở thành một công cụ đắc lực cho việc báo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Chữ viết là một động lực phát triển của xã hội loài người Trong ngôn ngữ, chữ viết có tác dụng thúc đẩy quá trình thống nhất ngôn ngữ, chuẩn hoá ngôn ngữ.
1.3.3 Nghĩa của tù
N ghĩa của từ thể hiện m ối quan hệ giữa hình thức âm thanh của từ với
sự vật khách quan và những hiểu biết về chúng được phản ánh trong tư duy con người Nó liên quan tới nhận thức cua con người, là kết quả cua quá trình trừu tượng hoá những kinh nghiệm của con người về sự vật, hiện tượng trong quá trình tiếp xúc và khám phá thế giới khách quan và được thể hiện trong một vỏ âm thanh nhất định N ó mang đặc trưng khái quát hoá Nghĩa của từ được hình thành, ổn định và phát triển trong sự phát triển của ngôn ngữ và gắn liền với hoạt động giao tiếp Đ ây là một cấu trúc phức tạp được xác định hởi những thuộc tính chung của từ với tư cách là một tín hiệu Cấu trúc này được thể hiện trên hai mặt: nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm
Ớ nghĩa biểu vật, đó là “m ối liên hệ giữa từ với sự vật, sự phản ánh các
sự vật, hiện tượng cụ thể trong thực tế bằng ngôn ngũ'”.
ớ nghĩa biểu niệm , đó là “mối liên hệ giữa từ với khái niệm và biếu tượng của sự vật, tức với những đặc trưng bán chất nhất của sự vật; tập hợp một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một trật tự nhất định
và có tổ chức.” [75, 144]
25
Trang 27Vì sự tổn tại và phát triển của ngôn ngữ gắn với hoạt động giao tiếp, do vậy việc xét nghĩa của từ còn phái dựa trên quan hệ của từ với người sử dụng trong từng hoàn cảnh phát ngôn Chính trong nhũng hoàn cánh giao tiếp cụ thể, sự vận dụng linh hoạt các tín hiệu ngôn ngữ ớ m ỗi một cá nhân mới có điều kiện bộc lộ và phát huy một cách hiệu quá Đi kèm theo nghĩa chính của
lừ là cám xúc, là thái đô của người nói Bên canh đó, m ỗi từ lai nằm trong môtc? 7 o
hệ thống từ vựng, do đó nó có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác
Vì thế, nghĩa của tù' nếu chỉ xét trong ngôn ngữ cấu trúc thì được nhìn nhận trên hai bình diện: nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm , còn nếu xét trong ngôn ngũ' ứng dụng thì việc xét nghĩa của từ còn phải dựa trên cả nghĩa sở dụng (quan hệ của từ với người sử dụng) và nghĩa kết cấu (quan hệ giữa từ và những
H ọc sinh - sinh viên rất ưa thích phân hoá các sự vật, khái niệm được diễn đạt trong ngôn ngữ thành những ý nghĩa biếu vật và biểu niệm , biểu cảm khác nhau đôi chút về sắc thái He) có cái nhìn nhanh nhạy, tinh tế trong cách cam thụ do vậy thích nêu bật những chỗ khác nhau giữa các sự vật, hiện
Trang 28lượng vốn giống nhau để thể hiện sắc thái tình cảm của mình một cách lối đa
và lạo được nhạc điệu cho phát ngôn Các phưưng thức mà học sinh sinh viên Ihường sử dụng để tạo nên sự lệch chuẩn trong ngôn ngữ là: đồng nghĩa - trái nghĩa, phương ngữ, tiếng lóng, từ vay mượn nước ngoài, nói tắt Những từ đồng nghĩa - trái nghĩa khác nhau về số lượng âm tiết, thanh điệu, giúp cho người sứ dụng thoả mãn được sắc thái biểu cám của mình Nhưng khi việc sử dụng từ ngữ đồng nghĩa - trái nghĩa bị lạm dụng sẽ gây trở ngại cho giao tiếp
và ảnh hưởng tới tính trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt Từ ngữ địa phương và từ vay mượn nước ngoài lại tạo được sự mới lạ, ngắn gọn, diễn đạt dược những nghĩa mà nếu sử dụng từ ngữ toàn dân thì sẽ không hiệu quá hàng Tạo từ ngữ mới cũng là một phương thức nhằm thoả mãn tính sáng tạo cua học sinh - sinh viên V iệc sáng tạo này bên cạnh sự ham thích tìm tòi, khám phá vốn là thuộc tính của tuổi trẻ còn có một tác động bên ngoài rất lớn,
đó là sự phát triển của xã hội về m ọi mặt Và còn có một nguyên do nữa ngay ỏ' bán thân ngôn ngữ là không phải các sự vật, hiện tượng mà con người nhận
ihức được đều đã có từ để gọi tên, bởi ngoài hình thức từ để gọi tên chúng ta còn có thể dùng phương tiện cú pháp để diễn đạt chúng.
1.4.2 Sụ lệch chuẩn về hình thức thê hiện
Trong hoạt động giao tiếp, mặt ngữ âm và hình thức thể hiện của từ có thể có những biến đổi và chuyển hoá linh hoạt ở mức độ vừa đủ để các thành viên giao tiếp hiểu được Những biến đổi và chuyển hoá như thế diễn ra irong hoạt động giao tiếp sẽ tạo ra một dạng thức có tính lâm thời tương ứng với dạng thức của từ vốn có trong hệ thống ngôn ngữ Dạng thức lâm thời của từ trong sử duns là những biến thể từ vựng Biến thế quá xa với chuẩn được coi là lệch chuẩn Sau m ột thời gian sử dụng, nếu nó được cộng đồng xã hội chấp nhận và được nhập vào một hệ thống chung thì nó được coi là chuẩn, còn không nó sẽ bị đào thải Những chuẩn mới sẽ tồn tại song song cùng với những chuẩn cũ với tư cách là những yếu tố đồng nghĩa biểu vật Sự khác nhau iiiữa chúng là sự khác nhau về sắc thái biểu cám và sắc thái phong cách Cũng
27
Trang 29cẩn phân hiệt sự biến đổi dạng thức của từ tiếng Việt trong hoạt dộng mao tiếp
với sự biến đổi dạng thức của từ trong các ngôn ngữ Ân - Âu ơ ngôn ngữ Ân -
Âu sự biến đổi đó nhằm thực hiện các yêu cẩu về ngữ pháp: thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp khác nhau của từ Trong khi đó ở tiếng V iệt, sự biến đổi nhằm mục đích từ vựng.
1.4.2.1 Sự lệch chuẩn vê mặt ngữ âm
Hệ thống ngữ âm là hệ thống có tính bền vững tương đối trong sự phát triển Bên cạnh đó nó còn có tính chặt chẽ về cấu trúc và tính khép kín trong sir dụng Tuy vậy, những đặc điểm ngữ âm của một ngôn ngữ không phai là bất biến dù rằng sự thay đổi là rất chậm Trong giao tiếp, sự biến đổi về ngữ
âm của tiếng V iệt không mang tính đồng loạt và bắt buộc mà nó tuỳ thuộc vào các vai giao tiếp trong từng hoàn cảnh cụ thể để đạt được mục đích và hiệu quả giao tiếp nhất định V í dụ, để thể hiện cách nói của người miền Nam , người sử dụng ngôn ngữ có thể dùng các từ mang đặc trưng của người m iền Nam như: hộ sanh, bịnh viện, kính g ở i Song, cách thức biến đổi phái tuân iheo các quy tắc có tính hệ thống, tính xã hội M ỗi một cá nhân, một nhóm xã hội không thể tuỳ ý biến đổi theo cách của riêng mình hay theo cách phát âm cua địa phương nơi m ình sinh sống V ì những biến đổi đó mang tính chất cá nhân, địa phương, nhóm xã hội mà không có tính phổ biến, không diễn ra theo quy tấc chung nào Tính phổ biến và quy tắc chung ở đây phái được hiểu là cua toàn thể cộng đồng dân cư trong xã hội N ó được cộng đồng chung trorm
xã hội chấp nhận và coi là chuẩn V ì thế, những biến đổi mà không được và chưa dược cộng đồng chung trong xã hội chấp nhận thì được coi là lệch chuẩn (ví du như: xiền - tiền, xún - rốn, trùi ui - trời ơi, hôn - hun, bít - b iết ).
1.4.2.2 Sự lệch chuẩn về mặt chữ viết - kí hiệu ngôn ngữ
Càng ngày hệ thống từ vựng càng phát triển, đi cùng với nó là những biến đổi về mặt chữ viết Hệ thống chữ viết được cải tiến sao cho ngắn gọn hon, chính xác hơn, đảm báo được tính tiết kiệm của ngôn ngữ Ví dụ như
Trang 30inrớc đây chúng ta vần viết là “nghành”, nhưng bây giò' từ này được viết là
■■ngành” Một điều dễ dàng nhận thấy là trên các sách báo hiện nay chúng ta
bắt sập hàng loạt các từ ngữ có sử dụng tới những con chữ vốn không thuộc hệ thống chữ cái của tiếng Việt như: “j”, “w ”, “z” Tuy nhiên, những từ ngữ có chứa những con chữ này thường có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài hay những thuật ngữ khoa học N ó được dùng khi những con chữ của tiếng V iệt dùng để lliay thế không đảm bảo được tính thẩm mĩ, tính khoa học, tính chính xác (ví dụ: nhạc jazz, file )- Và như thế nó vẫn được coi là chuẩn N ó thuộc sự giao Ill’Ll về văn hoá, ngôn ngữ Nhưng nếu như nhũng con chữ này lại có mặt trong những từ ngữ tiếng Việt (vốn đã có sẵn hình thức và ngũ' nghĩa) để diễn
đạt vỏ ngữ âm của tiếng Việt thì nó được coi là lệch chuẩn (dzậy, zậy, zui zỏ, dẹp vvá - đẹp quá ).
K hông chí dừng lại ở mặt biểu thị âm thanh, chữ viết trở nên hiển hiện hơn trong giao tiếp và có những cách thức sử dụng riêng như về đặc điểm từ ngữ, cú p h áp và đặc biệt là phải kể đến hình thức trình bày Đ ặc biệt, những đặc điểm riêng này được thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ giao tiếp của học sinh
- sinh viên Chúng ta thường bắt gặp những kí hiệu ghi ý trong hệ thống ngôn ngữ ghi âm của tiếng V iệt như: các thuật ngữ khoa học chuyên ngành như toán học, hoá học, vật lí; nhũng kí hiệu trên bản đồ, biển chí đường Nhưng
đó là khi ta cần phải sử dụng những kí hiệu đó để đảm bảo được tính khoa học, chính xác, dễ hiểu, dễ nắm bắt cho toàn thể những người sử dụng các ngôn ngữ khác nhau trên toàn thế giới Còn trong cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên, chúng tôi lại nhận thấy những kí hiệu ghi ý này được sử dụng lệch chuẩn nhàm tạo ra một sự sáng tạo m ới, trong đó ít nhiều thể hiện được ý nghĩa tình thái của người nói V í dụ: kéo dài hình thức chữ viết (chàooooo, ơiiiiii sử dụng chữ số (0 sướng - không sướng, 2! - hi - c h à o ), sử dụng những kí hiệu của thuật ngũ' khoa học ((J - con trai, 9 - con gái, H20 - n ư ớ c
sư dụng hình vẽ (ik - sao, ngôi sao, y - trái tim ) N ghiên cứu về cách sử đuníi từ ngữ lệch chuẩn trong giao tiếp không thể bỏ qua bình diện này H ọc
29
Trang 31sinh sinh viên thuộc nhóm trẻ của xã hội, họ tiếp thu cái mới nhanh, chính vì thế những kí hiệu mới đã liên tục được họ cập nhật và sử dụng nhằm thể hiện lính sáng tạo, nhạy bén và hiện đại của mình Những kí hiệu đó được sử dụng trong ngôn ngữ của học sinh sinh viên và nó được coi là lệch chuẩn Sự lệch chuẩn này m ang lại những hiệu quả ngôn ngữ mới trong giao tiếp.
1.4.3 Sụ chuyển nghĩa của tù
N iĩôn ngữ luôn luôn vận động và phát triển Sự vận động và phát triển
đỏ dựa trên sự giao tiếp M ỗi một biến động nhỏ trong ngôn ngữ đều nhằm đáp ứng nhu cầu thực hiện chức năng giao tiếp ở m ỗi hoàn cánh cụ thể Sự chuyển nghĩa của từ không nằm ngoài quy luật chung đó Các nhân tố xã hội đóng m ột vai trò quan trọng đối với sự chuyến nghĩa của từ Xã hội phát triển mạnh về phương diện nào thì những sự vật, hiện tượng ở phương diện đó tác động mạnh mẽ vào tâm lí con người dẫn đến việc các từ biểu thị sự vật hiện tượng đó chuyển nghĩa để biểu thị những sự vật, hiện tượng khác Sự biến đổi này có tính nhất thời của m ột cá nhân nào đó trong m ột hoàn cảnh giao tiếp nào đó Nó diễn ra thường xuyên trong sự sứ dụng ngôn ngữ của mọi người và
ớ m ọi lĩnh vực ý nghĩa Đ ó là từ một hình thức âm thanh nhung biểu đạt nhiều nghĩa khác nhau Các nghĩa ấy được mỗi người tiếp nhận và tích luỹ dần trong tiềm năng ngôn ngữ của mình M ỗi người sẽ có một khá năng sử dụng và biến đổi nghĩa của từ riêng Chính các nhân tố giao tiếp, những quy tắc thẩm m ĩ ngôn naữ và tính thời đại của ngôn ngữ sẽ giải thích cho việc làm lệch chuẩn
về nghĩa của từ của người sử dụng.
1.5 TIỂU KẾT
Cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới, sự phát triển và sự hành chức của các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn trong tiếng Việt chịu ảnh hưởng của các nhàn tố xã hội và trong nội bộ ngôn ngữ Sự xuất hiện và phát triển của các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn này nhằm thoá mãn được hai m ục đích:
Trang 32Vấn đề ngoài ngôn ngữ: Các đơn vị từ ngữ lệch chuẩn được tạo ra để làm gì và các phạm vi nào của đòi sống xã hội ánh hưởng tới sự ra đời của các đon vị này.
Vấn đề thuộc nội bộ ngôn ngữ: Cho thấy các xu hướng và phương tiện
lừ tiêu cực sang vốn từ tích cực, những từ lỗi thời nay lại được hồi sinh do những tác động và ảnh hưởng của đời sống chính trị, xã hội; những thay đổi về định hướng và cách nhìn nhận, đánh giá về một số từ do sự đổi mới về tư duy.
- V iệc sử dụng các từ nước ngoài ở cá dạng phiên chuyển lẫn không phiên chuyển, nguyên dạng và tắt, lấy cả âm và nghĩa hoặc chí lấy âm hay nghĩa không thôi.
Nói tóm lại, để hướng tới chuẩn ngôn ngữ, mà ở đây là tiếng V iệt, bên cạnh việc nghiên cứu lí thuyết thì cần có sự nghiên cứu về thực tiễn của tiếng Việt để tìm hiểu xem tiếng Việt đang phát triển theo chiều hướng nào từ đó xác lập được những chuẩn mực của tiếng Việt - dù chí là tương đối và qua đó
có những định hướng nhất định của Nhà nước để người dàn sử dụng những chuán đó trong ẹiao tiếp V iệc nghiên cứu sự lệch chuẩn trong ngôn ngữ nói chung và trong từ ngữ nói riêng là cần thiết Từ những yếu tố lệch chuẩn kháo sát được ta có thể lựa chọn ra những đơn vị lệch chuẩn có giá trị tích cực để phát huy và hạn ch ế dần cho tới khi mất hẳn những đơn vị lệch chuẩn có giá trị tiêu cực, qua đó giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
3 1
Trang 33CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIẾM s ử DỤNG TỪ NGỮ
TIẾNG NƯỚC NGOÀI TRONG LỜI NÓI
CỦA THANH THIẾU NIÊN (HỌC SINH - SINH VIÊN)
2.1 MƯỢN NGUYÊN DẠNG CÁC TỪ NGỮ TIẾNG NƯỚC NGOÀI Hiện tượng vay mượn từ ngữ trong m ỗi ngôn ngữ là một quá trình tất yếu trong lịch sử phát triển của nó Quá trình này diễn ra song song với đà vận động và phát triển mạnh mẽ của đời sô n s kinh tế, văn hoá, xã hội Sự m ở rộng không ngừng của hệ thống từ ngữ vay mượn nhằm đáp ứng nhu cầu biếu đạt các sự vật, khái niệm mới (m ới hoàn toàn hoặc mới được du nhập vào Irong m ỗi m ột hệ thống ngôn ngữ).
Ớ tiếng V iệt, các từ ngữ vay mượn đến từ nhiều nguồn: Anh, Pháp, Hán, N ga N ếu trước đây, ở thời kì phong kiến, tiếng Hán chiếm vị trí chủ đạo trong hệ thống từ vay mượn của tiếng V iệt thì trong thời kì chống thực dàn Pháp, số lượng từ vay mượn từ tiếng Pháp lại có m ột số lượng khá lớn Trong khoảng hai chục năm sau ngày đất nước được giải phóng, cùng với sự hợp tác chặt chẽ trên m ọi mặt giữa Việt Nam và Liên X ô (cũ), đã có nhiều từ nsĩữ tiếng Nga du nhập vào nước ta V ào những năm cuối của thế ki XX và những năm đầu của th ế kỉ X X I, song song với xu hướng toàn cầu hoá, một lượng lớn từ ngữ tiếng Anh - ngôn ngữ được coi là phổ biến nhất trên thế giới
h i ệ n nay - được hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt vay mượn.
Hiện nay, có thể bắt gặp trên báo chí, nhất là những báo dành cho lứa
tuổi học sinh - sinh viên, rất nhiều các từ nơ ũ' có nguồn gốc từ nước ngoài, mà
ch iếm chủ yếu trong đó là tiếng Anh Đ iều đó phán ánh một thực tế khách
Trang 34quan: thanh thiếu niên luôn là những người rất nhanh nhạy trong việc tìm tòi
và tiếp nhận cái mới Những từ ngữ nước ngoài này giúp cho cách diễn đạt trứ nên linh hoạt, tạo ấn tượng mới lạ, ngắn gọn Đ ồng thời nó cũng thể hiện một phán nào đó tính chủ quan và tính biểu cám của người viết Những yếu tố đó của từ ngữ vay mượn đã phần nào đáp ứng được nhu cầu sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ Chính vì thế, ngày càng có nhiều từ ngữ vay mượn của nước ngoài xuất hiện trong lối nói của học sinh - sinh viên dưới nhiều dạng thức khác nhau như: nguyên dạng, viết tắt, phiên âm, lấy âm - nghĩa của tiếng nước ngoài để chí âm - nghĩa của tiếng V iệt Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhũng từ vay mượn nguyên dạng được sử dụng trên báo Hoa Học Trò (2000 - 2 0 0 2 ) chủ yếu là tiếng Anh và có tần số rất lớn (1125) chiếm tỉ lệ 72,67% các từ ngữ tiếng nước ngoài trong ngôn ngữ học sinh - sinh viên Nhìn chung, các từ ngữ vay mượn này được lấy từ hai nguồn chính là qua giao tiếp trực tiếp và qua văn bản Trong các từ vay mượn, có thể phân ra làm hai nhóm là các từ ngữ vay mượn dùng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và các
từ ngũ' vay mượn thuộc các lĩnh vực chuyên ngành Tuy vậy, trong quá trình
sử dụng ngôn ngữ, học sinh - sinh viên không tách rời hai nhóm tù' ngữ vay mượn này mà họ dùng đan xen để có thể diễn đạt ý muốn nói một cách tốt nhất.
Trong m ột bài viết trên báo Hoa Học Trò, việc sử dụng từ ngữ tiếng nước ngoài của giới trẻ hiện nay được khẳng định như một lẽ lất yếu: “Có một hình thức N gôn N gữ M ới, sinh độn s hơn rất nhiều Khẩu ngữ hơn, gần gũi hơn, ngổn ngữ kiểu chat Bài viết ngắn, câu văn ngắn gọn, kiểu m essage chứ không phai của speech, của diễn văn chính luận và ngôn ngữ văn kiện Ngôn ngữ của m ạng trao đổi toàn cầu trong buổi đầu ồ ạt chưa tách kịp nên họ thường sử dụng ngôn ngữ Anh - Việt giao Ihoa Đ iều này có thể làm khó chịu những người giương mục kính bắt bẻ, nhưng lại có lợi cho học trò, là những người đang có nhiệm vụ phải nắm bắt và rèn luyện các kỳ năng ngoại ngữ CTV và bạn đọc hôm nay không thích nói như m ột con vẹt hay như một cái
33
Trang 35máy catxet Sến? Không có một chữ “sến” nào K hông ghét văn chương mà cũnu không tỏ ra yêu văn chương Nhưng rõ ràng là lất ghét chừ “sen" Dấu vết cứa vãn phong sến đã thực sự tuyệt tích giang hồ Khá nănn sử đụng Việt imữ thật tinh tế và điêu luyện.”(462) Dưới đây chúng tôi đi vào kháo sát sự vay mượn từ ngữ tiếng nước ngoài của học sinh - sinh viên trong tùng trường hợp cụ thể.
2.1.1 Các tù ngữ thông dụng trong đòi sống sinh hoạt hàng ngàv
+ Những từ ngữ vay mượn được dùng thông dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày thường có nội dung ngữ nghĩa cụ thể và giá trị biểu cám cao, mang đậm dâu ấn chủ quan của người nói N ó làm cho cách diễn đạt trớ nên linh hoạt, tạo ấn tượng mới lạ trong phát ngôn, tác động tốt đến sự tiếp nhận của khách thể Số lượng những từ vay mượn kiểu này rất lớn vì hầu như những
từ có nghĩa được dùng nhiều trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày đều có thể được vay mượn.
Vcl.: - Cô chỉ cần dành 6 tiếng cho m ột đêm và hôm sau là hoàn toàn
fresh cho m ột ngày mới (358)
- ơ đây bạn sẽ thấy bạn bè mình everywhere đang dám n sh ĩ chím làm
và dám chịu trách nhiệm về những việc mà ban chỉ ngồi mù dream
dream (317)
+ Sự vay mượn nguyên dạng không chí xuất hiện ở m ỗi một từ đơn lẻ
mà nó còn được thê hiện ở cả m ột số từ đứng với nhau theo đúng trật tự cú pháp của liếng Anh.
Vd.: - Aqua của chúng ta đã been around the world (346)
- Khi bạn “fall in love” : K hi bạn đang yêu tốt nhất là không nên nghe nhạc gì hết mà hãy nghe nhạc của chính bạn tạo ra, tức ỉầ bạn hãy hál lên cho
í hiên hịì thưởng thức (374)
+ Sự vay mượn từ ncữ trong các cách diễn đạt của học sinh - sinh viên nhiều khi chỉ nhằm mục đích gây sự thư hút với người tiếp nhận N cay khi vừa
Trang 36dùng từ vay mượn, người viết lại sử dụng một loạt tù' ngũ' tiếng Việt để diễn íiiái lại ý nghĩa cúa từ vay mượn vừa được sử dụng ở phía trước.
Vd.: - Tuyên b ố chính thức nhé, thay mặt luôn cho cả VP s ỡ rối ôn thi,
m ọi thứ vẫn the same, y như cũ X ít tốp m ọi chuyện bàn tán loan tin ẩm Ậ
chúng ta ngậm quản bút tiếp tục âm thẩm chuẩn bị lực lượn2 cho cuộc tons tiến công mùa hè 2001 (364)
- Chướng ngại vật tiếp theo: Tim cho mình m ột New style - phong cách mới (350)
Nhưng cũng có khi việc đưa các từ ngữ tiếng Việt vào ngay sau từ ngữ tiếng Anh không chỉ là một sự định nghĩa đơn thuần cho từ tiếng Anh vừa được dùng ở phía trước mà nó còn là một sự chú thích mang tính hài hước, vui nhộn có chủ ý của người viết.
Vd.: - Lần khủng bô'đáng sợ: Bị m ột anh trong đoàn chụp ảnh nguyên
a 7 bottom , (cái m ô n g con g tớn ) (462)
Trong từ điển Anh - V iệt, “bottom ” chỉ mang nghĩa là “cái m ông”, [dt
2 1]
+ Qua khảo sát các từ vay mượn nguyên dạng, chúng tôi nhận thấy từ
“fan” là m ột từ có tần số sử dụnơ cao nhất trong các từ vay mượn nguyên dạng “Fan” không những được sử dụng như một từ độc lập mà nó còn được dùng như m ột yếu tố để cấu tạo từ ghép: ghép “fan” và một yếu tố có nghĩa khác của tiếng Anh.
Vd.: - Anh là m ôt big fan của các thể loại phim tài liệu (436)
- Thum gia m ột fan club, coi như bạn đã trở thành m ột CĐ V chuyên nghiệp (449)
- Mình quả là m ột lovely fan, dù có muộn m ấy cũng c ố công đợi thẩn tượng (449)
- Sharon Síone chắc chắn sẽ gây ấn tượng mạnh với cineíần Việt Nam.
(453)
35
Trang 37- Chì có m ột tuần đ ể các bạn thê hiện mình là những crazyfan nốmi
bỏníỉ nhất của Sao (453)
- Làm th ế nào đ ế tạo ra m ột rockfan ? (445)
Các yếu tố có nghĩa kết hợp với “fan” không nhất thiết phái là một từ
mà nó có thê là tiếp đầu ngữ như “anti”, là kí hiệu viết tắt của cá cụm từ như
"\vvvw" (world w ide w eb)
V d : - Test này dành cho cả WWW fan, cả cho những người chua từng
biết mùi net, và cười vào m ũi những người còn lại (449)
- Geoíỉiv Michael lại m ới thu thập thêm m ột lươngc T JT anti-fan đáng k ế tụi• c <_?
Mỹ (451)
“ Fan” có thể kết hợp với một từ có nghĩa nhưng không theo trật tự cú
pháp tiếng Anh mà theo trật tự cú pháp tiếng Việt.
Vđ.: - Tớ vừa m ới tậu rất nhiều ảnh nhỏ tuyệt cíẹp của Craig Tớ sẽ tặng
nó cho những fan lovely nhất của chàng trai nảy (400)
+ V ay mượn nguyên dạng hình thức chữ viết và âm đọc của từ tiếng
Anh nhưng lại trên cơ sở nghĩa của tiếng Việt.
Vd.: - Giá hơi bị “m ax” so với học sinh chúng mình nhưng lại rất rẻ nếu
như bơi cả m ột ỉiQầy (346)
Trong phương ngữ Nam bộ, “m ắc” có nghĩa là “đắt” [dt 76, 332]
Người viết đã mượn cách phát âm của từ “m ax” trong tiếng Anh để nói nghĩa
“đắt” trong tiếng Việt thông qua từ của phương ngữ Nam bộ.
+ Các đại từ nhân xưng của tiếng Anh cũng thường được vav mượn
nguyên dạn s trong cách sử dụng từ ngữ của học sinh - sinh viên.
Vđ.: - Chịu thôi!\ "can”y o u /I "xin”you! (390)
- 1 xin you /1 can you / You thci cho thản2 bé khốn khổ ấy (363)
2.1.2 C ác tù ngữ th u ộc các lĩnh vực ch u yên n gàn h m à học sinh - sin h viên ưa tìm h iểu , kh ám phá
Có hai lĩnh vực chuyên ngành có số lượng từ vay mượn nhiều nhất ỏ'
trên báo Hoa H ọc Trò là lĩnh vực tin học và âm nhạc.
Trang 382.1.2.1 Lĩnh vực tin học
Với sự phát triển của khoa học kĩ ihuật, hệ nsôn mụĩ tin học díìn chiu đi
vào cuộc sống Học sinh - sinh viên là những người nắm bắt và tiếp thu nhanh
cúi mới, lại sống trong đúng thời kì công nghệ thông tin, vì thế ngôn ngữ giao
liếp của họ luôn được cập nhật các thuật ngữ của chuyên ngành khoa học kĩ
iliuật này Những thuật ngữ đó được sử dụng đan xen với các từ ngữ tiếng Việt
một cách rất tự nhiên bởi những thuật ngữ này còn mới lạ ngay cả với thế giới
chứ không riêng gì Việt Nam , nó là thuật ngữ của một ngành khoa học mới
Trong lúc tiếng Việt chưa kịp sán sinh từ mới đê diễn đạt những thuật 11211' tin
học đó một cách ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa thì giải pháp tốt *nhất dược học
sinh - sinh vicn sử dụng là dùng thuật ngữ đó dưới dạng tiếng Anh “ Một điều
cỏ thể thấy rất rõ là xã hội nào, ngôn ngữ ấy Có những từ xuất hiện khi và chí
khi cơ sở vật chất thay đổi và xuất hiện nhân tố mới Đ iều này có thể thấy rất
rõ qua sự hiện diện của máy vi tính N hũng từ ngữ có liên quan đến tin học,
1 úc đầu được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt được m ột số, số khác được sử
dụng nguyên vẹn vì chưa xuất hiện từ mới để thay thế Chẳng hạn như từ
computer; sau này mới có từ “m áy vi tính” thay thế.” [67] Nhìn chung, dù
ngành tin học đã có những thuật ngữ tiếng Việt tương ứng hay chưa thì xu
hướng chung trong sử dụng thuật ngữ tin học của học sinh - sinh viên vẫn là
dùng lãn cá thuật ngữ Việt và nguyên dạng.
Vđ.: - Toàn bộ các file này đều ở dạn2 WA V nên bạn rất dẻ dùniĩ
download và nghe trong mẩy tính được ngay (317)
- Sự việc chỉ bị phát hiện sau khi các hacker đã thâm nhập vào mạng nội
bộ của Microsoft m ột thời gian dài (366)
Có những thuật ngữ không được dùng phổ biến nhưng người viết vẫn sử
đụn ỈI nêu yen dạng tiếng Anh và có thêm chú thích bên cạnh.
Vd.: - Từ bây siờ bạn phải thường xuvên lùm backup (sao Ill'Ll dự
phòng) cấc dữ liệu của bạn đấy nhé (327)
37
Trang 392.1.2.2 Lĩnh vực âm nhạc
Nhiều từ ngữ mới thuộc lĩnh vực âm nhạc của thế giới đã được du nhập
vào Việt Nam trong thời kì m ở cửa Theo số phiếu thu thập được thì âm nhạc
là lĩnh vực mà học sinh - sinh viên sử dụng số thuật ngữ tiếng Anh nguyên
dạng lớn nhất trong các lĩnh vực m à nhóm xã hội này ưa tìm hiểu, khám phá
Có một loạt những từ ngữ mới liên quan đến ngành công nghệ âm nhạc này:
m anager - “ông (bà) bầu”, debut - album đầu tay, hát playback - hát “đớp”
v<±: - Clip đẹp, đom đóm lập loè nhưng nhìn hơi bị studio quá (326)
- Sẽ hứa hẹn có rất nhiều trò chơi thú vị hay ho như khi cover lại các
Cii khúc quen thuộc của Phương Thanh, hỏi nhanh đáp gọn kèm với việc nghe
ihii dằn ca khúc do chị Chanh hát live theo yêu cẩu (451)
Nhiều khi việc sử dụng nguyên dạng từ ngữ nước ngoài trong lĩnh vực
âm nhạc lại không phải vì những từ ngữ đó mới xuất hiện cùng với công nghệ
ám nhạc hiện đại hiện nay, mà nó chí đơn thuần là cách để gây sự chú ý, đế
tạo hiệu quả giao tiếp của người sử dụng ngôn ngữ.
Vd: - Chắc chắn là, m ột khi bạn đã tự nhận mình là m ột tần âm nhạc
chính hiệu thì bạn khôns thể chi' ngồi dập chăn tay m ơ màng tron£ điệu nhạc
cún nó, chắt lưỡi đến bẩm dập mà khen “cái melody của nó nghe lĩ tã thật!",
mà đến khi hỏi ca từ của “n ó ” nói về k í rì vậy tlù lại m ít đặc.(346)
- Bạn sẽ được học với giảng viên nhạc viện, thầy Bùi Thế Dũng, và /1Ỉ1 ữníỉ guitarist nổi tiếng (452)
V iệc vay mượn các thuật ngữ nước ngoài của học sinh - sinh viên không
dưa ircn cư sở cấu trúc ngôn ngữ D o vậy, có những trường hợp thuật ngữ bị
viết sai nhưng vẫn được chấp nhận trên cơ sớ nghĩa khái quát V í dụ như thuật
ngữ “diva” có nghĩa là “nữ danh ca” [21] nhưng ta sẽ lại bắt gặp cá “divas”
với nghĩa tương đương, mặc dù nếu căn cứ theo cấu trúc ngũ' pháp tiếng Anh
thì ‘V ’ là biểu thị của số nhiều.
Trang 40Vd: - Nếu được bạn cho một điều ước thì tỏi muốn thay đổi đ ế trớ thảnh
một Diva (469)
- Vừa qua, divas nhạc dance nổi nhất hiện nay Kylie Minogue CŨI phát diên lên khi trả lời phỏng vấn (451)
V iệc có hai cách viết của thuật ngữ “diva” (nữ danh ca) không nằm
trong trường hợp sửa sót lỗi chính tả của báo Hoa Học Trò Hai cách viết của
thuật ngữ “diva” ngược với hai cách viết cua thuật ngữ “fan” là “fan” và
"fans" Trong bài viết “Các fan hay các fans?” đăng trên tạp chí N gôn ngữ và
đời sống số 1+2 năm 2002 tác giá Linh Chi có nêu: “Người hâm mộ (nhất là
các môn thể thao) thường hay được báo chí gọi là fan, mượn từ tiếng Anh
Nhưng sao khi dùng ở số nhiều “các fan” thì fan lại không có s, nghĩa là danh
từ fun không có đuôi số nhiều? Chắc chắn đó là do fun đã nhập quốc tịch Việt
Nam rồi, và “nhập gia tuỳ tục”, khi chuyển sang số nhiều, nó cũng không
được khoác thêm cái đuôi gì nữa, vì tiếng Việt không có đuôi” [5] Như vậy,
việc diễn đạt bằng các thuật ngữ tiếng nước ngoài của học sinh - sinh viên
không phụ thuộc vào việc chữ viết thể hiện số ít hay số nhiều mà phụ thuộc
vào nghĩa cơ bản của thuật ngữ đó Nói cách khác, dạng thức số ít, số nhiều
trong tiếng Anh khi vào tiếng Việt không có giá trị biểu thị ý nghĩa ngữ pháp.
2.1.3 Mượn các từ ngũ tiếng nước ngoài (không phải tiếng Anh)
Trong các ngoại ngữ (không phải tiếng Anh) mà có từ ngữ được người
Việt vav mượn, có tiếng Trung là thứ ngôn ngữ có hình thức chữ viết khác với
hình thức ngôn ngữ tiếng Việt Đ ó là loại ngôn ngũ' ghi ý chứ không ghi âm
N hưng điều này cũ n g k h ô n s làm cản trở sự vay mượn của học sinh - sinh viên
Ho dùng cách thể hiên âm của từ ngữ đó trên hê thống chữ Latinh và theo• V—- • c ■ *—'
cách viết, đoc của tiếng Viêt.t—
Vcl.: - Ní khảo!!! Hôm nay Chui en lớ xin được giới thiệu tiếp với cúc
bạn một CH khúc hết sức ngọt ngào (vù cũng dễ hát theo nữa) cun Tở Hữu
Bảníỉ (357)
3 9