1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự ứng phó của trung quốc trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á (1997 1998) những tác động đến ASEAN và bài học đối với việt nam

136 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 27,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay, dù đã đi qua, nhưng với những dư Am dai dẳng và hậu qua lo lớn, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á văn đặt ra nhiều câu hỏi lý thú về mặt lý luận cũng như thực tiễn để ho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH sử

ĐÀM VĂN ĐẢNG

CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIEN t ệ CHÂU Á (1997-1998)- NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐEN ASEAN VÀ BÀI HỌC Đ ố i VỚI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬTHẾ g iớ i

MÃ SỐ: 5 08 01

LUẬN VĂN THẠC SỶ KHOA HỌC LỊCH s ử

Người hướng dãn khoa học: TS Phùng Thị Huệ

Đ A I H O C Q U Ố C G IA H Ả N Ó I TRƯNG TÂM TH Ò N G TIN THU' VIỆN

ỵ - ư / Ỉ 0 6

Hà Nội, 2005

Trang 2

Mồi eảnt ờềL

* * *

eĩ b á n ItKĨii o á n h o à n ch ìn h tr ĩu ta ụ h õ m IIIIIJ, b in c a n h nliừiiỊỊ

nõ lứ c (‘ 11(1 b ù n th a n , lá c ỊỊÌÙ h à i o ìi t (tã ti/lậ n ĩturíe ru t n h iê n HÍ tịiú p iTõ' /ỊIIỰ tjili củ a t/iẫ ụ cơ (Mí lu m b ỉ ĩJ rỉn /r a m / ĩtầ tt tiên cù a h àn /tiâ ii w in

H tttj, tru'o'e tiê n , e/in p lu 'p em (jử ì lị’! cú m fit! iTỉíi Ỡcĩ C7/í/ 'lù n ĩ ((Viên QKijJiiitt cửu &rmnj Qfiồe) ~ Itytiở i (Tã true, /iêịt theo d õ i, ItttĩtuỊ (lâ n

o à th in h í th i từ n y bư ổe ĩtì tin t lu ậ n OŨII. (5(11 cũ nạ .tin hà ụ tĩ lờ! cú m (ft I

sâ n i tie tớ i tâ f i t h i (jìú o lùêii DChtxt Jlieh sử , ĩT n iị iiụ <T)ai h o e 3C h oa hoa

35« h ơ! o ù Q U tiìn II/ĨII (ỉ'tìn i h o e Q ỉtịe y ìa 1Ciù Q (ơ i), các 1/niỊ/ eơ ụ ìá o tro n tị bơ m ơ n Jlich i ử t h i Ị/iĩì itũ tà n tìn h tjitifi ĩtõ- fill tr o m j Jit fit ItltoA h oc

tu i tiu rim j.

Q l l t â i i i t i i ụ , ft5/ e ũ iu / J Ì n Ị / ù ! l ị i ( 't im tfn i t ỉ n t á e t / ì á c ú c h à i o iê i,

Ii/iin tự eim ạ tr ìn h tiụ /iiẽ it ctiu cá Hên q u a n m à ÍỊHU (tá , (Tã ạiÚ Ịi tơ i ttltìềit

tư liêu bổ- ích (Ti thưa hièn oă ỈIÓII thiêu liiàn vãn cũ MỊ nhu tỊÌúp lĩi lìồ

m n ạ , h o à n th iê n n tiĩù n ị líiêíi th ứ c cù a hùn th em

J!Uì(i ti ù itã cĩ n h iề u cơ ạ ă n ụ Ii/iti'iitj DĨ! tr ìn h itõ v à t/n ịị th ị i ợ itm cĩ

h im , lu iiti v ă n d t ă e c h a u U iiơtiạ tr á n h ỉiliị t Ii/iũ iiự th iế u tĩ t ó h ạ n chi'

íR u t MtMỊỊ s ĩ iiItậiL đ tiọ e n h iề u ý, là êíi ìTĨhiị ụ ĩ p cù a q n ặ th iu / cà, b ạ n h ỉ, Iiliữiiụ, Itụ i/ở ỉ í/a im tà m tD tĩi/ sẽ tà co' sị' íỊia u i trtìiup i t ĩ h àn lu ậ n o ả n

h o à n ch in h h títt OỈL e tĩiit/ là itìề u h i t Jti'e lưì ích v ĩ i tá a ụ iả fro n t/ i/u á tru th

h ọ e lậ p lìà eơ itụ lá c m u IIÙỰ.

Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2005

Học viên

ĐÀM VÃN ĐẢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả và nội dung trong luận văn là trung thực, không sao chép một công trình nào khác Nếu

có gian dối, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2005

Học viên

ĐÀM VĂN ĐẢNG

Trang 4

• Ascan Free Trade Area

• Asia Pacific Economic Co-operation

• Association of Southeast Asian

Nations

• European Union

• Foreign Direct Investment

• Gloss Domestic Products

• Gross National Products

• International Monetary Fund

• Official Development Aid

• United State Dollar

• World Trade Organization

: CHND : DCS : VNĐ : NHTW: NDT (Đơn vị liổn lổ của Trung Quốc) : NXB

: WTO (Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 5

1.1.1 Nguyôn nhan của cuộc khủng hoảng

1.1.2 Những diễn biến chính của cuộc khủng hoảng

1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế các nước ASEAN

1.2.1 Những biến động khốc liệt trên thị trường tài chính tiền tệ

2.1 Trung Quốc ứng phó với cuộc khủng hoảng

2.1.1 Chính sách kinh tế đối nội

2.1.2 Chính sách kinh tế đối ngoại

2.1.3 Đánh giá về những đối sách ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc

2.2 Tác động từ các biện pháp ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc đến nền kinh tế các nước ASEAN

2.2.1 Khái quát mối quan hộ kinh tố, ihương mại Trung Quốc - ASEAN trước khủng hoảng

Trang 6

2.2.2 Đông Nam Á với tác động trở lại êm dịu từ những chính sách đối phó khủng hoảng của Trung Quốc

2.2.3 Thách thức đối với nền kinh tế các nước ASEAN trong mối quan hệ với Trung Quốc sau khủng hoảng

Chương 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM Đ ối VỚI VIỆT NAM

3.1 Những vấn để của nền kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng

3.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Ả tới Việt Nam

3.3 Những đối sách Việt Nam đã thực hiện để chống lại tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng

3.4 Việt Nain vói những bài học rút ra sau cuộc khủng hoảng

3.4.1 Kinh nghiệm kiện toàn hệ thống ngân hàng, định hướng nguồnvốn

3.4.2 Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, điều tiết tỷ giá hối đoái xuống mức hợp lý

3.4.3 Lành mạnh hoá thị trường bất động sản, đa dạng hoá mặt hàng, thị trường xuất khẩu

3.4.4 Đầu tư phát triển đồng điều, phát huy cao độ vai trò các khu vực kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhan

3.5 Thực trạng cơ cấu, chính sách quản lý, điều tiết nền kinh tế

vĩ mô Việt Nam hiện nay và một vài kiến nghị

3.5.1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay

3.5.2 Những kiến nghị

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI

Cùng những sự kiện chính trị, ngoại giao vang dội làm rung động thế giới trong thập kỷ 1990, nền kinh tế toàn cầu giai đoạn này cũng nổi lên các thành tựu và xu hướng phát triển mới tác động mạnh mẽ đến số phận, tương lai của nén văn minh loài người Sự gắn bó chặt chõ vổ kinh tế đã là cơ sở khách quan trong quá trình phát triển Hai chữ “hội nhập” cuốn hút hầu hết các quốc gia bằng những lợi ích mà nó đem lại Không nằm ngoài xu hướng chung, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào các diễn đàn chính trị, hoạt động thương mại khu vực cũng như quốc tế Song, tiến trình hội nhập, toàn cáu lioá kinh lố cũng mang lại khá nhiều bất trắc, rủi ro mà nếu không giải quyết được, nó có thể phát sinh bất ổn, tàn phá nhiều quốc gia Cuộc khủng hoảng tài chính tiền

tệ Châu Á (1997-1998) là một ví dụ

Đến nay, dù đã đi qua, nhưng với những dư Am dai dẳng và hậu qua lo lớn, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á văn đặt ra nhiều câu hỏi lý thú

về mặt lý luận cũng như thực tiễn để hoàn thiện chiến lược phát triển bền vững

và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Khi cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực ập đến, đánh dấu bởi việc Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng Baht, cả Trung Quốc và Việt Nam đcu ít nhiều phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực Việt Nam có một số cải cách để ngăn ngừa khả năng bị cuốn vào khủng hoảng Trung Quốc cũng cấp bách đưa

ra các biện pháp đối phó Thực tế đã cho ihấy, các chính sách ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc rất hiệu quả và có tính tham khảo cao Những chính sách này có tác dụng không chỉ với nền kinh tế Trung Quốc giai đoạn 1997-1998 mà nó còn có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, đặc biệt là tới các nước Đông Nam Á đang bị khủng hoảng nặng thời điểm đó Sự tác động này, trong một khía cạnh nào đó, đã nói lên rằng: mỗi động thái từ một Trung Quốc đang lớn mạnh ngày nay sẽ có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với kinh tế khu vực và thế giới

Trang 8

Với vị trí địa lý gần kề và mối licn hệ ngày càng chặt chẽ, mỗi chính sách của Trung Quốc đang tác động ngày càng nhanh, mạnh đến ASEAN cũng như Việt Nam Phân tích sự tác động đến ASEAN của các chính sách ứng phó khủng hoảng của Trung Quốc (giai đoạn 1997-1998) sẽ làm rõ được vai trò của Trung Quốc đối với sự ổn định và phát triển của khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, tại thời điểm khủng hoảng cũng như trong tương lai Và qua các chính sách cải cách chống lại khủng hoảng, một nền kinh tế đã được cơ cấu lại của Trung Quốc sẽ hiện lên rõ net với những thiết chế, chính sách mà Trung Quốc đã chuẩn bị cho tình huống khó khăn nhưng cũng là cơ sở

để họ phát huy thế mạnh sau đó

Hiện đang có quan điểm cho rằng sự phát triển của Trung Quốc là mối đe doạ Cũng có quan điểm cho rằng đây là cơ hội Song dù thế nào cũng không thể né tránh được thực tế: Trung Quốc hiện là đối tác lớn nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh rất mạnh của ASEAN Đối với Việt Nam, trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế hiện nay, tìm ra mối licn hộ giữa các chủ thổ kinh tố liên quan, từ đó nghiên cứu, học hỏi đối thủ cạnh tranh gần gũi, có sức mạnh sẽ giúp chúng ta rút ra những bài học quý giá Nhất là khi mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng khăng khít thì việc hiểu rõ cơ cấu nền kinh tế Trung Quốc sau cải cách sẽ là cơ sở để phát triển mối quan hệ đôi bên cùng có lợi trong tương lai

Bên cạnh đó, khi bài toán tăng trưởng của nền kinh tế thế giới đang phải đứng trước nhiều ẩn số và thách thức như: xung đột lợi ích giữa các quốc gia, nạn khủng bố, giá dẩu tăng cao thì các biện pháp ứng phó với những tình huống khó khăn của Trung Quốc là một chủ đề nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao, nhất là với nền kinh tế có nhiều điểm tương đồng như Việt Nam Vì vậy, tìm hiểu: “Sự ứng phó của Trung Quốc trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền

tệ Châu Á (1997-1998), những tác động đến ASEAN và bài học đối với Việt Nam” là đề tài có ý nghĩa khoa học và Ihực liễn

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, NGUổN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Lịch sử vấn đề

Cuộc khủng hoảng tài chính tiổn lộ Chau Á (1997 - 1998) là mội sự kiện kinh tế nổi bạt có giá trị đúc kết lý luận và thực tiễn trong công tác điều hành

Trang 9

kinh tế vĩ mô Vì vậy, cho đến nay nó đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu với quy mô và góc độ xcm xét khác nhau Trong số các tác phẩm đó, có thể chia ra làm hai loại:

Thứ nhất là các bài viết có mục đích thông tin, cảnh báo đăng tải trên các

tạp chí, nhật báo, tuần báo, chuyên san Trong các tác phẩm này, nội dung và các vấn đề của cuộc khủng hoảng được nhìn nhạn, phủn tích dưới nhiều góc cạnh và chuyên ngành khác nhau

Thứ hai là những tác phẩm lý luận phê bình, các chuyên đề, chuyên khảo,

công trình nghiên cứu khoa học Dù quy mô và phạm vi đề cập khác nhau nhưng chúng có giá trị đúc kết kinh nghiệm, phân tích, tìm ra cơ chế, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng, từ đó góp phần hoạch định phương hướng cho công tác chỉ đạo, điều hành

Trong số các công trình ricng lỏ thuộc hai thổ loại Ircn, có nhiều thông tin và công trình nghicn cứu đề cập khá loàn diện về cuộc khủng hoảng lài chính tiền tệ Châu Á 1997-1998 Nó cung cấp những kiến thức tổng thể cũng như tìm nguyên nhân, những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đến nhiều nước và nhiéu vùng hôn thế giới Trong các công trình ấy, cư bủn phải

nói đến: Đông Nam Á chặng đường dài phía trước của tác giả Lim Chong Yah;

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đớ/;ẹ Nam Á, diễn biến, tác động và giải pháp - chuyôn đồ nghiôn cứu của Viện Kinh tế thế giới; Khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á - nguyên nhân và bải học của Trung tâm tư vấn và Đầu tư

kinh tế (Bộ Thương mại); Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á và những

vấn đề đặt ra hiện nay - chuyên đề nghicn cứu của Viện Thông tin Khoa học

xã hội, hay bài tham luận của Anne o Krueger, Phó giám đốc điều hành quỹ tiền tệ quốc tế IMF tại hội thảo khoa học của Học viện Doanh nghiệp (Mỹ):

China and the Global Economic Recovery

Ngoài những công trình nghiên cứu mang tính tổng thể về cuộc khủng hoảng, có nhiều nhà khoa học đã di sau vào lĩnh vực liền tộ, tài chính ngan hàng nhằm làm rõ vai trò của hệ thống này trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á Điển hình là chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu của Viện

nghiên cứu Tài chính: Chính sách tiền tệ của Trung Quốc nhâm đối phó với

tình hình tài chính hiện nay; hay Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của

Trang 10

Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi nền kinh t ế — một sô kinh nghiệm cho Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Thư

Bên cạnh đó, có những công trình nghiên cứu khắc hoạ một cách toàn diện, có tính khái quát cao về quá trình cải cách mở cửa, các chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc Những tài liệu này đã giúp tác giả bài luận văn hiểu biết một cách tổng quát hơn về đặc điểm và cơ cấu nền kinh tế Trung Quốc, làm cơ sở cho những kiến giải vổ chính sách ứng phó với khủng hoảng của nước này giai đoạn 1997-1998 Trong đó, cơ bản phải kể đến những cuốn

sách: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 55 năm xây dựng và phát triển của Viện Nghicn cứu Trung Quốc; Trung Quốc cải cách và mở cửa của tác giả Nguyễn Thế Tăng; Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa- chặng đường lịch sử nửa thế

kỷ của tác giả Nguyễn Huy Quý; Thể chế kinh tế thị trường XhlCN đặc sắc Trung Quốc (một sô đột phủ mới về lý luận và thực tiễn từ đại hội XV Đảng Cộng Sản Trung Quốc đến nay) do TS Nguyễn Kim Bảo chủ biên; Quá trình cải cách kinh t ế — xã hội của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ 1978 đến nay

của tác giả Đinh Công Tuấn

Tuy đã có nhiều nghiên cứu về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu

Á cả ở trong và ngoài nước, nhưng chưa có công trình nào xem xét chuyên biệt

vổ mối licn hệ giữa các biện pháp ứng phó khủng hoảng của Trung Quốc thời điểm 1997-1998 đối với sự phục hồi của các nước ASEAN

2.2 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành, bài luận văn đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau Trước tiên là các văn bản gốc (văn kiện, văn bản pháp quy, chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam cũng như Trung Quốc) Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là các công trình nghiên cứu, khảo cứu về cuộc khủng hoảng tài chính tiổn lộ Cliílu Á của các học giả Việt Nam, Trung Quốc, cùa khu vực ASEAN hay các chuyên gia của các tổ chức quốc tế Bài luận vãn còn tham khảo tư liệu cung cấp những số liệu thống kê về nền kinh tế Trung Quốc, ASEAN và Việt Nam cũng như mối liên hệ giữa các nền kinh tế này

Bên cạnh đó, luẠn văn cũng tham khảo một số tài liộu nước ngoài, chủ yếu là các cuốn sách đề cập trực tiếp đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ

Trang 11

Châu Á như: The Asian Financial Crisis - Causes, Cures and Systemic

Implications của Morris Goldstein, hay bài viết trong các tạp chí kinh tế có uy

tín Bussiness Tim es, The Economist

Ngoài những tài liệu in ấn, để cập nhật những thông tin mới nhất cũng như tiếp cận với nguồn tài liệu chưa xuất hiện ở Việt Nam, tác giả luận vãn đã tham khảo thêm nguồn thông tin từ Internet Trong đó, chủ yếu là các trang thông tin chính thức như: www.imf.org của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, http://www.mot.gov.vn www.mof.gov.vn, www.dei.gov.vn của Bộ Thương Mại, Bộ Tài Chính và Vụ Hợp tác Kinh tế đa phương (Bộ Ngoại giao) Những

số liệu của bài luận văn còn được chọn lọc từ nguồn Niên giám thống kê, các bản báo cáo, tài liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đẩu tư

2.3 Plurưng pháp Iigliiỏn cứu

Là một luận văn sử học nên phương pháp nghiên cứu lịch sử mặc nhiên được sử dụng như dòng mạch chính trong luận văn nhằm nêu bật tiến trình xây dựng chính sách ứng phó với khủng hoảng lài chính tiền tộ Châu Á của Trung Quốc Trong quá trình thể hiện những ý tưởng và nội dung của đề tài, bài luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ những khó khăn cũng như ưu thế của nền kinh tế Trung Quốc khi khủng hoảng ập tới, những điểm tương đổng của nền kinh tế Việt Nam - Trung Quốc

Bên cạnh đó, luận văn cũng chú trọng đến phương pháp thống kê nhầm nêu bật hiệu quả, những tác động đến ASEAN từ chính sách ứng phó khủng hoảng của Trung Quốc cũng như mấy vấn đề tồn tại trong nền kinh lế Việt Nam

3 PHẠM VI ĐỂ CẬP, Dự KIÊN ĐÓNG GÓP VÀ B ố cục CỦA LUẬN VÃN

3.1 Phạm vi đề cập của đề tài

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á có nguyên nhân và tác động sâu sắc đòi hỏi Trung Quốc cũng như các nước Châu Á phải đưa ra những biện pháp ứng phó phức tạp Những tác động của các chính sách đó cũng rất nhiều chiều và đa diện

Trang 12

Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, tác giả không kỳ vọng khắc hoạ đầy đủ mô hình phát triển kinh tế, hàng loạt chính sách chiến lược và tất cả hoạt động đối nội, đối ngoại nhằm ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc Bài luận văn cũng không thể hệ thống mọi tác động từ các đối sách đó đến nền kinh tế ASEAN; nêu tất cả những bài học, những điều có thể rút ra cho Việt Nam từ các biện pháp ứng phó với khủng hoảng của Trưng Quốc Mà với khuôn khổ cho phép, tác giả sẽ hệ thống lại những chính sách lớn mà Trung Quốc áp dụng nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Từ những phân tích khách quan sẽ đưa ra những đánh giá chung và cách tiếp cận riêng biọt vồ những tác dộng đến nõn kinh tố ASEAN lừ các đối sách ứng phó khủng hoảng của Trung Quốc Cuối cùng, qua quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ đưa

ra những đề xuất mang tính cá nhân cho Việt Nam ở những khía cạnh mà bản thân tác giả cho là có ý nghĩa, quan trọng nhất

3.2 Đóng góp của luận văn

Qua quá trình làm việc nghiêm túc, hy vọng bài luận văn sẽ có đóng góp khiêm tốn trên hai phương diện Thứ nhất, nền kinh tế Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Trình độ phát triển hiện tại của họ là mức mà trong những năm sắp tới Việt Nam sẽ đạt đến Vì vậy, bài luận văn sẽ hệ thống lại những kinh nghiệm quản lý, cải cách và ứng phó với những khó khăn phát sinh trong giai đoạn 1997-1998 của Trung Quốc Các chính sách của Trung Quốc chắc chắn sẽ có giá trị tham khảo trong việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế, hoàn thiện các thiết chế thị trường của Việt Nam trong hoàn cảnh bình thường cũng như khi có tình huống bấl lợi Ngoài ra, ngay trong quá trình phân tích các chính sách ứng phó khủng hoảng của Trung Quốc, luận văn sẽ khắc hoạ cơ cấu, các thiết chế của nền kinh tế Trung Quốc sau khi đã được cải cách đổ góp phần vạch ra những mặt mạnh, những mặt còn lồn tại của nó

Trong điều kiện hiện nay, tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm nhiều nguy cơ Đặc biệt, nghiên cứu các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cho thấy khủng hoảng đã có tính chu kỳ Càng ngày chu kỳ đó càng ngắn lại và mức độ tàn phá càng lớn Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận nhưng các công cụ tài chính, các thiết chế của một ncn kinh tế thị trường hoàn

Trang 13

hảo vẫn chưa đồng bộ mà đây chính là nơi dễ phát sinh những bất ổn cho nền

kinh tế Qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua, chúng ta đã có cơ hội

phát hiện ra những điểm yếu của cơ cấu, chính sách kinh tế cũng như thu được nhiều bài học Nhưng hiện nay, trước tình hình khả quan của đầu tư nước ngoài, tốc độ tăng trưởng; có vẻ những yếu tố cấu thành khủng hoảng ít được quan tâm hơn Chỉ ra thực trạng, một số điểm còn tồn tại trong quá trình phát triển hiện nay của Việt Nam, một số kiến nghị để tăng trưởng bổn vững nhằm tránh phát sinh những nguy cơ nội tại cũng như tránh đến mức thấp nhất thiệt hại (nếu có một cuộc khủng hoảng khu vực nữa xuất hiện) là phần đóng góp Ihứ hai của bài luíln văn

Chương 1: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á và những tác động đến nền kinh tế ASEAN, Trung Quốc

Chương 2: Chính sách ứng phó với khủng hoảng của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế ASEAN

Chương 3: Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIỂN TỆ CHÂU Á VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỂN

KINH TÊ ASEAN, TRUNG QUỐC

1.1.1 NGUYÊN NHÂN CỦA cu ộ c KHỦNG HOẢNG

Từ những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều lý giải về nguyên nhân xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á (1997-1998) mà khu vực Đông Nam Á là ngòi nổ và tâm điểm Tuy nhiên, về cơ bản, nguyên nhân cuộc khủng hoảng có thể tựu chung ở những điểm chính sau:

Trước hết, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á xảy ra năm 1997-

1998 là sự dồn nén và bộc phát của những mâu thuẫn trước đó trong nền kinh

tế các nước ASEAN sau một thời gian tăng trưởng nóng Đó là sự phát triển mất cân đối, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn vay nước ngoài Trong khi ấy, những thiết chế quản lý cần thiết cho nền kinh tế chưa được kiện toàn hoặc hoạt động kém hiệu quả Đặc biệt, hoạt động của hệ thống ngân hàng chi phối mạnh sản xuất, đời sống toàn xã hội vốn rất nhạy cảm, đầy rủi ro lại không được giám sát đúng mức

Quá nhiều ngân hàng mới mọc lên, với năng lực tài chính khiêm tốn, họ phải thích ứng bằng cách đi vay nước ngoài để cho vay lại ở Irong nước hoặc làm trung gian tìm kiếm và cho vay lại vốn Hoạt động này không nhũng làm tăng số nợ nước ngoài mà rất dễ dẫn đến đổ vỡ khi một vài công ty làm ăn không hiệu quả Trong khi đó, để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ giá đã được cố định, xu hướng vay nóng với lãi suất cao từ các ngân hàng nước ngoài

Trang 15

đã lôi kéo cả một hệ thống nhiều ngân hàng lớn tại Đông Nam Á tham gia; dần dẫn đến số nợ ngoại tệ vượt cả tổng dự trữ ngoại tệ của các quốc gia.

Sai líìm tiếp theo là khi một lượng lớn vốn vay mượn không được kiểm soát đó lại được đem đầu tư vào thị trường bất động sản đầy rủi ro, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cần nhiều thời gian, trong lúc các ngành sản xuất ra hàng hoá lại không phát triển kịp đổ bổ sung nguồn cáu Đến khi nhu cầu xã hội giảm, bất động sản tụt giá, khu vực kinh tế tư nhân lâm vào cuộc khủng hoảng nợ đã kéo theo sự suy sụp, phá sản của các ngân hàng Phản ứng tâm lý của các nhà đầu tư là rút vốn dẫn đến giá cổ phiếu bị hạ đột ngột Đồng tiền mất giá, dân chúng đua nhau đi rút tiền để chuyển sang mua USD Xuất khẩu cũng sa sút, nhiều công ty phá sản - những yếu tố đó bùng phát theo dây chuyền đã dần dẫn đến khủng hoảng toàn diện

Thực ra, dấu hiệu của khủng hoảng tài chính đã manh nha xuất hiện từ

1995 tại Thái Lan Sau hơn một thập kỷ phát triển đầy ấn tượng, 2 năm trước khủng hoảng, người Thái đã bất đầu cảm nhận được sức ép của mức tăng trưởng quá cao trong khi các công cụ của thị trường chưa hoàn chỉnh, biểu hiện

ở tỷ lộ lạm phát cao và cán Ccln thương mại bị tham hụt Tuy nhicn, trong khi các nồn kinh tế đồu đang thịnh vượng và các quan chức đéu cơ tìm cách lãng tốc độ tăng trưởng kinh tế như một thành tích thì nhũng dấu hiệu đó đã bị bỏ qua Chỉ đến khi khủng hoảng thực sự ập đến, người ta mới đi tìm nguyên nhân

để đề ra cách đối phó

Xét về chính sách quản lý tỷ giá, việc nco giá quá cao so với thực tế giữa các đồng tiền khu vực với đồng USD chính là một trong những nguyên nhân sau xa dãn đến khủng hoảng tiền tộ Điều này có thể thấy rất rõ ở các nền kinh

tế bị khủng hoảng, đặc biệt là trường hợp Thái Lan Sau ba lần hạ tỷ giá hối đoái nhằm kích thích xuất khđu (lán đẩu vào tháng 5/1981; lẩn hai vào tháng 7/1981 và lần ba vào 11/1984), kể từ ngày 02/11/1984, đồng Baht của Thái Lan chính thức được xác định giá trị dựa vào đồng tiền một số bạn hàng chủ chốt, trong đó đồng USD của Mỹ đóng vai trò định hướng mạnh nhất, v ề thực chất, đồng Baht đã được cố định một cách cứng nhắc so với USD từ đó Khi nền kinh

tế còn thịnh vượng, không mấy ai để ý đến nguy cơ này Vì đồng tiền có giá

Trang 16

cao rat tnunn tm cno cae nna irung gian tài chính trong nước Họ có thể vay từ

thị trường quốc tế nguồn vốn lớn, lãi suất không cao lắm mà ít gặp rủi ro Các

cơ quan cần nhập khẩu cũng thấy dỗ chịu vì đồng nội tệ giá cao giúp nhập được hàng hoá rẻ Người dân cũng dễ dàng hơn khi mua đồ xa xỉ của nước ngoài mà không cảm thấy quá đắt Nhưng khi nền kinh tế gặp khó khăn thì tinh hình thay đổi

Tỷ giá hối đoái bị dồn nén một cách khicn cưỡng, đồng tiền đứng ở mức giá quá cao so với giá trị thực, đến khi lợi thế cạnh Iranh của khu vực giảm do chi phí tiền lương cao, nền kinh tế tăng trưởng chậm lại; sản xuất, xuất khẩu khó khăn cộng với thâm hụt thương mại, thâm hụt tài khoản vãng lai lớn đã làm cán cân thanh toán mất cân đối dẫn đến mất giá rồi phá giá đồng tiền rất nhanh Cùng chung đặc điểm Irên nên khi đồng Baht bị mất giá, hàng loạt đồng tiền trong khu vực như: Ringgit, Rupiah, Peso cũng không thể cưỡng lại trước cơn lốc khủng hoảng tiền tệ

Một nguyên nhan quan trọng nữa khiến các nước Đông Nam Á bị thiệt hại nặng nề là do các quốc gia này chưa thiết lập được thiết chế của một nền kinh tế thị trường hoàn hảo Sự sút giảm thị trường xuất khẩu cộng với những chính sách kinh tế áp dụng theo lối mòn cũ rất khó dịch chuyển (điển hình là chế độ tỷ giá cố định) đã dần chuyển kinh tế các nước ASEAN sang cơ cấu bất hợp lý, nổi cộm trong các quan hệ sản xuất - tiêu dùng và những vướng mắc trong ngành tài chính Cơ chế giám sát không theo kịp chính sách tự do hoá các hoạt động gián tiếp dẫn đến các khoản nợ nước ngoài quá lớn Năm 1997, tổng

nợ của Thái Lan chiếm đến 97% tổng sản phẩm quốc nội, Malaysia là 89% còn Indonesia lên tới 198% GDP [16; 23 - 24] Sức ép vay đổng USD để trả nợ đã làm cho các quốc gia nói trên thực sự suy kiệt, buộc phải thả nổi nội tệ và cầu cứu các tổ chức tài chính quốc tế

Cũng giống Việt Nam, sự thiếu đồng bộ và minh bạch của luật pháp cộng tệ tham nhũng đã làm cho khu vực kinh tế ngầm (các dịch vụ trung gian, môi giới, các công ty hoạt động định kỳ, ăn theo ) trở nên đông đúc ở các nước Đông Nam Á, làm nhiễu các hoạt động kinh tế, trực tiếp làm suy yếu nhiều thiết chế thị trường Nhu cầu ảo, cộng chi phí phát sinh cao khiến khả năng cạnh tranh và sự lành mạnh của nền kinh tế bị tổn thương Điều này tích

Trang 17

tụ lâu dần đã làm tăng độ rủi ro và khả năng chống chịu sự rủi ro đó của nềnkinh tế các nước Đông Nam Á.

Bên cạnh những yếu tố cơ bản mang tính chủ quan trên, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ còn có nhóm nguyên nhân khách quan Như sự trùng lặp tình cờ, từ năm 1995 đến năm 1997, tốc độ tăng trưởng của các nước công ngliiộp phát Iriổn giảm sút tlfln đốn lượng CÀU giảm, đổng dollar Mỹ lăng giá đột ngột trong khi hai đồng tiền mạnh nhất Chau Á lại mất giá: đồng Yên bị giảm 50%, đồng NDT thì được chủ động giảm tới 30% giá trị so với đồng USD [16;26] Như vậy, những sản pliíỉm xuấl kháu chủ lực của Đông Nam Ả như dệt may, giày dép, hàng điện tử giai đoạn 1995-1997 vừa phải chịu ảnh hưởng tiêu cực từ yếu tố tỷ giá, lại vừa phải đối mặt với nguy cơ bão hoà của thị trưừng thế giới Tính hấp dẫn vốn đáu lư nước ngoài của Đông Nam Á lúc này cũng giảm dần trước các nền kinh tế lớn hoặc mới nổi như Trung Quốc, một số thị trường ở Đông Âu và Mỹ La-tinh

Một tác nhân nguy hiểm không thể không kể đến là giới đầu cơ sau một thời gian tìm hiểu điểm yếu của các nền kinh tế Đông Nam Á đã tung những đòn mạnh mẽ và đồng loạt ngay khi thời cơ đến Đơn cử một ví dụ về mức độ tai hại của hoạt động đầu cơ tại Thái Lan: Khi có dấu hiệu của khủng hoảng, việc mua vét đồng USD đã gây áp lực giảm giá đồng Baht; đúng như các tổ chức tín dụng dự đoán, NHTW Thái Lan theo lệ đã tung dự trữ USD ra can thiệp vào thị trường ngoại hối ở Singapore nhằm can bằng mức cung - cầu giữa đồng Baht và Dollar Mỹ Mục tiêu là để giảm sức cp lên thị trường trong nước Kết quả ban đầu khả quan, chênh lệch tỷ giá Baht/USD giữa thị trường chứng khoán Singapore và BangKok là 3 điểm Tuy nhiên, trước khi thị trường tiền tệ của Thái Lan kịp nhận được những tín hiệu tích cực thì giới đầu cơ lợi dụng chênh lệch tỷ giá đã liên tục quay vòng đồng Baht, đồng USD từ Singapore sang Thái Lan rồi ngược lại để kiếm lời Sự tìm kiếm giá chênh lệch trên đã làm tiêu tan hàng tỷ USD của NHTW Thái Lan Đồng Baht không những không mạnh lên mà còn bị chấn động mạnh mẽ hơn Các nhà đầu tư nước ngoài trước tình hình nhạy cảm và khả năng lợi nhuận của mình sẽ giảm theo

sự mất giá của đồng Baht đã bán hầu hết cổ phiếu Thái Lan đang sở hữu để

Trang 18

mua USD chuyển ra nước ngoài nhằm bảo toàn vốn Nhu cđu đổng USD ở Thái Lan vì thế đột ngột tăng mạnh.

Trong khi đó, các nhà đầu cơ tiếp tục vay tiền Baht (các ngân hàng nước ngoài đều được vay bằng đồng baht) mua USD nên càng tăng thêm áp lực lên

tỷ giá Đến khi NHTW Thái Lan cạn nguồn dự trữ ngoại tệ buộc phải phá giá đồng Baht thì hoạt động đáu cơ đã hoàn thành nốt được quá trình săn lùng nguồn lợi nhuận ãn theo chcnh lộch tỷ giá hối đoái Chính phủ Thái của Thủ tướng Chalavit sụp đổ, đất nước này chính thức bước vào khủng hoảng với thiệt hại lên tới hàng chục tỷ dollar Mỹ

Trôn đíly là những nguycn nhíln cơ bản dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại các nước Đông Nam Á Nhìn chung, đây là mội quá trình nhan quả luỹ tích tuần hoàn (trong phạm vi khu vực) Từ khủng hoảng tỷ giá hối đoái, khủng hoảng thị trường chứng khoán, khủng hoảng thị trường bất động sản, khủng hoảng nợ, khủng hoảng hệ thống ngân hàng dẫn tới một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện Và sở dĩ cuộc khủng hoảng có tính chất lan truyền mạnh, ngoài lý do sự liên kết kinh tế ngày càng chặt chẽ, phải khẳng định nguyên nhân chủ yếu là các nước ASEAN, tiếp Iheo là Nhật Bản, Hàn Quốc đã có những yếu kém trong ngành tài chính giống nhau và có cùng những tác nhân tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng

1.1.2 NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA c u ộ c KHỦNG HOẢNG

1.1.2.1 Tại các nước Đông Nam Á

Ngay khi có những dấu hiệu bất ổn về tỷ giá, nhận thấy tính nhạy cảm

và nguy cơ của những biến động đó, Chính phủ Thái Lan đã rất cố gắng khi chấp nhận tung ra gẩn 24 tỷ USD để giữ giá đồng bản tệ Nhưng kết quả không thành công Đồng Baht vãn dần mất giá tới trên 20% Mất trắng hơn 20 tỷ USD, Thái Lan buộc phải dừng toàn bộ các biện pháp can thiệp Và nếu như cuộc khủng hoảng tài chính ở Mexico bùng nổ vào cuối năm 1994 làm rung chuyển thị trường tiền tệ tại các nước Mỹ la-tinh thì đến năm 1997 Thái Lan cũng gây nên một cú sốc cho toàn Châu Á khi tuyên bô' thả nổi đồng Baht mở đầu cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Các đồng tiền khác trong khu vực ngay sau đó đã bị tác động mạnh theo dây chuyền

Trang 19

Từ ngày 02-7-1997 khi bị phá giá, dồng Baht Thái Lan mấl giá Iiôn tục

từ 7,3%; 17%; 20% rồi đỉnh điểm là 40% vào tháng 10-1997 Chỉ trong 3 tháng, tỷ giá đồng Baht đã trượt dài từ 24,45 Baht/IUSD xuống còn 42 Bahl/IƯSD (Xem Phụ lục) Do các mối liên hệ kinh tế khá chặt chẽ và nền kinh tế có nhiều điểm tương đồng nên dù chủ động hơn Thái Lan nhưng đồng tiền các nước ASEAN còn lại tại thời điểm đó cũng không trụ nổi lâu trước sức tấn công mãnh liệt của các yếu tố thị trường Đầu tiên là đồng Peso của Phillipine Một ngày sau khi NHTW Thái Lan thả nổi đổng Baht, ngày 3-7-

1997, NHTW Phillipine phải tăng lãi suất lên gần 10%, sau đó tung ra 1 tỷ USD để giữ giá đồng Peso Song nỗ lực trên cũng không đem lại hiệu quả Ngày 11-7-1997, tiếp theo Thái Lan, Phillipine phải tuyên bố thả nổi đồng bản

tệ Ringgit của Malaysia, Rupiah của Indonesia cũng lần lượt chung số phận với đồng Baht và Peso Ngay cả đồng dollar của Singapore vốn được đánh giá

có tính ổn định cao vì nền kinh tế nước này phát triển lành mạnh hơn nhưng cũng không tránh khỏi vòng ảnh hưởng

Xuất kháu khó khăn, số nợ ngoại lộ đến hạn quá cao, thị Irường bất động sản mất giá khiến hàng loạt công ty thua lỗ, nhiều ngân hàng phá sản, vốn đầu

lư nước ngoài rút ra ổ ạt đã khiến lất cả các đổng tiền bị tuycn bố thả nổi đều dần mất giá mạnh sau đó Chỉ có một vài nền kinh tế trong ASEAN có vẻ không bị cơn lốc khủng hoảng càn quét (biểu hiện bằng phá giá đồng tiền và những tổn hại nặng nề cho nền kinh tế) Lý do là các nước này chưa hội nhập sâu vào đời sống kinh tế thế giới và có một vài đặc điểm khác biệt trong nền kinh tế quốc nội

Cơn lốc biến động tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á - nơi được đánh giá có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh bậc nhất thế giới trong những năm giữa thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990 đã tác động sâu sác không chỉ đối với thị trường tài chính, tiền tệ mà còn đẩy cả nền kinh tế, xã hội các quốc gia này vào vòng xáo trộn nặng nề Sau đó, các nước ASEAN đã nhanh chóng lôi kéo thêm nhiều nước Châu Á khác "vào trận" như Nhật Bản, Hàn Qươc Nền kinh tế toàn thế giới cũng không tránh khỏi ảnh hưởng

Ngày 23-10-1997, Ihị trường chứng khoán HongKong sụt giá hơn 10%,

mở đầu cho đợt biến động theo hướng giảm giá của thị trường chúng khoán toàn cẩu Đến 27-10, líìn đáu tiên kể từ 1987, thị trường chứng khoán Mỹ phải đóng cửa nửa giờ sau khi giá cổ phiếu giảm tới 350 điểm Hôm sau, thị trường

Trang 20

chứng khoán Toronto '[Canada) cũng phải ngừng giao dịch trong 30 phút vì chỉ

Ngày 17-11-1997, ngân hàng Hokaido Takushuku Bank Ltd, một trong

10 ngân hàng thương mại hàng đầu Nhật Bản phải tuyên bố phá sản do có nhiều khoản nợ không đòi được ở Đông Nam Á Nền kinh tế gặp khó khăn, lợi nhuận của các công ty Nhật giảm do các thị trường nhập khẩu ở Châu Á tiến hành chính sách giảm mua sắm Thị trường trong nước cũng trầm xuống do xu hướng giảm chi tiêu của người dân Giá cổ phiếu vì thế bị hạ thấp Ngày 24-11-

1997, Yamaichi một trong 4 công ty môi giới chứng khoán lớn nhất Nhật Bản sụp đổ để lại khoản nợ trên 3000 tỷ Yên

Với Hàn Quốc, nước này cũng có một số điểm tương đồng với Nhật Bản Các tập đoàn lớn (Chaebol) được chính phủ ưu đãi quá nhiều, nhất là trong lĩnh vực huy động vốn nên hầu hết đều có những khoản nợ khổng lồ Khi cuộc khủng hoảng ập đến, Hàn Quốc có nhiều dự án ở Đông Nam Á khó thu hồi

Trang 21

vốn, kinh doanh gặp khó khăn Ngày 23-1-1997, tập đoàn Hando phá sản Do

có nhiều khoản nợ khó đòi tại các nước ASEAN nên trong hai năm

1997-1998, 11 tập đoàn khác tại Hàn Quốc cũng lần lượt phải tuyên bố vỡ nợ Trong cơn lốc biến động tiổn lộ, tỷ giá hối đoái của đổng Won vớn đang được cố định với đồng USD nên cũng bị mất giá nghiêm trọng Ngày 16-12-1997, NHTW Hàn Quốc phải tuyên bố thả nổi bản tệ Tỷ giá won/USD từ 1000won/lUSD xuống còn 1926 won/lUSD vào ngày 23-12-1997 (mất giá gần 2 lẩn) Phải thay đổi chính phủ, Hàn Quốc đã trải qua những biến động xã hội lớn

Trong khi đó, HongKong và Đài Loan là hai nền kinh tế đóng vai trò đầu mối quan trọng trong các hoạt động đfìu tư vào Đông Nam Á với lượng vốn lớn Củ hai vùng lãnh thổ này đổu có cơ cấu nền sản xuất, dịch vụ hướng về xuất khẩu nên cũng gặp nhiều khó khăn do sức tiêu thụ của thị trường ASEAN

và Nhật Bản chững lại Thêm vào đó, do tính chất lan truyền của cuộc khủng hoảng quá mạnh, với nén kinh tế tự do, mở cửa ở mức độ cao ncn cả Đài Loan

và HongKong đều phải chịu những biến động tiêu cực Ngay khi đồng Yên Nhật giảm giá, đầu tháng 11-1997, đồng dollar của Hồng Kông và dollar của Đài Loan cũng bị trượt giá sau một thời gian được Chính phủ cố gắng cầm giữ, tuy mức độ nhẹ hơn Đến ngày 13-6-1998, thị trường chứng khoán HongKong lần thứ 2 xuất hiện những biến động tiêu cực với các chỉ số phản ánh mức độ chênh lệch khá cao giữa tình hình nền kinh tế trước và giữa khủng hoảng HongKong và Đài Loan đều có số nợ khó đòi cao ở các nước ASEAN Cùng với tổng lượng xuất khẩu giảm, tốc độ tăng trưởng của hai vùng lãnh Ihổ này

đã bị chậm lại lại rõ rệt, gây nhiều lo lắng cho các nhà đầu tư thế giới

Mặc dù không bị kéo vào vòng xoáy và chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng nhưng có thể khẳng định rằng trong hai nãm 1997-1998, nền kinh tế của Đài Loan và HongKong đã gặp phải những khó khăn và chịu thiệt hại lớn chưa từng có kể từ sau năm 1973

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA c u ộ c KHỦNG HOẢNG ĐEN

NỀN KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN

Tác động của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á tới các nước ASEAN là tương đối toàn diện và nặng nề Những tác động tiêu cực đó vừa có điểm tương đồng, vừa rất đa dạng ở từng nước

Trang 22

1.2.1 NHỮNG BIẾN ĐỘNG KHỐC LIỆT TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Nếu như những diễn biến của cuộc khủng hoảng lài chính liền tệ diễn ra nhanh đến đâu thì mức độ nghiêm trọng mà nó đem lại cũng mạnh không kém Bắt đầu từ ngày 2-7-1997 khi đồng Baht Thái Lan bị phá giá, thị trường ngoại

tộ irong khu vực Đông Nam Ả bắt đíìu chuỗi sụt giảm mang lính khốc liệt Chỉ trong 6 tháng, đổng Baht Thái Lan ma'l một nửa giá trị Đáu năm 1998, đổng Ringgit của Malaysia cũng mất giá tới 42% Mức độ mất giá của đồng tiền còn nghiôm trọng hơn ở Indonesia, lôn lứi 83% [72; 385] Cơn lốc phá giá đổng tiền khiến các nền kinh tế khác được coi là vững mạnh trong khối ASEAN cũng như trong khu vực Châu Á không tránh khỏi ảnh hưởng (Bảng 1) Đó là dấu hiệu khởi đáu cho sự suy thoái kinh tế của hàng loạt các quốc gia đã từng tạo nên “sự thần kỳ Đông Á”

líảnt! 1: Sự sụt giíiin lỷ giá hỏi do;ìi của dong tiền một sỏ Iiước Cliíiu Á

(so với đô-la Mỹ)

Đồng tiền Tháng 6- 1997 tháp IiliátTỷ giá thấp nhấtTháng mất giáTỷ lệ

Trang 23

lo ngại tình hình sẽ xấu thêm đã ào ạt rút vốn về, bán tháo cổ phiếu Rất nhiều nhà đầu tư bị phá sản do cố giữ cổ phiếu Tháng 9-1998 là thời điểm tồi tệ nhất của thị trường chứng khoán ở các nước Đông Nam Á Tại các trung tâm giao dịch lớn như BangKok, Jakarta, Manila, Kuala Lumpur, tỷ lệ mất giá chứng khoán lôn đến mức kỷ lục: lại thị trường Jakarta là -65%, Bangkok là -76% và nghiêm trọng nhất là sự sụp đổ ở Kuala Lumpur Các cổ phiếu so với thời điổm

giá cao nhất trước khủng hoảng ở thị trường này chỉ còn 21% giá trị (mất giá

tới 79%) [72; 388],

Cùng với sự sụp đổ của các thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản của các nước Đông Nam Á cũng lâm vào tình trạng đổ vỡ hàng loạt do nhu cáu mua nhà của người dAn giảm và nhu cầu ihuc văn phòng tiến về con sổ không (nhiều doanh nghiệp trong nước đã cắt giảm chi phí bằng việc đóng cửa các văn phòng tại các cao ốc đắt tiền) Tình hình kinh tế khó khăn tạo ra một môi trường sản xuất kinh doanh khắc nghiệt Tại Thái Lan, chỉ trong tháng 9-

1998 đã có 1345 doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản, hoá giá công ty Tính chung trong cả chín tháng đáu năm 1998 thì con số này là 9.543, lăng hơn 100% (134,1%) so với 1997 Tại Singapore, lúc đầu nước này chịu ảnh hưởng không lớn của cuộc khủng hoảng Song sau hơn một năm, do thâm hụt ngân sách tăng, xu hướng suy thoái kinh tế mạnh cộng với điều kiện kinh doanh khó hơn nên trong 6 tháng đầu năm 1998, đã có 124 công ty phá sản Số doanh

nghiệp trong dạng nguy cơ (hay đang ở gần bờ vực) phá sản thống kê được

cũng lên tới 1000, tăng 20% so với 1997 Cũng theo thống kê của Chính phủ Singapore trong thời điểm này, cứ 3 công ly cỡ nhỏ (vốn lừ 100.000- 500.000USD) thì một công ty có thể đã ở trong tình trạng phá sản [64; 58], [64; 75],

Các công ty liên doanh hay 100% vốn nước ngoài tưởng hùng mạnh nhưng do cuộc khủng hoảng tác động quá sâu rộng khiến mức ticu dùng của các thị trường liên tục giảm ncn họ cũng bị nguy cơ làm ăn thua lõ, phá sản ám ảnh nặng nề Nhu cầu mở rộng kinh doanh rất ít, nhiều chi nhánh nước ngoài đóng cửa khiến giá mua hoặc thuc nhà, văn phòng càng tiếp tục giảm mạnh Vừa bỏ một lượng lớn tiền vào đầu tư, nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu

Đ ẠI H O C QUỐC G IA HẢ NỘI

Trang 24

phục vụ các nhà đầu tư cùng lúc giảm khiến gần như ngay lập tức, nhiều nhà kinh doanh bất động sản lilm vào khó khăn hoặc vỡ nợ Trong khi đó, lĩnh vực bất động sản lại là đối tượng cho vay quan trọng của các ngân hàng Đông Nam

Á Vì vậy rất nhanh chóng, theo phản ứng day chuyền, ngành ngítn hàng cũng lao đao Nợ khó đòi tăng, các khoản cho vay không lliực hiện được, kinh doanh thua lỗ, trong khi đó lại xuất hiện làn sóng rút tiền bản tệ mua USD Ban đầu làn sóng này chỉ mang tính đẩu cơ nhưng do thông tin về sự yếu kém của các ngân hàng lộ diện, dân chúng lo sợ tiền tiết kiệm sẽ mất theo những tuycn bố phá sản đang ngày càng nhiều nên dồn dập đến xếp hàng đòi lại tiền đã gửi Nhiều ngân hàng không chịu nổi sức ép đã tuyên bố phá sản tạo nên một cuộc

“hoảng loạn ngân hàng” thực sự Lòng tin đối với các thể chế kinh tế sụp đổ, tam lý bất an, lo sợ càng nặng nề hơn

1.2.2 GÁNH NẶNG NỢ, KHỦNG HOẢNG VỐN

Việc đồng nội tệ mất giá, lãi suất buộc phải tăng cao, kinh tế khủng hoảng khiến các nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á chìm vào núi nợ khổng lồ Do việc thanh toán nợ đã được cố định theo hợp đồng, đến hạn, các công ty Đông Nam Á buộc phải mua USD để trả trong khi đồng USD bỗng đắt hơn, khiến các khoản nợ danh nghĩa cũng tăng lên 20- 50% (theo mức độ mất giá của đồng nội tệ) Vì vậy, nợ nước ngoài ở Đông Nam Á tãng vọt Riêng các khoản nợ do tư nhân vay nước ngoài ở Indonesia tính đến năm 1997 đã là 67,7 tỷ USD Cùng thời điểm, các doanh nghiệp Thái Lan cũng đang nợ nước ngoài số tiền lên tới 90 tỷ USD Sự sụt giảm bất ngờ về mức giá cũng làm giảm giá trị tài sản của các doanh nghiệp Vì thế, ngay cả các công ty không bị ảnh hưởng lớn đến sản xuất nhưng do đồng tiền cứ mất giá từng ngày, không ít doanh nghiệp sau một thời gian chống chọi, cuối cùng cũng buộc phải tuyên bố phá sản Tại Hàn Quốc - một nền kinh tế lớn ở Châu

Á với nhiều doanh nghiệp mạnh, tính cạnh tranh cao nhưng trong khủng hoảng, mỗi ngày trung bình cũng có tới hơn 100 công ly vừa và nhỏ giải thổ Số nợ trong nước bị đội lên tới một triệu tỷ Won (khoảng 727,8 tỷ USD) [64; 4],

Trang 25

^Jhi&TngftiTMng phá sản, cưn lốc phá giá đổng liổn lác dộng mạnh đến tâm lý khiến làn sóng rút tiền bản tệ mua USD của người dân ngày càng lên cao nên việc huy động vốn trở nên cực kỳ khó khăn Hệ quả tất yếu là các ngân hàng phải tìm cách tự bảo vệ mình bằng cách thắt chặt hầu bao, ngừng hoặc đưa ra các điều kiện cho vay nghiêm ngặt Mà các công ty đang chịu tác động của khủng hoảng lại rốt khó đáp ứng nliững điổu kiộn đó Như vậy, trong lúc nền kinh tế đang cần một lượng tiền lớn để tái đđu tư khắc phục khó khăn và phát triển sản xuất thì lại gặp phải trở ngại thiếu vốn Điều này đẩy nhiều công

ty đáng lẽ có thể cứu vãn được nhưng cuối cùng không còn cách nào khác là sa thải công nhân, tạm dừng hoạt động hoặc phá sản Đời sống người dân vì thế ngày càng khó khăn

Không dừng lại ở khía cạnh thiếu hụt nguồn vốn đầu tư trong nước, cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997-1998 cũng gần như ngay lập tức làm giảm lượng vốn đàu tư trực liếp nước ngoài vào các nước Đông Nam Á Tại Philippine, nếu như năm 1996, tổng lượng FDI chảy vào nước này là hơn 1,5 tỷ USD thì đến năm 1997 chỉ còn hơn 1,2 tỷ Tại Việt Nam, năm 1997 thu hút được hơn 2,5 tỷ USD thì năm 1998 chỉ còn hơn 1,8 tỷ Lượng FDI vào Malaysia năm 1998 cũng sụt gần 2 tỷ USD so với 1997 Tinh hình ở Indonesia nghiêm trọng nhất Nãm 1996 nước này thu hút được trên 6 tỷ USD vốn đáu tư trực tiếp nước ngoài, nám 1997 giảm xuống còn hơn 4,6 tỷ Đến năm 1998 thì không những Indonesia không thu hút được mà còn bị các nhà đầu tư rút thêm tiền đã đầu tư đi FDI của nước này lần đầu tiên về con số âm 356 triệu USD [41; I99J

1.2.3 TÁC ĐỘNG TIÊU cực CỦA c u ộ c KHỦNG HOẢNG LÊN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHAU c ủ a c á c nước đ ô n g nam á

Khi cuộc khủng hoảng bất ngờ ập đến, kim ngạch xuất nhập khẩu của các nước ASEAN bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đi khá rõ mặc dù một trong những biện pháp quan trọng nhất nhằm đối phó với khủng hoảng của các nước này là thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, v ề nhập khẩu, thực hiện những biện pháp nghiêm ngặt của các chính phủ, kim ngạch nhập khẩu ở Đông Nam Á đã giảm rõ rệt: ở Indonesia, tăng trưởng nhập khẩu năm 1997 là -2,9%,

Trang 26

năm 1998 là -34% Phillipine năm 1997 còn tăng 11,2%, năm 1998 giảm xuống -18,3%- Tương tự, ở Singapore, tăng trưởng nhập khẩu năm 1997, 1998 lần lượt là các con số 6,2 và -13,6% Tại Malaysia, dù tốc độ tăng trưởng nhập khẩu không phải là con số am nhưng cũng có sự suy giảm rõ nét, từ 12% năm

1997 đến 1998 chỉ còn 3,3%- Tuy tăng trưởng nhập kháu theo đúng chủ trương nhưng tăng trưởng xuất khẩu thì không thuận lợi như thế Chỉ có Thái Lan, Malaysia thực hiện được đúng kế hoạch, tăng trưởng xuất khẩu cao hơn so với thời điểm trước khủng hoảng (năm 1996) Còn lại, do nền kinh tế gập khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, bối cảnh quốc tế không thuận lợi nên Phillipine năm 1996 tăng trưởng xuốt khíỉu là 17,7% thì 1998 còn 16,9%; Indonesia 1996 là 9,7% thì 1998 là -8,6% Ngay một nền kinh tế hướng về xuất khẩu như Singapore, năm 1996 còn tăng trưởng 5,2% thì 1998 cũng giảm xuống còn -1,0% [35; 24-25] Trong khi đó, xuất khẩu giảm là dấu hiệu báo trước sản xuất trong nước đã và sẽ gặp khó khăn, cán cân thương mại thương mại sẽ nghiêng về phía bất lợi

Trong lúc nồn kinh lố gộp hiến động lớn, các nước ASRAN buộc phải nhanh chóng đưa ra những chính sách đối phó Những chính sách đó bôn cạnh những mặt tích cực, không tránh khỏi một số điểm có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Ngay chính sách tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cũng thuộc dạng này Xél vổ cơ bản thì hạn chế nhập khđu, tăng cường xuấl khẩu là chính sách hợp lý của các nước ASEAN để kích thích sản xuất, thu ngoại tệ mạnh Song, nếu nhìn một cách tổng thể thì hành động can thiệp của các Chính phủ nhằm kìm hãm và hạn chế nhập khẩu đã làm phát sinh thêm một số yếu tố khó khăn Vì với các nước đang phát triển, nhập khẩu là yếu tố rất quan trọng để đổi mới công nghệ, tạo mặt hàng mũi nhọn, mở rộng thị trường, dần thay thế các mặt hàng nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu Hơn nữa, khi các biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu được thực thi, nó cũng đánh dấu thời điểm đầy khó khăn của các nhà nhập khẩu, phân phối trong khu vực ASEAN

1.2.4 NHỮNG BIẾN ĐỘNG XÃ HỘI PHỨC TẠP KHÁC

Với tác động của nền kinh tế sa sút, vấn đề thất nghiệp trở nên nghicm trọng ở các nước ASEAN Số người thất nghiệp ở Thái Lan đầu năm 1998 lên tới trên 2 triệu, ở Indonesia là 9 triệu Tại Phillipine, chỉ trong quý I năm 1998,

Trang 27

;ô' người bị các xí nghiệp liên doanh, các công ty làm ăn khó khăn sa thải đã là ị3.000 người [64; 4] Lương Ihưởng thấp đi, đồng liồn mấl giá, nhiéu ngưừi lao íộng bị đẩy ra đường đã gây thêm cho các nước Đông Nam Á nhiều căng thẳng xã hội và những biến động chính trị không kiểm soát được.

Với lác dộng khít loàn tliộn đốn tlừi sống kinh tế, cuộc khủng hoảng lài chính liền lộ Chau Á khiến háu hếl các nổn kinh tế Đông Nam Á rơi vào suy thoái mạnh trong năm 1998 Từ tăng trưởng cao, nhiều nước đột ngột phải đối diện với tình trạng tăng trưởng âm Singapore bị ảnh hưởng ít nhất, GDP chỉ tàng trưởng Am trong 6 tháng Ngược lại, Thái Lan bị lăng trưởng Am trong 18 tháng liên tục (từ quý III năm 1997 đến quý IV năm 1998) Ngay cả các nền kinh tế lớn ở Châu Á như Nhật Bản, HongKong, Hàn Quốc cũng gặp suy thoái

ở mức độ khác nhau Tốc độ lăng uưởng đang trcn dà cao và khá cao ở Ch Au Á bỗng nhiên khựng lại đã nhanh chóng làm giảm lòng tin của dân chúng vào sự điều hành của các Chính phủ Tâm lý bi quan bắt đầu xuất hiện

B;ỈI11> 2: số quý (*’ bị suy llioái cúa I11ỎI sớ I1Ế11 kinli tố Cháu Ả khi

cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra

Tên nuớc Số quý bị suy thoái

(,) Một quý bằng 03 tháng.

Trang 28

công nay bị chỉ trích nặng nề Nghiêm trọng nhất là ở Indonesia, bạo động diễn

ra khắp nơi Từ biểu tình thổ hiện sự bất bình với Chính phủ, sau một lliời gian

đã chuyển sang thái cực bạo động chống chính quyền Tinh trạng cướp phá,

chống lại tầng lớp giàu có mà tiêu biổu là người Hoa, cao trào là xung đột sắc

tộc xuất hiện ở nhiều nơi Bất ổn nghiêm trọng khiến các nhà đầu tư càng mất lòng tin Tổng thống Indonesia thời đó là Suharto đã phải từ chức sau nhiều

thập kỷ nắm quyền, mở đáu cho những căng thẳng dai dẳng trong đời sống

chính trị, xã hội ở đất nước Hồi giáo lớn nhất thế giới này

Với những biến động to lớn do khủng hoảng tại khu vực có nhiều nền

kinh tế quan trọng, trong đó, nhiều nước ASEAN, cùng Hàn Quốc, Nhật Bản là

những nước đầu tư nhiều vào lục địa, Trung Quốc đã gặp không ít khó khăn để

giữ vững sự ổn định và duy trì tốc độ tăng Irưởng kinh tế

1.3.1 NHỮNG THÀNH Tựu, ƯU THẾ Nổl BẬT CỦA NỀN KINH TẾ

TRUNG QUỐC TRƯỚC THỜI ĐlỂM khủng h o ản g

1.3.1.1 Thành tựu

Từ mốc của cuộc khủng hoảng: tháng 7/1997 trở về trước, Trung Quốc

đã thu được nhiều thành tựu về kinh tế cũng như xã hội, trong đó nổi bật nhất

là những thành tựu kinh tế sau gần 20 năm cải cách, mở cửa

Cải cách mở cửa đã làm cho cơ chế vận hành của nền kinh tế Trung

Quốc có những thay đổi mang tính bước ngoặt Nó đã thúc đẩy có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, làm cho Trung Quốc có những thay đổi mang tính lịch sử Nếu lổng sản lượng lương thực năm 1978 mới đạt 304,5 triệu tấn;

đến năm 1996 đã là 504,5 triệu [1; 29] Trung Quốc có diện tích canh tác chỉ chiếm 7% thế giới nhưng bước đầu đã giải quyết ổn thoả nhu cầu lương thực cho 22% dân số thế giới Cơ chế kinh tế từ mô hình bao cấp với đặc trưng cơ bản là thiếu thốn đã chuyển đổi hợp lý và dứt khoát, có chất lượng sang chế độ

Trang 29

mua bán, cạnh tranh với mặt hàng phong phú, đa chủng loại, phục vụ đủ và ngày càng tốt nhu cầu của người dan Nén kinh tế quốc dan nhờ đó cũng chuyển từ bất ổn định sang phát triển nhanh và tiến tới bền vững.

Từ năm 1979 mở đầu công cuộc cải cách mở cửa, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ban đđu còn bị khoanh vùng, các nhà đầu tư còn dè dặt thì đến giữa thập kỷ 1990, về cơ bản, Trung Quốc đã có một nền kinh tế hấp dãn FDI bậc nhất thế giới Tính từ mốc 1979 đến 1999, khi tâm của cuộc khủng hoảng vừa qua giai đoạn phát tác mạnh nhất, tổng cộng Trung Quốc đã thu hút được 406,9

tỷ USD vốn nước ngoài, trong đó vốn đẩu lư trực tiếp là 265,6 tỷ Tổng cộng các hạng mục đẩu tư là hơn 300.000, giải quyết việc làm mới cho gần 20 triệu người Từ năm 1993, sau đó liên tiếp 6 năm liền, Trung Quốc thành nước đang phát triển thu hút nhiều đđu tư nước ngoài nhất thế giới [1; 28],

Vé tổng sản phẩm quốc dủn, năm 1978 Trung Quốc mới đạt 362,41 tỷ NDT, bình quân 397 NDT/người Đến năm 1990 đã là 1859,84 tỷ NDT, bình quítn đáu người 1634 NDT/năm Tới năm 1997, GNP cả nước đạt 7345,25 lỷ NDT (bằng 902 tỷ USD) đứng thứ 7 trên thế giới, sau Mỹ: 7819.3 tỷ; Nhật: 4223.4 tỷ; Đức: 2115 tỷ; Pháp: 1393.8 tỷ; Anh: 1278 tỷ; Italia: 1146.2 tỷ USD

Dự trữ ngoại tệ cuối năm 1998 là 145 tỷ dollar - chỉ đứng thứ 2 thế giới sau Nhật Bản [13; 21] Tính ra, trong vòng 19 năm (1979-1998), mức tăng Irung bình GDP của Trung Quốc đạt 9,8%/nãm Đặc biệt là trong giai đoạn 1993-

1997 đạt 11%, gấp 3 lần mức bình quân thế giới cùng kỳ [38; 2],

Tổng kim ngạch ngoại thương Trung Quốc năm 1978 là 20,6 tỷ USD, đến năm 1997 đã vọt lên 325,1 tỷ USD Vị trí thương mại của Trung Quốc trên thố giới lừ thứ 32; đốn Iiỉlm 1999 đã vững chắc ử số 10 [46; 72J Mức thu nliẠp của dân nông thôn tăng 4,6% trong năm 1997, đạt 2029 NDT/người Thu nhập cho tiêu dùng của dcin thành phố tính trung bình Ihco đầu người cũng tăng 3,4%, lổn lới 5160 NDT/năm so với mức 316 NDT năm 1978 Số dư liếl kiộm của dân Trung Quốc thường chiếm tới 1/2 GDẸ đạt 4628 tỷ NDT - thuộc dạng cao nhất thế giới [12; 4]

Từ một nước chỉ trông chờ vào đầu lư nước ngoài mới thúc đẩy được tốc

độ tăng trưởng, đến cuối năm 1999, đã có 5.976 xí nghiệp, nhà máy của Trung

Trang 30

Quốc được^câỹlĩựng“ố nước ngoài Có thể đánh giá rằng dù mới ở giai đoạn đầu, đầu tư ra ngoài lãnh thổ của Trung Quốc đã có một bề rộng đáng nể Vốn, công nghệ và các nhà quản lý của Trung Quốc đã vươn ra tới hơn 160 quốc gia

và vùng lãnh thổ ở khắp các chủu lục trôn thế giới [1; 28]

Còn rất nhiều con số thể hiện sự phát Iriổn clđy ấn tượng khác nhưng nói chung cho đến khi cuộc khủng hoảng xảy ra, không ít quốc gia trên thế giới đã không còn coi Trung Quốc là một nước đang phát triển bình thường theo đúng nghĩa của từ đó nữa Trung Quốc đã thành một nhân tố kinh tế chính trị quan trọng và có ảnh hưởng mạnh trên thế giới

I.3.I.2 Nhũng ưu thế của nền kinh tê Trung Quốc

Cùng những thành tựu kể trên, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á bùng phát vào năm 1997, với chính sách phát triển riêng, nền kinh tế Trung Quốc có những ưu thế nhất định trước đặc điểm của cuộc khủng hoảng.Ngay từ khi bắt đầu tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã chú ý đến thể chế tài chính, tiền tệ và coi trọng vai trò của ngành ngân hàng với chức năng không chỉ là túi tiền của xã hội mà như một công cụ điều tiết, quản lý vĩ

mô, đòn bđy phát iriổn kinh lế

Trước năm 1978, thực tế Trung Quốc chỉ có duy nhất một Ngân hàng lliuộc sở hữu Nhà nước: Ngíln hàng NliAn díln Trung Quốc Nắm dộc quyền một thị trường rộng lớn nhưng hoạt động của ngân hàng này hầu như không có hiệu quả kinh tế, nó thiên về thu chi theo chính sách Từ năm 1979, đáp ứng nhu cầu đổi mới, Chính phủ Trung Quốc quyết định đa dạng hoá các hoạt động tài chính Nguyên tắc xây dựng hệ thống điều tiết vĩ mô của NHTW dược xác lập Cùng đó, tách ra và giữ lại một số ngân hàng chuyên về các chính sách xã hội, còn lại thương mại hoá toàn bộ, tức là lấy cơ chế kinh doanh hiện đại, tự chủ làm mục tiêu; chỉ trong một vài năm Trung Quốc đã bước đầu tạo được một hệ thống ngan hàng hoạt động theo cơ chế thị trường

Trụ cột của hệ thống đó là các ngân hàng thương mại Xuất phát từ quan điểm tránh để các ngân hàng thương mại quốc doanh cạnh tranh với nhau, chúng đã được chia ra, mỗi ngân hàng chỉ cung cấp dịch vụ cho một ngành nhất định của nền kinh tế Tính tới năm 1997, Trung Quốc có 7 ngân hàng

Trang 31

thương mại nhà nước lớn Mặc dù kinh doanh theo sự chỉ định của nhà nước và

bị gò ép theo lĩnh vực nhưng nhờ hoạt động trong một thị trường rộng lớn, đã gắn bó với người dân nhiều năm và nhất là không phải cạnh tranh với các ngân hàng thương mại quốc doanh khác nên các ngân hàng thương mại Trung Quốc đến thời điểm khủng hoảng đều khá mạnh, có nguồn vốn lớn cũng như lượng khách hàng đông đảo Các ngân hàng này thường đóng vai trò số một trong việc cung cấp vốn ở lĩnh vực mình phụ trách

Bên cạnh hệ thống gồm 7 ngân hàng thương mại quốc hữu lớn ke trôn, Trung Quốc vẫn giữ 3 ngân hàng chính sách Ngoài ra, tính tới năm 1998, Trung Quốc còn có gần 100 ngân hàng hợp doanh, hơn 170 ngân hàng nước ngoài, khoảng 58 ngàn hợp tác xã tín dụng, 239 công ty đđu tư tín dụng và 20 công ty bảo hiểm Nguồn vốn vì thế được huy động tốt cho các yêu cầu của nền kinh tế [46; 55]

Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở các nước Đông Nam Á là do các quốc gia này duy trì chính sách neo giữ giá đổng tiền của mình quá cao so với giá trị thực tế của nó trước đồng USD Trung Quốc thì khác, sau một thời gian giữ đồng NDT ở mức bất hợp lý: 1,5NDT/1 USD năm 1979; 3,7651 NDT/1 USD năm 1989; trước khi khủng hoảng diễn ra, ngày 1-1-1994, đồng NDT chính ihức bị tuycn bố hạ giá mạnh

từ 5.2NDT/1USD xuống còn 8,7NDT/1USD Cũng từ đây, Chính phủ Trung Quốc huỷ bỏ cơ chế tỷ giá ấn định của nhà nước chuyển sang thực hiện chế độ một tỷ giá Được thả nổi có quản lý, dựa trên cơ sở cung cầu của thị trường nên đổng NDT đã lự ổn định, cơ bản đứng trên giá thực của nó khi làn sóng khủng hoảng ập đến

Cơ cấu nguồn vốn trong nền kinh tế nói chung và lượng tiền cho vay nói riêng ở Trung Quốc, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, được huy động

từ nhiều nguồn: Vay nước ngoài, vốn hiện có và tiền gửi tiết kiệm của dân Chỉ có điều, đến thời điểm khủng hoảng, tuy Trung Quốc nợ nước ngoài 116,2

tỷ USD nhưng nợ ngắn hạn, sắp phải trả chỉ chiếm 11,2% nên sức ép với nền kinh tế không cao, lại có 145 tỷ USD dự trữ ngoại tệ, khả năng rủi ro chắc chắn không bằng các nước Đông Nam Á [13; 16]

Trang 32

Nói đến những thuận lợi chính của Trung Quốc không thể bỏ qua một yếu tố đó là tỷ lệ tăng trưởng của nước này luôn được duy trì ổn định ở mức cao và tương đối bền vững Khi khủng hoảng xảy ra, lượng vốn đầu tư nước ngoài Trung Quốc thu hút được đang rất lớn, chỉ đứng sau Mỹ Nó giúp tăng nguồn cung cấp về ngoại tệ, giảm sức cp đòi phá giá đồng NDT Đây cũng là

cơ sở đảm bảo cho sự thành công của chính sách tiền tệ ổn định, giúp các đối sách chống lại khủng hoảng của Trung Quốc Irở nên hiệu quả hơn

Một ưu điểm nữa là Trung Quốc có thị trường nội địa rộng lớn với hơn 1

tỷ dân Nước này không bị sức ép quá lớn yêu cầu phải tăng bằng được xuất khẩu để làm nền tảng khắc phục suy thoái kinh tế như các quốc gia nhỏ khác Đến năm 1997, xuất khẩu chỉ chiếm trên 20% GDP nên mặc dù có gặp khó khăn trong quá trình phát triển nhưng sản xuất trong nước của Trung Quốc không bị ngưng trệ lớn [47; 10], Điều này tạo thế ổn định quan trọng cho sự ổn định của cả nền kinh tế

Trên lý thuyết, khi đồng NDT đứng giá giữa cơn lốc phá giá các đồng tién ở Chau Á, hàng hoá Trung Quớc SC trở nôn đắt hơn Song, với mong muốn

có một vị trị quan trọng trong khu vực Châu Á và trên các diễn đàn quốc tế, Trung Quốc sẽ thu được nhiều lợi ích cả về kinh tế lãn chính trị khi được coi là nhân tố giữ gìn sự ổn định cho khu vực thông qua việc cô' giữ giá đồng NDT mặc dù điều này sẽ ít nhiều gây tổn thất về kinh tế, một vài xáo trộn trong đời sống xã hội Vả lại nếu phá giá đồng tiền của mình cho mục tiêu trước mắt, Trung Quốc sẽ đánh mất lòng tin, làm hại đến Ihu hút vốn đáu tư nước ngoài - điều mà họ không hề muốn

Dù hàng hoá của Trung Quốc trở nên đắt hơn trong cuộc khủng hoảng nhưng thực tế, các mặt hàng của Trung Quốc đcu đang ở mức rỏ và quá 1C so với nhiều mặt hàng cùng loại của khu vực nên tính cạnh tranh của các mặt hàng này không bị mất hẳn Trong khi đó, Trung Quốc là nước nhập khẩu một lượng lớn các sản phẩm thô, dầu thực vật, cao su tự nhiên, gỗ tròn từ các nước Đông Nam Á Nên việc đồng tiền các nước ASEAN mất giá đồng nghĩa với chi phí cấu thành giá cả đầu vào cho nhiều loại hàng hoá của Trung Quốc

Trang 33

cũng giảm Chi phí xã hội nhờ đó có khả năng co dãn Chi phí sản xuất các mặt hàng tái chế sẽ thấp hơn.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á ập đến, dù khó khăn là không tránh khỏi nhưng nền kinh tế Trung Quốc vẫn có những ưu thế riêng biệt giúp nước này chống chịu hiệu quả những khó khăn phát sinh do thị trường thế giới biến động mạnh Mặt khác, cuộc khủng hoảng tùi chính liòn lộ cũng là cơ hôi <1Ổ Trung Quốc xem XÓI, cơ CÍÚI lại

IIỔI1 kinh lố nước mình llico lurứng liiộii dại VÌI hợp lí I iưii

1.3.2 TRUNG QUỐC VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU cực CÙA CUỘC KHỦNG HOẢNG

Mặc dù đạt nhiều thành tựu nhưng do đi lên từ một quốc gia nghèo, lạc hậu, có cơ chế quản lý bất hợp lý nên đến thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, nền kinh tế Trung Quốc vãn chưa phải là một cơ cấu tối ưu Nó văn còn mang nhiều dấu ấn của phong cách cũ do bị ảnh hưởng nặng nề từ tư tưởng bảo thủ trì trệ, cách làm ăn thời bao cấp Vì thế, bcn cạnh các ưu thế, dã có không ít khó khăn nảy sinh

Ngoài những bất lợi do khủng hoảng trực tiếp đem lại như: hàng hoá Trung Quốc đắt hơn so với trước, xuất khẩu khó khăn do nhiều thị trường muốn giảm nhập khẩu Chính phủ thời đó của Trung Quốc do ông Chu Dung

Cơ làm Thủ tướng còn phải đối mặt với một loạt các vấn đề bức xúc mới phát sinh cũng như nhiều căn bệnh cố hữu trong nền kinh tế Nạn tham nhũng, hối

lộ, cửa quyền, sách nhiễu còn nặng; thành phần kinh tế Nhà nước hoạt động kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ liên miên; tiền công được đem đi đầu tư dàn trải, chồng chco; hàng hoá công nghệ cao chưa nổi trội trcn trường quốc tố; thiệt hại do lũ lụt nặng n ề

Bên cạnh đó, sự chênh lệch giàu nghèo đang đặt ra nhiều thách thức gay gắt về chính sách xã hội Chỉ theo thống kê từ 1994, ngoài 1000 tỷ phú, 3 triệu triệu phú, Trung Quốc còn 58 triệu người nghèo khổ 20% gia đình giàu nhất chiếm tới 50,24% của cải toàn xã hội [12; 12] Cuộc khủng hoảng đã khơi sâu

Trang 34

thêm hố ngăn cách, sự mâu thuẫn giữa các tầng lớp dân cư khác nhau trong cả cộng đồng Nếu không giải quyết nhanh, nguy cơ có biến động xã hội sẽ không còn là điều xa vời.

Thực tế, trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc đến năm

1997, mặc dù hàng công nghiệp đã chiếm tỷ trọng lớn hơn nhưng chủ yếu là các sản phẩm có hàm lượng lao động cao, chưa phải hàng cao cấp có giá trị, không thể thay thế Do vậy, khi có những thay đổi bất lợi trên thị trường thế giới, nhất là tại các thị trường lớn mà Trung Quốc có truyền thống xuất khẩu thuận lợi, đã làm cho hoạt động ngoại thương Trung Quốc gặp trở ngại Dù sao, khi đổng NDT dứng giá Irong khi các đồng tién trong khu vực mất giá mạnh đã khiến ưu thế giá rẻ của hàng Trung Quốc bị giảm Hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc bỗng trở nên đắt hơn so với trước mặc dù nhà sản xuất không hề tăng giá

Số số liệu phân tích dưới đây sẽ cho thấy, tác động của tỷ giá lên hàng xuất khẩu là khá mạnh mẽ Do các nước thắt chặt nhập khẩu và tỷ giá đồng NDT cao, xuất khẩu của Trung Quốc sang Hàn Quốc nãm 1998 đã giảm tới 30% (một con số rất lớn, gần 1/3) Thị trường Nhạt Bản cũng gặp khó khăn không kém Theo các nhà phân tích, nếu đồng Yên của Nhật giảm tới mức 150yên/lUSD thì xuất khẩu của Trung Quốc vào Nhật cũng sẽ bị tụt giảm 30% [64; 58],

Xuấl khíỉu giảm, hàng hoá trong nước ứ đọng nôn nhiều công ly buộc phải sử dụng biện pháp sa thải công nhân Chỉ riêng ngành dệt, 400.000 nhan công Trung Quốc đã phải nghỉ việc khi cuộc khủng hoảng bắt đầu tác động mạnh Tình (rạng lliấl ngliiộp lạo mẠt sức ép lớn dối với xã hỏi, nliốl là tiến cuối năm 1998, đầu năm 1999, tỷ lệ thất nghiệp ở nước này đã lên tới 9% [64;58] Chính phủ buộc phải có một số biện pháp trợ cấp cho người mất việc, giúp họ cổ cơ hội được đào tạo lại đổ cổ việc làm Điều này cũng lạo thêm mội gánh nặng cho ngủn sách nhà nước

Đẩu tư nước ngoài vào Trung Quốc - yếu tố quan trọng hàng đđu giúp cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc Ihành công, xã hội Trung Quốc thay da đổi thịt - do chịu tác động của cuộc khủng hoảng lài chính tiền tệ Châu Á -

Trang 35

cũng bị ảnh hưởng mạnh Mặc dù tổng lượng FDI vãn lớn nhưng đã xuất hiện

sự sụt giảm trong năm 1997 và tiếp tục giảm trong năm 1998 do chính sách hạn chế chuyển vốn đáu lư ra nước ngoài cùa các nước bị khủng hoảng, do xu hướng cạnh tranh để thu hút FDI của các quốc gia trong khu vực và cả tâm lý chần chừ, lo ngại sự rủi ro của các nhà đáu tư Trong năm 1997, Trung Quốc còn thu hút được 45 tỷ USD đầu tư nước ngoài thì 1998 chỉ còn 33 tỷ, giảm 25% Sự tụt giảm FDI này, theo tính toán đã làm giảm tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc 2% [64; 58]

Nhiều khoản viện trợ có ý nghĩa rất lớn trong các kế hoạch quốc gia như: xoá đói giảm nghèo, nâng cao tính cạnh tranh cho doanh nghiệp, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các tỉnh phía Đông với các tỉnh phía Tay dự định được cung cấp cho Trung Quốc trong năm 1997, 1998 đã bị hoãn lại hoặc cắt giảm Trong đó, nguồn ODA đến từ Nhật Bản giảm đã tác động đáng kể đến nhiều dự án và tình hình kinh tế các tỉnh, thành của Trung Quốc Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế chững lại, cổ phiếu trên thị trường chứng khoán giảm giá kéo theo nhiều hệ quả bất lợi đến sản xuất và giá trị tài sản các doanh nghiệp Đã có một số công ty lớn của Đại lục bị phá sản khiến tâm lý xã hội dao động Các ngân hàng cũng huy động vốn khó khăn hơn Các kế hoạch phát triển, dự án xây dựng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tiến trình cải cách của Trung Quốc cũng vì thế mà bị chậm lại hay mất tác dụng, không phát huy được trong thực tế

Cùng đó, việc các nước ASEAN thúc đẩy tiến trình thành lập khu vực mậu dịch tự do (AFTA), giảm mức thuế xuống còn 0% - 5% cho nhau là một thách thức lớn Không những thế, xu hướng khu vực hoá ở Châu Phi, sự ra đời của đồng EURO, sự sụt giá của đồng rúp Nga (hơn 40% so với trước ngày 17- 8-1998) đã tạo nên bức tường rào vô hình cản hàng xuất khẩu, làm sụt giảm thị trường hải ngoại của Trung Quốc Cả một nền sản xuất khổng lồ đang hừng hực khí thế của Trung Quốc đã bị khựng lại, gay khó khăn trong đời sống cho một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là người dân lao động ở vùng nông thôn, các tỉnh xa xôi

Trang 36

NamTW77clcrpFĩ3ĩgánh chịu những thiệt hại cả trực tiếp và gián tiếp từ cuộc khủng hoảng, Ihũm hụt ngủn sách là 55,506 tỷ NDT; sang năm 1998 tình hình còn xấu hơn, mức thâm hụt lên tới 96 tỷ NDT Điều này đã buộc chính phủ Trung Quốc phải 3 lần phát hành trái phiếu với tổng giá trị là 495 tỷ NDT với thời hạn 10 năm và mức lãi suất 5,5%/năm [68; 29-30], Như vậy nghĩa là Chính phủ của ông Chu Dung Cơ đã phải tự nững khoản vay có lãi của mình lên ngay trong lúc còn khó khăn, đồng NDT vẫn đang phải chịu những sức ép nặng nề.

Trên đay là những thách thức không nhỏ buộc giới lãnh đạo Trung Quốc phải áp dụng ngay các biện pháp đối phó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997-1998

30

Trang 37

CHƯƠNG 2; CHÍNH SÁCH ÚNG PHÓ VỚI cuộc

KHỦNG HOẢNG CỦA TRUNG QUỐC VÀ ẢNH HƯỞNG

CỦA NÓ TỚI NỂN KINH TÊ ASEAN

2.1 TRUNG QUỐC ÚNG PHÓ VỚI KHỦNG HOẢNG

2.1.1 CHÍNH SÁCH KINH TÊ ĐÔI NỘI

2.1.1.1 Điều chỉnh hệ thống tài chính, tiền tệ và ngân hàng

Khi tình hình khu vực trở nên khẩn trương, nhiều tờ báo Anh ngữ có tiếng như: Business limes, The Economist, Review đã liôn liếp đăng bài của các chuyên gia kinh tế cho rằng: sở dĩ Trung Quốc không bị cơn bão khủng hoảng tài chính, tiền tệ tàn phá là vì những ngân hàng lớn của nước này đều do nhà nước kiểm soát và bù lỗ Với số vốn rất đáng kể, luôn được ưu tiên nhưng phải được sự cho phép, kiểm duyệt chặt, những ngân hàng này mới được xuất vốn Số tiền được đem ra nước ngoài làm nguồn thu lợi cũng không nhiều nên khi gặp khủng hoảng chúng bị ảnh hưởng nhưng không mạnh Nhìn từ góc

độ kinh doanh tiền tệ mà nói thì quan điểm nêu trên là hoàn toàn đúng Nhưng thực tế cho thấy không phải cứ can thiệp vào hoạt động cho vay, sẩn sàng chịu

lỗ cho các ngân hàng là sẽ tránh được khủng hoảng Nguy cơ toát lên từ toàn

bộ nền kinh tế Vì vậy, chính sách trọng điểm cho ngành tài chính phải thật đầy đủ, chính xác và đồng bộ mới hoá giải được những sức ép vốn rất nặng nề lên nền kinh tế mà đặc biệt là hệ thống ngân hàng Rõ ràng, đến nay có Ihổ khẳng định những cái cách áp dụng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng của Trung Quốc giai đoạn khủng hoảng là đúng đắn, có vai trò quyết định đến sự

ổn định của nền kinh tế Trong hệ thống các biện pháp đó, cơ bản phải kể đến:

♦ Cải cách cơ ch ế giám sát của Ngán hàng Trưng ương

Năm 1997, sau một thời gian nghiên cứư, NHTW Trung Quốc đã quyết định thành lập Uỷ ban chính sách tiền tệ để giám sát mọi hoạt động tài chính quốc gia theo kiểu Uỷ ban thị trường mở cửa của Cục dự trữ liên bang Mỹ Động thái này của Chính phủ Trung Quốc rất được dư luận trong nước cũng

Trang 38

như giới tài chính quốc tế hoan nghênh, đặc biệt là từ phía chính quyền Mỹ Ưỷ ban sẽ chuyên trách giải quyết những vấn đề liên quan đến việc đưa ra công thức và tái điều chỉnh chính sách tiền tệ, ấn định chỉ tiêu, kiểm soát khối lượng cung ứng tiền

Tại thời điểm 1997, với việc áp dụng khuôn mẫu Cục dự trữ liên bang

Mỹ, Trung Quốc đã tỏ rõ quyết tâm làm lành mạnh, hiện đại hoá ngành ngân hàng Cùng việc tăng cường giám sát tiền tệ, nâng cao tính quyền uy, chuycn môn, NHTW Trung Quốc được quyền kiểm soát chạt chẽ đối với hoạt động của các ngân hàng cấp tỉnh nhằm giảm bớt rủi ro trong việc cho vay và tăng hiệu quả các khoản vay - yếu tố quyết định đến an ninh tiền tệ và sức mạnh của hệ thống ngan hàng Trung Quốc

Cuối năm 1997, một biện pháp cải tổ mạnh mẽ hệ thống Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa vốn bị trì hoãn một thời gian dài đã được Trung Quốc quyết tâm thực hiện Theo hệ thống cũ, mỗi tỉnh thành ở Trung Quốc đều có một chi nhánh của NHTW Các chi nhánh này, thực tế, thường bị lãnh đạo các tỉnh sử dụng để gíly áp lực xin nâng hạn mức tín dụng cho tỉnh mình Hạn mức tín dụng cao từ trung ương sẽ giúp lăng chi lín dụng và đáy lốc dô tăng trưởng của địa phương lên Thành tích đó khiến lãnh đạo nhiều tỉnh bất chấp khả nãng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, phát sinh những khoản nợ khó đòi, vẫn thường xuyên xin thêm vốn Không những thế, vì là ngân hàng đóng tại địa phương nên hoạt động cho vay của các chi nhánh Ngân hàng Nhân dàn Trung hoa thường không tránh khỏi bị tác động Để khắc phục tình trạng này, biện pháp cải cách của Trung Quốc quyết định không duy trì chi nhánh tại các tỉnh nữa Thay vào đó là chi nhánh tại một vùng (có thể gồm nhiều tỉnh) Xoá bỏ mối quan hệ mật thiết giữa chi nhánh ngân hàng với lãnh đạo địa phương, NHTW

sẽ dễ dàng điều khiển và kiểm soát chính xác hoạt động của các chi nhánh Các khoản cho vay nhờ đó cũng linh hoạt và đến đúng địa chỉ hơn Đặc biệt, sự điều chỉnh lại hệ thống của NHTW đã loại bỏ được thói quen của lãnh đạo các tỉnh chỉ quan tâm đến thành tích tăng trưởng ở địa phương mình mà không đổ ý tới sự ổn định kinh tế vĩ mô

Trong khủng hoảng, cơ chế phòng ngừa rủi ro tiền tệ bắt đầu được hình thành Song song với việc tập trung quyền phát hành tiền, điều chỉnh lãi suất, tăng khả năng khống chế vĩ mô của NHTW, vấn đề chống tham nhũng, bãi bỏ

Trang 39

cơ chế xin- cho trong hệ thống tài chính đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc Nếu như trước đây, các biện pháp chống tiêu cực chưa giải quyết được gốc của vấn đề thì trước tình hình nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng, các thiết chế giám sát, phát hiện chi tiêu dàn trải, đầu tư không đúng mục đích đã được đặt ra nhằm làm trong sạch cả hộ lliống tiền lộ Nhờ đó, những vụ lừa đảo, khả năng rủi ro tiền tệ đã dđn bị hạn chế, ổn định được tạo nên từ bôn trong.

♦ Huy động và sử dụng vốn

Để tăng quy mô sản xuất, đổi mới chất lượng sản phẩm thì vốn là yếu tố đầu tiên các doanh nghiệp nghĩ đến Trong một thời gian, Trung Quốc đã huy động nhiồu biện pháp đổ tăng them vốn đưa vào chu trình quay vòng của xã hội Các ngân hàng tăng vốn huy động từ tiền tiết kiệm giúp Chính phủ không phải đi vay nước ngoài Nhưng mặt khác, điều này lại là nhân tố chủ yếu làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Do ảnh hưởng tâm lý của cuộc khủng hoảng, xuất khẩu giảm; các công ty làm ăn hiệu quả bắt đầu điều chỉnh, thu hẹp các

dự án đẩu tư của mình, tất nhiên sẽ không cần nhiều vốn nữa Không thể dồn hết tiền cho các công ly yếu kém cđn cải cách nhưng nếu để nguồn vốn đó bị găm lại, tỷ lệ tiền gửi cao chứng tỏ một lượng lớn của cải xã hội bị ứ đọng Chính vì thế, kích cầu là một lối ra quan trọng để giải quyết cả hai mục tiêu: giúp các công ty mạnh tiếp tục phát triển, hỗ trợ các công ty đang gặp khó khăn không đổ vỡ Theo đó, Trung Quốc một mặt cố huy động nguồn vốn

và tiêu dùng nhằm làm sống động lại nền kinh tế đang có dấu hiệu rệu rã Tăng vốn cho nền kinh tế, giải quyết vấn đề tồn đọng vốn cho ngân hàng, Trung Quốc đã thể hiện quyết tâm tránh tình trạng các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng không tìm được vốn để cơ cấu lại, phát triển sản xuất, các ngàn hàng bị lắc vốn, không cho vay được dẫn đốn thua lỗ hoặc phá sản

Khác với một số nước ASEAN đã lâm vào tình trạng lạm phát, tháng 5

-1998, để thúc đẩy công cuộc cải cách nhà ở, khuyến khích dân chúng mua nhà cửa, nhằm kích thích phát triển kinh tế, không để thị trường bất động sản trong nước đóng băng, Trung Quốc đã ban hành thông tư về việc tăng cho vay để hỗ trợ nhu cầu xây dựng và tiêu thụ nhà đất Ngân hàng phát triển Nhà nước được tăng thêm 20 tỷ NDT vốn cho vay theo kế hoạch Kết quả, doanh thu của các

Trang 40

tập đoàn kiến thiết, mua bán bất động sản đang gặp khó khăn tăng lcn tới 80,3

tỷ NDT, tương đương 9,7 tỷ USD [68; 25-26]

Về cách sử dụng vốn cũng có nhiều thay đổi Trong những năm lừ 1996

Irở vổ Irước, các cloanli Iigliiộp Nliì» HƯỚC dược luổn vốn ổ ill bAÌ kổ lình liìnli

làm ăn thực tại, những ngân hàng lớn vẫn cho vay theo chính sách ưu tiên thành phán sở hữu công Bôn cạnh dó là các khoản chơ vay đáu tư vào bấl dộng

sản, nhà đất, chứng khoán khổng kiểm soái được cIÃn đến lình trụng I1Ợ khó (lòi

cao, lliAm hụi VỚII liôn iniỏii liál đíUi lừ nam 1997 klii cuộc killing lioáng xảy

ra, Chính phủ Trung Quốc quyết định phải can thiệp vào cơ cấu khoản vay, cho vay của các ngủn hàng Lĩnh vực nông nghiệp, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả bất kể là công hay tư và các dự án trọng điểm được ưu tiên Công tác đổi mứi lliiốl bị, ảii tụo kỹ llmỌI CỎM)! nglii^Ị) Iioiil (lộiiH sim xuíYl pliụr vụ xiillì kliA’ti iliíiíc I(ỊI) lniug vOii inạnli VỪII lie Iiitng C lio liicn SIIÍU cling như lai sual của các ngân hàng vừa kích cíỉu, thúc đđy nền kinh lế phát Iriổn lành mạnh

Với kế hoạch 5 năm lđn 8 (1991-1995) Trung Quốc đã đầu lư vào lài sản

cố địnli 734,9 lỷ USD Trong 3 Iiìim li0|> llii'D, lính lừ 1 lăm I w x, 1000 lỷ USD

sẽ được tiếp tục chi ra lập trung vào các chương trinh xây dựng cơ sở hạ tầng Cùng chính sách hỗ trợ dủn mua nhà cửa, biộn pháp này nhằm thúc đẩy tăng trưởng bắt đầu từ ngành xây dựng [11; 137]

Cuối nAm 1996, do nhu cáu của nổn kinh lố, Chính phủ Trung Quốc dã

mở rộng quy mô tín dụng của các ngan hàng Nhà nước lcn 133 tỷ NDT Đặc biệt, để tăng nguồn vốn linh động, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng được giảm lừ 13% xuống còn 8% [48; 42] Quyếl định này đã đổng thời giải quyết nhiều vấn đề, trong đó chủ yếu là mở rộng lượng cung ứng tiền cho xã hội, điều chỉnh tốt hướng đầu tư và hỗ trợ cho các điểm tăng trưởng, khu công ngliiộp mới

Cùng với chính sách hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, từ ngày 1-11-1998 Trung Quốc tiếp tục xoá bỏ mức khống chế cho vay của các ngân hàng thương mại Đay là bước nới lỏng cơ chế sau một thời gian thắt chặt tín dụng đổ tránh lạm phát của chính quyền

Đổ đáp ứng những biộn pháp nới lỏng tín dụng trôn, với lo ngại nếu không tái cấp vốn quy mô cho các ngân hàng thương mại lớn, thiếu vốn rất có thổ SC khiến khủng hoảng llico đíly chuyên Ạp (1ỐI1, Trung Quốc (lfí cfíp lliôm

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w