Thêm nứa, từ khi có N ghị quyết hội n^hị lần th ứ 4 Ban C hấp h àn h T rung ương Đảng khóa VII Về m ột số n h iệm VỊ văn hóa, văn nghệ nhữ n g năm trước m ắt thì công tác sưu tầm , nghi
Trang 1B ộ (ỉIA O D Ụ C VA ĐẢO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NHÂN VÃN
NGUYỄN HỮU THỨC
VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY
Chuyên ngành : Văn học dân gian
LUẬN ÁN PH Ó TIẾN Sĩ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng d ẫ n khoa học: PGS, PTS LÊ CHÍ QUẾ
IIẢ NỒI - 19%
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
I- Lý do chọn đê tài 1II- Đối tượng, phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu 5III- T ình hình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Hà Tây 7IV- Ý nghĩa thực tiễn, đóng góp mới của luận án .21V- Cơ cấu luận á n 22
CHƯƠNG MỘT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, LỊCH sử , VÀN HÓA TỈNH HÀ TÂY
I- Hà Tây vùng đất cổ .24II- Hà Tây đất trăm nghề trong mối quan hệ vớỉ kinh đô
T hăng Long - Hà N ộ i 31III- Hà Tây vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa và
danh th ắ n g 37IV- Hà Tây vùng đâ't có nhiều lễ hội cổ truyền .43V- Hà Tây vùng đất có truyền thống khoa b ả n g 47VI- Hà Tây vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với ba dạng
hình văn h ó a 51
CHƯƠNG HAI
DIỆN MẠO VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY
I- Các phương thức lưu truyền văn học dân gian Hà T â y 60II- Các thể loại văn học dân g ia n 67III- Các tiểu vùng thể loại truyền thuyết dân gian Iĩà T A v 94
Trang 3CHƯƠNG BA GIÁ TRỊ VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÂY I- Văn học dân gian phản ánh quá trình dựng nước, giữ
nước của dân tộc trên lãnh địa Hà T â y 101
II- Văn học dân gian phản ánh cốt cách con người Hà Tây 118
III- Văn học dân gian phản ánh văn vật, phong hóa Hà Tây 131
CHƯƠNG BỐN ĐÓNG GÓP CỦA VẢN HỌC DÂN GIAN HÀ TÀY VÀO VIỆC CHẤN HƯNG VÀN HÓA ĐỊA PHƯƠNG I- Bối cảnh văn hóa Hà Tây sau ngày đất nước thống nhâ't 144 II- Đóng góp của văn học dân gian Hà Tây vào việc chấn hưng văn hóa địa phương 152
III- Một vài giải pháp để văn học dân gian góp phần trở th àn h dộng lực chân hưng văn hóa địa p h ư ơ n g 170
KẾT LUẬN 176 PHỤ LỤC I- Bản đồ địa bàn hành chính Hà T â y 182
II- Bản đô các điểm diễn xướng dân ca .183
III- Bản đô phân tiểu vùng truyền thuyết dân g i a n 184
IV- Một số ảnh minh h ọ a 185
V- Danh mục truyền thuyết Sơn T i n h 189
VI- Danh mục truyện cổ có xuất xứ địa danh và con người ở Hà Tây 191
VII- Danh mục các truyện thư có xuất xứ địa danh và con người ở Hà Tây 194
VIII- Danh mục những di tích thừ Tản Viên 195
Trang 4IX- Danh mục những di tích thờ thần Trung Thành đại
vương 201X- Danh mục những vị thần, thành hoàng liên quan đến
cuộc khởi nghĩa Hai Bà T rư n g 203XI- Danh mục những vị thần, thành hoàng liên quan đến
cuộc khởi nghĩa Lý Nam Đ ế 208XII- Danh mục những vị thần, thành hoàng liên quan đến
Đinh Tiên Hoàng Đ ế 7 212XIII- Danh mục những di tích thờ Từ Đạo Hạnh .214XIV- Công văn số: 69-CV/UB của ủ y ban nhân dân tỉnh Hà
Tây về việc tổ chức Liên hoan hát ru toàn t ỉ n h 215XV- Danh mục tổng kiểm kê di tích ở tỉnh Hà Tây
năm 1995 217
- DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH VÀ BÀI VIẾT
CỦA TÁC GIẢ ĐÁ CÔNG B ố c ó LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN Á N 218
- THƯ MỤC THAM KHẢO 220
Trang 5MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI
- Lý d o 1: Nguyễn Trãi (1380 - 1442), người anh hùng dân tộc sinh
trrởng ở vùng đâ't nay thuộc Hà Tây, trong một bài biểu dâng Lê Thái Tông nỀm 1437 có đoạn viết: "Kể ra, đời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn Nay
đ m g là lúc ta nên làm lễ nhạc Song không có gốc thì khống th ể đứng, kỉông có văn thì khỗng th ể hành Hòa bình là gốc của nhạc, thanh ầm là VỜI của nhạc Thần vâng chiếu soạn nhạc không dám không dốc hết tâm sifc N hưng vì học thuật nòng cạn, sợ rằng trong khoảng thanh luật, khó ỉvợc hài hòa X in bệ hạ yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn hiíng oản hận bùôn than, như th ế mới không m ất cái gốc của nhạc" [132,
tr339] Hoài bão văn trị thái bình sau thời kỳ Bình Ngô phục quốc th ật cao iẹo Từ ngày đất nước ta thống nhât, tình hình chính trị ổn định, công cuộc
lổ mới dất nước đạt được những thành tựu to lớn, thì vận hội phục hưng /à phát triển văn hóa trên mọi phương diện cũng được đặt ra Trong đó, xu Ìiớng tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc Việt trở thành phong trào quần chúng hực mọi tầng lớp xã hội hưởng ứng, khưi dậy những thuần phong mĩ tục, ìhĩng truyền thống văn hóa quí báu của dân tộc Văn hóa vật thể (đình, ihìa, đên, quán ) được nhân dân giữ gìn, tôn tạo; văn hóa phi vật thể được
ứ ân dàn khôi phục, tham gia tái tạo, nhất là sinh hoạt ca hát, lễ hội cổ riyền và nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ khác được chăm lo, gây dựng
ại Một số hục giả cho rằng thập kỷ 90 của thê kv này là thời kỳ chấn hưng
Trang 6ăn hóa dân tộc Đã có hẳn một cuốn sách vứi đàu đê: Chấn hưng các vùng
à tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay của hai tác giả H uỳnh Khái Vinh
à Nguyễn T hanh Tuấn [116, sách dầy 284tr.J Chấn hưng văn hóa dân tộc
rở thành vấn đê quan tâm cùa các nhà quản lý và nghiên cứu văn học Chấn
lư n g t h ế n à o , r a s a o đ ể g ạ n d ụ c , k h ơ i t r o n g t ạ o r a đ ộ n g lự c p h á t h u y n h ữ n g
jiá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc?
Văn học dân gian bao giờ cũng là một bộ phận nên tảng cấu thành của lăn hóa dân tộc Trong trào lưu chấn hưng văn hóa dân tộc, văn học dân gan cần được xem xét, đánh giá còn bởi đó chẳng Iihững là di sản rất quan tọng của quá khứ mà còn là tài sản đương đại được quần chúng lao động
a n g tạo rất kịp thời tác dụng như một phong vũ biểu nhậy cảm phản ánh nọi diển biến của xâ hội
Chính vì lẽ đó, tìm hiểu một cách nghiêm túc, cặn kẽ, có hệ thống văn h>c dân gian của từng địa phương là vấn de ưu tiên đặt ra đối với các nhà rghiên cứu và hoạt động văn hóa, đáp ứng nhu cầu tìm về văn hóa cội nguồn đmg diễn ra trong đời sống xã hội
- L ý d o 2: Hiện nay, theo cơ cấu quàn lý hành chính, nước ta có 53 thh, thành phố trong một quốc gia Việt Nam thống nhất Thống nhất một rìtn văn hóa nhưng đa dạng về sắc thái biểu hiện Do vậy, những năm gần đay, việc nghiên cứu văn hóa, văn học truýên thống trong phạm vi từng tỉnh
đi đưực giới nghiên cứu quan tâm Dẫu rằng văn hóa về phương diện giao tiíp là không có biên giới nhưng việc chia địa giới hành chính cấp tỉnh, thành pỉố dẫn tới mỗi tỉnh, thành lại có một cơ quan đâu não triển khai đường
16 chính sách của Đảng và Nhà nước ử trung ương đồng thời đê ra những cHnh sách kinh tế - xã hội cụ thể phù hựp với hoàn cảnh của từng địa phương.Quá trình xây dựng kế hoạch, đè ra chủ trương chính sách, chỉ đạo và
Trang 7đẾu h àn h đòi hỏi các cơ quan tham mưu phải nắm bắt đưực một cách hệ tíống vấn đê n gành quan tâm.
Một chức n ăng quan trọng của ngành Văn hóa thông tin tỉn h Hà Tây
là bảo tồn và p h á t huy di sản văn hóa vật chất, văn hóa tin h th ầ n của các dín tộc trong tỉnh Muốn đê ra chính sách văn hóa phù hợp đáp ứng kịp tỉời xu th ế p h á t triể n của văn hóa thông tin Hà Tây đòi hỏi phải xử lý rất nlíều dữ kiện th ô n g tin văn hóa để rú t ra những kết luận m ột cách khách qian, khoa học trong đó có nhữ ng thông tin về văn học dân gian và tác động cCa nó trong đời sống xá hội hiện nay Thêm nứa, từ khi có N ghị quyết hội
n^hị lần th ứ 4 Ban C hấp h àn h T rung ương Đảng khóa VII Về m ột số n h iệm
VỊ văn hóa, văn nghệ nhữ n g năm trước m ắt thì công tác sưu tầm , nghiên
CÚI văn học dân gian ở Hà Tây được đẩy m ạnh, cuốn hú t niềm say mê của nliều trí thức ở địa phương; phong trào quần chúng hưởng ứng các làn diệu
hâ, ru, hát giao duyên được các đoàn thể phát đông sôi nổi ở các huyện,
t h , xã, thôn T ừ thực tiễn sinh dộng ấy đặt ra cần có n h ữ n g tài liệu m ang tíih khái quát, tổng hợp và hệ thống hóa nó một cách khoa học
- L ý d o 3: Federico Mayor Zaragoza tác giả bài: T hập kỳ th ế g iớ i p h á t trể n văn hóa đăng tro n g tạp chí T hông tin UNESCO, th á n g 11-1988 đã dưa
ra lời khuyến cáo: "K in h n g h iệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy ràng trong
m á xã hội n g à V nay, bất luận ở trìn h dộ p h á t triển k in h tê nào hoặc theo
xu hướng c h ín h trị và k in h tê' nào, văn hóa và p hát triển là hai m ặ t gắn liin với nhau.
Vãn hóa là m ột bộ phận không th ể tách rời của cuộc sống và nhậ n thức - m>t cách hữu thức cũng n h ư vô thức - cùa các cá nhân và các cộng đông Vơi hóa là tổng th ể sống động các hoạt dụng sáng tạo trong quá k h ứ và
tn n ẻ h iện tại Qua các th ế kỷ, hoỊit động sảng tạo ày dã hìnli th à n h nên
Trang 8m ộ hệ thống các g iá trị, các truyên thống và các thị hiếu - những yếu tố
xác đ ịn h đặc tính riêng của mỗi dân tộc Vì vậy văn hóa nhất đ ịn h sẽ ghi dấL ấn cùa m ình lên hoạt dộng kinh tế của con người uà xác đ ịn h những
m ặ m ạnh m ặt yếu riêng của các quá trình sản xuất trong m ột xã hội Từ nay trở đi, văn hóa cản coi m ình là một ngùôn cổ xúy trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cản thừa nhận văn hóa g iữ một vị trí ‘rung tâm, một vai trò diêu tiết xã hội".
Cho đến nay, vẫn còn tồn tại những Iihận thức chưa đầy đủ về vai trò của quần chúng lao động trong sáng tạo nghệ thuật cũng như chưa đánh giá đúnỊ vai trò của văn học dân gian trong cuộc sống xã hôi hiện đại và sự nghệp chấn hưng văn hóa Do vậy, việc chỉ ra cái hay cái đẹp, các mối quan
hệ ịiữa vãn học dân gian với các dối tượng cụ thể ở địa phương Hà Tây như mối quan hộ văn hục dân gian với sáng tác thơ văn hiện đại, với việc khơi dậysinh hoạt văn hóa cộng đồng, phục hưng các làng nghề thủ công mĩ nghệ
là c;ch tiếp cận để mọi người trân trọng những sản phẩm sáng tạo của nhân dân từ đó nêu cao ý thức giữ gìn, sử dụng vốn liếng quí báu này trong sự nghệp đổi mới đất nước
L ý d o 4: Hà Tây là đất Việt cổ nên nghiên cứu văn học dân gian Hồ Tây là một hướng tiếp cận mở ra lâu đài văn hóa Việt cổ trầm tích vào ký
ức ihân dân, góp phần làm sáng tỏ chân dung, diện mạo văn hóa Việt Nam
cổ tuyền từ đó tiếp tục tìm kiếm và xác định bản sắc văn hóa dân tộc
Lý d o 5: Vốn là người Hà Tây, lại dã có mười lăm năm làm công tác SƯU âm, nghiên cứu văn hóa dân gian Hà Tây, tôi có kỳ vọng thể hiện tình cảm và suy nghĩ của mình đối với quê hương trong trào lưu phục hưng văn hóa hiện nay.
4
Trang 95
-Đề tài: Văn học dân gian Hà Tây và việc chấn hưng văn hóa dịa phưưng chính là xuất phát từ những lý do vừa có tính chất khoa học, vừa có ý nghla thực tiễn như đã trình bày trên
II- ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ĐÊ TÀI VẢ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ử u
1 Đ ối tượng
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là văn học dân gian Hà Tây
Hà Tây là địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc Việt Ngoài ra là dân tộc Mường và dân tộc Dao sống ở vùng chân núi Ba Vì Luận án này tập trung khảo sát, nghiên cứu văn học dân gian của người Việt, chiếm tói 95% dân 3ố trong tỉnh
ìhững vấn đê nảy sinh ở trong tỉnh nên dịa giới hành chính coi như một
iự khu biệt phạm vi nghiên cứu đối tượng của cĩê tài Và, chúng tôi cho rằng lếu công tác khảo sát nghiên cứu càng kĩ tư liệu văn học dân gian ỡ một lịa bần hẹp thì cũng có thể cho phép nhà khoa học phát hiện rút ra những
Trang 106
-kít luận khoa học mang tính khái quát, có giá trị ngoại suy cho những địa bài khác rộng rãi hơn
3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp nguồn tư liệu dã xuất bản cùng với ngùôn tư liệu SUI tầm thực địa có trọng điểm khi thực hiện đê tài, chúng tôi sử dụng những plương pháp nghiên cứu chính như sau:
a) Phương pháp dịa lý lịch sử văn hóa
ử chương một, quá trình phân tích chúng tôi chú ý tới đặc trưng vùng
đá, quá trìn h lao tác, truyền thống lịch sử, nếp sống văn hóa, những biến độig xã hội dã ảnh hưởng tới các sáng tác văn học dân gian Hà Tây làm tiầi đề để các chương sau phát hiện ra những đặc điểm mang tính qui luật vậi động và phát triển của dối tượng văn học dân gian
b) Phuơng pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê phân loại ở chương hai đối với tụi ngữ, ca dao, truyền thuyết và các vị thần thờ xoay quanh một chủ đê nlất định từ đó rú t ra các kết luận tăng thêm sức thuyết phục cho những su; đoán khoa học Đơn vị tính là bài, câu chuyên, hoặc thống kê theo đơn
vị thờ phụng
c) PlỉuutíỊỊ pháp so sánh
Bất cứ một đối tượng nghiên cứu khoa học nào trong quá trìn h phân tích nếi Vã sử dụng có hiệu quả phương pháp so sánh thì sẽ giúp cho việc nhận thrc đối tượng thêm phần sâu sắc
Trang 117
-nrong luận án này ở chương hai, chương ba chúng tôi sử dụng triệt để
phưmg pháp này để làm nổi bật những suy đoán từ việc so sánh chủ đê thể hiệrở từng thể loại như truyền thuyết, dân ca đến việc so sánh m ật độ phân
bố, inh chất của từng mảng đê tài Điều quan trọng là nhờ phương pháp
so stnh chúng tôi sẽ dễ dàng tìm ra sắc thái riêng của Lừng loại hình văn học dến gian cũng như đặc trưng của từng vùng đất ở Hà Tây
ỉ) PhươtiỊỊ pháp tổng fụrjì
''íhận thức tính nguyên hợp của văn học dân gian, quá trình tiếp cận dối ương đòi hỏi người nghiên cứu phải tái hiện, tái dựng một số thể loại văn hoc dân gian mà đến nay chỉ còn xuất hiện mờ nhạt trong tâm trí một
SỐ Ìghệ nhân và ghi chép ở một vài tài liệu như các thể loại thần thoại, cổ tíchvv Ngoài việc miêu thuật chúng tôi phải sử dụng phương pháp tổng hợpcìn cứ vào các yếu tố, các thành tố, các mảnh vỡ từ đó suy đoán xây dựnỊ ại một chỉnh thể nhằm mục đích tìm hiểu và giải thích quá trìn h sinh thàih phát triến của các thể loại văn học dân gian
Niờ những phương pháp nêu trên, luận án sẽ tái dựng diện mạo của cả một hệ thống các thể loại văn học dân gian Hà Tây và rút ra những nét riêrg cùng những giá trị của nền văn học ấy đối với công cuộc chấn hưng văn lúa ở địa phương Hà Tây hiện nay
II- rÌNH HÌNH SƯU TẦM, NGHIÊN c ứ u VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ TÀY
T n h Hà Tây bao gôm một phần đất của xứ Đoài xưa (tỉnh Sơn Tây cũ)
và nít phần đất của trấn Sơn Nam Thượng (tỉnh Hà Dông cũ) Đó là vùng đất c» có truyền thống văn hóa lâu dời nên vốn văn học dân gian còn tích
tụ ihều trong nhân dân Chính vì lẽ dó công tác sưu tầm, nghiên cứu vãn
Trang 128
-hóa, văn học dân gian Hà Tây đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả
ở địí phương và các học giả có tên tuổi từ thời phòng kiến đến nay
Tình hình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Ilà Tây (lưới thời phong kiến trước Cách niạng tháng Tám 1945
Trong số thư tịch cổ còn lưu giữ đến nay mà chúng tôi biết thì Thiên uyển tập anh (Anh tú vườn Thiền) là cuốn sách cổ sớm n h ất ghi chép về
văn học dân gian trên đất Hà Tây Đây là tác phẩm truyện ký có giá trị
về miều m ặt trong đó có văn học dân gian Tác phẩm khởi thảo từ cuối đời
Lý loàn chỉnh vào đâu thời Trần đến nay vẫn chưa xác định rõ soạn giả Nội lung cuốn sách ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền
sư n>i tiếng Thiền sư Từ Đạo Hạnh (? - 1117) trụ trì ở chùa Thày Hà Tây
có clép trong sách trên Có diều truyện viết về Thiền sư Từ Đạo Hạnh khồng thàni bản tóm tắt tiểu sử mà là một câu chuyên nhuộm màu truyền thuyết với ìhiều chi tiết thần kỳ Cho tới nay, dân chúng ở vùng chùa Thày vần truỳin kể về Từ Đạo Hạnh như cốt truyện dã ghi trong sách
Cũng ở thời Trần có cuốn Việt điện u linh (việc u linh ở cõi Việt) do
Lý "ế Xuyên biên soạn, lời tựa viết vào năm 1329, chép lại những chuyên
về c:c vị thần linh lưu hành trong dân chúng ở nước ta Trong số 27 truyện
về CIC vị thần linh mà sách này ghi chép có 4 truyện (Phùng Hưng, Hai
Bà Trưng, Lý Phục Man, thần Tản Viên) kể về các vị thần trên đất Hà Tây
Cuối thế kỷ 15, hai ông Vũ Quỳnh và Kiều Phú (sống cùng thời) đã sửa
chữshoàn chỉnh cuốn L ĩnh Nam chích quái (Nhứng chuyện lạ thu gom được
ở cõ Lĩnh Nam), một tập sách ghi chép những truyền thuyết và truyện cổ tíchcủa nước ta Vũ Quỳnh viết lời tựa năm 1492 còn Kiêu Phú quê ở Quốc Oai ià Tây viết hậu tựa năm 1493 Giáo sư Dinh Gia Khánh phỏng đoán
Trang 13- 9
-tx phẩm "xuất hiện rất sớm có lẽ từ thời Trân" [134, tr.5] Giáo sư dã phân
lẹ xác định 23 truyện là của Vũ Quỳnh - Kiêu Phú trong đó chúng tôi thống
k có 3 truyện (Hai Bà Trưng, Từ Đạo Iỉạnh, thần núi Tản Viên) ở tỉnh
B Tây
T hế kỷ 16 có tác phẩm Truyền kỳ m ạn lục (ghi chép tản mạn những
c.uyện ly kỳ được truyền tụng) của Nguyễn Dữ Nhà Hán học, Phó bảng
Bi Kỷ đánh giá "Trong 20 truyện, gác hết cà những thuyết hoaìig dường, thyết báo ứng, Truyền kỳ m ạn lục là một bộ truyện cổ tích có nhiều ý nghĩa" [27, tr.235] Phó Giáo sư Bùi Duy Tân đánh giá: "Truyền kỳ m ạn lục là nẫu mực của th ể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút" là ''áng văn hay của bậc
d i g ia ", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học h ìn h tượng viết bằng
cữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian'' [127, tr.238] Cuốn sách
tền ghi chép 20 truyện có truyện Tướng Dạ Xoa dựa vào truyền thuyết về Nio sinh Vãn Dĩ Thành, một kẻ sĩ có tài trị ôn dịch lưu truyền ở hạt Quốc
Gi và được người dân tổng Gối huyện Đan Phưựng Hà Tây thờ làm thành hàng, nơi có diễn xướng Hội hát chèo tầu nổi tiếng của tỉnh
T hế kỷ 17, sách Còng dư tiệp ký (ghi chép nhân khi rỗi việc quan) của
tc giả Vũ Phương Đề Bài phả ký của Bạch Vân ani cư s ĩ N guyễn Văn Đạt
đ chép lại những giai thoại trong dân về trạng Bùng Phùng Khắc Khoan ỞPhùng Xá huyện Thạch Thất Các giai thoại cho rằng trạng Bùng Phùng Fiắc Khoan và trạng T rình Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai anh em cùng cha
kác mẹ Công dư tiệp ký còn chép sự tích ứ n g thiên đại thánh thiên vương
ởđên Bộ Dầu xã Thống Nhất huyện Thường Tín hiện nay [143, A44j
T hế kỷ 17, thể thơ lục bát và song th ất lục bát được các nho sĩ sử dụng
pổ biến dể sáng tác các loại truyện lưu truyền trong dân Các truyện Nỏm kuyết danh xuất hiện ở thời kỳ này khá phong phú và da dạng Chúng tôi
Trang 14chú ý tới hai tác phẩm Thiên Naỉn m inh giám (gưưng sáng trời Nam) và
T h iê n N am ngữ lục (những truyện kể ở cỗi trời Nam) Thiên Narn m inh
g iá m là tác phẩm Nôm gôm 938 câu thơ song thất lục bát lược chép lịch
sử nước ta từ thời Hồng Bàng đến đời Lê Trung Mưng Rất nhiều các nhân vật lịch sử ở tỉnh Hà Tây đưực nêu gưưng tốt xấu, khen chê như Hai Bà Trưng, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ v.v Nội dung tác phẩm chia làm 2 phần: ngoại kỷ và bản kỷ Nhà nghiên cứu Hán Nôm Hoàng Thị Ngọ đã
n h ậ n định "Ở phản ngoại kỷ, tính huyên thoại, truyền thuyết rất đậm nét"
[131, tr.21] Các truyền thuyết lưu truyền phổ biến ở Hà Tây như thần núi Tản Viên, Chử Đồng Tử đã được miêu thuật trong sách Thiên Nam ngữ iục là một tác phẩm bằng thơ lục bát đô sộ dài 8.136 câu Học giả Cao Huy
Đ ỉnh đánh giá Thiên Ncun ngữ lục "là một trong những sử ca thành văn bằng thơ N ôm đậm đà tín h chất dân gian hơn cả" [20, tr.124] Có thể nói
tác phẩm là sử ca mà chất liệu khai thác từ nguồn truyền thuyết thể hiện
th ế giới quan của nhân dân Nhiều nhân vật huyền thoại ở thời Hùng Vương cũng như nhân vật lịch sử của Hà Tây đã được phản ánh sinh động trong tác phẩm như Tản Viên, Chử Đồng Tử, Hai Bà Trưng, P hùng Hưng, Ngô Quyền v.v
Thế kỷ 18 có tác phẩm Truyền kỳ tân phả của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm Trong tác phẩm này, truyện N ữ thân ở Vân Cát kể về công chúa Liễu Hạnh
một vị tiên giáng thế từng ứng dối với trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trên cửa khẩu Lạng Sưn và sau này trạng Bùng còn cùng với cử nhân họ Ngô,
tú tài họ Lý xướng họa thơ với bà chúa Liễu ở Tây ỈỈỒ vào đêm trăng thanh gió mát, góp thêm tư liệu hiểu biết vê giai thoại trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
10
-Quyển X L inh tích (dấu tích linh thiêng) ở thế kỷ 18, trong K iến văn
Trang 15tiêu lục của Lê Quí Đôn (1726 - 1776) có chép một truyện ly kỳ ở đất Hà
Táy như truyện miếu thờ thủy thần ở xã Hữu Vĩnh huyện Hoài An Quyển
XII Tùng đàm (truyện góp) chép giai thoại T rịnh Thiết Trường và trạng nguyên
Nguyễn Trực cùng đi sứ dự thi ở Trung Quốc; giai thoại về Trâu Canh thời nhà T rần ở xã Long Châu huyện Chương Đức nổi tiếng về tài làm thuốc chữa khỏi bệnh cho vua Trần Dụ Tông
Đầu thế kỷ 19, xuất hiện bộ sách Lịch triêu hiến chương loại chí của
nhà bác học Phan Huy Chú, người làng Thày, phủ Quốc Oai Hà Tây Bộ sách
là một còng trìn h biên khảo còng phu, phong phú tư liệu được phân loại,
hệ thống hóa khá rành mạch Lịch triều hiến chương loại chí chia ra làm
10 bộ Ở bộ D ư đ ịa chí, tác giả đã ghi chép nhiều truyền thuyết dân gian
tiêu biểu lưu truyền ở trong vùng như sự tích vị thần ở đên Bộ Đầu huyện Thường Tín, sự tích Từ Đạo Hạnh ở chùa Thày, 8ự tích Nhã lang ở xã Hạ
Mỗ, Lý Phục Man ở xã Yên Sở, thần Tản Viên trên núi Ba Vì Bộ N hân vật chí, Phan Huy Chú miêu thuật ngắn gọn, súc tích chân dung các nhân
vật lịch sử từ Kinh Dương Vương đến hết thời Lê Điều đáng lưu ý là Phan Huy Chú khi miêu thuật dã không bỏ qua các chi tiết đặc sắc của các nhân vật lịch sử lưu truyền trong dân gian như nỏ thần của An Dương Vương, móng rồng ở mũ đẳu mâu của Triệu Việt Vương, Ngô Quyền khi sinh có ánh sáng lạ khắp nhà, hai con rồng phù trợ Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi khi sinh
có mùi thơm lạ bay khắp làng Khi viết về danh nhân Nguyễn Trãi của đất
Hà Tây, Phan Huy Chú chép cả câu chuyện rắn báo oán lưu truyền trơng
dàn gian khép tội giết vua cho N guyền T hị Lộ
Thế kỷ 19 các sử quan triều Nguyễn cũng dã biên soạn cuốn Đại N(un nhất thống chí Bấy giờ cuốn sách đê cập tới địa chí hai tỉnh: tỉnh Hà Nội
(Hà Dòng thuộc tỉnh Hà Nội) và tỉnh Sơn Tây Phần đôn, miếu, chùa, quán
Trang 16chép một sô' sự tích ly kỳ như vị thần Quảng Xung ở đền Hữu Vĩnh, truyện
T rư n g Vương mất ở sống Nhị Hà sau hóa thành hai pho tượng đá, truyện
vị th ần đền Bộ Đầu, thần Trung Thành ở xã Đa Chất Mục tỉnh Sơn Tây các sử quan chép ngắn gọn truyền thuyết về Hai Bà Trưng, thần núi Tản Viên, Phục Man tướng quân, Lân Hổ đô thống đánh giặc Nguyên Mông ở
xả Dông Bảng (Tùng Thiện), sự tích Từ Đạo Hạnh, sự tích Nguyễn Bình
An chân nhân ở chùa Quảng Nghiêm xã Tiên Lử, giai thoại về tiến sĩ Nguyễn
Sư Mạnh, tiến sĩ Phùng Khắc Khoan, thám hoa Giang Văn Minh v.v Cùng thời gian này, ở vùng Hà Đông xuất hiện một truyện Nôm khuyết
danh tên là N am H ải Quán T h ế Ấm dài 1.440 câu lục bát kể về cuộc đời
tu hành của công chúa Diệu Thiện con vua Diệu Trang Vương nước Hưng Lâm Dân gian quen gọi công chúa Diệu Thiện là Bà Chúa Ba Bà đã lưu dấu tu hành 9 năm ở động Hương Tích đắc dạo trở thành Đức Quán Thế
Âm bò tát, sau trở về diệt trừ cái ác, báo hiếu cha mẹ, phổ độ chúng sinh
Có thể nói sự tích Bà Chúa Ba là câu chuyện của nhà P h ật đã dược dân gian hóa
Dưới thời Pháp thuộc, sự phát triển của khoa học ki thuật đã tạo điều kiện in ấn phổ biến các tác phẩm văn học dân gian được nhanh hơn Ngoài các bài sưu tầm lẻ đăng trên tạp chí, tuần báo, đáng chú ý thời kỳ này có
cuốn sách Sơn Tây tin h địa chí của Phạm Xuân Độ xuất bản năm 1941 Công
trìn h hệ thống các tư liệu trước đó kết hợp tư liệu điền dã của tác giả đã giúp bạn đọc nhận diện ra vùng dất Sơn Tây trên các mặt kinh tế - lịch
sử và vãn hóa Ở phần tục ngữ phong dao cuốn sách dẫn khá nhiều các câu tục ngữ, ca dao giải thích phong tục tập quán, những nét riêng ở một vài địa phương Phần danh nhân liệt nữ, tác giả sưu tập chép tóm tắt truyền thuyết về Lử Gia, Trưng Nữ vương, Phùng Tú - Phùng Huyền, Iloàng Cát,
Trang 17Nhã Lang vương, Bố Cái đại vưưng, Ngô Quyền, Lộc Hộ, Hoàng phủ Thiếu Hoa, các bậc tiên tích như Tản Viên SƯI1 thần, Bạch Vương, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Đạo Hạnh; giai thoại về Nguyễn Trực, Phùng Khắc Khoan, Cao Bá Quát
ĐAy là một công trình địa chí tổng hợp khá phong phú, trình bày có hệ thống, phân loại tư liệu về tỉnh Sơn Tây so với các tác giả trước đó Song
vì tác giả trài rộng trên nhiều lĩnh vực cho nên phần giành cho văn học dân gian chưa nhiều, chưa khái quát đây đủ các loại hình
Ngoài các cuốn sách tiêu biểu nội dung có đê cập tói văn học dân gian
Hà Tây như chúng tôi đã điểm ở trên cũng phải kể đến một kênh thông tin khác râ't phong phú tư liệu nằm ở các làng quê Đó là những thần phả còn gụi là ngọc phả chép về sự tích các vị thành hoàng, thần thờ ở làng Trước năm 1945, làng nào có thờ thần linh thường là có thần tích Tiếc rằng, qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài nhiêu thần tích, ngọc phả đã bị hư nát, th ất truyền Hà Tây gân 1.300 làng, nguồn tư liệu ấy phải kể tới hàng trăm bản
Những bản thần tích trên đã được các nhà nho, những trí thức phong kiến ở làng, dựa vào nguồn truyền thuyết dân gian lưu truyền trong dân biên chép và gửi lên Bộ Lễ của triều đình để biên soạn lại cho phù hợp với quan điểm dưưng thời Những bản thần tích ấy xuất hiện ở nhiêu thời điểm khác nhau và có một hiện tượng là phần lớn thần tích ghi niên hiệu biên soạn vào thời Hồng Phúc nguyên niên (1572) do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.
Tóm lại, trước năm 1945 dã xuất hiện nhiêu tài liệu và tác phẩm liên quan đến văn học dân gian Hà Tây do đại da số các nhà Nho ghi chép Có
diều phân lớn tư liệu trên dừng ở cấp dụ sưu tầm, chép lại dưới dạng văn
Trang 18xuôi hoặc truyện thư hay các đưn vị ca dao, phương ngữ, tục ngử Một số tác giả đã có ý thức phân loại nguồn tư liệu song gặp khó khăn dơ quan niệm văn sử bất phân dẫn tới không tránh khỏi sự lẩn lộn chất chính sử và những sáng tác thêm vào của dân gian Khiếm khuyết này phản ánh rõ trong hàng
loạt tác phẩm từ Thiên N am ngữ lục đến Sơn Tây tỉnh đ ịa chí khiến cho
các nhân vật huyền thoại với các nhân vật lịch sử chưa có sự tách bóc rõ ràng Chỉ tới khi văn học dân gian được xác định là một đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học cụ thể là ngành nghiên cứu văn học dân gian thì những hạn chế mang tính lịch sử của các thời đại trước đó mới đần được tháo gỡ và giải quyết một cách triệt để
2 Tinh hình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Hà Tây sau Cách mạng
tháng Tám 1945
Sau Cách mạng tháng Tám nhâ't là sau năm 1954 công tác sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Hà Tây được đẩy mạnh Còng tác này là một trong những chức năng quan trọng bảo tồn di sản văn hóa dân tộc do ngành văn hóa thông tin tỉnh đảm nhiệm
Hàng loạt công trình sưu tầm mang tính chuyên ngành đã ra đời trong thời kỳ này
Cuốn Truyền thuyết Sơn Tỉnh, ty Văn hóa thông tin Hà Tây xuất bản
năm 1973 do hai tác giả Hà Kỉnh và Đoàn Công Hoạt sưu tầm, sau đó tái bản fân 2 năm 1975 có bổ sung, giáo sư Đinh Gia Khánh viết lời bạt Đây
là cuốn sách chuyên về các truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh lưu truyền trên đất Hà Tây Hai tác giả đã công phu sưu tầm 44 truyện chia ra thành 5 phần theo chủ đê dể bạn đọc dễ theo dõi
14
-Cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca Hả Tây do nhiêu Lác giả thực hiện ty Văn
Trang 19hóa thông tin Hà Tây xuất bản năm 1975, Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan viết lời giới thiệu Năm 1993, cuốn sách được tái bản bổ sung, phải nói đồy
là cuốn sách phong phú vê tư liệu, trình bày một cách hệ thống phân theo
3 th ể loại: Tục ngữ, ca dao, dân ca Cuốn sách giới thiệu nhửng loại hình dân ca tiêu biểu còn tòn lưu trên đất Hà Tây như vè, hát ví Hàm Rồng, hát
dô, hò cửa đình, hát chèo tầu, hát trống quân Các soạn giả chia tư liệu phần
ca dao th àn h 3 nhóm chủ đê: Con người, cảnh vật và đời sống; Tình yêu, hôn nhân và gia đình; Chống phong kiến và đế quốc Rõ ràng với cách làm
n h ư trên, cuốn sách đã mang một hình thức khơa học xác định
Cuốn Truyện cổ Hà Sơn B ình, ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất
bản năm 1977 (thời gian này tỉnh Hà Tây hợp nhất với tỉnh Hòa Bình thành tỉn h Hà Sưn Bình) Cuốn sách giới thiệu 32 truyện cổ của các dân tộc trong tỉn h trong đó có 12 truyện của người Kinh ở Hà Tây
Năm 1979, ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất bản cuốn: Một số truyền thuyết về tướng lĩn h Hai Bà Trưng chép lại 27 truyền thuyết liên
quan đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Thời gian này một số tác giả đã lưu tâm SƯU chọn những truyện lưu truyền trong dân đã và xuất bản thành sách Năm 1991, tác giả Nguyễn Hữu Máo
ra tcuốn Tâm hôn Hương Sơn Tập sách chia làm 2 phần; phần I: Phương
ngôn tục ngữ - ca dao - dân ca - truyện thơ; phần II: Chuyện kể gồm 18 truyện Đó là vốn tư liệu lưu truyền ở một xã, xã Hương Sơn huyện Mĩ Đức nơi có danh lam thắng cảnh nổi tiếng cả nước là Hương Sơn và Chùa Hương với Nam Thiên đệ nhất động Năm 1992, tác giả Phan Huy Đông ra mắt
bạn đục cuốn Truyền thuyết bia Bà Cuốn sách ghi chép 35 truyền thuyết,
truyện cổ của hai dân tộc Kinh - Mưởng, có 25 dâu truyện liên quan đến đất Hà Tây
1 5
Trang 20-Ngùòn tư liệu văn học dân gian Hà Tây còn tìm thấy khá phong phú trong các cuốn sách viết về văn hóa Hà Tây.
Bộ sách Danh nhân quê hương 3 tập do ty Văn hóa thông tin Hà Tây sau là ty Văn hóa thông tin Hà Sưn Bình xuất bản vào các năm 1973, 1974,
1976 V iết vê các danh nhân lịch sử Hà Tây, các tác giả đã ý thức khai thác các nguồn truyền thuyết, giai thoại để bạn đọc Iihận biết ảnh hưởng của danh
n h ân lịch sử đối với quê hương như thế nào Một số nhân vật lịch sử được tái hiện lại chủ yếu dựa vào nguồn truyền thuyết ở địa phương như Bà Man
T hiện mẹ Hai Bà Trưng, Hoàng Đôn Hòa một thầy thuốc lớn đời Lê, Lý Phục Man người con quang vinh của làng Giá, Giang Văn Minh vị sứ thần làm
vẻ vang cho đất nước, vài mẩu chuyện về Tự So v.v
Bộ sách Hà Tây làng nghề làng văn, 2 tập, Sở Văn hóa thông tin Hà
Tây xuất bản năm 1992 - 1994 Tập I của bộ sách khảo cứu 19 làng nghề tiêu biểu của tỉnh Hầu hết các tác giả đê cập tới các vị tổ nghề và lượm lặt các truyền thuyết về các tổ nghề như tổ nghề tằm tơ dệt lụa, tổ nghề thêu, tổ nghề khảm trai, tổ nghề tiện v.v Tập II của bộ sách chuyên khảo
về 19 làng văn hiến tiêu biểu của tỉnh Hà Tây Khi viết về các làng trên các tác giả đêu chú ý tới nguồn văn học dân gian ở làng
Cuốn Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Sở Vãn hóa thông tin xuất bản năm 1994
giới thiệu 28 lễ hội đặc sắc diễn ra trên đất Mà Tây Người viết đã lưu tâm ghi chép các vị thành hoồng ở làng có lễ hội Đây cũng là nguồn tư liệu quí
về văn học dân gian Hà Tây
Trong- số các cuốn sách thôn chí, xã chí, chúng tôi chú ý tới 3 cuốn Văn hóa làng Đa Sĩ, Hoa tay lùng Chàng và Làng Liên Bạt xưa và nay Văn hóa làng Đa S ĩ của tác giả Lê Ngọc Canh xuất bản năm 1992 giới thiệu tỉ
mỉ nhiêu hoạt động văn hóa của đất Da Sĩ Chương năm: T hành hoàng làng
1 6
Trang 21cung cấp tư liệu vê hát ca trù, lời ca trống quân, giai thoại về thành hoàng
làng Hoàng Đôn Hòa và Phương Dung cồng chúa Hoa tay làng Chàng của
tác giả Nguyễn Hữu Mão chuyên khảo vê các nghê khéo tay hay m ắt như đan lát, ỉàm quạt, mộc, sơn, rèn của người dân xâ Chàng Sơn, huyện Thạch Thất Phần đầu cuốn sách này (phác thảo vùng văn hóa Kẻ Nủa, đến văn hóa làng Chàng) cung cấp nhiều câu phương ngôn, tục ngữ, ca dao, truyện
kể và truyền thống múa rối nước của một vùng đất [60, tr.5-41] Làng Liên Bạt xưa và nay in năm 1994, nhiều tác giả, là cuốn sách khảo cứu văn hóa
của một làng có nhiều tư liệu về văn học dân gian
Những năm gân đây sách ở trung ưưng xuất bản nhiều Ngoài việc sưu tập lại những tư liệu của người viết trước các tác giả đã nghiên cứu sắp xếp theo một hệ thống chủ đê nhất định giúp ích rất nhiều cho việc tra cứu ngùôn văn học dân gian ở Hà Tây Chúng tôi điểm qua các cuốn chủ yếu như sau:
- Cuốn Kho tàng truyện cổ tích Việt Ncun 5 tập của tác giả Nguyễn Đổng
Chi giới thiệu 200 truyện cổ tích tiêu biểu của người Kinh Đặc biệt sau mỗi truyện tác giả có phần khảo dị tóm tắt những truyện có môtíp tương dòng
và kê cứu rõ xuất xứ của từng truyện Ngoài những truyện cổ tích có tính điển hình lưu truyền ở các vùng người Việt sinh sống thì có 16 truyện liên quan đến địa danh và nhân vật ở tỉnh Hà Tây, Tác giả dành phần thứ ba
ở tập V đưa ra nhiều ý kiến nhận định tổng quát về kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
- Cuốn: Các nữ thân Việt N am , hai tác giả Đỗ Thị Hảo - Mai Thị Ngọc
Chúc đả biên soạn 75 sự tích các nữ thần thì trong đó có 9 nữ thần liên quan đến Hà Tây
- Cuốn: Làng xã ngoại thảnh Hà Nội của Bùi Thiết đã kê cứu các xã thuộc 6 huyện, thị xã của tỉnh Hà Tây cắt vè Hà Nôi năm 1978 đến năm
Trang 221991 mới lại trả về Hà Tây Đó là các huyện Ba Vì, Dan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Thạch Thất và thị xã Sơn Tây Khi kê cứu các xã tác giả đã lược ghi dã sử ở địa phương
- Cuốn: Tứ bất tử của Vũ Ngọc Khánh - Ngô Đức T hịnh có hẳn một phần
nói đến Đức Thánh Tản và sưu tập tư liệu về vị Thánh đệ n h ấ t phúc thần Tản Viên
- Cuốn: Di tích lịch sử văn hóa Việt Ncưn, nhóm tác giả do Ngô Đức Thọ chủ biên trên cơ sở nguồn thư tịch Hán Nòm sắp xếp theo thứ tự chữ cái về nơi thờ vồ các vị thần thờ ở Việt Nam trong số đó có khá nhiều vị
th ầ n ở Hà Tây Và, rất nhiều các vị thần đưực thờ là nhân vật truyền thuyết Theo thống kê của chúng tồi cuốn sách có 46 nơi thờ, 31 nhân vật thờ liên quan đến đất Hà Tây
Ngoài ra có hai chuyên khảo về danh nhân Phùng Khắc Khoan Cuốn
Trạng B ùng Phùng Khắc Khoan của tác giả Bùi Duy Tân - Ngọc Liễn và cuốn P hùng Khắc Khoan cuộc đời ưà thơ văn của tác giả Trần Lê Sáng Hai
cuốn sách này đêu giành phần cuối sách ghi chép những truyền thuyết và giai thoại về cụ Trạng Bùng
Nhìn chung, các cuốn sách chúng tôi vừa nêu trên ngoài một số cuốn sách
có tính chất là một chuyên luận đặt ra theo yêu cầu của người làm sách còn lại các cuốn khác chủ yếu chú trọng việc sưu tầm, hệ thống tư liệu văn học dân gian phân theo từng loại hình văn học dân gian hoặc theo chủ đê hay loại hình văn hóa nào đó Điều ấy ghi nhận là ở thời kỳ này, văn học dân gian Hà Tây đâ được xác định ỉà đôi tượng để sưu tầm, nghiên cứu tương đối chuyên biệt do vậy trong quá trình biên soạn sách một số tác giả đã chú
ý tới việc sắp đặt tư liệu đạt đến tính khoa học giúp người đọc nhộn thức
có hiệu quả vấn đê nêu ra
Trang 23Công tác nghiên cứu khua học vê văn học dân gian Hà Tây thời kỳ này
đã đưực đặt ra
Cuốn sách mang tính khoa học, phản ánh cấp độ nghiên cứu sâu là cuốn
H át dô hát chèo tâu của hai tác giả Trần Bảo Hưng và Nguyễn Đăng Hòe
Hai tác giả của cuốn sách dã sử dụng phưưng pháp nghiên cứu liên ngành
để tiếp cận hai loại hình dân ca hát dô và hát chèo tầu Nghiên cứu văn bản học, âm nhạc, phong tục tập quán, nghi lễ diễn xướng Đây là cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, đảm bảo tính chính xác vê tư liệu điền dã, xử lý văn bản, ghi chép bằng ngôn ngữ âm nhạc giúp ích rất nhiều cho bạn đọc tiếp cận một cách hệ thống đối tượng hát dô, hát chèo tầu
Cuốn Đ ịa chí văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội thực
hiện trong thời gian 6 huyện, thị xã Hà Tây tách nhập về Hà Nội Các tác già biên soạn đều đã khai thác nguồn tài liệu ở vùng tỉnh Sơn Tây cũ để thực hiện các chương viết trong địa chí Nhìn chung, công trìn h đá điểm, giới thiệu những nét chung, tiêu biểu cho vùng văn hóa xứ Đoài Do bị giới hạn ở số trang và chương mục, cuốn sách dành 2 chương (ca dao, tục ngữ; truyện dân gian) khảo cứu văn học dân gian đê cập tới một số vấn đê nhận thức về văn học dân gian vùng đất Hà Tây
Cuốn Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Vinh
Phúc thòng qua nguồn tư liệu Hán Nôm và truyền thuyết ở các địa phương
để phân tích dựng lại thân thế sự nghiệp cứu nước của Hai Bà Công trình giúp người đọc nhận thức vai trò của truyền thuyết đối với lịch sử dân tộc
Năm 1994, xuất hiện còng trình N ghệ thuật biểu d iễn truyền thốn g người
Việt Hà Tây của nhóm tác giả Lê Ngọc Canh, Tô Đông Hải, Lưu Danh Doanh
ở Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian Các tác giả đã dành nhiều trang trong
19
Trang 24-chương II: N ghệ thuật âm nhạc để phân tích và nêu những giá trị của các
loại dân ca ở Hà Tây [3, tr.31-87]
SỐ bài n g h iên cứu về văn học dân gian Hà Tây đăng tron g sách chuyên
đê, tạp chí chuyên ngành trong những năm qua cũng không quá hiếm hoi Thông thường các học giả Cao Huy Đỉnh, 1104, tr.65-99], Đinh Gia Khánh [44, tr.93-102], Kiều Thu Hoạch [104, tr 172-232], Phan Ngọc - Phan Đăng
N hật [66, tr.21-31] trong bài viết của mình đã đặt văn học dân gian Hà Tây trong một cái nhìn tổng thể văn học dân gian của người Việt vùng châu
thổ sông Hòng Nguyễn Tấn Đẩc có bài Đọc lại truyện Sơn T in h - Thủy T inh
[14, tr.51-56], nêu ra cách nhìn mới đối với Sơn Tinh Thủy Tinh Nguyễn
Xuân Diện có bài T h ử tìm hiểu dấu ấn huyền thoại Sơn T inh - Tản Viên Sơn T hánh trong những bản thân tích [12, tr.41-44].
Một số tác giả nghiên cứu văn học dân gian Hà Tây thông qua văn hóa dân gian hiểu văn học dân gian với khái niệm thuật ngữ folklore, một loại
hình nghệ thuật nguyên hợp Ở cách tiếp cận này, Phượng Vũ có bài Văn hóa dân gian trong sự nghiệp văn hóa Hà Sơn B ình [121, tr.7-10], Đặng
Tu với bài Một số tư liệu văn hóa dân gian ở xã Phú Lương [105, tr.24-29], Nguyễn Thị Hương Liên với bàỉDt tích lịch sử và hội làng H ạ T h á i [51, tr 21-23], Chu Huy với bài Hội rước thành hoàng tổng Hà Hôi và lai lịch Cao Sơn dại vương [32, tr.40-46]
Ngoài ra, một số nhà sử học khi thực hiện chuyên đê đặt ra trong luận
\ă n đã khai thác triệt dể nguồn tư liệu văn học dân gian ở địa phương Tác
£Ĩả Đinh Văn Nhật với các bài viết: Đất Căm Khê, căn cứ cuối cùng của
Hai B à Trưng trong cuộc khởi n gh ĩa Mê Linh năm 40-43 [69, tr.26-34], [69,
tr.31-40], Huyện Mê Linh vê thời Hai Bà Trưng [71, tr.24-43], Đất Mê L inh -
Trung tâm chính trị, quân sự vù kinh tế cùa huyện Mê L inh vẽ thời Hai
20
Trang 25Bà Trưng [70, tr.35-51] dã chứng minh suy đoán khoa học cho rằng đất Mê
Linh thuộc vùng Hạ Lôi (Thạch Thất) tỉnh Hà Tây Nhà dân tộc học Trần
Từ :ó bài: Góp p h â n tìm hiểu làng Việt cổ truyền - Làng xã Hương Sơn [109, tr.34-48] đã khai thác nguồn truyền thuyết ở địa phương để nghiên cứu những
vấn đê về làng Việt cổ truyền Tác giả Minh Tú có bài: Vê Lý Narn Đ ế [107,
tr.62-68] cho rằng vùng Hoài Đức là nơi tụ binh khởi nghĩa của Lý Nam Đế dựa vào một số nơi thờ và thần phả vê tướng lĩnh của Lý Nam Đế ở trong vùng
Tóm lại, công tác nghiên cứu khoa học về văn học dân gian Hà Tây đã đượ: nhiều tác giả quan tâm và đạt được những kết quả n h ất định Có điều các bài nghiên cứu mới đê cập chuyên sâu ở từng thể loại, từng vấn đề nhỏ,
từ ní vùng, còn hiếm những công trình mang tính bao quát có tính hệ thống của một chuyên luận chuyên ngành văn học dân gian
IV- Ý NGHĨA THựC TIẾN, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1 Đ óng góp m ứi của đề tài
- Luận án Văn học dân gicui Hà Tày và việc chấn hưng văn hóa đ ịa phương với Ỷ muốn tiếp thu một cách khoa học thành quà sưu tầm, nghiên cứu văn
hóavăn học dân gian Hà Tây của các tác giả di trước để nâng cao, sắp đặt
th àih một công trìn h nghiên cứu có tính hệ thống, nhất là về diện mạo thể loại phương thức lưu truyền, giá trị phản ánh hiện thực thể hiện sinh động đặc điểm, tính chất của một vùng văn hóa cổ xưa của người Việt
- Luận án khẳng định vai trò quan trọng của văn học dân gian đối với
việc chấn hưng văn hóa ở địa phương và vứi cuộc sống xã hội hiện đại Công
trim chứng minh sức sống mãnh liệt của văn hoc dân gian mà chúng ta
Trang 26- Luận án là tài liệu có tính thời sự giúp các nhà lãnh đạo, các nhà quản
lý văn hóa ở tỉn h Hà Tây trong công tác chỉ đạo hoạt động văn hóa trên địa bàn; giúp các nhà soạn thảo chính sách có cơ sở khoa học về vốn văn hóa truyền thống ở địa phương để định hướng chiến lược phát triển văn hóathông tin Hà Tây những năm tới đến năm 2000
- Luận án cung cấp tư liệu và đê xuất nhiều ý kiến đáng lưu ý để bạnđọc n h ất là các tác giả nghiên cứu và các cán bộ hoạt động nghiệp vụ vănhóa thông tin ở Hà Tây tiếp tục đâu tư công sức, trí tuệ giải quyết những vấn đê lý thú về mối quan hệ giữa văn học dân gian Hà Tây' với đời sống
xã hôi hiện đại
- Luận án đóng góp một tiếng nói chứng minh sự đa dạng, sắc thái riêng
vê phương diện văn hóa của vùng đất Hà Tây trong một chỉnh thể thống Iihất của nền văn hóa Việt Nam, từ đó tạo ra niềm tự hào vê quê hương xứ
sở, niềm yêu mến quí trọng của bạn bè du khách gần xa về đất Hà Tây văn hiến
V- Cơ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án dày 1 8 \ trang, ngoài phần Mở dầu và Kết luận bao gôm 4 chương:
Trang 27- Chương Một: Đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa tỉnh Hà Tây
- Chương Hai: Diện mạo văn học dân gian Hà Tây
- Chương Ba: Giá trị văn họe dân gian Hà Tây
- Chương Bốn: Đóng góp của văn học dân gian Hà Tây vào việc chấn hưngvăn hóa địa phương,
Sau K ế t luận là ,5 á trang Phụ lục, gồm 3 bản đô, 8 ảnh, 11 danh mụcminh họa và thư mục có 143 tài liệu tham khảo
Trang 28CHƯƠNG MỘT
ĐẶC ĐIẾM ĐỊA LÝ, LỊCH s ử , VĂN HÓA T ỈN H HÀ TÂY
Văn học dân gian phản ánh muôn mặt cuộc sống đời thường của cư dân
ở một vùng đất Các yếu tố về địa lý, lịch sử, văn hóa chi phối thường nhật đến sinh hoạt của cư dân, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sáng tác văn học của họ Cho nên, trước khi bước vào th ế giới phong phú,
da dạng để nhận ra diện mạo, giá trị của văn học dân gian Hà Tây, chúng tôi điểm những nét đặc trưng về địa lý, lịch sử, văn hóa của vùng đất đó
nói như Nguyễn Trãi trong sách Dư địa chí "là dứng đầu phên giậu phía tây dứng đầii phên giậu p hía nam'' [36, tr.220 + 221] của kinh đô.
Hà Tây có vùng núi cao Ba Vì, dãy núi dô sộ, chót vót ba ngọn, ngọn cac nhất hơi thắt cổ bồng gọi là Tản Viên, cao 1281m, nằm ở phía tây đông
Trang 29- 25
b ằn g Bắc Bộ Nưi đây thường phát ra những cơn dông lớn gây mưa cho vùng
châu thổ Dân gian đã đúc kết kinh nghiệm khi quan sát núi Ba Vì: Đội mũ sớm nai, thắt dai chiêu tối (nếu thấy núi Ba VI mây phủ trên đỉnh thì sớm
mai fẽ có mưa Khi xuất hiện mây ngang lưng núi thì sẽ mưa vào buổi tối).Phía nam tỉnh có dãy núi đá vôi ở huyện Mĩ Đức Nưi ấy có nhiều hang động trong đó nổi tiếng có động Hương Tích
Rẻo đất ven chân núi phía tây của tỉnh gồm các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạca Thất, Quốc Oai, Chương Mĩ phần lớn là vùng đôi gò bát úp Những
tầ n g đất bị nung nóng dưới nắng mặt trời nhiệt đới, bất chợt gặp những cơn nưa, tạo phản ứng làm đá ong hóa tầng đất
Còn lại là đông bằng tương đối bằng phẳng chạy thấp dần xuống phía nam, chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh nằm ở phía tây nam bao quanh thủ
dô H i Nôi, trong đó "có 121.974ha đ ấ t canh tác, dứng h àn g thứ 7 và chiếm
tỷ lệ 6,2% trong tổng sô đất dai canh tác của các tỉn h m iên Bắc" [50, tr.9]
rấ t tluận lợi phát triển nông nghiệp trồng lúa nước
Hà Tây có 6 con sông cổ (sông Đà, sông Hồng, sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ sông Bùi) chảy qua với tổng chiều dài 436km tạo nên những bãi bồi phù a màu mỡ thích hựp phát triển nghê trồng dâu nuôi tằm và trồng các cây cóng nghiệp, Những con sông ấy xưa kia là huyết mạch giao thông đường thủy để giao lưu kinh tế văn hóa giữa các vùng và hội nhập với đất kinh
kỳ Nhiều đô thị, thương cảng lớn đã hình thành bên các tuyến đường sông
đó Ở thế kỷ thứ 6, thời Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân ra đời một đô thị
mới gọi là Ô Diên ở vùng Hạ Mỗ, Đan Phượng bên bờ sông Đáy "chỗ ở của Triệu Việt Vương" [129, tr.289] Ở thế kỷ thứ 10, thời loạn 12 sứ quân, Đỗ
Cảnh Thạc từng cát cứ củng cố Thành Quèn, một thành cổ ở xã Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết tả ngạn sông Tích (Quốc Oai) và xây dựng thành cổ ở địa phận
Trang 3026
-thôn Bình Dà (Thanh Oai) bên bờ sông Đỗ Động phân lưu của sông Đáy Hai
th à n h này đêu là trung tâm kinh tế trong vùng "Phủ ứ n g T hiên (ứng Hòa) bên bờ sông Đáy, nhà Lý từng chọn làm N am Kinh" [136, tr.222] Câu tục
Ngay từ th ế kỷ thứ 10, thứ 11, Hà Tây có con đường thượng kinh chạy qua nối cố đô Hoa Lư với thành Long Biên lịch sử; có con đường Thiên Lý nối kinh đô Thăng Long với các miền đất mở rộng dần về phía nam, nay
là đường số 1 Nhiều th ế kỷ trước Hà Tây đã có những con đường huyết thống (đường số 6, đường 11A ngày nay) nối kinh đô với các vùng thượng du Tây Bắc, Việt Bắc giữ vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng
Đặc điểm địa lý Hà Tây tuy có những mặt thuận lợi nhưng cũng gây cho địa phương không ít khó khăn Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm vào mùa mưa, trung bình có khoảng 2,5 cơn bão từ biển Đông
đổ bộ vào miền Bắc và hàng năm, Hà Tây "trung bình có chừng 100 ngày
có dòng" [16, tr.72], gây ra mưa lớn dẫn đến lũ sông và ngập lụt các cánh
đông Đã vậy lượng mưa lại phân bố không đêu, có thời kỳ kéo dài nhiều tuần lễ không mưa trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hạ dẫn tới có nguy
cơ hạn trầm trọng Ấy vậy, trong mùa hạ lại xuất hiện những đợt gió tây
khô nóng lạ thường, dân gian gọi là "gió chảng" hay "nắng chảng" Vùng đôi
núi phía tây gặp những ngày gió chảng mức độ khô nóng càng tăng nhiều loại cây trồng kém chịu hạn bị khô héo rồi chết Vùng đôi trọc rộng lớn nửa
Trang 31phía tây của tỉnh mà thổ nhưỡng chủ yếu là feralitic (đá ong) nên "mặt đá ong trơ trụi lạnh di nhanh chóng ban đêm và nóng lên dữ dội ban ngày
có tác dụng lùm cho kh í hậu địa phương trở nên phân new khắc nghiệt hơn"
[16, tr.4J Xưa kia mùa màng bị thất bát do thiên tai xảy ra thường xuyên dối với cư dân nông nghiệp Hà Tây Do vậy để thích ứng với môi trường địa lý người dân Hà Tây phải đắp đê phòng lũ, đào giếng trữ nước Vùng
Ba Vì là nơi khởi thủy đắp đê trị lũ sông Đà, sông Hồng Khí hậu có phần khắc nghiệt, năng suất cây trồng thấp nên bao đời nay đã hlnh thành nếp
sống căn cơ hà tiện ăn bữa nay lo bửa mai, "Được m ùa chớ phụ ngô khoai, đến kh i thất bát lấy ai bạn cùng" của người Hà Tây Trong nếp ở, cư dân
Hồ Tây chú ý tới một chỗ đất cao ráo, một ngôi nhà to vững chãi vừa để chống bão gió vừa duy trì dài lâu tuổi thọ của ngôi nhà coi đó như là của cải để lại cho con cháu
Cư dân có mặt rất sớm ở vùng đất này Những tần g văn hóa (ốc, đá, xương thú) của người nguyên thủy phát hiện ở hang Sững Sàm (tuyến Long Vân, khu thắng cảnh Hương Sơn) có niên đại trên một vạn năm [114, tr.214] mang truyền thống đá cuội gạch nối văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn [123, tr.96-103] Như vậy, cách nay trên vạn năm người nguyên thủy đã sống
ở các hang động vùng núi đá huyện Mĩ Đức
Vùng chân núi Ba Vì mở rông ra các khu vực đôi sót hai bên bờ sông Tích là vùng đất cổ Các nhà khảo cổ phát hiện một di chỉ tại núi Phượng Hoàng xã Sài Sơn (Quốc Oai), qua gần 100 hiện vật (mảnh gốm, rìu đá, xương
động vật) xác định di chỉ "thuộc văn hóa Phùng Nguyên, có niên đại 3500 -
4000 năm trước" [2, tr.3] Như vậy, 4000 năm trước đây, người Việt cổ đá
có mặt ở vùng đôi Phủ Quốc Điều này phù hựp với kết luận khoa học của
các tác giả công trình: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông ỉĩỗng cho rằng
27
Trang 32-c:ách đây 7000 - 4000 năm "vào lúc cực dạ i bờ biển tiến sâu vào đ ấ t liền,
Ịnhủ k ín đông bằng sông Hông từ Chương Mỹ, vòng lên Đan Phượng" [46,
ttr ll] , cách đây 2700 năm, bờ biển nằm ờ Mỹ Đức, Thường Tín cách đây Ì2.000 năm thì biển đã lui xuống Ninh Binh, Nam Định Các dòng sông nội ttỉnh, sông Tích hình thành sớm hơn cả, sau dó đốn sông Đáy, sông Nhuệ
wồ sông Tô Lịch Vê cơ bản cảnh quan Hà Tây là kiểu đông bằng bóc mòn - ttích tụ xen đôi sót và kiểu đông bằng tích tụ phù sa (phù sa cao và phù sa imâi thấp)
Trong thời kỳ biển lui, các cư dân từ vùng chân núi Ba Vì lấn xuống (chiếm lĩnh khai phá dong bằng Cho tới thời kỳ nhà nước Âu Lạc ra đời đóng (dó ừ Co Loa thì Hà Tây đả là vùng dàt dông đúc cư dân nằm trong quốc Igia Âu Lạc
H àng loạt các di chỉ khảo cổ về nền văn hóa Đông Sơn đã được khai quật 'VÌ tìm thấy ở vùng đông bằng Hà Tây Gồm các loại hình sau:
- Loại hình di tích di chỉ cư trú: Di chỉ Hoàng Ngô (Quốc Oai), di chỉ
V n h Quang (Hoài Đức), di chỉ Phú Lưưng (Thanh Oai)
- Loại hình di tích di chỉ cư trú - mộ táng: Di tích Vinh Quang (Hoài Đíc), di tích Đường Cô (Phú Xuyên)
- Loại hình di tích mộ tống: Di tích Châu Can, di tích Xuân La (Phú Xiyên), di tích Minh Đức (ứng Hòa)
- Loai hình di tích di vật phát hiện lẻ: Di chỉ Giếng Sãi (xã Hạ Bằng, Tiạch Thất)
Cho tới nay ở Hà Tây đã phát hiện 23 trống dong Dông Sơn (20 trống Ích, 3 trống minh khí) ở các địa điểm Hoàng Hạ, Miếu Môn, Phú Xuyên, Piú Duy, Phú Phương, Tùng Lâm (2 chiếc), Phương Tú, Tây Đằng, Sơn Thạch,
Trang 33Cò Mun và đặc biệt là nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ ở vùng tam giác châu tiổ sông Hông trong quốc gia của các vua Hùng.
Quá trình dựng nước và giữ nước công xã nông thôn ở Hà Tây ngày một cing cố, tính cộng đông thôn, xã ngày một bền chặt
Rõ ràng, ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, ra đời nhà nước
sế khai, Hà Tây đã là vùng đất một trong 15 bộ của quốc gia Văn Lang thống
m ấ t (Bộ Giao Chỉ)
Tìm trong các thư tịch cổ biết rằng thời Hùng Vương, Hà Tây thuộc đất Fhong Châu; thời thuộc Hán là quận Giao Chỉ
Sau đó tỉnh Sơn Tây cũ thời Bắc thuộc là quận Tân Hưng, quận Tân Xương,
Châu Hưng, Châu Phong hay đạo Lĩnh Nam "Trong buổi đều đất nước độc
lậ> tự chủ, đây là châu (Phong Châu và Quốc Oai dưới triều Đ inh, T iên Lê,
Ụ ), lộ (thời Trần) Thời Lê, dây là Tây Đạo Năm Quang Thuận thứ 7 gọi
li Quốc Oai thừa tuyên và năm thứ 10 gọi là Sưn Tây thừa tuyên Tên Sơn Tìy bắt đâu từ đó N ăm I f ông Dức thứ 21 dổi thành xứ Sơn Tây rôi trấn
S m T ây b(U) gôm tỉnh Sơn Tây, tinh Vinh Phú và cả liuỵện Từ L iêm , một
p iàn Hà Đông, Hòa Bình N ăm M inh Mệnh thứ 12, tin h Sơn Tây chính tlức dược thành lập" [64, tr.62] Từ năm 1892 đến khi hợp nhất với tỉnh
Trang 3430
-Hà Đông cũ thành tỉnh -Hà Tây (1-7-1965), Sơn Tây gôm 2 phủ: Quảng Oai, Quốc Oai và 4 huyện: Bất Bạt, Tùng Thiện, Thạch Thất, Phúc Thọ Ngày nay tương đương với 4 huyện Ba Vì, Pluìc Thụ, Thạch Thất, Quốc Oai, 1 thị
xã Sơn Tây
Tỉnh Hà Đông cũ vốn thuộc đất kinh đô Thời kỳ Bắc thuộc gọi là Tượng Quận, Long Biên, Giao Châu trị, quận Giao Chỉ, An Nam đô hộ phủ Đời Đinh, Lê thuộc đạo Giao Châu, đời Lý Thái Tổ thuộc Thăng Long thành sau gọi là Nam Kinh; đời Trần gọi là Trung Kinh; đời Hồ gọi là Đông Đô; thời thuộc Minh là Đông Quan; thời Lê gọi là Đông Kinh, T rung Đô sau là Đông
Đô Thời Nguyễn, Hà Đông thuộc Sơn Nam thượng trấn Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) lập tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ, 15 huyện (phủ Hoài Đức, phủ Thường Tín, phủ ứ n g Hòa, phủ Lý Nhân) Năm 1888, triều đình nhà Nguyễn cắt hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận cho Pháp làm nhượng địa (Hà Nội) Năm 1890, phần đất còn lại của tỉnh Hà Nội gọí iầ tỉnh ơâu Đơ Năm 1904 chính thức đổi th àn h tỉnh Hà Đông gôm 10 phủ, huyện: Thường Tín, ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, Thanh Trì, Phú Xuyên, Thanh Oai, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoàn Long
Sau ngày hòa bình lập lại tỉnh Hà Đông gồm 8 huyện: Phú Xuyên, Thường Tín, ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, Thanh Oai, Chương Mĩ, Đan Phượng và một thị xã Hà Đông
Ngày 1-7-1965, tỉnh Hà Đông và Sơn Tây hợp nhất th àn h tỉnh Hà Tây gôm 2 thị xã và 12 huyện Năm 1975, Hà Tây hợp nhất với tỉnh Hòa Bình
th àn h tỉnh Hà Sơn Bình Năm 1979, tách 6 huyện, thị xâ (Sơn Tây, Đan Phượng, Hoài Đức, Thạch Thất, Phúc Thọ, Ba Vì) của tỉnh Hà Sơn Bình nhập vào Hà Nội Năm 1991, Quốc hội điều chinh dịa giới cấp tỉnh, tỉnh Hà Tây
tái lập lại gôm 2 thị xã (Hà Đông, Sơn Tây) và 12 huyện (Phú Xuyên, Thường
Trang 35Tín, ứ n g Hòa, Mĩ Đức, Hoài Đức, Thanh Oai, Chương Mĩ, Đan Phượng, Quốc Oai, Thạch Thất, Phúc Thọ, Ba Vì) [Phụ lục I],
II- HÀ TÂY ĐẤT TRẢM NGHÈ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
KINH ĐỐ THẢNG LONG - HÀ NỘI
Hà Tây là số ít trong những tỉnh ở Việt Nam rất th ịn h đạt các nghề thủ công Từ lâu, du khách đã coi Hà Tây là đất trăm nghề nơi hội tụ những bàn tay vàng ngọc
Nghề ở đây được hiểu là nghề phụ ngoài nghề chính làm ruộng Nghề phụ thì có hàng trăm nghề song để đạt tới làng nghề, xã nghề thì th ậ t là hiếm hoi
Theo chúng tôi gọi là làng nghề phải đạt được tiêu chí sau:
1 Ở làng đố ít nhất cũng phải có 50% số hộ làm một nghề nào đó (lực lượng lao động).
2 Sản phẩm nghê làng không chỉ tự cung tự cấp, phải m ang tín h hàng hóa lưu hành trong khống gian rộng (chất lượng sản phẩm , không gian lưu hành).
3 L àn g đó có g ia i đoạn dài ph át triển ngtìê, trải qua nhiêu biến c ố thăng
trảm vẫn g iữ dược nghê Ở làng đã hình thành những truỳên thống, nếp sống như tục thờ cúng tổ nghề, phường hội, sinh hoạt văn hóa
Nhắc đến Hà Tây người ta nghĩ ngay tới tầm tang canh cửi Những thềm đất phù sa mỡ màu bên các con sông cổ như sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ rất thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm Huyện Mĩ Đức bên dải sông Đáy có hàng chục làng mà nghề sống chính là chăn tằm ươm tơ
Trang 36như Đốc Tín, Trinh Tiết, Phù Lưu Tế Nhờ dó Mĩ Đức trở thành thủ phủ tằm tơ của tỉnh.
Trước đây cũng như bây giờ, Hà Tây vẫn nổi tiếng vê nghề dệt Những làng dệt chạy suốt theo các triền sông như làng Hòa Xá ở ứng Hòa, làng Phùng Xá ở Mĩ Đức, Tân Lập ở Đan Phượng, La Khê, Vạn Phúc ở thị xâ
Hà Đông Sản phẩm cao cấp của nghề dệt là lụa là, gấm, vóc Lụa Hà Đông không chỉ nổi tiếng trong nước mà tiếng tăm còn vang xa tới nhiều nước trên th ế giới
Vạn Phúc là một làng dệt lụa điển hình phát triển nghề cổ truyền của quê hương Dẫu m ặt hàng tơ lụa đòi hỏi kỹ thuật tinh xảo song với bàn tay khéo léo, tài hoa, những người thợ thủ công Vạn Phúc đã làm cho sản phẩm lụa đạt đến hoàn mĩ cả về chất lượng lẫn hình thức Nhiều loại lụa từ làng Vạn Phúc xuất khẩu đi các nước trên thê giới rất đưực khách hàng mến chuộng 70% dân làng sống dựa vào nghề dệt, đảm bảo thu nhập cao so với người trồng lúa
Đáng lưu ý lồ, ở Hà Tây, tỷ lệ các làng nghê nổi danh cả nước với sản phẩm được tiêu thụ rộng, chiếm khá cao
Hà Tây có 300 xã, 10 phường, 14 thị trấn, theo số liệu khảo sát của Sở Công nghiệp thì 174 xã có nghề thủ công nghiệp - dịch vụ trong đó có 52
xã nghề tiêu biểu và 36 làng Iighề nổi tiếng Ở những làng này số hộ làm nghề thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ trên 60%
Làng Chuyên Mĩ (Phú Xuyên) là quê gốc đạt trình độ điêu luyện v'ê nghề khảm trai Thợ Chuyên Mĩ có mặt ở khắp nước thực hiện công đoạn khảm trai ốc lóng lánh ánh xà cừ lên mĩ nghệ sơn mài và các đô gỗ quí phục vụ xuất khẩu
Trang 37Làng Nhân Hiền (Thường Tín) từ lâu đời đâ giỏi nghề điêu khắc gỗ Đôi bàĩìtay ngọc ngà kiên nhẫn từng ngày tỉa tót các nét chạm biến những khúc
gỗ (Uý thành những hình tưựng nghệ thuật độc đáo, giàu sức truyền cảm
Làng Kim Hoàng (Hoài Dức) chuyên khắc ván in tranh dân gian trên
liền giấy đỏ, một trong 3 dòng tranh nổi tiếng ở vùng châu thổ (Kim Hoàng,
Đôrg Hồ, Hàng Trống)
Những người thợ pháo Bình Đà lại chuyên tâm tìm tòi để khai thác hết
vẻ cẹp kỳ thú của chất cháy sáng sáng tạo ra những cây pháo bông với nghệ thuit chơi pháo hấp dẫn người xem Pháo bông Bình Đà từng có m ặt ở mọi miềi đất nước Các đại sứ quán của nhiều nước ở Hà Nội rấ t yêu thích loại phát này
vòn phải kể tới những đôi bàn tay vàng của những người thợ thêu Quất Độn; (Thường Tín) Chỉ bằng cây kim và nhửng sợi chỉ màu vậy mà những
m ôum ã và các tác phẩm nghệ thuật được họ tái tạo lại làm cho bức tranh
th êi sinh động, mới lạ thêm
jàng tiện Nhị Khê cho ra đời hàng loạt sản phẩm thiết kế mẫu trang sức.Sản phẩm sơn mài làng Duyên Thái nước sơn bóng sâu, lung linh, huyền
ảo íón làng Chuông nhẹ bay, duyên dáng, đậm đà tâm hồn dân tộc Đồ mây Phú Hoa nét đan mềm mại, nét thắt dịu dàng, màu sắc trang nhã Mối làng mỗi Ìghề, mỗi nghề mỗi vẻ làm phong phú truyền thống nghề thủ công của
Hà nây
í ghề thủ công ở Hà Tây có vị trí rất quan trọng, đặc biệt thủ công mỹ nghi Nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu mang lại số ngoại tệ khá ớn cho tỉnh và nâng cao dời sống nhân dân các làng nghề Có năm tỷ trọn; liàng thủ công xuất khẩu chiếm 60% - 80% tổng sản lượng xuát khẩu
Trang 38của tỉnh Rất nhiều sản phổm thủ công Hà Tây tham gia các hội chợ quốc
tê đã giật giải cao
Điều cần nói là sản phẩm tiểu thủ công ở Hà Tây mang đậm dấu ấn truỳên thống Truyền thống là sức mạnh bên trong của mỗi người thợ ở làng nghề,
là kết tụ tinh hoa của một vùng đất không dễ gì nơi khác học được Thực tiễn cho thấy ở thời bao cấp rất nhiều nghệ nhân các làng nghề truyền thống
Hà Tây được mời đi truyền nghề ở các tỉnh bạn, nhiều nơi học được nghề, song cơ chế thay đổi thì những nơi ấy bị mất nghề, chỉ ở nơi gốc còn giữ
và truyền được nghề Sản phẩm truyền thống thể hiện phong cách của một làng nghề tạo ra sắc thái văn hóa ở địa phương
Cũng cần khẳng định yếu tố con người làm ra các sản phẩm thủ côngtruyền thống ít tỉnh nào có vốn thợ đôi dào tiềm lực như ở Hà Tây Họ đông
về số lượng, lại tinh thông nghề nghiệp và chiếm lĩnh ở nhiều ngành nghề độc đáo Các nghệ nhân đóng vai trò đột phá trong việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tạo ra những sản phẩm hoàn hảo
Các nghệ nhân và các lớp thợ giỏi là vốn rất quý của tỉn h Hà Tây Chính
họ là những người thày dạy nghề, say mê truyền lại nghề cho con cháu mìnhbằng những kinh nghiêm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp Các nghệ nhân
đã sáng tạo ra phong phú các sản phẩm mĩ nghệ trong tiêu dùng hàng ngày
và (láp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng có tính "thời thượng" của các khách hàng trong ngoài nước Họ kế thừa nhuần nhuyễn hình dáng của các sản phẩm truyền thống tạo dựng lại cho đẹp, mới, lạ Nghê làng có giử gìn phát huy đượ; hay không sở cậy vào họ
Phải nói rằng kinh đô Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển các nghề thủ công ử Hà Tây Kinh dô là thị trường lớn tiêu thụ các sản phẩm thủ công Nói như ngôn ngữ bây giờ
34
Trang 39-là đâu ra Những -làng nghề nổi tiếng của Hà Tây đêu có các cửa hàng bày bán ở thủ đô Hà Nội Đã xuất hiện ngõ nghề, phố nghề xnà gốc gác ià các
hộ thợ thủ công Hà Tây Có thể kể ra rất nhiều ví dụ minh chứng cho điều này Làng Liên Bạt (ứng Hòa) thịnh đạt nghề làm bún, có 96% số hộ của làng làm nghề Bún Bặt nổi tiếng trắng, sóng sợi, ăn mềm và thơm Hà Nội
có hẳn một xóm bún Bặt ở ngõ Thổ Quan Làng Trạch Xá xã Hòa Lâm (ứng Hòa) khéo tay, từ xưa người làng chuyên đi may áo dài truyền thống Phố Lương Văn Can (tên một danh nhân quê ở Nhị Khê Hà Tây) nổi tiếng may
áo dài của Hà Nội, thì làng Trạch Xá có gần 20 hiệu may, người làng Trạch
Xá ra làm ăn sinh sống ở Hà Nội nhớ về quê hương qua việc biển hiệu may
có kèm chứ "Trạch" như "Đông Trạch", "Đức Trạch", "Tân Trạch", "Mỹ Trạch", 'Hưng Trạch" Thủ đô Hà Nội vào những năm cuối thế kỷ 16 ở phường Nam Ngư (phố Cửa Nam hiện nay) có nhiều cửa hàng chuyên làm và bán các đồ sơn Các thợ ở đó phần đông là người làng Chuòn Tre, Bối Khê (Phú Xuyên)
và làng Hạ Thái (Thường Tín), những làng sơn thếp, sơn khảm thành danh của Hà Tây Rồi phố Tố Tịch hàng xóm của hàng Đàn, hàng Quạt chuyên nghề tiện gỗ mà gốc gác có quan hệ với làng tiện Nhị Khê (Thường Tín) [88, tr.6] Ô Chợ Dừa tương truýền là nơi kẻ Dừa Yên Sở (Hoài Đức) mang dừa ra bán [95, tr.318] Thợ mộc làng Chiếc đã tham gia làm những công trình nổi tiếng ở kinh đô từ thời Lý như Văn Miếu Thợ khảm Chuyên Mĩ
ra Thăng Long làm ăn và mở ra phố hàng Khay Nghề thủ công Hà Tây ầội nhập vào đất kinh kỳ góp phần làm phong phú các nghề thủ công truyền ihốr.g ở Hà Nội Và còn điều này nữa những người thợ thủ công Hà Tây ra dất kinh kỳ đã mang theo nếp sống, những thuần phong mĩ tục của quê hương,
thể hiện ở tính kiên nhẫn, cần cù trong lao động, đức thương người, yêu quê
ầưưng, ngưỡng kính tổ tiên, thể hiện ở sự khéo tay, hay mắt, ở tâm hồn nghệ
íĩ tài hoa của người thợ, hẳn làm đa dạng sắc thái văn hóa của đất kinh kỳ
Trang 40Ngược lại, văn hóa kinh đô nghìn năm văn hiến tạo ra nếp sống hào hoa
th aih lịch, trọng sự sang luôn luôn vươn tới sự đẹp thông qua những người thợ thủ công ảnh hưởng mạnh mẽ tới các làng nghề ở Hà Tây Biết ăn, biết chơ, biết giá trị của cái đẹp, người kinh đô đòi hỏi sản phẩm của các làng nghê không ngừng cải đổi dể dạt tới sự hoàn mĩ
Một điều kỳ thú là ở Hà Tây so với các tỉnh phụ cận kinh đô thì tỷ lệ các làng nghề thủ công mĩ Iighệ cao hơn hẳn Dường như đã thành quy luật càní xa kinh thành hay các đô thị lớn thì càng thưa vắng hơn các làng thủ cônỉ mĩ nghệ và dường như cũng đâ thành quy luật ở nơi nào nhiều nghề thủ công mĩ nghệ phát triển ở nơi đó con người trở nên văn nhã hơn, cái chấ phác tự nhiên được nâng lên theo quy luật của cái đẹp, tạo ra phép ứng
xử ,heo chuẩn mực của văn hóa đương thời
Qua khảo sát 36 làng nghề được coi là nổi danh ở Hà Tây chúng tôi rút
ra nột kết luận nhiều làng nghề thủ công mĩ nghệ và làng nghề chế biến nônỊ sản thành sản phẩm tinh và ngon có đại lý tiêu thụ ở kinh đô thì những lànf ấy thường có các nhà thờ tổ, hay ngày giỗ các vị tổ nghề Vào ngày
ky 'iỗ Đức tiên sư này các chủ hộ sống bằng nghề làng lập nghiệp ở kinh
đô iều hằng niệm trở về quê hương bày tỏ lòng thành kính tổ nghề Kỵ giỗ tháih sư nghề bún làng Liên Bạt (tục gọi làng Bặt) hàng năm vào ngày 20 tháig 8 âm lịch Làng An Cốc có nghề làm giấy dó giỗ tổ vào ngày 10 tháng giêig Xưa vào ngày này, người An Cốc di làm giấy ở các làng An Thái, An Hòa ven Hồ Tâv (Hà Nội) đêu về quê ăn giỗ tổ Làng tiện Nhị Khê giỗ tổ nghỉ vào ngày hai mưưi lăm tháng mười âm lịch Làng lưực sừng Thụy ứng giỗ tổ vào ngày rằm tháng hai và rằm tháng tám Làng Quất Động giỗ tổ nghi thèu là ông Lê Công Hành vào ngày 12 tháng 6 âm lịch
36
-Rõ ràng những ngày giỗ tổ nghề không chỉ dừng ở ý nghĩa "uống nước