1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và mộ số bài học đối với việt nam

125 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 33,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện lịch sử xã hội đặc thù của thời kỳ đầu mới dựng nước, thể chế này đã đạt được những thành tựu rõ rệt, nhưng do bài xích vai trò của quy luật giá trị và cơ chế thị trường,

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VẢN

KHOA KINH TẾ

LÊ VĂN CHIẾN

ĐẦU Tư TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ở TRUNG QUỐC

VÀ MỘT SÔ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ

Chuyên ngành : Kinh tê chính trị XHCN

Mã số : 5 02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM VĂN DŨNG

€>AI HCC õ ú ỗ c GIA HA HỢ ị TRUNGTÃM THÒNGT1N TH Ư V Ộ

V— /-«■&/ 5 \

HÀ NÔI - 2000

Trang 3

Chương 1: Thu hút và sử dụng FDI ở trung quốcmột sô 7

vân để lý luận và ỉhực tiễn

Chương 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại trung quốc 36

MỤC LỤC

Trang 4

Le Van L h itn Đáu lư trưc tiép nước ngoài

2.3 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh 69

tế Trung Quốc

Chương 3: Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc và 80

một số bài học đối với Việt Nam• » n

3.1.6 Một số vẩn đề còn tồn tại trong thu hút FDI lại Việt Nam 85

3.2.1 Sự cần thiết và khả năng vận dụng kinh nghiệm của 92

Trung Quốc 3.2.2 Một số bài học đối với Việt nam từ kinh nghiệm thu 96

hút FDI của Trung Quốc

Trang 5

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

PHẦN MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.

Trong vài thập kỷ trở lại đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở thành một nhân tố tối quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thường mang lại cho họ luồng sinh khí mới cho sự tăng trưởng nhờ vào những ưu thế về vốn, khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

Đối với Việt Nam, để thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nưóc, nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020 thì nhu cầu về các nguồn lực trong đó có vốn đầu tư đang trở nên cấp bách Theo ý kiến của đồng chí Trần Xuân Giá - Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư - trong bài trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6 - Quốc hội khoá X thì trong tổng

số vốn đầu tư cho phát triển kinh tế giai đoạn 1990-2000, vốn trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 51%, phần còn lại (49%) phải nhờ vào nguồn vốn bên ngoài Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chắc chắn nhu cầu về vốn còn tăng hơn nữa, trong khi nguồn vốn trong nước còn rất hạn hẹp thì việc tăng cường thu hút FDI

là một vấn đề sống còn cho sự thành công của quá trình CNH.

Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phát triển có nhiều thành công trong việc thu hút nguồn FDI Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài năm 1979 đến nay, qua 20 năm thực hiện, Trung Quốc được Liên Hợp Quốc đánh giá là nước đứng đầu trong các nước đang phát triển và đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ) về thu hút FDI Theo thống kê tới cuối năm 1999, tổng số vốn đầu tư thực tế của nước ngoài vào Trung Quốc đạt 319,38 tỷ USD Riêng năm 1999, Trung Quốc thu hút 49 tỷ USD, chiếm 16% đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của

Trang 6

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

toàn thế giới và 41% lượng FDI vào các nước đang phát triển Điều này làm cả thế giới kinh ngạc Nó chưa từng xảy ra trong lịch sử kinh tế thế giới và đã thu hút sự chú ý của nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta.

Nguồn FDI chảy vào Trung Quốc là một trong những nhân tố góp phẩn vào sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của nước này trong những năm qua Theo giáo sư Trần Khôn Diệu, chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu Châu Á, Trường đại học Hồng Kông thì: Trong tỷ lệ tăng trưởng mười mấy phần trăm hàng năm của Trung Quốc có khoảng 4-5% thuộc tiền vốn nước ngoài Điều đó đã khẳng định vai trò của FDI đối với sự tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng.

Sự thành cổng của Trung Quốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố Song,

có thể nói, điều quan trọng nhất là Trung Quốc đã xây đựng được một chiến lược thu hút FDI hợp lý, phù hợp vói yêu cầu của một nền kinh tế thị trường Nó có mục tiêu là thúc đẩy thị trường hoá, quốc tế hoá nền kinh tế Trung Quốc nhằm phục vụ tốt cho công cuộc hiện đại hoá Trung Quốc,

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá, xã hội Đặc biệt là cả hai nước cùng đang tiến hành cồng cuộc đổi mới của mình từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trưòng định hướng XHCN Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề thu hút FDI của Trung Quốc, rút ra những bài học thành công cũng như thất bại của Bạn là một việc làm cần thiết

nhằm hoàn thiện chính sách thu hút FDI ở Việt Nam.

Với mục đích và ý nghĩa như trên, Tác giả lựa chọn đề tài "Đầu

tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc và một số bài học đối với Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình Hy vọng những kết quả của

luận văn sẽ được sử dụng trong thực tiễn ở Việt Nam.

Trang 7

Lè Văn Chiến Đầu tư trưc tiếp nước ngoài

II TÌNH HÌNH NGHIÊN cúư

Sự thành công rực rỡ trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đã thu hút sự chú ý theo dõi của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới Ngày càng xuất hiện nhiều tác phẩm của các tác giả nghiên cứu ở Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các nước khác được xuất bản.

ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về thu hút FDI của Trung Quốc đã được xuất bản như: Cuốn "Trung Quốc từ Mao đến Đặng" do giáo sư Văn Trong chủ biên, xuất bản năm 1994; cuốn "Trung Quốc trên đường cải cách" do giáo sư Nguyễn Đức Sự chủ biên, xuất bản năm 1994; cuốn "Nghiên cứu Trung Quốc hiện đại" do giáo sư Hoàng Việt chủ biên, xuất bản năm 1995; cuốn Trung Quốc thành tựu và triển vọng" xuất bản năm 1994; cuốn "Cải cách kinh tế ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" do PTS Nguyễn Minh Hằng chủ biên, xuất bản năm 1995; cuốn "Quá trình cải cách kinh tế-xã hội của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa từ năm 1978 đến nay" do PTS Đinh Công Tuấn chủ biên, xuất bản năm 1998; cuốn "Kinh tế Trung Quốc bước vào thế kỷ 21" của Lý Kinh Văn do Lê Quang Lâm dịch, xuất bản năm 1998 và một số bài như "Kinh tế Trung Quốc 1995-1996 của Từ Thanh Thuỷ (Viện kinh tế Thương Mại) đăng trên Tạp chí "Những vấn

đề kinh tế thế giới số 3 (6/1997); bài "Giai đoạn mới của vốn đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc" của tác giả TaKaShi Muroga, Phương Thảo lược dịch đăng trên tạp chí "Thông tin tư liệu" của Học viên CTQG Hồ Chí Minh 12/1997; bài Trung Quốc thu hút vốn nước ngoài cho công nghiệp hoá" của tác giả Phạm Thái Quốc đăng trên tạp chí "Những vấn

đề kinh tế thế giới" số 4 (8/1998) và rất nhiều bài khác Những tài liệu nêu trên có nhiều cứ liệu, nhiều luận điểm phong phú về nhiều vấn

đề trong thu hút FDI của Trung Quốc Đó là những tài liệu vô cùng quý giá mà Tác siả luận văn đã chọn lọc và kế thừa.

Trang 8

Lê Văn Chiến Đáu tư trư c tiếp nước ngoài.

Tuy nhiên, hầu hết các công trình trên mới chỉ tiếp cận vấn đề thu hút FDI ở Trung Quốc theo những khía cạnh riêng lẻ khác nhau hoặc trong một giai đoạn nhất định mà chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống, toàn diện và rút ra những bài học cho Việt Nam.

III MỤC ĐÍCH, NHẸM vụ, GIỚI HẠN NGHIÊN CÚD CỦA LUẬN VĂN

1 Mục đích nghiên cứu.

Kế thừa một cách có chọn lọc những tư liệu ở một số công trình của các tác giả đi trưóc, phân tích những kinh nghiệm thành cồng và chưa thành công trong việc thu hút FDI của Trung Quốc Từ đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam nhằm thu hút hiệu quả FDI trong thời gian tới.

2 Nhiệm vụ nhgiên cứu.

a Làm rõ vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh

tế Trung Quốc trong những năm qua.

b Từ thực tiễn của quá trình mở cửa thu hút FDI của Trung Quốc luận văn phải làm rõ những giải pháp quan trọng mà Trung Quốc thực hiện để khuyến khích FDI cũng như những thành công và hạn chế của quá trình đó.

c Từ thực tế của Trung Quốc, luận văn phải tổng kết được những bài học kinh nghiệm có thể ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam nhằm thu hút FDI có hiệu quả hơn.

3 Giới hạn nghiên cứu.

- Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Trung Quốc mà không nghiên cứu các hình thức đầu tư khác.

- Trung Quốc ở đây chỉ bao gồm phần lãnh thổ Trung Quốc đại lục mà không kể đến phần đất Hồng Kông, Ma Cao mới thu hồi về

Trung Quốc Các phần vốn đầu tư từ Hổng Kông, Ma Cao cũng được coi như vốn nước ngoài.

Trang 9

Lê Văn Chiến Đâu tư trư c tiếp nước ngoài

- Luận văn hạn chế việc nghiên cứu vấn đề thu hút FDI của Trung Quốc trong thời gian từ năm 1979 đến nay là thời gian Trung Quốc ban hành và thực hiện luật đầu tư nước ngoài Những vấn đề của thời gian trước đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này Nếu có được nêu ra chỉ là để so sánh hoặc làm rõ những vấn đề Tác giả nghiên cứu.

- Luận văn chủ yếu xem xét đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc dưới góc độ kinh tế chính trị

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ.

Phương pháp luận được sử dụng để nghiên cứu trong luận văn là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Những phương pháp

cụ thể được sử dụng để nghiên cứu là: Phương pháp lô gích và lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu, các phương pháp biểu đồ, biểu bảng, phương pháp so sánh, đối chiếu kết hợp lý luận với thực tiễn nhằm rút ra những vấn đề có tính khái quát, phổ biến, gợi mở cho việc đề ra những định hướng, giải pháp mói trong tình hình của nước ta hiện nay.

V NHŨNG ĐÓNG GÓP CHỦ YẾU CỦA LUẬN VẢN.

- Hệ thống hoá thực tế tình hình thu hút FDI của Trung Quốc từ năm 1979 đến nay.

- Đánh giá những mặt thành công cũng như chưa thành cống của hoạt động này nhằm tìm ra những bài học kinh nhgiệm mà Việt Nam

có thể học tập, vận dụng nhằm lựa chọn những bước đi phù hợp, nâng cao hiệu quả thu hút FDI ở Việt Nam.

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu kinh tế Trung Quốc, cho việc hoạch định chiến lược thu hút FDI của Việt Nam, cho việc nghiên cứu, giảng dạy kinh tế chính trị và kinh tế phát triển.

Trang 10

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

BỔ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương

Chương 1 Thu hút và sử dụng FDI ở Trung Quốc - Một sô vấn đề

lý luận và thực tiễn.

Chương 2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc.

Chương 3 Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc và một sô

bài hoc đối với Viêt Nam.

Trang 11

Lè Văn Chiến Đẩu tư trưc tiếp nước ngoài

lý trực tiếp Do quản lý quá nhiều, quản lý quá chặt nên xí nghiệp đã trở thành vật phụ thuộc cơ quan hành chính, thiếu quyền tự chủ kinh doanh, về phân phối, Nhà nước chủ yếu phân phối theo chế độ bình quân, hình thức sử dụng theo hướng đơn nhất hoá, hình thành nên chế độ: "bát cơm sắt" Do thể chế sơ cứng nên hiệu quả kinh tế thấp Sau

30 năm sản xuất nông nghiệp vẫn không tiến triển được bao nhiêu, hàng năm vẫn phải nhập hàng triệu tấn lương thực Trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất đạt chưa đầy 4% sản phẩm công nghiệp thế giới Trong

đó, điện năng chỉ đạt 1,4%; dầu hoả 1%, ô tô 0,18% Khoa học kỹ thuật lạc hậu hàng chục năm so vói các nước tiên tiến.

Thêm vào đó, phong trào "ba ngọn cờ hồng", "Đại cách mạng văn hoá" đã dẫn đến hỗn loạn về kinh tế xã hội, càng trầm trọng thêm những căn bệnh của thể chế kinh tế vốn có Phong trào "toàn dân làm

Trang 12

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

gang thép", hàng trăm triệu người từ nông thôn, thành thị, các cơ quan trường học phải di chuyển chỗ để khai thác nguyên liệu và nấu gang thép Trong vòng một năm, Trung Quốc xây dựng 7,5 triệu lò nấu gang thủ công, trong đó cống xã nhân dân đóng góp 6 triệu lò Theo ước tính chi phí hết chừng 10 tỷ NDT (trong khi toàn bộ vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản trong công nghiệp năm 1957 chỉ có 7,2 tỷ NDT) Hơn 3 triệu tấn thép và 4 triệu tấn gang sản xuất ra, do không có kỹ thuật, nguyên vật liệu thiếu, nấu bằng lò nhỏ và thủ công nên chất lượng thấp kém đến nỗi không thể dùng vào việc gì được, gây lãng phí rất lớn về tiền, của, tài nguyên, sức lao động.

Việc xây dựng công nghiệp ồ ạt dẫn đến sự mất cân đối nghiêm trọng giữa hai ngành kinh tế quan trọng của Trung Quốc là nồng nghiệp và công nghiệp Mặt khác, do nhu cầu nhân lực và xây dựng cơ bản tăng nhanh nên trong 3 năm "nhảy vọt", số công nhân tăng thêm

25 triệu người, làm cho vấn đề lao động ở nông thồn căng thẳng, nhu cầu về nông sản hàng hoá tăng lên dẫn đến mất cân đối giữa sản xuất

và tiêu dùng, sự phát triển bột phát mù quáng này còn làm cho các nguồn nguyên liệu, tài chính của Trung Quốc bị kiệt quệ Cùng với

"đại nhảy vọt", phong trào "công xã hoá" cũng làm đảo lộn đòi sống

kinh tế xã hội ở nông thôn Chỉ trong có 45 ngày, từ 47 vạn HTX nông

nghiệp cải tổ thành 26.000 công xã vói số hộ trung binh gấp 30 lần trước đó Một năm sau nó được mở rộng hơn, với quy mô trung bình là

5000 hộ Thậm chí, nhiều nơi đã thành lập công xã nhân dân trên quy

mổ toàn huyẹn Trên 99% nông dân bao gồm 120 triệu hộ và 500 triệu nông dân đã vào công xã.

Với tư tưởng cho rằng chế độ sở hữu tập thể sẽ "không tồn tại lâu dài" mà "có thể chuyển lên chế độ sở hữu toàn dân trong vòng mấy năm" do vậy Trung Quốc đã xoá bỏ thô bạo đất phần trăm để lại, xoá

bỏ kinh tế phụ gia đình, thậm chí công hữu hoá cả nhà cửa, gia súc, gia

Trang 13

Lê Vãn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước nsoài.

cầm của xã viên (họ giải thích rằng đó là "cắt cái đuôi" của tư hữu) Trong công xã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân và phân phối theo nhu cầu và coi đó như là một cơ cấu xã hội XHCN, đồng thời lại là một đơn

vị cơ sở của tổ chức chính quyền của chủ nghĩa cộng sản Chủ tịch Mao coi đó là một mô hình CNCS ở nông thôn và tự hào là Trung Quốc

đi lên CNCS trước Liên Xô Phong trào này đã gây sự hỗn loạn ở nông thôn Trung Quốc Với quy mô lớn, những công cụ thô sơ, thủ công, cán bộ chưa đủ năng lực quản lý lại không được đông đảo quần chúng nông dân đồng tình nó đã cản trở nghiêm trọng tới việc lãnh đạo sản xuất và tổ chức lao động Việc quản lý sản xuất bị rối tung, tư liệu sản xuất bị phá huỷ (vì sợ công hữu hoá), nạn lười biếng tràn lan vì không làm cũng được ăn trong bếp công cộng (ăn, ở, mặc đều do công xã chi phí hết theo kiểu hưởng thụ và phân phối CSCN) Vì vậy, chỉ trong vòng mấy tháng các kho dự trữ lương thực, thực phẩm bị cạn kiệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của Trung Quốc Các phong trào "đại nhẩy vọt" và "công xã nhân dân" đã làm cho nền kinh tế Trung Quốc bị kéo lùi hàng chục năm Thêm vào đó, thiên tai liên tiếp trong 3 năm liền từ năm 1959 - 1961 làm cho đời sống nhân dân bị hạ thấp đến nỗi cơm không đủ no, vải chỉ đủ vá, và có tới 31 triệu người bị chết đói.

Trong thcd kỳ "cách mạng văn hoá", sự phá phách của các "tiểu tướng hồng vệ binh", các "Tôn Ngộ Không đỏ" đã đẩy sản xuất vào tình trạng vô chính phủ triền miên, nền kinh tế suy sụp nặng Với khẩu hiệu "chính trị là thống soái", "nắm khâu cách mạng để thúc đẩy sản xuất" người ta đã coi đất phần trăm của nông dân, nghề phụ gia đình, buôn bán là phục hồi chủ nghĩa tư bản; coi nguyên tắc "lợi ích vật chất" là cội nguồn đẻ ra sự khác biệt giàu nghèo và sự phân hoá giai cấp; coi sản xuất hàng hoá, trao đổi hàng hoá và nguyên tắc phân phối theo lao động là cơ sở kinh tế quan trọng đẻ ra tầng lớp tư sản mới

Trang 14

Lé Văn Chiến Đáu tư true tiếp nước ngoài

kinh tế Nó đã không kích thích được sản xuất, mà còn dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp thêm nghiêm trọng Nông nghiệp do bị thiệt hại nặng nề nên không vực được công nghiệp nhẹ Nhiều xí nghiệp công nghiệp làm ăn thua lỗ Hiện tượng hỗn loạn trong quản lý và lỏng lẻo trong phân phối gây nên "tiêu hao lớn, lãng phí nhiều, hiệu quả thấp" Nền kinh tế quốc dân bị ngừng trệ trong một thời gian dài, thậm chí thụt lùi, sa sút Năm 1976, thu nhập quốc dân, sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng âm:-2,7%; -2,4%; - 0,4% Cách mạng văn hoá đã đẩy nền kinh

tế Trung Quốc tới bờ vực thẳm, ước tính thu nhập quốc dân của Trung Quốc bị thiệt hại nặng tới 500 tỷ NDT.

Những chính sách kinh tế sai lầm trên đây đã gây ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Trung Quốc Sau 30 năm mức sống vật chất của người dân hầu như không thay đổi Đời sống tinh thần hết sức nặng nề, căng thẳng Thu nhập bình quân hàng tháng của một người lao động ở nông thôn không quá 13-15 NDT, thấp hơn mức thu nhập của công nhân viên chức khoảng 4 lần Việc phân phối lương thực chia như sau: Khoảng 70-80% chia theo nhân khẩu trong gia đình, 20 - 30% chia theo "trình độ giác ngộ chính trị" cũng như chất lượng và số lượng công việc của người lao động Mức tiêu dùng lương thực của một người lớn trung bình là 175 kg/năm (thấp hơn mức của năm 1955) ở thành phố việc phân phối lương thực vẫn theo định lượng ngặt nghèo như mấy chục năm về trước Mỗi người được phân từ 9 đến 12 kg lương thực, 125 - 250g dầu thực vật một tháng

Việc nâng cao sức khoẻ cho nhân dân chủ yếu dựa vào các "thầy thuốc chân đất" do các đội sản xuất, các công xã tự đào tạo Đặc biệt công tác giáo dục ngày càng bị coi thường Chi phí cho ngành này chỉ khoảng 5% ngân sách Theo quan điểm của một số nhà lãnh đạo Trung

Trang 15

Lê Vãn Chiến Đ ầu tư trư c tiếp nước ngoải

Quốc lúc đó thì "càng nhiều trí thức càng phản động" nên trong cách

mạng văn hoá người ta đã đóng cửa dần các trường đại học và trung học chuyên nghiệp Số thanh niên bỏ học và đi lang thang, đi "tạo phản" trong cả nước lên tới 40 triệu Số người mù chữ lên tới trên 40% (năm 1962) Thêm vào đó các cuộc chỉnh phong, chỉnh huấn liên miên

và cuộc "đại cách mạng văn hoá" đã trà đạp lên cả thể xác lẫn tinh thần của hàng trăm triệu người; công nhân không thể làm việc, nông dân không thể cấy trổng, học sinh không thể đi học bởi các cuộc đấu tố liên tiếp xảy ra, trật tự xã hội bị rối loạn Trong một thời gian dài ngưòi

ta gây cho nhân không khí hoài nghi tất cả, phủ định tất cả, đả đảo tất cả Tàn nhẫn hơn, người dân Trung Quốc còn bị thanh trừng, bị vùi dập không chỉ có một thế hệ Vì quan niệm của những người theo quan điểm tả khuynh cho rằng "bố anh hùng, con hảo hán, bố phản động con khốn nạn" Cho tới cuối năm 1976, trước khi "bè lũ 4 tên” bị đổ, xã hội Trung Quốc rơi vào tình trạng gần như vô tổ chức Công nhân lãn cồng "đi muộn về sớm", thậm chí nhiều nơi người ta tổ chức phá hoại đường sắt, gây ra tình trạng không cung cấp đủ dầu, lúa mì và nguyên liệu, làm ảnh hưởng nghiêm trong đến sản xuất công nghiệp, nồng nghiệp và đcả sống nhân dân.

Sau cách mạng văn hoá, trước tình hình chính trị - kinh tế - xã hội đầy biến động và vô cùng bi đát, Đảng công sản và nhân dân Trung Quốc đã tìm mọi cách để thoát ra khỏi cảnh ngộ này Nhu cầu có một cuộc cải cách làm thay đổi và chuyển biến cãn bản tình hình Trung Quốc, đưa Trung Quốc vào quỹ đạo phát triển của thế giới trở nên cấp thiết Nó đòi hổi phải cải cách tất cả những gì cản trở sự phát triển của Trung Quốc trên mọi mặt Vì vậy, cải cách thể chế XHCN, trước hết là cải cách thể chế kinh tế và cải cách thể chế chính trị đã trở thành một yêu cầu bức thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Nó

là một xu thế tất yếu, không có một sức mạnh nào có thể ngíìn cản được nó.

Trang 16

1.2 NHỮNG THAY Đổl TRONG LÝ LUẬN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC

Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đặt ra, từ năm 1978 đến nay Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách kinh tế xã hội một cách triệt để, trước hết là những thay đổi trong lý luận về thể chế kinh tế, có thể tóm tắt một số nét cơ bản những thay đổi này như sau:

1.2.1 Lý luận về mục tiêu cải cách kinh tế.

Lý luận cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc biểu hiện trước tiên ở sự đột phá về lý luận kinh tế kế hoạch truyền thống Trong lý luận kinh tế XHCN truyền thống, kinh tế kế hoạch được coi là một đặc trưng cơ bản của chế độ kinh tế XHCN, do vậy đã hình thành nên thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ Trong điều kiện lịch sử xã hội đặc thù của thời kỳ đầu mới dựng nước, thể chế này đã đạt được những thành tựu rõ rệt, nhưng do bài xích vai trò của quy luật giá trị và cơ chế thị trường, nên trong quá trình phát triển sau này đã trở nên cứng nhắc, giáo điều, trói buộc nghiêm trọng sự phát triển của sức sản xuất xã hội Sau hội nghị Trung ương 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc, đầu tiên ở nông thôn thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản lượng đến hộ gia đình, làm cho nông dân trở thành chủ thể kinh tế kinh doanh tự chủ; ở thành thị, tiến hành thí điểm cải cách mở rộng quyền

tự chủ kinh doanh xí nghiệp, giảm bớt kế hoạch pháp lệnh đối với sản xuất và tiêu thụ Những cải cách này tuy mói chỉ là bước đầu, nhưng

nó đã phá vỡ thể chế kinh tế kế hoạch, làm cho cuộc cải cách của Trung Quốc từ đây bước vào quỹ đạo đi theo hướng thị trường.

Do những thành tựu đã đạt được trong những năm đầu cải cách, đồng thời để thích ứng với giai đoạn phát triển mới, Hội nghị Trung ương 3 khoá XII ĐCS Trung Quốc năm 1984 đã thông qua "Nghị quvết của ĐCS Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế", nêu rõ kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu.

Lê Văn Chiến Đâu ỉư trư c tiéĩ) nước ngoài

Trang 17

Lẻ Văn Chiến Đâu tư trư c tiếp nước ngoài

Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thể bỏ qua của sự phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện tất yếu để thực hiện hiện đại hoá kinh tế Trung Quốc Chỉ có phát triển đầy đủ kinh tế hàng hoá, mới có thể làm cho nền kinh tế có sức sống chân chính Những điều trình bày trên là một bước nhảy vọt về nhận thức đối với kinh tế XHCN, đồng thời cũng là một sự phát triển quan trọng của kinh tế học chính trị Mác-xít, lần đầu tiên khẳng định rõ ràng kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá, từ đó đưa lý luận chỉ đạo cải cách thể chế kinh tế lên một bước phát triển mới.

Kiên trì không thay đổi cải cách theo hướng thị trường hoá là tư tưởng nhất quán của Đặng Tiểu Bình Ngay từ năm 1979 ông đã chỉ rõ:

"Nói rằng kinh tế thị trường chỉ tổn tại trong xã hội TBCN, chỉ có kinh

tế thị trường TBCN, đây là điều không đúng đắn Vì sao CNXH không thể thực hiện kinh tế thị trường, không thể nói đó là CNTB được ' Đầu năm 1992, trong bài phát biểu khi đi khảo sát phương Nam, Đặng Tiểu Bình chỉ rõ: Kế hoạch nhiều hơn một chút hay thị trường nhiều hơn một chút, không phải là sự phân biệt bản chất của CNXH và CNTB Kinh tế kế hoạch không đồng nghĩa với CNXH, CNTB cũng có kế hoạch; kinh tế thị trường không đồng nghĩa với CNTB, CNXH cũng có thị trường, kế hoạch và thị trường đều là những biện pháp kinh tế Luận điểm này về cơ bản đã xoá bỏ được sự trói buộc tư tưởng coi kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường là thuộc về phạm trù chế độ cơ bản của xã hội, đưa ra câu trả lời chung rõ ràng, thấu triệt, tinh tuý đối vói vấn đề từng gây tranh luận lâu dài và cản trở con đường tiến lên của Trung Quốc, từ đó đưa đến sự đột phá quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn Dựa vào luận điểm quan trọng của Đặng Tiểu Bình, trong báo cáo chính trị Đại hội XIV, đồng chí Giang Trạch Dân đã nêu rõ: Mục tiêu chung của cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc là xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN Điều này đã giải quyết vấn đề quan trọng

Trang 18

cách và mở cửa Bản nghị quyết được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khoá XIV ĐCS Trung Quốc, đã làm rõ thêm cái khung chung của thể chế mới, nêu lên một loạt lý luận, quan điểm mới và nhiệm vụ xây dựng thể chế mới Do xác lập được mục tiêu chung của cải cách, nên từ Đại hội XIV của ĐCS Trung Quốc đến nay, công cuộc cải cách thể chế kinh tế trên các lĩnh vực, các phương diện đều đạt được những tiến triển quan trọng và thành tựu huy hoàng.

1.2.2 Lý luận về cải cách chế độ sỏ hữu

Sự đột phá về vấn đề lý luân sở hữu của Trung Quốc được biểu

hiện tập trung ở hai mặt: Một là, từ lý luận về chế độ công hữu đơn

nhất chuyển sang lý luận coi công hữu là chủ thể, kinh tế nhiều loại sở

hữu cùng phát triển, hình thành nên lý luận về kết cấu sở hữu; Hai là,

tách rời chế độ sở hữu, hình thành nên lý luận về kết cấu sở hữu, hình thức thực hiện của chế độ công hữu.

Về vấn đề sở hữu, trước đây Trung Quốc cho rằng: Sở hữu càng lớn, càng công hữu, càng tốt Thực hiện "nhất đại, nhị công" ( một là lớn, hai là công hữu) và "quá độ nghèo", nhanh chóng cải biến chế độ

sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu toàn dân đơn nhất, hạn chế sự phát triển của kinh tế phi công hữu, kết quả đã làm tổn thương nghiêm trọng tính tích cực của các phương diện, trói buộc sự phát triển của sức sản xuất.

Trong quá trrình cải cách thể chế, các quan niệm cũ đã dần bị phá

bỏ và thay vào đó là những quan niệm hoàn toàn mới, như:

- Phá bỏ quan niệm truyền thống sợ "tư nhân", sợ "tư bản chủ nghĩa", hạn chế sự phát triển của kinh tế phi công hữu, xây dựng lên lý luận có thể lợi dụng mọi hình thức sở hữu miễn là phù hợp với "ba điều lợi"; mọi hình thức kinh doanh và hình thức tổ chức phản ánh quy luật của nền sản xuất xã hội hoá đều được khuyến khích phát triển.

Lé Văn Chiến _Đâu tư trư c tiếp nước ngoài

Trang 19

Lê Văn Chiến Đắu tư true tiếp nước ngoài

“ Trước đây Trung Quốc quan niệm rằng kinh tế quốc hữu càng lớn, càng công hữu càng tốt và là đặc trưng của nền kinh tế XHCN Nay quan niệm này đã được xó bỏ Lý luận mới cho rằng kinh tế quốc hữu giữ vai trò chủ đạo, các hình thức kinh tế khác cùng phát triển Vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu chủ yếu biểu hiện ở sức khống chế và sức ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế, tiến hành điều chỉnh đối với

bố cục và kết cấu sở hữu của kinh tế quốc hữu.

- Trước đây Trung Quốc quan niệm rằng kinh tế phi công hữu là thuộc tính xã hội của kinh tế TBCN, nay quan niệm này đã bị xoá bỏ

và hình thành lý luận coi kinh tế phi công hữu là một bộ phận tổ thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN Lấy công hữu làm chủ thể, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển là chế độ kinh tế cơ bản của CNXH.

1.2.3 Lý luận về hệ thông thị trường.

Xây dựng hệ thống thị trường thống nhất mở cửa, cạnh tranh có trật tự là bộ phận tổ thành quan trọng của nền kinh tế thị trường

XHCN Những đột phá lý luận về phương diện này, chủ yếu biểu hiện

ở chỗ: Một là, thừa nhận tư liệu sản xuất, các yếu tố sản xuất đều là hàng hoá, đều có giá cả; Hai là, cải cách giá cả là điểm mấu chốt để

hình thành cơ chế thị trường, phải xây dựng cơ chế giá chủ yếu do thị

trường hình thành; Ba là, đột phá vào quan niệm truyền thống, nêu lên

phải xây dựng hệ thống thị trường hoàn thiện gồm: thị trường vốn, thị trường sức lao động

Thị trường là khâu trung tâm nối liền sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu thụ Lý luận kinh tế học chính trị XHCN truyền thống cho rằng, trong điều kiện XHCN không tồn tại sản xuất và trao đổi hàng hoá một cách chân chính, chỉ có "vỏ bề ngoài" mà không có "hạt bên trong" của hàng hoá Tư liệu sản xuất và các yếu tố sản xuất khác đều không phải là hàng hoá Trong hoạt động kinh tế, tách rời sản xuất với

Trang 20

Lê Văn Chiến Đâu tư trư c tiếp nước ngoài

lưu thông, thương nghiệp với vật tư, nội thương với ngoại thương Thời

kỳ đầu cải các Trung Quốc trước hết từ thực tiễn đột phá vào vấn đề tư liệu sản xuất không phải là hàng hoá, mở rộng quyền tự tiêu thụ cho xí nghiệp, từng bước thu hẹp tỷ lệ phân phối vậi tư theo kế hoạch, thành lập thị trường giao dịch tư liệu sản xuất, đã thu được những kết quả tích cực Đại hội XIII của ĐCS Trung Quốc chỉ rõ, hệ thống thị trường XHCN không chỉ bao gồm thị trường hàng tiêu dùng và thị trường tư liệu sản xuất , mà còn phải bao gồm cả thị trường các yếu tố sản xuất như vốn, dịch vụ lao động, kỹ thuật, thông tin và bất động sản , thị trường hàng hoá đơn nhất không thể phát huy tốt vai trò của cơ chế thị trường Như vậy, về mặt lý luận không chỉ thừa nhận tư liệu sản xuất là

ỹ i'

hàng hoá, mà còn thừa nhận yếu tố sản xuất cũng là hàng hoá, điều đó

đã phát huy vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hình thành các loại thị trường.

Trong thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống, giá cả chỉ là công cụ hạch toán tiện lợi, chủ yếu do Nhà nước định giá, quản lý tập trung, vì vậy giá cả thoát ly khỏi sản xuất và thị trường, quay lưng lại quy luật giá trị và tình trạng cung cầu, thậm chí như đất đai, tài nguyên khoáng sản đều không có giá cả Những năm 80 Trung Quốc luôn luôn coi cải cách giá cả đầy mạo hiểm là vấn đề quan trọng có quan hệ đến thành bại của cải cách thể chế kinh tế, đổng thời trong thực tiễn dần dần hình thành lý luận cải cách giá cả phù hợp vói thời kỳ chuyển đổi thể chế của Trung Quốc Từ khi cải cách đến nay, căn cứ vào phương châm

"kết hợp điều tiết với thả nổi", Trung Quốc đã lần lượt điều chỉnh giá

cả sản phẩm thô nông nghiệp và hàng công nghiệp, thả nổi giá hàng hoá nhỏ, thực hiện "chế độ 2 giá" đối với tư liệu sản xuất, sau đó từng bước chuyển "chế độ hai giá" thành "chế độ một giá".

Trang 21

Lê Vãn Ch ièn Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

1.2.4 Lý luận về cải cách thể chế quản lý v ĩ mô.

Trong thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống, nền kinh tế quốc dân

Trung Quốc là một thể hành chính tập trung thống nhất, không chia ra

kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô, cũng không hình thành lý luận điều tiết '

vĩ mô Những đột phá quan trọng của lý luận kinh tế vĩ mô 20 năm

qua, chủ yếu biểu hiện ở chỗ: Một là, Chính phủ cần chuyển từ quản lý

trực tiếp mang tính hành chính sang quản lý gián tiếp coi biện pháp

kinh tế là chính; Hai là, xây dựng và kiện toàn hệ thống điều tiết vĩ mô

hài hoà, thống nhất; Ba là, giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ

giữa điều tiết vĩ mô với sự khống chế thị trường.

Từ khi cải cách mở cửa đến nay, về mặt lý luận, Trung Quốc đã

nêu ra nguyên tắc chính quyền và xí nghiệp tách rời nhau, tách rời chức

năng quản lý kinh tế - xã hội của Chính phủ với chức năng người sở

hữu vốn quốc hữu, cùng với nguyên tắc tinh giản, thống nhất, hiệu quả,

thúc đẩy cải cách bộ máy Chính phủ, chuyển biến chức năng của Chính

phủ, giao chức năng quản lý kinh doanh của xí nghiệp cho các xí

nghiệp; chuyển dịch chức năng bố trí nguồn lực cho thị trường, từ đó

làm cho chức năng quản lý kinh tế của Chính phủ thiết thực chuyển

sang việc chế định và chấp hành các chính sách kinh tế vĩ mô, tạo ra

môi trường phát triển kinh tế tốt đẹp Chính phủ chủ yếu vận dụng biện

pháp kinh tế, pháp luật và những biện pháp hành chính cần thiết, điều

tiết hiệu quả các hoạt động kinh tế Mặc dù trong thực tiễn cải cách bộ

máy, chuyển biến chức năng của Chính phủ đòi hỏi còn phải tốn nhiều

công sức, nhưng những ý tưởng về phương diện này đã tương đối rõ

ràng Điều cần chỉ rõ ở đây là: Từ chỗ khống chế kế hoạch mang tính hành chính trực tiếp là chính, chuyển sang hoạt động kinh tế điều tiết coi biện pháp kinh tế gián tiếp là chính, đây chính là một sáng tạo mới

về lý luận quản lý vĩ mô trong thòi kỳ chuyển đổi thể chế kinh tế của Trung Quốc Điều này không những làm rõ mục tiê|U-aảaxiiủc_càLcáđi

ĐAI HOC C ’ * IA HÀ MÒ# ]

Trang 22

Lẻ Văn Chiến Đáu tư trưc tiếp nước ngoài

thể chế kinh tế vĩ mô của Trung Quốc, mà vể vi mô, nó cũng chứng tỏ kinh tế công hữu có thể kết hợp hữu hiệu với kinh tế thị trường.

Tại Hội nghị Trung ương 5 khoá XIV ĐCS Trung Quốc, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đã luận giải một cách sâu sắc về mối quan hệ giữa cơ chế thị trường với điều tiết vĩ mô và chỉ rõ: phát huy đầy đủ vai trò của cơ chế thị trường và tăng cường điều tiết vĩ mò đều là yêu cầu

cơ bản của nền kinh tế thị trường XHCN, không được thiên về mặt nào Cũng chính là nói rằng “không chỉ thấy tay này mà phải thấy tay kia”, phải dùng cả hai tay Muốn làm cho nền kinh tế quốc dân Trung Quốc

có sức sống và hiệu quả, phải tích cực bồi dưỡng và phát triển hệ thống thị trường, để phát huy đầy đủ vài trò của cơ chế thị trường Nhưng do thị trường tồn tại tính tự phát, tính trì trệ, Nhà nước phải tăng cường chỉ đạo và điều tiết đúng đắn đối với hoạt động của thị trường Mấy năm gần đây, đồng thời với việc nhanh chóng cải cách thúc đẩy phát triển, Trung Quốc rất coi trọng tăng cường và cải thiện điều tiết vĩ mô, từ đó làm cho nền kinh tế quốc dân thoát khỏi tình trạng lúc lên lúc '.uống; bắt đầu bước vào quỹ đạo phát triển liên tục, nhanh chóng và lành mạnh.

1.2.5 Lý luận về phân phối thu nhập.

Lý luận về phân phối thu nhập có liên quan đến vấn đề cơ chế khuyến khích và động lực, đồng thời cũng có quan hệ với vấn đề công bằng xã hội Từ khi cải cách mỏ cửa đến nay, những đột phá về lý luận

phân phối thu nhập của Trung Quốc, chủ yếu có 4 phương diện: Một

là, cho phép một số vùng, một số người giàu trước, khuyến khích người

giàu trước giúp đỡ người giàu sau, cuối cùng thực hiện cùng giàu có;

Hai là, thực hiện chính sách ưu tiên hiệu suất, chiếu cố công bằng; Ba

là, kiên trì phân phối theo lao động là chính, cho phép yếu tố sản xuất

tham gia vào phân phối; Bốn là, kiên trì xây dựng hệ thống bảo hiểm

Trang 23

Lẻ Văn Chiến Đâu tư trư c tiếp nước ngoài

xã hội xã hội hoá nhiều tầng bậc, xây dựng chế độ kết hợp lẫn nhau giữa trù tính chung của xã hội với đóng góp của cá nhán.

Trước đây, do ảnh hưởng “tả khuynh” và tư tưởng truyền thống

“không sợ thiếu chỉ sợ phân phối không cồng bằng”, mọi người đã sai lầm khi cho rằng chủ nghĩa bình quân là phương thức phân phối cơ bản của CNXH, kết quả là đã làm tổn thương nghiêm trọng tính tích cực của nhiều phương diện, điều đó dẫn đến hiệu quả thấp và cùng nghèo khổ Ngay từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã nêu rõ, cải cách trước hết phải phá vỡ chủ nghĩa bình quân, phá vỡ “nồi cơm lớn” Cho phép một

số vùng, một số người thồng qua lao động thành thực, kinh doanh hợp pháp được giàu có trước, đổng thời thông qua người giàu trước giúp đỡ người giàu sau, dần dần đạt đến cùng giàu có Đây là sự phát triển to lớn của lý luận phân phối của CNXH Đặng Tiểu Bình còn chỉ rõ, đây

là một chính sách lớn, một chính sách lớn có thể ảnh hưởng và lôi kéo toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính sách lớn này phản ánh mọi sự vật đều phát triển trong sự khác biệt và mất cân đối, cân bằng là tương đối, không cân bằng là tuyệt đối; đồng thời cũng phản ánh quy luật phát triển không cân đối của kinh tế - xã hội, thừa nhận sự khác biệt tổn tại trong thực tế khách quan Do sự khác biệt về cơ sở kinh tế, điều kiện tự nhiên giữa các vùng, năng lực lao động của mỗi người cũng không giống nhau, hiệu quả kinh doanh của các xí nghiệp khác nhau , tất nhiên dẫn đến sự khác nhau trong phân phối thu nhập Chính sách lớn này đã kết hợp hữu cơ giữa tính nguyên tắc của CNXH với tính linh hoạt của chính sách, đã phản ánh yêu cầu khách quan của sự phát triển sức sản xuất Cùng giàu có đã thể hiện bản chất và tính ưu việt của CNXH, nhưng cùng giàu có không phải là đồng bộ giàu có của chủ nghĩa bình quân, muốn đạt được mục đích này phải thông qua cho phép một số vùng, một số người được giàu có trước, phát triển sức sản xuất, tạo ra điều kiên vật chất, đó là con đường nhanh chóng phát triển, đạt đến cùng giàu có Từ khi cải cách mở cửa đến nay, Trưng Quốc

Trang 24

Lè Văn Chiến Đáu tư trực tiếp nước ngoài

quán triệt thực hiện chính sách lớn này, phát huy vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành cơ chế khuyến khích, phát huy tính tích cực của người kinh doanh và người lao động.

1.2.6 Lý luận cải cách nông thôn.

Nông thôn là nơi tiến hành cải cách thể chế kinh tế trước tiên thông qua hai việc lớn là thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản lượng đến hộ gia đình, xoá bỏ công xã nhân dân và cải cách thể chế lưu thông nông sản.

Một thời kỳ dài, chế độ khoán sản lượng đến hộ gia đình bị phê phán, bị coi như một bộ phận quan trọng của sự phục hồi CNTB Tuy nhiên nó đã xuất hiện ngay trong cao trào hơp tác hoá hồi những năm

50, dù đã rất nhiều lần bị đả phá, bị huỷ bỏ song nó vẫn ngấm ngầm tồn tại Hễ bị thiên tai lớn hoặc có sự hoành hành của chủ nghĩa tả khuynh, xảy ra tình trạng “người không có cơm, lợn không có cám, bò không có cỏ” là lại xuất hiện việc khoán sản lượng đến hộ dưới danh nghĩa canh tác trên “đất mượn”, “ruộng trách nhiệm” Cho đến trước năm 1978, không có văn kiện nào của Đảng và Nhà nước Trung Quốc ủng hộ chế độ khoán sản lượng đến hộ, ngược lại, có văn kiện còn phủ định chế độ này Chỉ sau Hội nghị Trung ương 3 khoá XI, theo nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn, nghiên cứu ủng hộ cái mới, tổng kết kinh nghiêm lịch sử, chế độ khoán sản lượng đến hộ mới dần dần khẳng định được hiệu quả của nó và được các cơ quan lãnh đạo ủng hộ, mở rộng việc nghiên cứu áp dụng.

Sau Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XII tháng 9/1982 phương hướng của chế độ khoán sản lượng đến hộ được khẳng định lại và tiếp tục phát triển theo chiều sâu.

Cải cách chế độ lưu thông nông sản phẩm là bộ phận tổ thành quan trọng của cải cách nông thôn ở Trung Quốc Trong điều kiện kinh

tế kế hoạch truyền thống, nông sản phẩm đều do Nhà nước thống nhất

Trang 25

Lè Văn Chiến Đàu tư trưc tiếp nước ngoài.

định giá, thống nhất thu mua và thống nhất tiêu thụ, từ đó làm cho sản xuất hoàn toàn tách khỏi lưu thông nông sản phẩm Do vậy cuộc cải cách thể chế lưu thông nông sản phẩm của Trung Quốc dần dần được triển khai xung quanh việc thủ tiêu chế độ thống nhất thu mua, thống nhất tiêu thụ của Nhà nước đối với nông sản phẩm, từng bước mở rộng quyền tự do tiêu thụ nông sản phẩm của nông dân; thủ tiêu chế độ hoàn toàn do Nhà nước định giá, thả nổi giá thu mua và tiêu thụ cho đại đa

số nông sản phẩm, đồng thời để thị trường tự điều tiết

1.2.7 Lý luận về cải cách chế độ xí nghiệp.

Chế độ xí nghiệp truyền thống của Trung Quốc được xây dựng thích ứng với thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ Những xí nghiệp như vậy không phải là người sản xuất hàng hoá và kinh doanh độc lập, không có tư cách pháp nhân chân chính, không có lợi ích kinh

tế độc lập, chỉ ỉà vật phụ thuộc vào hành chính Xí nghiệp sản xuất sản phẩm gì, sản xuất bao nhiêu, về cơ bản đều do kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước quyết định; mọi vấn đề như sản xuất, cung tiêu, nhân lực, vật lực của xí nghiệp đều được quản lý thông qua kế hoạch.

Điểm xuất phát và quy tụ của cải cách xí nghiệp là ở chỗ xây dựng thực thể pháp nhân chân chính và chủ thể cạnh tranh trên thị trường, làm cho kinh tế quốc hữu không ngừng phát triển và lớn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường XHCN Các xí nghiệp trở thành thực thể tương đối độc lập, thành nguồn sản xuất và kinh doanh XHCN tự mình kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, tự mình cải tạo, tự mình phát triển, trở thành những pháp nhân có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định.

Hội nghị Trung ương 3 khoá XIV ĐCS Trung Quốc chỉ rõ, cần xây dựng chế độ xí nghiệp hiện đại “quyền tài sản rõ ràng, quyền lợi và trách nhiệm phân minh, chính quyền và xí nghiệp tách rời, quản lý khoa học”

Trang 26

Lê Văn Chiến Đẩu tư trư c tiếp nước ngoài

1.2.8 Lý luận về mở cửa đôi ngoại.

Kiên trì thực hiện mở cửa đối ngoại là bộ phận tổ thành quan trọng của lý luận Đặng Tiểu Bình, đồng thời cũng là một quốc sách cơ bản thực hiện hiện đại hoá XHCN của Trung Quốc Hai mươi năm qua,

những đột phá về lý luận mở cửa đối ngoại, chủ yếu thể hiện ồ những mặt sau: Một là, loại bỏ mồ hình phát triển đóng cửa, nửa đóng cửa,

xác lập quốc sách cơ bản mở cửa đối ngoại, xây dựng thể chế kinh tế

mở; Hai là, mạnh dạn thu hút mọi thành quả văn minh mà xã hội loại

người bao gồm cả xã hội TBCN sáng tạo ra, lợi dụng đầy đủ hai nguồn

vốn, hai thị trường trong nước và quốc tế; Ba là, sáng tạo và xây dựng nên lý luận đặc khu kinh tế và phát triển kinh tế mở; Bốn là, giải quyết

đúng đắn mối quan hệ giữa mở cửa đối ngoại với tự lực cánh sinh.

Chế độ XHCN là chế độ mở cửa, thể chế kinh tế thị trường XHCN tất nhiên là thể chế mở cửa Trung Quốc lạc hậu một nguyên nhân quan trọng là một thời gian dài đóng cửa tự chủ Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ, hiện nay bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển, đóng cửa tự chủ là không thể được Chúng ta cũng đã ăn quả đắng này, tổ tiên chúng ta cũng đã từng ăn quả đắng này ông cũng nhắc nhở chúng ta rằng, sự phát triển của Trung Quốc không tách rời thế giới Chế độ XHCN có thể xây dựng ở một nước hoặc mấy nưóc, nhưng xây dựng XHCN không thể tách ròi khỏi thế giới, đóng cửa, bế quan toả cảng tất nhiên

sẽ thất bại Các nước XHCN muốn nhanh chóng phát triển sức sản xuất, nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, không ngừng phát triển cường thịnh, thì cần phải mở cửa để thu hút mọi thành quả văn minh của xã hội loài người bao gồm cả xã hội TỀCN sáng tạo ra Do vậy, vấn đề mở cửa đối ngoại thực chất là vấn đề chiến lược quan trọng

có quan hệ đến sự sinh tồn và phát triển của các nước XHCN Cho nên, Trung Quốc xác định mở cửa đối ngoại là một quốc sách cơ bản lâu dài.

Trang 27

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước ngoài

Hội nghị Trung ương 3 khoá XIV ĐCS Trung Quốc nêu lên phảỉ

đi sâu cải cách thể chế kinh tế đối ngoại, mở rộng hơn nữa mở cửa đối ngoại.

Thực hiện mở cửa đối ngoại, mục đích căn bản là nhanh chóng phát triển sức sản xuất của Trung Quốc Do vậy, một là phải mạnh dạn tham khảo, tiếp thu, lợi dụng, đồng thời tiến hành tiến hoá và đổi mới mọi thành quả văn minh mà loại người sáng tạo ra, bao gồm kỹ thuật tiên tiến của phương Tây; hai là, phải lợi dụng đầy đủ hai loại nguồn lực, hai thị trường trong nưóc và quốc tế, bao gồm các nguồn lực về vật chất, vốn, thông tin, tri thức , trong phạm vi rộng rãi hơn thực hiện bố trí sắp xếp hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực; đồng thời tích cực tham gia hợp tác và cạnh tranh kinh tế quốc tế, phát huy đầy đủ lợi thế

so sánh và ưu thế đi sau của kinh tế Trung Quốc, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Trung Quốc.

Mở cửa đối ngoại cũng có nghĩa là gắn nền kinh tế của một nước vào hệ thống kinh tế thế giới, từ đó tăng cường và sâu sắc hơn quan hệ dựa vào nhau cùng tồn tại giữa nước mình với nền kinh tế thế giới Phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mở cửa đối ngoại với kiên trì tự lực cánh sinh Mấu chốt để Trung Quốc giải quyết mọi vấn đề là phải dựa vào sự phát triển của chính mình, độc lập, tự chủ, tự lập cánh sinh, khồng phải trước đây, hiện nay mà cả tương lai sau này cũng đều phải đứng vững trên lập trường này.

Vân đê thu hút FDI phù hợp với yêu cầu của nền kỉnh tê thị trường.

Những thay đổi to lớn về lý luận trên đây là những nhân tố quan trọng Nó giúp Trung Quốc giải phóng được nhưng quan điểm sai lầm trong quá khứ, lựa chọn cho Trung Quốc những bước đi chiến lược mở đường cho sức sản xuất phát triển Trong những bước đi đó, vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được Trung Quốc đặc biệt coi trọng.

Trang 28

Lẻ Văn Chiến Đầu tư trưc tiếp nước ngoài

Trung Quốc coi nó là một bộ phận cấu thành quan trọng của công cuộc

cải cách mở cửa

Khi thực hiện chính sách khuyến khích thu hút FDI, các nhà lãnh

đạo Trung Quốc đã khẳng định: Trong quá trình thu hút FDI, nhất định

phải kiên trì nguyên tắc coi sự chỉ đạo của thị trường là chủ yếu.

Nguyên nhân chính là do các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu

quyết định phương hướng đầu tư theo góc độ lợi nhuận, chứ không

theo các ngành sản xuất của Trung Quốc Nếu chính sách các ngành

sản xuất của Trung Quốc nhất trí với với sự chỉ đạo của thị trường thì

công ty nước ngoài có lợi, họ sẽ đầu tư vào Trang Quốc nhiều hơn

Ngược lại nếu chúng không nhất trí với nhau thì gây khó khăn cho

Trung Quốc, vì các nhà đầu tư nước ngoài vẫn muốn chạy theo lợi

nhuận Cái gọi là sự chỉ đạo của thị trường ở đây có nghĩa là ngành

nào, sản phẩm làm ra tiền thì họ đầu tư vào ngành, sản phẩm đó.

Tuy vậy, chiến lược thu hút FDI phù hợp với yêu cầu của nền

kinh tế thị trường vẫn phải có trọng tâm và mục tiêu rõ ràng, trọng tâm

là đẩy nhanh bước phát triển kinh tế, mục tiêu là thúc đẩy tiến trình thị

trường hoá, pháp chế hoá, quốc tế hoá nền kinh tế Trung Quốc Đổng

thời cần quán triệt 4 nguyên tắc sau đây:

- Thu hút và lợi dạng FDI một cách "tích cực, hơp lý, hữu hiệu"

"Tích cực" là dám ra sức thu hút và lợi dụng FDI "Hợp lý" là chỉ đạo

hướng đầu tư hợp lý, tối ưu hoá cơ cấu đầu tư nhằm không ngừng nâng

cao chất lượng thu hút và lợi dụng FDI "Hữu hiệu" là giỏi thu hút và

lợi dụng FDI, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc lợi

dụng FDI Tích cực, hợp lý và hữu hiệu sẽ có thể nhanh chóng xây

dựng kinh tế, lại có thể ngăn ngừa khủng hoảng trả nợ nước ngoài xuất

hiện, ngăn chặn doanh nghiệp nước ngoài xâm phạm phi pháp chủ

quyền kinh tế của Trung Quốc.

Trang 29

Lè Văn Chiếìĩ Đẩu tư trưc tiếp nước ngoài

- Thu hút FDI phải phục vụ sự phát triển lâu dài, nhanh chóng và

lành mạnh của Trung Quốc.

- Thu hút FDI cần ngăn chặn việc coi nợ nước ngoài là biện pháp thường xuyên nhằm giải quyết những khó khăn về tài chính và thu chi quốc tế mất cân đối, ngăn chặn xây dựng các hạng mục phi sản xuất bằng một số lượng lớn tiền vốn FDI.

- Thu hút FDI phục vụ công tác thị trường hoá, pháp chế hoá, quốc tế hoá nền kinh tế Trung Quốc.

Cùng với việc thu hút FDI phải chú ý đến tập quán quốc tế trong vận động kinh tế, thu hút quy tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường, thu hút kinh nghiệm quản lý vĩ mổ và cơ chế kinh doanh vi mô có lợi cho đẩy mạnh cải cách kinh tế, phục vụ xây dựng thể chế kinh tế thị trường Mặt khác phải tăng cường xây dựng pháp chế, tăng cường quản lý theo pháp luật đối vói các doanh nghiệp "ba vốn" và thu hũt FDI, ngăn chặn hiện tượng các địa phương không thống nhất trong chính sách thu hút FDI và hành vi phi pháp của một số doanh nghiệp nước ngoài Từ đó thúc đẩy toàn bộ công tác quản lý kinh tế của Trung Quốc theo hướng pháp chế hoá.

- Thu hút FDI phục vụ mục tiêu quốc tế hoá nền kinh tế Chiến lược thu thút FDI phải cân đối với chiến lược ngoại thương, phải có sự chỉ đạo của xuất khẩu Bởi vì chỉ có sự mở rộng của xuất khẩu mới có thể giải quyết được vấn đề trả nợ khi phát triển nhanh chóng Trong thu hút FDI phải đề cập đến vấn đề giao lưu hai chiều của tiền vốn, phải đề cập tới vấn đề tham gia vào phân công quốc tế và thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường tài chính quốc tế Do vậy, trước tình hình mới, nền kinh tế Trung Quốc đang tiếp cận dần với nền kinh tế thế giới, hoàn toàn cần thiết phải đưa mục tiêu quốc tế hoá nền kinh tế Trung Quốc vào chiến lược thu hút FDI.

Trang 30

Lè Văn Chiến Đấu tưtrưc tiếp nước ngoài

Những luận điểm trên đây là những luận điểm có tính chất nền tảng Nó là cơ sở để Trung Quốc xây dựng chiến lược thu hút FDI trong quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.

1.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH NHẰM KHUYẾN KHÍCH THU HÚT FDl VÀO TRUNG QUỐC

1.3.1 Tạo dựng môi trường pháp luật cho đầu tư nước ngoài.

Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản gồm các bộ luật và pháp quy liên quan đến quan hệ kinh tế đối ngoại và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tương đối phù hợp với đòi hỏi của những quan hệ mở trong nền kinh tế thị trường Chúng được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản là;

hiện đại hoá của Trung Quốc, đồng thời các nhà đầu tư cũng thấy được lợi ích của mình Nhà nước Trung Quốc bảo vệ vốn đầu tư, lợi nhuận thu được và các quyền lợi hợp pháp khác của các nhà đầu tư.

Tổn trọng tập quán quốc tế: Các nhà đầu tư có quyền tự chủ tương đối lớn trong sản xuất kinh doanh Họ có thể áp dụng các phương thức quản lý phổ biến trên thế giới, không bị bó buộc bởi thể chế quản lý hiện hành của Trung Quốc.

Trên các nguyên tắc đó, Bộ luật đầu tư hợp tác giữa Trung Quốc với nước ngoài ra đời ngày 1/7/1979 đã đặt nền móng pháp lý cho các nhà đầu tư vào Trung Quốc Đây là bộ luật quan trọng nhất liên quan đến lĩnh vực này.

Những nội chủ yếu của bộ luật này bao gồm:

- Các doanh nghiệp liên doanh Trung Quốc với nước ngoài là pháp nhân Trung Quốc chịu sự quản lý của pháp luật Trung Quốc và

Trang 31

Lé Văn Chiến Đẩu tư trưc tiếp nước ngoài

được bảo vệ bởi pháp luật Trung Quốc Các doanh nghiệp này được

phép kinh doanh vào các ngành khai thác năng lượng, công nghiệp vật

liệu xây dựng, công nghiệp hoá chất, luyện kim chế tạo cơ khí, điện tử,

máy tính, thiết bị thông tin, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm,

nồng nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, du lịch, dịch vụ

- Phương thức góp vốn có thể bằng hàng hoá, các công trình kiến

trúc, nhà xưởng, thiết bị máy móc hoặc vật liệu khác, bản quyền công

nghệ sản xuất kỹ thuật, đất đai

- Kỹ thuật doanh nghiệp liên doanh tiếp thu phải thích hợp

với việc sử dụng, phải tiên tiến, khiến cho sản phẩm của nó phải có

hiệu quả KT - XH rõ rệt đối với trong nước hoặc có khả năng cạnh

tranh trên thị trường thế giới.

- Khi nhập khẩu những vật tư phục vụ sản xuất sản phẩm xuất

khẩu được miễn thuế hải quan và thuế công thương thống nhất, Sản

phẩm tiêu thụ trong nưóc có thể xin miễn thuế này trong thời kỳ đầu

mới xây dựng; cho phép một cơ sở mới nếu đăng ký thời gian thi hành

liên doanh là lớn hơn 10 năm thì được hưởng chế độ miễn 100% thuế

thu nhập trong năm làm ra lãi đầu tiên và được giảm 50% trong hai

năm tiếp theo sau đó (sau này, Trung Quốc đã mở rộng thêm khoảng

thời gia này là 2 năm miễn thuế 100% và 3 năm tiếp sau đó giảm

50%); cho phép các nhà đầu tư nếu dùng số lợi nhuận thu được tái đầu

tư tại Trung Quốc trong khoảng thời gian ít nhất 5 năm thì được trả lại

10% thuế thu nhập đánh vào các khoản vốn tái đầu tư đó.

- Số lợi nhuận có thể phân phối sau khi trích ra một số tiền dùng cho quỹ dự phòng, quỹ tiền thưởng và phúc lợi cho cán bộ công nhân

viên, quỹ phát triển xí nghiệp Lợi nhuận được phân phối theo tỷ lệ

xuất vốn của các bên liên doanh được phép chuyển ra ngoài Trung

Quốc.

Trang 32

- Kỳ hạn hợp doanh của các hạng mục bình thường từ 10 đến 30 năm Kỳ hạn hợp doanh của các hạng mục có đầu tư lớn, chu kỳ quay vòng tiền vốn dài, tỷ lệ lợi nhuận thấp cũng có thể trên 30 năm.

Tháng 4 năm 1990, Trung Quốc đã tiến hành sửa đổi bộ luật này Trong đó có những quy định có lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài

ở 3 vấn đề: quốc hữu hoá, kỳ hạn hợp doanh và lựa chọn giám đốc, cụ thể là:

- Nhà nước không thực hiện quốc hữu hoá và trưng thu doanh nghiệp liên doanh.

- Người phía nưóc ngoài có thể làm giám đốc.

- Kỳ hạn hợp doanh: Được quy định khác nhau đối với các ngành khác nhau, các tình huống khác nhau Có doanh nghiệp cần phải quy định, có doanh nghiệp không cần ở những doanh nghiệp có quy định

kỳ hạn hợp doanh, nếu các bên hợp doanh đồng ý kéo dài kỳ hạn, cần phải nộp đơn xin cơ quan có thẩm quyền trước 6 tháng tính tới khi hết hạn hợp doanh.

Có thể nói, Bộ luật đầu tư của Trung Quốc đã đáp ứng được nhu cầu mở cửa đối ngoại của Trung Quốc.

Ngoài bộ luật nói trên, các văn bản khác liên quan đến tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, xuất nhập cảnh, đi lại

và cư trú, quản lý tài nguyên khoáng sản, đất đai, lao động và tiền lương cũng đã được các ban ngành hữu quan ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể hoạt động hợp tác đầu tư Những văn bản này cũng không ngừng được bổ sung sửa đổi theo hướng tạo thêm thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc.

Trong những văn bản đó đáng chú ý là Quy định của quốc vụ viện Trung Quốc về khích lệ đầu tư của thương gia nước ngoài gọi tắt

là 22 điều mục ban hành ngày 11 tháng 10 năm 1986 Quy định này

Lé Văn Chiến Đâu tư true tiếp nước ngoải

Trang 33

Lé Vãn Chiến Đâu tư true tiếp nước ngoài

nhấn mạnh việc ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá và các doanh nghiệp kỹ thuật tiên tiến trên 5 mặt:

+ Hạ thấp phí sử dụng đất đai: Ngoài các khu vực phồn hoa, sầm uất của các thành phố lớn, phí khai thác và phí sử dụng tính thu hàng năm mỗi m2 là 5 - 20 NDT, phí khai phát tính thu một lần Nếu các doanh nghiệp trên tự khai phát thì phí sử dụng đất cao nhất được tính cho mỗi m2 là 3 NDT một năm.

+ Hạ thấp phí lao động: Các công trình thuỷ điện, giao thông, thông tin thu phí theo tiêu chuẩn của các doanh nghiệp quốc doanh địa phương.

+ Miễn giảm thuế: Đối với các sản phẩm sản xuất ra để xuất khẩu, sản phẩm dầu thô, thành phẩm dầu và một số sản phẩm khác do Nhà nước qúy định được miễn thuế công thương thống nhất.

+ Khích lệ các nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư lợi nhuận Nếu thời gian kinh doanh của dự án tái đầu tư trên 5 năm, qua cơ quan thuê

vụ xét duyệt, người đầu tư sẽ được trả lại 40% thuế thu nhập đã nộp đối phần lợi nhuận tái đầu tư.

+ Bảo đảm điều kiện bên ngoài của doanh nghiệp kinh doanh sản xuất, tạo môi trường hoạt động tiền tệ thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp "22 điều mục" đã tạo một phạm vi rộng đáng

kể so vói các chính sách trước đó Trước đây các cơ sở đầu tư liên doanh được hưởng ưu đãi hơn các cơ sở hợp đổng kinh doanh và cơ sở 100% vốn nước ngoài Còn "22 điều mục" không tính đến sự phân biệt

đó miễn là chúng đủ tư cách là cơ sở kinh doanh xuất khẩu hoặc cơ sở

kỹ thuật tiên tiến.

Thực hiện chế độ đãi ngộ quốc dân (nghĩa là tạo cho các nhà đầu

tư nước ngoài được hưởng quyền lợi ngang bằng như những nhà đầu tư bản địa, phạm vi đãi ngộ ngang bằng này bao gồm tự do lưu cư và định

Trang 34

Lê Văn Chiến Đẩu tư trư c tiếp nước ngoải

cư, chịu các loại thuế thu, phí sử dụng, tự do làm các ngành nghề dịch

vụ, thuê và sử dụng lao động ).

Điều đáng nói ở đây là, trong quy định này đâu đâu cũng có hai chữ "ưu tiên", do vậy phạm vi "ưu tiên" được nhiều địa phương mở rộng Chẳng hạn các tỉnh Hắc Long Giang đã đưa ra 8 vấn đề ưu tiên: Than, điện, dầu mỏ, khí đốt, nguyên vật liệu, đất sử dụng, vay vốn ngân hàng và sức lao động Quý Châu lại đưa ra ưu tiên đầu tư tài sản

cố định, cung cấp nguyên vật liêu xây dựng, sắp xếp đội ngũ thi công Điều này đã phá vỡ cơ hội cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp giữa Trung Quốc và nước ngoài.

Trong những ưu đãi trên, ưu dãi về thuế đối với các xí nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là vấn đề được Trung Quốc coi trọng.

1.3.2 cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tẩng.

Cơ sở hạ tầng được cải thiện là một trong những điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài Trung Quốc đã chủ động bỏ vốn ra

để xây dựng, cải tạo đường sá, bến bãi, kho tàng, cảng nước sâu, sân bay, hệ thống thông tin Cho đến năm 1994 Trung Quốc đã xây dựng được hơn 54 ngàn km đường sắt, trong đó có 8.988 km được điện khí hoá; 1.178 ngàn km đường bộ, trong đó có 1.555 km đường cao tốc, 9.078 km đường xe hơi chuyên dụng; tất cả các huyện đều đã được xây dựng đường bộ Đã cải tạo và đưa vào sử dụng 110 ngàn km đường vận tải đường sông Đã xây dựng được 20 cảng lớn, 1.763 cảng nhỏ, trong

đó 350 cảng có thể nhận được tầu trọng tải 10.000 tấn đã mở ra gần

100 tuyến đường biển để giao lưu với 1.100 bến cảng của hơn 160 quốc gia trên thế giới Hàng không dân dụng Trung Quốc đã mở ra hơn

700 tuyến bay, trong đó có 84 tuyến bay quốc tế, với đường bay dài 1.046 triệu km, trong đó đưòng bay quốc tế dài 352.000 km, thông đến gần 50 thành phố trên thế giới; đã sử dụng nhiều máy bay trở khách cỡ lơn như máy bay boeing 767, 757, 747, 737, MD82 về bưu điện viễn

Trang 35

Lê Văn Chiến Đàu tư trư c tiếp nước ngoài

thông, Trung Quốc đã xây dựng 60,4 ngàn trạm bưu điện; đã đặt trên 6

chục triệu điện thoại ở cả thành phố và nông thôn [8] Riêng trong kế

hoạch 5 năm lần thứ 8 vừa qua, đầu tư tài sản cố định tăng lên rõ rệt, tổng cộng đạt chừng 734,9 tỷ USD, tăng gấp 3,1 lần so với kế hoạch 5 năm lần thứ 7 Trong 5 năm tăng thêm hơn 5.800 km đường sắt mới, 3.400 km đưòng sắt hai chiều, xây dựng 92 ngàn km đường bộ mới, 1.700 km đường cao tốc Tổng công suất điện lực tăng 2 triệu kw [8] Điều kiện cung ứng năng lượng, giao thông bưu điện ở Trung Quốc không ngừng được cải thiện đã tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư.

1.3.3 Chính sách uu đãi thuế

Thuế có quan hệ trực tiếp với lợi nhuận của các nhà đầu tư, là một trong những chỗ dựa quan trọng để họ quyết định có đầu tư vào hay không Nhằm thu hút FDI, Trung Quốc đã để ra nhiều chính sách

ưu đãi thuế và luật pháp hoá chúng Ví dụ như miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu, có công nghệ tiên tiến hay miễn, giảm thuế trong những năm đẩu hoạt động, những năm đầu có lãi

1.3.3 1 Ưu đãi đôi với khu vực đầu tư: Biện pháp này được đề

ra theo chiến lược mở cửa khu vực của Trung Quốc.

Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xây dựng ở các đạc khu kinh tế và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mang tính chất sản xuất, xây dựng ở khu khai thác phát triển kinh tế kỹ thuật tại 14 thành phố ven biển do Quốc vụ viện phê chuẩn được giảm thuế thu nhập 15% theo tỷ lệ thuế Đó là các ngành chế tạo máy, công nghiệp điện tử, công nghiệp năng lượng (không kể các ngành dầu khí), luyện kim, hoá học, vật liệu xây dựng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp dược phẩm, giao thông vận tải, xây dựng, địa chất, thông tin Các ngành khác muốn được hưởng ưu đãi đó, phải được ngành chủ quản thuế vụ xác nhận.

Trang 36

ưu đãi thuế còn dành cho đầu tư ở khu phố cũ thuộc các thành phố ven biển, đặc khu kinh tế và khu khai thác phát triển kinh tế kỹ thuật Những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mang tính sản xuất có thể được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tới 24%.

1.3.3.2 Ưu đãi về kỳ hạn kinh doanh.

Đối với các doanh nghiệp dầu tư nước ngoài mang tính sản xuất, nếu kỳ hạn kinh doanh trên 10 năm, tính từ năm bắt đầu có lãi, năm thứ nhất và năm thứ hai họ được miễn thuế thu nhập, từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 họ được giảm một nửa thuế thu nhập.

1.3.3.3 Đãi ngộ dành cho hoạt động tái đầu tư.

- Đãi ngộ dành cho hoạt động tái đầu tư thông thường: Nếu ngưòi đầu tư nước ngoài dành số lợi nhuận thu được từ xí nghiệp để tái đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp đó, hoặc đầu tư xây dựng doanh nghiệp khác, nếu kỳ hạn kinh doanh không dưới 5 năm thì được trả lại 40% thuế thu nhập đã nộp đối với phần tái đầu tư.

- Ưu đãi dành cho hoạt động tái đầu tư đặc biệt; Các nhà đầu tư tái đầu tư xây dựng ở một số lĩnh vực đặc biệt như mở rộng xí nghiệp

có kỹ thuật tiên tiến, mở rộng xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm hoặc đầu

tư cho hạng mục xây dựng cơ bản và mở mang nông nghiệp trong đặc khu kinh tế Hải Nam thì có được trả lại toàn bộ số thuế thu nhập đã nộp đối vófi phần tái đầu tư.

Những xí nghiệp nói trên nếu chưa đạt được tiêu chuẩn xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm hoặc chưa được tiếp tục xác nhận là xí nghiệp có

kỹ thuật tiên tiến, trong thời gian 3 năm kể từ khi bắt đầu sản xuất kinh doanh thì phải nộp trả lại 60% số thuế đã được truy lĩnh.

Hoạt động tái đầu tư của thương nhân nước ngoài thuộc về loại thông thường hay đặc biệt nhưng nếu họ rút đầu tư trước thời hạn 5 năm, họ phải nộp trả lại số thuế đã được truy lĩnh.

Lẻ Vãn Chiến _ Báu tư trư c tiếp nước ngoài

Trang 37

Lê Văn Chiến Đầu tư true tiếp nước ngoài

I.3.3.4 ưu đãi dành cho người đầu tư nước ngoài.

Những nhà đầu tư xây dựng xí nghiệp sản xuất kinh doanh ở Trung Quốc phải nộp thuế thu nhập Trung ương là 30% số thu nhập mà

họ có được từ những xí nghiệp này Ngoài ra, họ còn phải nộp thuế thu nhập địa phương là 3% Nếu nhà đầu tư chưa xây dựng xí nghiệp ở Trung Quốc nhưng có lợi nhuận, lợi tức, tiền cho thuê hoặc những thu nhập khác có nguồn gốc trong Trung Quốc, hoặc tuy họ đã xây dựng xí nghiệp ở Trung Quốc nhưng những thu nhập nói trên không có mối liên hệ thực tế vơí xí nghiệp đó, thì phải nộp thuế thu nhập 20%.

Những ưu đãi về thuế dành cho các nhà đầu tư nước ngoài ở một

số mức độ nhất định đã giảm bớt gánh nặng cho các nhà đầu tư, tăng lợi nhuận cho họ, Nó có tác dụng rõ rệt trong việc thu hút vốn bên ngoài, mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại.

Song nhưng biện pháp ưu đãi này cũng có nhiều thiếu sót lớn, ví dụ:

+ Ưu đãi thuế diễn ra hỗn loạn ở các địa phương.

Để thu hút được nhiều FDI, chính quyền các địa phương đua nhau vượt quyền hạn của mình, vi phạm pháp luật, tự đề ra chính sách miễn giảm thuế (kể cả cấp huyện cũng miễn giảm thuế) Không chỉ

vậy, ở nhiều điạ phương chính quyền còn tự tiện xây dựng khu khai

* phát kinh tế, thường rập khuôn theo chế độ miễn giảm thuế của các đặc

khu kinh tế và các khu khai phát kinh tế được Quốc vụ viện phê chuẩn Điều đó làm ảnh hưởng đến thuế địa phương và cả thuế trung ương.

+ Chế độ ưu đãi thuế đi ngược lại nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng, khiến cho tiền vốn trong nước chảy ra ngoài.

Xí nghiệp tiền vốn nước ngoài và xí nghiệp tiền vốn trong nước đều là pháp nhân của Trung Quốc, nhưng được đãi ngộ khác nhau Trong cùng một điều kiện nhưng xí nghiệp tiền vốn trong nước không

Trang 38

Lê Văn Chiến Đầu tư trư c tiếp nước nsoài

được hưởng thụ những ưu đãi về thuế như những xí nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài đã làm tăng thêm gánh nặng cho xí nghiệp Họ phải cạnh tranh trên cơ sở không bình đẳng với xí nghiệp tiền vốn bên ngoài Điều đó có hại cho nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường Mặt khác, nhiều xí nghiệp trong nước do tìm kiếm lợi nhuận, họ đã đầu tư vốn ra nước ngoài, sau đó lại từ nước ngoài đầu tư trở lại trong nước với tư cách là người đầu tư nưóc ngoài để được hưởng ưu đãi thuế Họ xây dựng chi nhánh công ty ở nước ngoài, sau đó chi nhánh lại hùn vốn liên doanh với công ty chính ở trong nước Xét bề ngoài nó là thu hút FDI, nhưng thực tế lại không tăng thêm tiền vốn nước ngoài Hiện nay

có nhiều tiền vốn nước ngoài vào Trung Quốc, thực chất lại là tiền vốn trong nước Người ta gọi đó là hiện tượng "chung vốn giả".

+ Ưu đãi về thuế đã đi ngược lại một số nguyên tắc trong quy định của tổ chức thương mại thế giới (W.T.O).

Người đầu tư nước ngoài do được hưởng những đãi ngộ khác nhau về khu vực đầu tư, loại hình đầu tư, kỳ hạn kinh doanh nên đã

đi ngược lại nguyên tắc "không kỳ thị" trong giao lưu quốc tế Hơn nữa, chế độ ưu đãi về thuế đã hình thành những bù lỗ không hợp lý Việc cho thương nhân nước ngoài tái đầu tư trong nước, xây dựng mở rộng những xí nghiệp xuất khẩu sản phẩm bị coi là bù lỗ xuất khẩu Những ưu đãi về thuế khác được coi là bù lỗ trong nước Điều này vi phạm quy định của W.T.O, nghiêm cấm các nước bù lỗ xuất khẩu cho những sản phẩm công nghiệp, những bù lỗ xuất khẩu sản phẩm sơ cấp

và bù lỗ trong nưóc không được gây ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất và mậu dịch của nước khác.

+ Ưu đãi về thuế tạo điều kiện cho hành vi trốn thuế.

Những ưu đãi về thuế của Trung Quốc dễ bị phía nước ngoài lợi dụng để trốn thuế dưới hình thức thua lỗ mang tính kinh doanh Họ lợi dụng chế độ miễn thuế lợi tức trong 2 năm đầu tiên có lãi và giảm 50%

Trang 39

Lé Văn Chiến Đấu tư trưc tiếp nước ngoài

cho 3 năm tiếp sau đó để chuyển lợi nhuận của xí nghiệp sang công ty

mẹ ở nước ngoài, hoặc các xí nghiệp hữu quan, dưới hình thức định giá

không hơp lý khiến cho xí nghiệp của họ có giá trị sản lượng nhưng lại

không có lợi nhuận Họ đạt được mục đích kéo dài thời hạn không có

lãi, do đó không phải nộp hoặc nộp ít thuế Theo một số tài liệu, diện

thua lỗ trong các xí nghiệp "ba vốn" vào khoảng 40-50%, riêng ở Thâm

Quyến lên tới 60-80% [56], chủ yếu là do hành vi trốn thuế Tình hình

này đã khiến cho ngân sách Nhà nước và người hùn vốn bên phía

Trung Quốc bị tổn hại nghiêm trọng.

Những thiếu sót trên đây không phù hợp vói kinh tế thị trường,

lợi ích quốc gia, tập quán quốc tế Nó đang được Trung Quốc từng

bước cải cách xoá bỏ Từ tháng 1/1994, trọng tâm cải cách về thuế

được tập trung ở một số điểm:

- Thực hiện một chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành

phần kinh tế nhằm đảm bảo sự bình đẳng về thuế, thúc đẩy cạnh tranh,

thuế đánh không phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ Thay thế thuế doanh nghiệp bằng thuế giá tộ gia tăng và đơn

giản hoá cơ cấu thuế suất.

+ Giảm thuế thu nhập đánh vào các doanh nghiệp để kích thích

sản xuất kinh doanh phát triển Mở rộng diện thu thuế thu nhập cá

nhân Xóa bỏ dần các ưu đãi miễn giảm thuế và chuyển sang hình thức

tài trợ cho các trường hợp đặc biệt cần thiết bằng chi ngân sách.

4- Bổ sung một số loại thuế mới như thuế tài nguyên, thuế sở hữu

hiện nay, Trung Quốc đang đi vào xây dựng môi trường cạnh tranh

thực sự bình đẳng và tự do

Trang 40

Lé Ván Chiên Đấu tư trưc tiếp nước ngoài

CHƯƠNG 2 ĐẦU T ư TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TRUNG QUÔC

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có diện tích 9,6 triệu km2, trải dài từ miền cận nhiệt đới đến miền ôn đới, từ miền cao xen lẫn bồn địa khô hạn ở miền Tây đến đồng bằng mầu mỡ ven biển ở miền Đông

Từ Bắc xuống Nam dài 4000 km, từ Đông sang Tây rộng 5200 km, chia làm ba vùng khác nhau về trình độ văn hoá, trình độ phát triển kinh tế là vùng ven biển, vùng giữa và vùng cao Trung Quốc có đường biên giới lục địa dài chừng 22.800 km, tiếp giáp với nhiều nước ở ba mặt Bắc, Tây, Nam Phần lớn đường biên giới (khoảng 17.000 km) nằm trong vùng núi cao hiểm trở nên việc đi lại giữa Trung Quốc với các nước láng giềng bị hạn chế Trái lại đường bờ biển phía Đông mở rộng ra Thái Bình Dương với các cảng nằm rải rác từ Bắc xuống Nam

đã tạo điều kiện tốt cho Trung Quốc quan hệ với thế giới.

Do điều kiện địa lý ở các vùng khác nhau và do trình độ phát triển kinh tế văn hoá không đồng đều giữa các vùng, nên Trung Quốc không thể cùng một lúc mở cửa với mức độ như nhau trong phạm vi cả nước

Vì vậy, Trung Quốc đã chọn vùng ven biển là vùng có nhiều thuận lợi hơn cả để đi đầu trong chính sách mở cửa, nhằm phát huy ưu thế của vùng này, đẩy nhanh phát triển kinh tế đổng thòi cũng để tìm con đường đi lên cho cả nước Vùng này có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, sức lao động dồi dào, có vị trí thuận lợi trong giao lưu quốc

tế Đây cũng là vùng có truyền thống kinh doanh lâu đời, có một số cơ

sở công nghiệp nhất định, khả năng phát triển khoa học kỹ thuật tương đối tốt Vùng ven biển phía Đồng Nam nhất là hai tỉnh Quảng Đông

và Phúc Kiến còn là quê hương của hàng chục triệu Hoa Kiều ở nước ngoài

Nếu khu vực ven biển Trung Quốc (bao gồm cả đồng bằng sông Châu Giang, đổng bằng sông Trường Giang, vùng tam giác nam Phúc Kiến và cả bán đảo Sơn Đông bán đảo Liêu Đông), có thể đi vào thị

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w