1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề quan hệ nội dung hình thức của vốn từ công nghệ môi trường anh việt

163 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 35,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đỏi tưọĩig và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các chuyên danh trong ngành CNMT và tiếng Việt tương đươns, tức là các chuyên danh chỉ ra các khái niệm được sử dụ

Trang 1

ĐẠI HỌC Q UỐ C GIA HÀ NỘI TRƯ Ờ NG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH ÂN VÃN

VŨ THỊ M INH HÀ

VÂN ĐỂ QUAN HỆ NỘI DUNG - HÌNH THỨC CỦA VỐN TỪ

CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

MỤC LỤC

PHẨN M Ở Đ Ầ U 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối lượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3

2.1 Đối tượrm và phạm vi nghiên cứu 3

2.2 Mục đích nuhiên cứu 4

3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

3.1 Tư liệu nghiên cứu 4

3.2 Phương pháp nghiên cứu 4

4 ý nghĩa và đóng góp của luận văn 5

5 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: M Ộ T s ố c ơ SỞ LÝ LUẬ N CÓ LIÈN Q UAN ĐẾN ĐỂ T À I 6

I Lý thuyết về tiếp xúc ngôn ngữ, giao thoa ngôn ngữ, vay mượm ngôn ngữ 6

1 Tiếp xúc ngôn ngữ 6

2 Giao thoa ngôn ngữ 6

3 Vay mượn ngôn ncữ 7

II Khái niệm chuyên danh 9

1 Quan niệm về thuật ngừ và việc nghiên cứu thuật ngữ 9

1.1 Thế nào là thuật ngữ 9

1.2 Các đặc điểm của thuật ngữ 11

1.3 Các tên gọi thuật ngữ 11

1.4 Các cách hình thành thuật ngữ 11

1.5 Các giai đoạn tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng V iệt 12

1.5.1 Giai đoạn trước khi thực dân Pháp đô hộ nước ta 12

Trang 3

1.5.3 Giai đoạn 1945 - 1975 13

1.5.4 Từ sau 1975 đến nay 14

2 Quan niệm về chuyên danh 15

III Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ 18

1 ý nghĩa của nghiên cứu đỗi chiếu ngôn ngữ nói chung 18

2 Nghiên cứu đối chiếu chuyên danh 20

CH Ư Ơ N G 2: ĐẶC Đ IỂ M c ủ a c á c đ ơ n v ị c h u y ê n d a n h CHU YÊN N G À N H C Ô N G N G H Ệ M Ô I T R Ư Ờ N G T IẾ N G ANH 22 I Khái niệm về chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường 22

1 Khái niệm “công nghệ môi trường” 22

2 Khái niệm chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường 22

II Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường tiếng A n h 23

1 Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường tiếng Anh có kết cấu gồm 2 từ 23

1.1 Đặc điểm cấu tạo 24

1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 26

1.2.1 Kiểu kết cấu danh từ + danh từ 26

1.2.2 Kiểu kết cấu danh động từ + danh từ 27

1.2.3 Kiểu kết cấu danh từ + danh động từ 28

1.2.4 Kiểu kết cấu tính từ + danh động từ 28

1.2.5 Kiểu kết cấu phân từ 2 + danh từ 29

1.2.6 Kiểu kết cấu tính từ + danh từ 29

2 Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường tiếng Anh có kết cấu gồm 3 từ 40

2.1 Đặc điểm cấu tạo 40

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 43

2.2.1 Kiểu kết cấu danh + danh + danh động 43

2.2.2 Kiểu kết cấu phân từ 1 + tính từ + danh từ 43

iii

Trang 4

2.2.3 Kiểu kết cấu danh từ + (-free) + danh từ 44

2.2.4 Kiểu kết cấu P2 + tính từ + danh từ 44

2.2.5 Kiểu kết cấu căn tố + P2 + danh từ 45

2.2.6 Kiểu kết cấu tính từ + P2 + danh từ 45

2.2.7 Kiểu kết cấu phó từ + P1 + danh từ 45

2.2.8 Kiểu kết cấu phó từ + P2 + danh từ 46

2.2.9 Kiểu kết cấu phó từ + tính từ + danh từ 46

2.2.10 Kiểu kết cấu danh từ + P1 + danh từ 47

2.2.11 Kiểu kết cấu danh từ +■ danh từ + danh từ 47

2.2.12 Kiểu kết cấu tính + tính từ + danh lừ 48

2.2.13 Kiểu kết cấu P2 + danh từ + danh từ 48

2.2.14 Kiểu kết cấu tính từ + danh từ + danh từ 49

3 Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trường tiếng Anh có kết cấu gồm 4 từ 56

3.1 Kiểu kết cấu tính + danh + tính + danh 56

3.1.1 Đặc điểm cấu tạo 56

3.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 57

3.2 Kiểu kết cấu tính + danh + danh + danh 57

3.2.1 Đặc điểm cấu tạo 57

3.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 58

3.3 Kiểu kết cấu phó + tính + danh + danh 58

3.3.1 Đặc điểm cấu tạo 58

3.3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 59

3.4 Kiểu kết cấu dạng kết hợp + tính + danh + danh 59

3.4.1 Đặc điểm cấu tạo 59

3.4.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 59

3.5 Kiểu kết cấu phó + phó + tính + danh 60

3.5.1 Đặc điểm cấu tạo 60

3.5.2 Đặc điểm ngữ nghía 60

3.6 Kiểu kết cấu danh + danh + danh + danh 60

Trang 5

3.6.1 Đặc điểm cấu tạo 60

3.6.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 60

3.7 Kiểu kết cấu phó + P1 + tính + danh 61

3.7.1 Đặc điểm cấu tạo 61

3.7.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 61

3.8 Kiểu kết cấu phó + P1 + danh + danh 61

3.8.1 Đặc điểm cấu tạo 61

3.8.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 61

3.9 Kiểu kết cấu tính + tính + danh + danh 62

3.9.1 Đặc điểm cấu tạo 02

3.9.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 62

3.10 Kiểu kết cấu P2 + tính + danh + danh 62

3.10.1 Đặc điểm cấu tạo 62

3.10.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 63

3.11 Kiểu kết cấu danh từ cách sở hữu + phó + tính + danh 63

3.11.1 Đặc điểm cấu tạo 63

3.11.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 63

3.12 Kiểu kết cấu danh từ cách sở hữu + tính + danh + danh 63

3.12.1 Đặc điểm cấu tạo 63

3.12.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 64

3.13 Kiểu kết cấu phó + phó + danh + tính 64

3.13.1 Đặc điểm cấu tạo 64

3.13.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 64

3.14 Loại kết cấu (số từ + danh) + danh + danh 64

3.14.1 Đặc điểm cấu tạo 64

3.14.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 65

3.15 Kiểu kết cấu P2 + danh + danh + danh 65

3.15.1 Đặc điểm cấu tạo 65

3.15.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 65

3.16 Kiểu kết cấu tính + danh + danh động + danh 65

V

Trang 6

3.16.1 Đặc điểm cấu tạo 65

3.16.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 66

4 Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành công nghệ môi trườnịg tiếng Anh có kết cấu gồm 4 từ 68

C H ư r ơ N G 3: V Â N ĐỀ TIẾP NH ẬN C H U Y Ê N DA NH CÔ NG NG H Ệ M Ô I T R Ư Ờ N G C Ủ A SINH VIÊN C H U Y ÊN N G À N H NĂ M T H Ứ 3 Ở ĐẠI IHỌC BÁC H K H O A H À N Ộ I 70

1 Việc tiếp nhận chuyên danh nói chung 70

2 Việc tiếp nhận chuyên danh CNMT của sinh viên chuyên ngành năm thứ 3 I ở ĐHBK Hà N ội 71

2.1 Lỗi diễn đạt 75

2.1.1 Diễn đạt rườm rà hoặc quá cụt lủn 75

2.1.2 Diễn đạt sai lệch ngữ nghĩa của chuyên danh 76

2.2 Liên tưởng sai 77

2.3 Dịch thiếu từ 78

2.4 Dịch sai nghĩa của từ thành phần trong chuyên danh 79

2.4.1 Chọn sai nghĩa trong dãy nghĩa của từ, hoặc chọn không đúng 1 từ trong các từ đổng âm, đồng chữ viết 79

2.4.2 Lẫn lộn các từ có cách đọc hoặc cách viết gần giống nhau, khôngg thuộc từ và suy luận sai nghĩa từ 80

2.5 Lỗi cú pháp 81

2.6 Nhiều kiểu lỗi trong một câu dịch 82

3 Tình hình phân bố các kiểu lỗi 2,4,7 và 8 trong các kiểu kết cấu của các chhuyên danh gồm 2 và 3 từ thành phần 86

3.1 Đối với các chuyên danh có kết cấu gồm 2 từ 86

3.1.1 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 2 86

3.1.2 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 4 86

3.1.3 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 7 87

3.1.4 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 8 87

3.2 Đối với các chuyên danh có kết cấu gồm 3 từ 88

Trang 7

3.2.1 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 2 88

3.2.2 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 4 89

3.2.3 Tinh hình phân bố kiểu lỗi 7 89

3.2.4 Tinh hình phân bố lỗi kiểu 8 90

4 Một vài lưu ý về việc sửa chữa các kiêu lỗi 90

K ẾT L U Ậ N 92

TÀI L IỆ U T H A M K H Ả O 95

PHỤ L Ụ C 100

vii

Trang 8

BẢN KÝ HIỆU CHỬ VIẾT TẤT

Đ H B K viết tắt của chữ “Đại học Bách khoa”

Trang 9

PHẨN M ỏ ĐẨU U^-!Ĩ±zHOF Qu?r'^ÃT^ỏrJ ã m jh ô n ^ ĩ IN t h ư v i ệ n

Môi trường là một vấn đề toàn cầu Không một nước nào có thể một mnh giải quyết vấn đề này Do đó việc học tập, trao đổi thông tin kinh nshiệm cũng như chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp phát trim sang các nước đang phát triển như nước ta là một nhu cầu thiết yếu Tnng quá trình đó, ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh, là một công cụ đóng vai

tre' vô cùng quan trọng.

ở trường ĐHBK Hà Nội, tiếng Anh được dạy theo 2 giai đoạn: tiếng Arh CƯ bản và tiếng Anh chuyên ngành Tiếng Anh chuyên ngành được dạy ch) sinh viên năm thứ 3, sau khi sinh viên đã kết thúc giai đoạn tiếng Anh cơbàn Được học sonơ sons với các môn thuộc chuyên ngành cụ thể, tiếng Arh chuyên ngành giúp cho sinh viên làm quen với các ihuật nẹữ chuyên men để họ có thể đọc được tài liệu khoa học bằng tiếng Anh và đến khi tốt neiiộp có thể sử dụng kỹ năng này phục vụ công việc của mình

Chuyên ngành CNMT là một chuyên rmành khá mới mò ử trường

ĐFBK Hà Nội Sinh viên những khóa đầu tiên của chuyên ngành CNMT CÒI phải học chunu giáo trình với sinh viên của chuyên ngành hóa vì ngành

Q M T íiắn bó rất khăn í khít với n^ành này và Tiếng Anh chuyên ngành

Q M T chưa có d á o trình riêng Nhưng cù nu với việc nhân thức rõ vé tầm

Trang 10

quan trọng của việc bảo vệ môi trường đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước, ngành CNMT ử nước ta cũng được quan tâm và đã phát triển mạnh mẽ hơn Để đáp ứng nhu cẩu của nền kinh tế, việc dào tạo

kỳ sư môi trườn Sĩ cũnc dược nhà trườn u rất quan tâm Người kỹ sư môi trườn LI rmoài việc phải ciỏi chuyên món, cũrm rất cần phải nắm vừng tiếng Anh chuyên nuành Chính vì vậy, một cuốn sách uiáo khoa tiếng Anh dành riêng cho chuyên ngành CNMT dã được soạn thảo và đưa vào giảng dạy cho sinh viên Trong việc soạn thảo lài ĩiệư này, chúng tói dã nhận dược sự quan tâm giúp đỡ về các lài liệu chuvên ncành của Khoa Công nghệ môi trườnỈZ nay là Viện Công nghệ môi trường, sự lãnh đạo của Nhà trường và Ban chủ nhiệm Khoa Ngoại ngữ cùno các Ban ngành có liên quan

CNMT là một chuyên ngành còn mới ở Việt nam Tuy nó có khá nhiều thuật ngữ đã quen thuộc do mượn từ các chuyên ngành khác như sinh

vật học, ihực vật học, hóa học như: loài săn mồi, cây thường xanh, chất khử,

nhưng cũng có những thuật ngữ rất mới lạ và cũng chỉ mới được dùng

trong tiếng Việt trong thời gian gần đáy như: sự phơi nhiễm, sự phát

íhài Điều này gây khó khăn không ít cho cả sinh viên và giáo viên dạy

tiếng Anh chuyên ngành CNMT Sinh viên còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa

do kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh của họ còn yếu và từ điển môi trường thì còn rất hiếm đến mức hầu như chưa xuất hiện ở các hiệu sách Mặc dù vậy, chúng tôi nhận thấy đó chưa phải là khó khăn lớn nhất đối với sinh viên irons quá trình học

Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành CNMT ở Trường ĐHBK Hà Nội, chúng lôi nhận thấy sinh viên gặp nhiều khó khăn không chỉ ở phẩn các kỹ năng ngôn nuữ mà còn cả phần nấm bắt ngữ nghĩa từ Yựrm đăc biệt là rmữ n<’hĩa của nhữníi ngữ danh từ qổm nhiều yếu tố kết hợp thành (trono luận văn này sẽ được cọi là những chuyên danh) Sinh viên

có thê’ biêt nghĩa của từng yếu tố qua lừ điển thông dụng hoặc từ điển tiếng Anh chuyên ngành khoa học kĩ thuật nhưng họ gặp nhiều khỏ khăn khi giải

Trang 11

nhiều yếu tỏ thì mức độ khó càne, lãng Do đó, qua luận vãn này, chúng tôi muốn uỏp phần tìm ra lời eiải dáp cho nhữnu khó khăn trên.

Những chuyên danh mà chúng tôi sử dune trong luận văn này đều lấy

lừ tronu Giáo trình tiếng Anh chuyên ngành CNMT của trường ĐHBK Hà Nội Chúng tôi sẽ tập trung vào việc phán tích đối chiêu chuyển dịch những chuvên danh dó Công việc nàv khônu chỉ có ý nuhĩa thực tiễn mà còn có ý níihĩa về mật lý luận

2 ĐỐI TƯỢNG MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM YỤ NGHIÊN c ú u CỦA ĐỂTÀI:

2.1 Đỏi tưọĩig và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các chuyên danh trong ngành CNMT và tiếng Việt tương đươns, tức là các chuyên danh chỉ ra các khái niệm được sử dụng trong các lĩnh vực của khoa học về môi trường, bao gồm

cả các khái niệm trong lĩnh vực quản lý môi trườne cũng như các công nghệ dùng để xử lý ô nhiễm môi trường

Chúng tỏi chọn những chuyên danh tiếng Anh để so sánh đối chiếu với cụm lừ tiếng Việt tương đương là vì trong quá trình giảng dạy, chúng gây nhiều khổ khăn cho sinh viên, thường làm cho họ không hiểu hoặc hiểu sai nội dung của câu chữ trong tài liệu dẫn tới không hiểu hay hiểu sai toàn

bộ một đoạn văn, ảnh hưởng rất nhiều tới việc đọc và tra cứu tài liệu chuyên nuành của họ sau này Vả lại, trong các tài liệu chuyên ncành các chuyên danh là ngừ thường nhiều từ thành phẩn hơn và đa dạng hơn cả về hình thức cũnq như nội dung ngữ nghĩa so với các ngữ danh từ trong các tài liệu giảng dạy tiếns, Anh cơ bản được sử dụng trong trường ĐHBK hiện nay

Tro nu uiới han của một luân văn thac sĩ, chúníĩ tôi chỉ hi von<’ nỉihiên cứu những vấn đề khá cụ thể và thiết thực đối với công việc giảng dạy hiện may của chúnq tôi Phạm vi kháo sát của luận văn dựa trên những lài liệu

Trang 12

chúng tôi dùng đổ giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành môi trường năm thứ 3 ở ĐHBK Hà Nội.

2.2 M ục đích nghiên cứu:

Mục đích của chúng tôi là dựa vào quá trình chuyển dịch các chuyên danh của sinh viên, chúng tôi sẽ phân tích, đối chiếu và lập mối quan hệ giữa các kết hợp của các loại từ khác nhau trong chuyên danh với nội dung ngữ nghĩa của các chuyên danh ấy trong ngành CNMT Qua đó chúng tôi muốn tìm ra những cách thức tốt nhất trong việc chuyển dịch ngữ nghĩa của các cách kết hợp ấy, nhằm đưa ra được những giải pháp giúp sinh viên chuyên ngành CNMT của Trưừng ĐHBK Hà Nội vượt qua những khó khăn

mà họ gặp phải khi tiếp cận các chuyên danh của chuyên ngành này

3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúu

3 1 Tư liệu nghiên cứu:

Chúng tôi sử dụng những tài liệu thu thập được trong 8 bài giảng đầu tiên trong cuốn Giáo trình tiếng Anh chuyên ngành CNMT ở trường ĐHBK

Hà nội dùng cho sinh viên năm thứ 3 Đây là những chuyên danh chúng tôi chọn ra và yêu cầu sinh viên dịch sang tiếng Việt để tìm hiểu lý do mắc lỗi của họ, qua đó có cách dạy hiệu quả hơn cho từng trường hợp cụ thể

3.2 PhưoTig pháp nghiên cứu:

Trong luận văn chúng tôi áp dụnc phương pháp thống kẻ ngôn ngữ, phân loại và dối chiếu Luận văn được nghiên cứu theo hướng qui nạp

Trong khi thống kê và phân loại những chuyên danh đó, chúng tôi đồng thời phân tích nội dung khái niệm của chúng để đánh giá mức độ tương đổng và sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt Kết quả so sánh đối chiêu này sẽ giúp sinh viên vượt qua những khó khăn trong quá trình

Trang 13

các chuyên danh đó dể họ có thể tự mình chuyển dịch nội dung của các chuyên danh khác trong lĩnh vực chuyên ngành.

4 Ý NGHĨA VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Qua kết quả nchiên cứu trong luận văn, chúng tôi hy vọng có thể đưa

ra được một phươnu pháp hữu ích trong việc giảng dạy và học tiếng Anh chuyên rmành nói chung cũng như học tiếng Anh chuyên ngành môi trường nói riêng cho sinh viên chuyên nqành CNMT của trường ĐHBK Hà nội

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VÃN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 2: Đặc điểm của các đơn vị chuyên danh chuyên ngành Công nghệ Môi trường Anh - Việt

Chương 3: Vấn đề tiếp nhận các chuyên danh chuyên ngành Công nghệ môi trường của các sinh viên chuyên ngành CNMT nám thứ 3 ĐHBK Hà Nội

Trang 14

Cuộc sống càng văn minh hiện đại, nhu cầu trao đổi càng lớn, càng nhiều và càng đa dạng dẩn lên Trong xã hội hiện đại ngày nay, con người thường di chuyển rất nhiều Họ đi từ nước này sang nước khác để sống, làm việc, tham quan, du lịch v.v Tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra ngày càng mạnh

mẽ thì các yếu tố ngôn ngữ giao thoa, du nhập và vay mượn lẫn nhau càng trở nên phổ biến trong mọi ngôn ngữ Và trong mỗi ngôn ngữ người ta đều

có thể thấy được các đơn vị từ vựng vay mượn của tiếng nước ngoài với các mức độ khác nhau

2 Giao thoa ngòn ngữ:

Trong xã hội hiện đại ngày nay, hiện tượng đa ngữ xã hội, cụ thể là song :igữ xã hội là một hiện tượng khá phổ biến Trong xã hội đa ngữ, giao thoa, vay mượn một số các yếu tố giữa các ngôn ngữ là một trong nhiều hiện tượng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm

Giao thoa vốn là một thuật ngữ vật lý học, tâm lý học, được dùng

Trang 15

trong ngôn ngữ học “để chỉ hiện tượng lác động qua lại giữa cấu trúc và các yếu tố trong cấu trúc của hai (hoặc hơn hai) ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp” [ 29, tr 45 1

Giao thoa xảy ra trong quá trình tiếp xúc trực tiếp, lâu dài của dân cư nói những ngôn ngữ khác nhau, có thể tạo nên những biến đổi đáng kể trong cấu trúc bên trong của hệ thống ngôn ngữ và đặc trưng trước hết cho

hệ thốno được tổ chức nghiêm ngặt về cấu trúc của ngôn ngữ

Giao thoa được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu trên các bình diện:

- Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ lên ngôn ngữ thứ hai;

- Sự tác động cửa ngôn ngữ thứ hai lên rmôn ns,ữ thứ nhất;

- Giao thoa ở cấp độ ngôn ngữ và ở cấp độ lời nói

Sự uiao thoa xảy ra trên hầu hết các cấp độ của ngôn ngữ và ở hầu hếtcác hình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Ở cấp độ từ vựng, sự giao thoathể hiện rõ nhất qua sự vay mượn từ để tạo ra từ mượn [ 29, tr 46 ]

3 Vay mượn ngôn ngữ:

Vay mượn cũng là một hiện tượng ngổn ngữ do tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên nhưng khác với giao thoa Vay mượn không chỉ xảy ra do sự tiếp xúc trực tiếp như giao thoa mà còn có thể xảy ra do tiếp xúc gián tiếp và có thể chỉ tiếp xúc trong thời gian ngắn Vay mượn, không giống với giao thoa, không tác động lên cấu trúc của ngôn ngữ, không đưa vào ngôn ngữ mượn những nét rõ rệt và các yếu tố mượn có thể rời rạc, không thành hệ thống, vì vậy đặc trưng cho hệ thống ít chặt chẽ của ngôn ngữ

Vai trò của các đơn vị từ vựng vay mượn đối với một ngôn ngữ là rất lớn TS Nguyễn Vãn Khang nhận xét: “Các đơn vị từ vựng nước ngoài trở thành một trong những nguồn bổ sung quan trọng và có vai trò đáng kể cho vốn từ vựns của một ngôn ngữ: chúng mang vào trong hệ thống từ vựng của một ngổn ngữ những yếu tố từ vựng thuộc các cấp độ khác nhau (hình vị,

từ, cụm từ), các mô hình cấu tạo từ, nghĩa và sắc thái nghĩa mới Nói một cách khác, sự có mặt của các đơn vị từ vựng nước ngoài không chỉ làm tăng

Trang 16

số lượng từ vựng mà còn tác động đến chất lượng của hệ thống từ vựng đó, như: làm biến đổi cấu trúc lừ vựng trong thành phần từ vựng, lập lại trật tự nghĩa mới” [30]

Tuy nhiên, những yếu tố vay mượn này khi nhập vào một ngôn ngừ khác thường không giữ nguyên vẹn như ở ngôn ngữ gốc mà chúng thường phải biến đổi đi để phù hợp với qui luật nội tại của ngôn ngữ mà chúng du nhập vào: chúng đã bị ngôn ngữ đích đổng hóa Sự đồng hóa này cũng diễn

ra ở nhiều cấp độ khác nhau và với nhữnỉ; mức độ khác nhau

Các đơn vị từ vựng mượn tiếng nước ngoài trong tiếng Việt từ các nguồn chủ yếu sau:

- Tiếng Hán: có số lưựng lớn nhất, thời gian du nhập sớm nhất và kéo dài nhất; đổng thời có khả năng bảo lưu cao nhất và khả năng đổng hóa cũng cao nhất Các từ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt là các từ ihuộc các lĩnh vực như triết học, Nho học, toán học, thời tiết, khí tượng thủy văn, tổ chức hành chính nhà nước, quân sự Tiếng Hán vào tiếng Việt qua hai con đường chủ yếu là sách vở và khẩu ngữ, bằng hình thức tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp Các yếu tố Hán - Việt là những yếu tố tạo từ cơ bản quan trọng của tiếng Việt trong đó có việc chuyển dịch các từ Âu - Mỹ sang tiếng Việt

- Tiếng Pháp: ít hơn so với tiếng Hán và vào thời kỳ muộn hơn Các từ gốc tiếng Pháp thuộc nhiều lĩnh vực khoa học, đáng kể nhất là ngành

V - dược, một số ncành nghệ thuật và cách tu từ hài hước dí dỏm tronỉí văn chương đương thời Tiếng Pháp, cũng giống như tiếng Hán, vào tiếng Việt qua hai con đường chủ yếu là sách vở và khẩu ngữ, bằng hình thức tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp

- Tiếng Anh: vào tiếng Việt muộn hơn so với tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng hiện nay đang tăns lên nhanh chóng do xu hướng giao lưu, hội nhập với thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ

- Có một số ít từ ngữ mượn từ một số tiếng khác như Nga, Đức

Trang 17

Theo TS Nguyễn Văn Khang, các đơn vị từ vựng vay mượn từ tiếng rước ngoài thường được xử lý theo mấy cách sau:

- Giữ cách viết nguyên dạng và cố gắng đọc theo cách đọc của nguyên ngữ;

- Dịch nghĩa, tức là chỉ mượn nội dung nghĩa bằng cách dịch ihẳng sang bản ngữ;

- Phiên ám sang ngôn ngữ đi vay dựa trên cơ sử cách đọc (và có thể là cách viết) của nguyên ncữ;

- Tao ra môt hê thống âm đọc (có thể do tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên và trong đó có cách viết) cho các yếu lố từ vựng vay mượn;

- Chuyển tự;

- Kết hợp vừa phiên âm vừa dịch nghĩa [30]

Các cách xử lý dối với từ mượn ở trên đều có những ưu và nhược

đ ểm riêng, có cách còn chưa được dùng một cách nhất quán như ở các cách piiên âm và chuyển tự Trone các cách xử lý trên, cách dịch nghĩa được coi

là giải pháp tối ưu nhất, hợp lý nhất, luôn được đặt lên hàng đầu

T.éu kết: Các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt có mặt

trong mọi khía cạnh của cuộc sống của người Việt Và những chuyên danh chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong các từ ngữ vay mượn đó Các cách tiếp iứận chuyên danh cũng khổng nằm ngoài các cách xử lý đối với từ mượn

II K H Á I N IỆ M C H U Y Ê N D A N H

1 Quan niệm về thuật ngữ và việc nghiên cứu thuật ngữ:

1.1 Thê nào là thuật ngữ ?

Thuật ngữ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu dư')'i nhiều góc độ khác nhau Đã có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ Chỉ

Trang 18

riêng trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1997) đã có tới mười lăm (15) định nghĩa khác nhau về thuật ngữ.

Các nhà nghiên cứu Nga trong cuốn “Đại bách khoa toàn thư Xô

viết” dịnh nghĩa: “Thuật ngữ là một từ hoặc cụm lừ chỉ ra một cách chính

xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu lhị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc ỉrưnq cho phạm vi chuyên môn đó” [61, tr 473 - 474)]

Tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” AxMSHOBa A c

định nghĩa như sau: “Thuật ngữ là lừ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên

môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, V V J được sáng tạo ra (được liếp nhận, dược vay mượn V.V J đ ể biểu thị chính xúc các khái niệm và các đổi tượng chuyên môn ” [60, tr 474]

Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đưa ra định nghĩa

về Ihuật ngữ ở Việt nam Tiếp theo là định nghĩa của lác giả Nguyễn Văn

Tu Ông định nghĩa như sau: “Thuật Iigữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các

ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên [50, tr 176]

Sau Nguyễn Vãn Tu, một số nhà nghiên cứu như Đỗ Hữu Châu (1962), Lưu Vân Lăng (1979) cũng đưa ra định nehĩa về ihuật ngữ Trono cuốn giáo trình Việt ngữ, tập 2, “Từ hội học” tác giả Đỗ Hữu Châu

viết “Thuật ngữ là /ỉhữiiíỊ từ chuyên môn được sử dụng trong một ngành vật

lý, ngành toán học, hóa học, thương mại, ngoại giao Đặc tính của những tử này là phải c ố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tân một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất đ ịn ir [3.tr 167]

Năm 1985, nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa thuật

ngừ ngắn gọn như sau: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn

ngữ Nó bao gồm những lữ và cụm từ c ố định là tên gọi chính xác của các

Trang 19

loại khái niệm và các đui tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [20, tr 270]

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngừ nhưng các nhà

nuhiên cứu đều thống nhất rằng: thuật ngữ là những từ và cụm từ, biểu thị

chính xác các khái niệm thuộc một chuyên ngành nào đó.

1.2 Các đặc điểm của thuật ngữ:

Trong các hội nghị bàn về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu đã đi đến

thống nhất về các đặc điểm lính chính xác, tính hệ thống của thuật ngữ.

Đối với thuật ngữ tiếng Việt, có ba tiêu chuẩn chỉ đạo là khoa học, dân tộc, đại chúng, được cụ thể hóa là tính chính xác/ tính một nghĩa, tính

hệ thống, tính ngắn gọn, tính dẻ hiểu

Các nhà nghiên cứu còn nhắc nhiều dến tính quốc tế của thuật ngữ và

những tính chất khác nữa như kết cấu chặt chẽ (tác giả Lê Khả Kế).

1.3 Các tên gọi thuật ngữ:

Các nhà n^hicn cứu tiếng Việt hổi đầu thế kỷ 20 sử dụng tên gọi

“danh từ khoa học” (tác giả Hoàng Xuân Hãn), “tiếng khoa học”, “chữ

khoa học” (các tác giả của các bài báo bàn về thuật ngữ trcn tờ Khoa học

lạp chí các số 22, 31, 35 và số 39 năm 1932 ; trên báo Khoa học số 3, số 8

năm 1942 ) Sau đó lại xuất hiện các tên gọi như “thuật ngữ”, “thuật ngữ khoa học”, “thuật ngữ khoa học - kỹ thuật” vào những năm giữa thế kỷ 20 Năm 1980 tác giả Hồng Dân đề xuất tên gọi “chuyên danh” Cho đến nay tên gọi “thuật ngữ” được sử dụng phổ biến nhất

1.4 Các cách hình thành thuật ngữ:

GS Hoàng Văn Hành [25] xác định có 3 con đường hình thành thuậtngữ:

- Thuật ngữ hóa những từ ngữ thông thường;

- Mô phỏng thuật ngừ nước ngoài;

11

Trang 20

- Mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài.

Từ 3 con đường hình thành thuật ngữ như trên mà có 3 lớp thuật ngữ được tạo ra, khác nhau về hình t-hái và ngữ nghĩa trong vốn thuật ngữ tiếngViệt:

irong đó, cấu lạo thuật ngữ iheo phương ihứe mô phỏng thực chất là sử

dụng những yếu tố mô hinh cấu tạo từ tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật ngữ tưưng ứng trong tiếng nước ngoài Ví dụ: gaseous body - thê khí Đặc

điểm chung của những thuật ngữ đang xét là có tính dân tộc về hình thái và

có tính quốc tế Bởi vì, nếu chỉ xét về hình thái thì có thể coi những thuật ngữ này là thuật ngữ Việt Nhưng nếu xét về ngữ nghĩa, tức là mặt khái niệm do các thuật ngữ này biểu thị, thì có thể coi chúng là những thuật ngữ quốc tế

Phương thức mổ phỏng này được GS Nguyễn Thiện Giáp gọi là sao phỏng cấu tạo từ, bởi vì người ta dùng chất liệu tiếng Việt để cấu tạo một đơn vị lừ vựng dựa theo mẫu về kết cấu của đơn vị tương đương trong ngoại ngữ nào đó Như vậy, tiếng Việt chỉ tiếp nhận mẫu cấu tạo và ý nghĩa của các lừ trong ngôn ngữ khác mà thôi

1.5 Các giai đoạn tiếp nhận thuật ng ữ nước ngoài vào tiếng Việt:

Việc vay mượn thuật ncữ nước ngoài vào tiếng Việt có thể chia thành những giai đoạn chính như sau:

ỉ 5.1 Giai đoạn trước khi thực dân Pháp đô hộ nước ta:

Đây là thời kì văn hóa và ngôn ngữ nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa và ngôn ngữ Hán Cùng với các từ ngữ sử dụng trong cuộc sống đời thường đã có những thuật ngữ thuộc các lĩnh vực như triết học, Nho học, toán học, thời tiết, khí tượng thủy văn, tổ chức hành chính nhà nước,

Trang 21

quân sự xuất hiện trong tiếng Việt.

ỉ 5.2 Giai đoạn 1858 - Cách mạng tháng Tám năm 1945:

Đây là giai đoạn nước ta chịu ách đô hộ của thực dân Pháp Tiếng Pháp là nu ôn nuừ chính được dùng để giảng dạy trong nhà trường Cùng với thuật ngữ tiếng Pháp, một số thuật ngữ có gốc từ các ngồn ngữ khác (được

nu ười Pháp sử dụng) cũng du nhập vào tiếng Việt, ỏ giai đoạn này, các học

d a Việt nam đã chú ý tới việc sử dụng thuật ngữ nước ngoài, đã quan tâm tới việc phiên chuyển chúníỉ và đặt thuật ngữ mới trong tiếng Việt Họ đã có những cuộc thảo luận sôi nổi về những vấn đề trên và những quan điểm chính được nêu ra là:

- Dùntí các từ mượn Hán và các yếu tố Hán để tiếp nhận, phiên chuyển các thuật ngữ gốc Ấn - Âu sang tiếng Việt vì tiếng Hán gần với tiếng Việt (Dương Quảng Hàm, Vũ Công Nhi, Nguyễn Ưng)

- Nên dùng tiếng La tinh, Hy lạp để diễn đạt thuật ngữ vì chúng gần gũi và là gốc của nhiều ngôn ngữ Ấn - Âu Làm như vậy, thuật ngữ sẽ đảm hảo tính chính xác và mang tính quốc tế (Nguyễn Văn Thịnh)

- Phiên chuyển thuật ngữ sang tiếng Việt có kết hợp dùng các yếu tố Hán để giúp cho việc phiên chuyển được thuận lợi Mặt khác, nên dùng cả thuật ngữ Hán và Ấn - Âu (Hoàng Xuân Hãn, Đào Văn Tiên)

Trang 22

máy bay - phi cơ, động đất - địa chấn, cập nhiệt độ - nhiệt kế, đổng thời người la vẫn sử dụng thuật ngữ Hán - Việt, Pháp, ở một số ngành khoa học như điện, cơ khí, địa chất, sinh học, y do đặc thù riêng của nhữni; ngành này Bên cạnh đó, trong tiếng Việt bắt đầu dần xuất hiện các thuật ngữ gốc tiếng Nga, Đức Nhiều thuật ngữ được phiên sang tiếng Việt với mục đích “sử dụng chúng một cách sáng tạo, làm cho chúng trở thành thuật ngữ của dân tộc ta, đồng hóa vào tiếng Việt” (Bản qui định tạm thời về qui tắc phiên thuật ncữ nước ngoài trong tiếng Việt, tr.234)

ở Miền Nam việc xây dựng thuật ngữ cũng được quan tâm Năm I960 Ban soạn thảo danh từ khoa học được các nhà giáo và các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề thuật ngữ thành lập, đến năm 1967 chính quyền ngụy phải thành lập ủ y ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn Các thuật ngữ chủ yếu được phiên từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt dựa theo cách đọc hoặc cách viết

1.5.4 Từ sau 1975 đến nay:

Sự thống nhất đất nước đã tạo điều kiện cho tiếng Việt nói chung và

bộ phận thuật ngữ của nó phát triển lên một bước mới và có sự thống nhất siữa hai miền Vấn đề “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” trở thành mối quan tâm của cả quốc gia, nhất là của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhiều cuộc hội thảo về việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài và chuẩn hóa thuật nuữ tiêng Việt đã được tổ chức Bộ Giáo dục đã quyết định lấy việc giữ nguyên dạng thuật ngữ nước ngoài là phương hướng chủ đạo nhưng trong thực tế, nhiều thuật ngữ vẫn được Việt hóa cả về cách đọc và cách viết Ví

dụ như: k ê n h , a n ỉe n , p h a

Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta mở cửa nền kinh tế, hội nhập toàn cẩu Cùng với cuộc cách mạní; khoa học - công nghệ và sự bùng nổ thông tin trên toàn cẩu, làn sóng thuật ngữ nước ngoài nhập vào tiếng Việt càng mạnh mẽ hơn nhiều và đặt ra những thách thức mứi cho các nhà chuyên

Trang 23

ngữ mởi thông qua cách chuyển dịch thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt (với mục đích làm giàu cho ngôn ngữ của ta) nhưng xu hướng quốc tế hóa, sziữ nguyên các thuật ngữ nước ngoài (với lí do tiết kiệm, và đôi khi tiếng Việt khônií chuyển tải hết nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ nước ngoài) cũng trử nên mạnh hơn.

2 Q uan niệm về chuyên danh:

Tại hội nghị ngôn nuữ học “Về vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ” được tổ chức tháng 7 - 1980, tác giả Hổng Dân (Đại học Tổng hợp thành phố Hổ Chí Minh) đã có một bản tham luận, trong dó ông đặt cho bộ phận từ ngữ này một tên gọi khác là “chuyên danh” để thay cho các tên gọi như “thuật ngữ”, “thuật ngữ khoa học”, “thuật ngữ khoa học - kỹ thuật”, “danh từ khoa học”, “danh từ chuyên môn” với những luận điểm khá rõ ràng và chặt chẽ như sau:

a) Chuyên danh là bộ phận phát triển mạnh mẽ nhất trong vốn từ của một ngôn ngừ ở thời kỳ mà khoa học, kỹ thuật có những bước tiến nhảy vọt Trong tình hình đó, sự thiếu thống nhất chuyên danh là khó tránh khỏi Hiện tượng không thống nhất chuyên danh là khi một khái niệm trong một ngành chuyên môn được biểu đạt bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau mà mỗi hình thức ngôn ngữ này không hề phản ánh một sắc thái riêng nào khác của khái niệm đó

“danh từ khoa học”, “danh từ chuyên môn”, “danh từ chuyên khoa”,

“thuật ngữ”, “thuật ngữ khoa học”, “thuật ngữ khoa học - kỹ thuật”

là những chuyên danh thuộc về hiện tượng ấy

b) Trong khi đó, chuyên danh là bộ phận ngôn ngữ không chấp nhận hiện tượng một khái niệm được biểu đạt bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau, tức là hiện tượng đổng nghĩa Chính loạt chuyên danh

“danh từ khoa học”, “danh từ chuyên môn”, “danh từ chuyên khoa”,

“thuật ngừ”, “thuật neữ khoa học”, “thuật ngữ khoa học - kỹ thuật”, đã không thỏa mãn yêu cầu vừa nêu vì đây là những chuyên danh

15

Trang 24

hoàn toàn đổng nghĩa Hơn nữa, ông còn nêu ra những nhược điểm riêng của mỗi chuyên danh, như: không bao quát được nội dung khái niệm cần biểu thị (“danh từ khoa học”, “danh lừ chuyên môn”, “danh

từ chuyên khoa”), hoặc gây ra cách hiểu mơ hổ (“thuật ngữ”), hoặc vấp phải hiện tượng đồng âm (hai tiếng “danh từ” trong “danh lừ khoa học”, “danh từ chuyên môn”, “danh từ chuyên khoa” đồng âm với một danh từ dùng trong hệ thống các loại của từ )

c) Dựa vào nhữniỉ tiêu chuẩn đặt ra đối với một thuật ngừ như tính chính

xác, tính dân lộc (tính bản ngữ - theo cách dùng từ của ôngj, tính ngắn gọn, lính hệ thông, lính dân tộc, tính dễ dùng ông cho rằng

những tên gọi trên không đáp ứng được các tiêu chuẩn đó Theo ông, chuyên danh, với tư cách là tên gọi của khái niệm chuyên môn, phải

có đầy đủ tính chấl của một đơn vị định danh Tính chất này của chuyên danh gồm mấy điểm cụ thể sau:

- Chuyên danh phải có tính ổn định về cấu tạo Kết cấu của chuyên danh là một khối chặt chẽ, hoàn chỉnh, ít có khả năng biến đạnc Các tên gọi “thuật ngữ”, “thuật ngữ khoa học”, “thuật ngữ khoa học - kỹ thuật” tỏ ra không đạt yêu cầu này của chuyên danh

- Chuyên danh phải có tính ngắn gọn Càng ngắn gọn thì càng ổn định

về cấu tạo Ví dụ, đối với nhiều chuyên danh, quá trình ổn định kết

cấu cúng là quá trình rút gọn: hàng không mầu hạm —> tàu chở máy

bay —> tàu sán bay; xe ô tô vận tải —> xe í ải;

- Là đơn vị định danh, chuyên danh phải có tính dễ tách biệt với mọi

ngữ cảnh trong chuỗi lời nói Tính dễ tách biệt này chứns tỏ rằng nội dung mà chuyên danh biểu thị không bị ngữ cảnh chi phối Đổng thời, chuyên danh cũng phải có sức sản sinh, tức là có thể làm thành

tố cấu tạo nên những chuyên danh ở bậc khác khi cần thiết Chẳng hạn, khi cần đặl tên gọi cho bộ môn khoa học nghiên cứu về chuyên danh (chuyên danh học) thì trong loạt chuyên danh chỉ có “thuật ngữ” là có sức sản sinh (“thuật ngữ học”), còn những chuyên danh

Trang 25

t J A l >C7IM r i ^

'RUNG TAM -HONG TIN ĨHƯ VIỆN

W l Z) 505"

khác không có sức đó

Vì vậy, chúng tôi, trong quá trình thực hiện đề tài, sẽ sử dụng tên gọi

“chuyên danh” chứ khỏng sử dụng các tên gọi khác để nghiên cứu về bộ phận từ ngữ đặc biệt này

Trong luận văn của mình chúng tôi không nghiên cứu các chuyên danh là một từ đơn vì các từ đơn thường ít gây khó khăn cho người học ngoại ngữ khi phải dịch nghĩa chúng sanu tiếng Việt bởi họ có thể tra từ điển Chúng tôi quan tâm đến chuyên danh có kết cấu gồm hai từ trở lên Các từ ghép có gây khó khăn cho người học mặc dù nhiều khi không phải là khó khăn lớn vì họ vẫn có thể biết dược nghĩa của chúng qua việc tra từ điển Nhưng không phải tất cả các từ ghép tiếng Anh đều xuất hiện Irong từ điển Vả lại, trong tiếng Anh còn có những từ ghép không phải là kết hợp danh từ + danh từ Riêng các trường hợp ghép có 3 từ trở lên thì thực sự là một khó khăn đối với người học vì chúng thường không có mặt trong từ điển và ở đây các quan hệ cú pháp biểu hiện rất đa dạng Mac dù không nhiều nhimg rõ ràng là không phải không có những chuyên danh gồm nhiều

từ ghép như vậy Hơn nữa, khi chuyên danh là một danh từ Rhép (compound noun) kết hợp với các từ bổ nghĩa như tính từ hoạc một danh từ khác nữa để tạo ra một ngữ chảng hạn, chúng càng gây nhiều khó khăn hơn nữa cho người học Với suy nghĩ như vậy, trong luận văn này, chúng tôi dùng

“chuyên danh ” với cách hiểu rộng hơn Đó không chỉ là những từ ngữ chỉ các khái niệm chuyên môn mà còn cả những ngữ danh từ có thành phẩn là chuyên danh nữa

Nổi đến ngữ danh từ thì phải lưu ý rằng: danh từ chính có thể có Ihành phần phụ ở cả trước và sau nó Thành phần phụ đứng trước danh từ của tiếng Anh có khác với tiếng Việt Trong tiếng Việt, ihành phẩn đứng trước danh từ có 4 vị trí theo trật tự từ xa đến gần danh từ chính là: - 4 - 3

- 2 - 1 Trong đó, ở vị trí số 4 là các danh từ chỉ khối lượng như “tất cả”,

“toàn bộ”, “hết thảy” v.v Vị trí 3 thường do các từ chỉ số lượng đảm nhiệm, vị dụ các từ như “những”, “các”, “mười” v.v ở vị trí số 2 là một

17

Trang 26

hư từ dùng để nhấn mạnh, chỉ đích danh sự vật Đó là từ “cái” Còn vị trí số

1 thì thường là các từ chỉ khái niệm “đơn vị” (cả đơn vị tự nhiên và đơn vị qui ước) như “cây”, “con”, “cân”, “thước” v.v Ở sau danh từ chính các thành phần phụ trong tiếng Việt có 2 vị trí theo thứ tự từ gần đến xa là 1 và

2 Rất nhiều loại từ khác nhau có thể đảm nhiệm vị trí này như động từ, tính

từ, số từ để chỉ thứ tự, danh từ, các từ chỉ phương vị Ví dụ: “chính sách tiết

kiệm”, “cuốn sách cũ”, “phòng 72”, “sách í oán", “gió nam" v.v Các thực

từ làm thành tố phụ ở sau danh từ chính luôn có khả năng dược mở rộng

nghĩa ncn các ngữ khác nhau cũng chiếm vị trí này Ví dụ: “cuốn sách anh

cho mượn”, “ngôi nhà cha tôi xây năm ngoái”, v.v Vị trí 2 do các từ có ý

nuhĩa chỉ trỏ đảm nhận như “này”, “kia”, v.v

Trong khi đó, thành phần phụ đứng trước danh từ chính trong tiếng Anh xếp theo thứ tự từ xa đến gần là - 6 - 5 - 4 - 3 - 2 - 1 ở vị trí số

6 là các từ chỉ khối lượng, giống như trong tiếng Việt như “all”( tất, cả),

“both” (cả hai), Vị trí số 5 là của mạo từ , hoặc tính từ sở hữu hoặc danh

từ ở cách sở hữu Vị trí 4 là của số từ thứ tự Vị trí 3 là của số từ só lượng

Vị trí 2 là của tính từ còn vị trí số 1 là của danh từ Nhưng thông thường danh từ ở vị trí số 1 ghcp với danh từ chính để tạo thành danh từ ghép

Như vậy ta có thể thấy chỉ có vị trí 6 và vị trí 3 là giống tiếng Việt.Các thành phẩn phụ đứng sau trong danh ngữ tiếng Anh thường bịcách với danh từ chính bởi một giới từ, liên từ, Trong luận văn này,chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến loại thành phẩn phụ dứng trước danh từ chính trong danh ngữ, khác với tiếng Việt, mà thôi Giữa các thành tố trong những kết cấu này luôn có quan hệ chính - phụ nhưnỉ; các biểu hiện cụ thể của quan hệ này sẽ khác nhau tùy thuộc vào số lượng các thành tố

Trang 27

III NGHIÊN c ú u Đ ố i C H lẾư CÁC NGÔN NGỮ

1 Ý nghĩa của nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ nói chung:

Nghicn cứu đối chiếu hình thành trong trào lưu nghiên cứu so sánh chung Song phải nói rằng, nghiên cứu đối chiếu hình thành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữ một cách nhanh hơn, tốt hơn Chính các yêu cẩu của việc học và dạy ngoại ngữ là một nhân tố quan trọng dẫn đến sự hình thành phân ngành khoa học này

Nhà ngôn ngữ học Pháp Di Pietrô đã viết trong cuốn “Cấu Irúc ngón ngữ

qua đối chiếu” rằng: “Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời từ kinh nghiệm dạy

tiếng Mỗi n^ưừi học và dạy ngoại ngữ dễ dàng nhận ra một điều là trong nhiều trường hợp, tiếng mẹ đẻ đã cản trở không nhỏ việc hiểu và nắm thuần thục ngoại ngữ, Vì vậy, việc tích lũy những tri thức và kinh nghiệm sẽ giúp

ta khắc phục một cách có hiệu quả khó khăn này”.[48, tr.34]

Nhưng những kết quả của ngôn ngữ học đối chiếu cũng không phải chỉ được ứng dụng trong việc dạy và học ngoại ngữ Viện sĩ I.V.Secba cho rằng, nghiên cứu đối chiếu còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn tiếng mẹ đẻ,

vì rằng nó giúp chúng ta thâm nhập sâu sắc hơn vào cấu trúc ngôn ngữ dân tộc Hơn thế nữa, nó còn được áp dụng cả trong việc phiên dịch, soạn sách

và từ điển, trong lý thuyết ngôn ngữ và có ý nchĩa về mặt lý luận, đặc biệt

là vấn đề phổ niệm, ngữ pháp phổ quát, loại hình học [48, tr.50 - 74]

Về việc dịch thuật ngôn ngữ học đối chiếu có ứng dụng không nhỏ Việc dịch thuật bất cứ một loại văn bản nào (vãn học nghệ thuật, nghị luậnchính trị xã hội, khoa học kỹ thuật V V ) đều đụng chạm đến hai bìnhdiện: ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ Trong cái nghĩa phiên dịch là sự chuyển

mã của hai ngôn ngữ, rõ ràng trước hối phải miêu tả những phương tiện biểu đạt khác nhau rồi sau đó mới tuyển chọn nhữnỉĩ phương tiện ấy theo cái tỉ trọng của sự tác động những tiêu chuẩn ngoài ngôn ngữ Trong giai đoạn thứ nhất, hiển nhiên, không thể không dựa vào cơ sở ngôn ngữ mà sự phân

tích, miêu tả nó phải theo phương pháp hệ ngôn ngữ học Trong giai đoạn

Trang 28

thứ hai rõ ràng phải tính đến những qui định của văn hóa, lịch sử, phong tục, xã hội làm nền cho tác phẩm dịch Tuy vậy, điều dễ nhận thấy về sự khác nhau giữa nghiên cứu đối chiếu và lý luận phiên dịch là ở chỗ một bên

nghiên cứu sự tương đổng và dị biệt hoặc đặc trưng riêng của mỗi ngôn ngữ trong sự so sánh, đối chiếu với ngôn ngữ khác, còn bên kia là xem xét sự

tương đương của các phương tiện biểu đạt khi thê hiện một nội dung đổng

Rađô tuyên bố trong cuốn “Ngớ/Ỉ ngữ qua các nền văn hóa” (1957) rằng:

“Những yếu tố ngoại ngữ giống tiếng mẹ đỏ sẽ học được một cách dỗ dàng, còn những yếu tố khác biệt thì sẽ khó khăn hơn Vì vậy, cần thiết tìm các khác biệt” [36, tr.l 1 - 12] Trong giảng dạy, giáo viên cần chú ý nhiều hơn đến việc cung cấp nhữníỉ đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ cho người học Hiệu quả giảng dạy sẽ hạn chế nếu người dạy không có hiểu biết về những nét giống và khác nhau đó Thêm vào đó, ngôn ngữ học đối chiếu còn chỉ dẫn cho người học những khó khăn lớn nhỏ cần biết để khắc phục và giúp họ khắc phục lỗi trong khi học và sử dụng ngoại ngữ Lỗi là sản phẩm của một mối quan hệ tương phản trong việc chuyển đạt thông tin và cũng cho thấy nguyên nhân của sự biến dạng đó Vì vậy ta cần thu thập, hệ thống hóa và phân tích nghiên cứu Thiếu nó (lỗi) chúng ta không thể có được một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ diễn ra trong cảm thức ngồn ngữ của người học Và như vậy, khối tài liệu về lõi khi học và sử dụng ngoại ngữ do ảnh hưởno của tiêng mẹ đẻ sẽ phục vụ một cách đắc lực cho việc nghiên cứu đối chiếu từ nhiều góc độ khác nhau của nó Và ngược lại, nghiên cứu đối chiếu, xét về nhiều mặt, là thực sự có ích cho việc học, dạy, cho việc sử dụng ngoại ngữ nói chung

Trang 29

2 Nghiên cứu đối chiếu chuyên danh:

Chuyên danh là một bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nghiên cứu đối chiếu chuyên danh do đó cũng đi tìm những sự tương đổng và dị hiệt nhằm áp dụng vào thực tiễn dạy và học ngoại ngữ, cụ thể là ngoại ngữ chuyên ngành, vào việc soạn từ điển chuyên ngành và cả về mặt lý luận

nu ôn nil ừ.W c ?

Tiểu kết: Như vậy, nghiên cứu đối chiếu ra đời nhằm khắc phục khó khăn

tro nu dạy và học ngoại ngừ là điều dễ hiểu Song, muốn đối chiếu các ngôn nụữ có kết quả thế nào cũng phải đặt cư sở trên những cái giống nhau nhất định vốn không thể không có giữa các ngôn ngữ

21

Trang 30

1 Knái niệm ‘công nghệ môi trường’ :

Công nghệ môi trường ra đời và phát triển do sự quan tám ngày càng nhiều của công chúng đến các vấn đề môi trường và đòi hỏi ngày càng tăng của pháp luật về những vấn đề ấy

“Ngành CNMT áp dụng các nguyên lý, các kết quả nghiên cứu của

kỹ thuật và khoa học môi trường vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống” [1, tr.136]

Công nghệ môi trường có các lĩnh vực hoạt động như kiểm soát các loại ô nhiễm; xử lý các loại chất thải; giám sát, qui hoạch, đánh giá tác động môi trường; thực hiện phát triển bền vững, Đây là một ngành liên quan đến nhiều ngành khoa học khác như sinh học, hóa học, địa lý, nông nghiệp,

2 Khái niệm chuyên danh chuyên ngành cóng nghệ mỏi trưcmg:

Cồng nghệ môi trường là một ngành mới phát triển ở Việt nam, bắt đầu từ khi Đảng ta thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới Ncuốn tài liệu chuyên ngành vào Việt nam hầu hết là bàng tiếng Anh với một phẩn trong số đó được các nhà chuyên môn dịch ra tiếng Việt Qua những tài liệu đó, cùng với khái niệm về “chuyên danh” nói chung, ta có thể hiểu chuyên danh chuyên ngành CNMT là những từ và cụm từ gọi tên các khái niệm, đối tượng dùng trong các lĩnh vực của CNMT

Trang 31

II ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐƠN VỊ CHUYÊN DANH CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ MÔI TRUỒNG TIÊNG ANH

Khi đề cập đến hình thức của một chuyên danh, chúng tồi muốn nói

đến cách kết cấu (quan hệ cú pháp) và từ loại của đơn vị thành phần cấu tạo

nên chuyên danh Còn khi đề cập đến nội dung của chuyên danh, chúng tôi

muốn nói đến mặt ngữ nchĩa của đơn vị thành phần trong chuyên danh

1 Đặc điểm của các đon vị chuyên danh chuyên ngànli Công

nghệ mỏi trường tiếng Anh có cấu tạo gồm 2 từ:

Các đơn vị chuyên danh có cấu tạo gồm hai từ là các danh từ ghép

liếng Anh (compound noun) và cả một số danh ngữ Danh từ ghép tiếng

Anh là những danh từ gồm có 2 íừ (word) dùng để định danh Danh ngữ là

những cụm từ có quan hệ chính - phụ, 1 danh từ đóng vai trò chính và từ bổ

nchĩa cho danh từ đó Chúng tôi không bàn đến mạo từ (alan & ĩhe) và các

từ chỉ số lượng của tiếng Anh trong danh ngữ ở các phẩn sau của luận văn

Chúng tôi loại trừ mạo từ vì cách sử dụng mạo từ chỉ liên quan đến danh từ

chứ không liên quan đến các thành phần khác trong danh ngữ, mặc dù trong

các sách ngữ pháp tiếng Anh, mạo từ luôn được tính là một trong những

thành phần chính thức của danh ngữ v ề mặt ngữ nghĩa, mạo từ chỉ đóng

vai trò duy nhất là cho thấy danh từ (có hoặc không có các từ bổ nghĩa đi

kèm) có được cả hai bên tham gia giao tiếp biết đến với mức độ như nhau

hay không, chứ không ảnh hưởng đến rmhĩa từ vựng của danh ngữ Khi dịch

sang tiếng Việt, nhiều khi mạo từ tiêng Anh không được dịch ra vì không

cẩn thiết, (trường hợp mạo từ không xác định a/an) hoặc dịch thành từ chỉ

số lượng “mộ/” Còn mạo từ xác định “lìỉể' thì nếu được dịch thì thường

được dịch sang các từ chỉ định của liốrm Việt như là “này”, “kia”, “đổ",

Các từ chỉ lượng như (hai), “ihree” (ba), “many”! “much”

(nhiêu), “ứ few ”(một sô), “a little'’ (một ít) có trật tự kết hợp trong danh

Trang 32

ngừ giống với tiếng Việt, vì vậy, người học ít khi mắc lỗi Chỉ có “few”/

“little” (không có mạo từ “ứ”) với ý ntỉhĩa từ vựng và cách dùng có khác với

“ứ fe w ”ỉ “ứ little” thì chúng tồi mới chú ý khi thu thập tư liệu.

7.7 Đặc điểm cấu tạo:

Danh từ ghép tiếng Anh có quan hệ chính - phụ và theo chiều phụ trước - chính sau

Theo ông Trẩn Văn Điền, lác siả quyển “ Văn Phạm Tiếng Anh Thực Hành”, NXB Thành phố Hổ Chí Minh, 1995 thì có những cách cấu tạo danh

từ ghép như sau:

1 Danh từ + danh từ school boy; country girl; classroom

2 Danh động từ + danh từ dining car; living room;

3 Tính từ + danh từ blackboard; grandfather; (luôn viết

6 Nhiều tiếng hỗn tạp father-in-law; forget-me-not;

Trong cuốn A practical English Grammar, hai tác giả A.J Thomson

và A v Martinet đã nêu ra những cách ghép chủ yếu như: danh từ + danh

lừ (loại 1 theo bảng trên), danh từ + danh động từ và danh dộng từ + danh

từ Mặc dù trong sách này hai tác giả không khẳng định là có danh từ ghép gồm tính từ + danh từ nhưns: trong từ điển ta có thể bắt gặp những từ ghép như vậy, và không phải lúc nào chúng cũng viết liền Có thể nói, xác định đâu là từ ghép và đâu là cụm từ tự do trong trường hợp này chắc chắn sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác Và chúng tôi cũng sẽ không đi sâu thêm

về vấn đề này

Trang 33

Trong số gần 200 chuyên danh mà chúng tôi thu thập và đưa ra cho sinh viên tập dịch thì loại 1 (theo thứ tự nêu trong bảng trên), (có cấu tạo là danh từ + danh từ), có số lượng nhiều hưn nhiều so với các cách cấu tạo danh từ ghép khác Điều đó chứng tỏ đây là cách cấu tạo danh từ ghép phổ biến nhất.

Chuyên danh có cấu tạo là tính từ + danh từ đứng thứ hai về số lượng Chúng không được viết liền nhau và chỉ có một số là những từ ghép Còn những chuyên danh khác khỏnc phải là nhữnc danh từ uhép mà là một danh

n e ữ

Có một hình thức từ đặc biệt trong tiếng Anh là phán từ 2 (P2) Hình

thức từ này được cấu tạo từ động từ và có thể được dùng như một tính từ để

bổ nghĩa cho danh từ Nhưng chúng có những đặc điểm ngữ nghĩa khác với những tính từ chỉ tính chất hay quan hệ và sẽ được nêu lên cụ thể ở phần sau

Kết quả thu thập cụ thể như sau:

Trang 34

1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa:

Ngữ nghĩa của các chuyên danh cấu tạo gồm 2 từ thành phần thường

do ngữ nghĩa của 2 thành phần đó ghép ỉại, trong đó thành phần phụ có vai trò hổ túc nghĩa cho thành phần chính về nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài nuhĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp của các loại từ cũng có vai trò nhái định trorm nôi dunu của chuyên danh

1.2.1 Kiểu kết cấuịdatih lừ + danh từ):

Trong 1 danh từ ghép (ghép bởi 2 danh từ), danh từ đứng trước bổ túc nghĩa cho danh từ đứng sau về nhiều phương diện Sau đây là một số phương diện dược ông Trần Văn Điền tổng kết (sđd, tr.25):

- Thời gian: night dress; afternoon class;

- Không gian: village church;

- Chất liệu: gold ring; wood sh o e ;

- Giá trị: penny stamp; pound note;

- Mục đích: tea cup; tooth brush;

- Giống nhau, tương trợ: tissue paper; ice cream;

- Nguồn gốc, sở hữu: cat tail; city centre;

Trong cuốn A practical English Grammar, hai tác giả A.J Thomson

và A v Martinet nêu ra những phương diện như: bộ phận (picture frame:

khung Ị ranh), khổng gian, thời gian, chất liệu, mục đích, nơi sản xuất và sản

phẩm (gold mine: mỏ vàng), nơi sản xuất và loại công việc (assembly plant:

nhà máy lắp ráp), nội d u n g

Trong các chuyên danh là danh từ ghép theo tư liệu của chúng tôi thu thập được các phương diện bổ túc nỉĩhĩa như thời gian, giá trị, .lại hầu như không có Còn các phương diện khác thì có số lượng ví dụ thu ihập được rất khác nhau được thể hiện trong bảng tổng kết sau:

Trang 35

ị STT Phương diện bổ nghĩa Số lượng Ví dụ

- Phương diện mục đích như cách gọi của ông Trần Văn Điền chúng tôi thấy chưa thỏa đáng vì ông gộp cả phương diện hành động và đối tượng vào đó Chuns tôi cho rằng nên tách ra thành 2 phương diện riêng biệt

- Ngoài các phương diện nêu trong bảng trên còn có những phương diện khác nữa như nguồn gốc, về mức độ, về sở hữu (hay là phương diện bộ phận và loàn thể) nhưng mỗi phương diện chúng tôi chỉ tìm được 1 ví dụ, vì vậy chúng tôi không đưa vào trong bảng

Ví dụ: car exhaust: khói ô tô; top hunter: động vật săn mồi bậc cao

nhất; Earth surface: mặt đáì

1.2.2 Loại danh động từ + danh từ:

Danh động từ là một dạng thức đặc biệt được cấu tạo từ động từ tiếng Anh, có tận cùng là “-ing” Tên gọi của loại từ này xuất phát từ tính chất đặc biệt của nó: có tính chất của dộne từ (chỉ một hành động hay một trạng thái đang diễn ra) và đồng thời có tính chất của danh từ (có thể đi với các mạo từ, có thể được bổ nghĩa bởi tính từ và có thể đóng vai trò của danh từ

ử tron <4 câu như chủ ne ừ, bổ ngữ )

27

Trang 36

Trong kết cấu loại này, về mặt nghĩa, tính chất động từ của danh động từ nổi bật lên Do tính chất của động từ mà khi ghcp với một danh từ Jứng sau để tạo thành danh từ ghép, nó chỉ ra hành động mà danh từ đứng sau thực hiện hay trạng thái mà danh từ dứng sau đang gây ra (cho một đối tượng nào đó khác).

Ví dụ: decomposing animal (động vật phàn hủy/ ăn xác c h ế t),

Cũng có khi danh động từ nêu ra mục đích sử dụng: reducing

substance (chất qây ô xi hóa), cleaning system (hệ lìiống làm sạch)

1.2.3 Loại danh ìừ + danh động từ:

Với tính chất đặc biệt của mình, khi một danh từ ghép được tạo ra bởi một danh từ đứng trước ghép với danh động từ đứng sau thì danh từ đứng xước thường là bổ ngữ của động từ cấu tạo nên danh động từ:

Space heating (sưởi ấm không gian (trong phòng kín)), refuse burning

Trong kết cấu này, danh động từ có tính chất danh từ vì danh động từ

ớ đây thường chỉ quá trình, hành động, còn tính từ chỉ ra những tính chất khác nhau của quá trình, hành động đó Ví dụ như:

Permanent covering (sự che phủ vĩnh cửu): phương diện thời eian

M odem terracing (cách lảm ruộng bậc thang hiện đại): phương thức

hành độnc

Environmental enqincering (cóng nghệ mói trường), civil engineering {xây dựng dân d ụ n g ) : phán loại

Trang 37

1.2 5 Loại phán từ 2 (P2) + danh từ:

Như trên đã trình bày, phân từ 2 được sử dụng như là một tính từ để

bổ nuhĩa cho danh từ nhưng nó hoàn toàn khác với tính từ

Phân từ 2 là một dạng thức được cấu tạo từ động từ Ngoại trừ các trường hợp bất qui lắc, các trường hợp có qui tắc đều có tận cùng là “-ed” Phân từ 2 có tính chất bị động Nó biểu hiện một hành động đã được thực hiên xons hoăc một trang thái cây ra hởi một đối tượng khác Do đó, khi ghép với một danh từ đứnụ sau, phân từ 2 thườns chỉ ra trạng thái của danh

từ đang có (kết quả của hành dộng gây ra trạng thái đó của một chủ thể khác) hoặc là chỉ ra hành động mà danh từ là đối tượng và tạo thành cụm từ chỉ kết quả của hành động được thể hiện bởi động từ tạo ra phân từ 2 Điều này làm cho ngữ nghĩa của chuyên danh có kết cấu này có điểm khác biệt với những chuyên danh có một tính từ ihông thường bổ nghĩa cho danh từ

Ví dụ:

Industrilized country (nước công nghiệp hóa), developed country

(nước phái triển), polluted water (nước bị ô nhiễm), domesticated plant (thực vật thuần hóa)

1.2 6 Loại tính từ + danh từ:

Tính từ trong tiếng Anh được chia thành nhiều loại theo nội dung ngữ nghĩa và khi có nhiều tính từ bổ nghĩa cho một danh từ thì trật tự của chúng trước danh từ rất phức tạp Điều này rất cần được lưu ý khi chuyển dịch sang tiếng Việt Mỗi tác giả lại có cách phân chia và sắp xếp với mức độ kỹ càng khác nhau nhưng ít nhiều đều có sự thống nhất chung Ông Raymond Murphy, tác giả cuốn Grammar in use (Ngữ pháp tiếng Anh thông dụng), NXB Cambridge 1989, chỉ chia ra làm hai loại lớn là loại nhận xét (opinion) và loại sự kiện (fact), trong đó loại sự kiện chiếm số lượng áp đảo Loại này dùn‘4 để miêu tả (màu sắc, kiểu dáng, tuổi, nguồn gốc, chất liệu.v.v ) và trật tự của chúng ở trước danh từ là:

1 kích cữ 2 tuổi 3 màu sắc 4 nguồn gốc 5 chất liệu

Trang 38

với vị trí 5 là gẩn danh từ nhất.

Tác giả Trần Văn Điền (sđd) nêu ra các loại tính từ như sau:

- Tính từ riêng (xuất phát từ một danh từ riêng): Vietnamese,

English (chỉ nguồn gốc, xuất xứ)

- Tính từ miêu tả: round, bad, tall (chỉ phẩm chất): nhiều nhất

Về trật tự của các tính từ đứng trước danh từ ông đưa ra 5 kiểu sau:

1 Tính từ sở hữu, tính từ chỉ thị, tính từ bất định đi đầu

2 Tính từ chỉ thứ tự trước tính từ chỉ số đếm

3 Tính từ miêu tả đi trước tính từ chỉ màu săc

4 Tính từ chỉ quốc gia dân tộc đặt sau cùng

5 Danh từ dùng như tính từ phải đặt liền trước danh từ (danh từ ghép)

và ông lưu ý rằng nếu có nhiều tính từ miêu tả thì tính từ ngắn đặt trước tính

từ dài, tính từ chỉ tinh thần trước tính từ chỉ vật chất

Trong cuốn A practical English Grammar, hai tác giả A.J Thomson

và A v Martinet đã đưa ra những loại tính từ sau:

- Tính từ chỉ định: this, that, these, those

- Tính lừ phân bố: every, each,

- Tính từ chỉ lượng: some, any, no,

- Tính từ nghi vấn: which, what, whose

- Tính từ sở hữu: my, your, his, her

- Tính từ chỉ phẩm chất: clever, dry, g o ld en ,

Trong các nhỏm tính từ trên, nhóm chỉ phẩm chất chiếm số lượng áp đảo, còn các nhóm khác thì có số lượng hạn chế Nhóm chỉ phẩm chất tùy

Trang 39

theo nội dung ngữ nghĩa từ vựng lại có thổ chia thành những nhổm nhỏ hơn như: kích cữ, tuổi, hình dáng, màu sắc, chất liệu, nguồn gốc, mục đích,nhận xét chung v ề cách sắp xếp, các tác giả cho rằng “có nhiềuphương án” và họ đưa ra một phương án thường dùng như sau:

ngoài ra còn có chú thích rằng: tính từ chỉ ý kiến cá nhân di sau tính từmiêu lả, các tính chất vật lý và phải đứng trước tính từ chỉ màu sắc

Theo nhà giáo Nguyễn Ngọc Thạch (Trường Đại học Neoại ncữ Hà Nội) thì các tính từ chỉ phẩm chất bổ nghĩa cho danh từ được sắp xếp theo thứ tự từ xa nhất đến gần nhất như sau:

II Mục đích (purpose) 10 Kiểu loại (type)

9 Chất liệu (material) 8 Nguồn gốc (origin)

1 Nhận xét, ý kiến cá nhân (opinion)

Nííoài ra, ỏng cũng chú thích thêm rằng: trong thực tế sử dụng, ít khi người ta dùng tất cả các khả năng trên mà chỉ dùng tối đa 3 - 4 tính từ phẩmchất cùng lúc mà thôi Cũng có khi người ta sắp xếp theo nguyên tắc từ ít

âm tiết hơn (từ ngắn) đứng trước, từ nhiều âm tiết hơn (từ dài hơn) đứng sau Trong khi thu thập tư liệu chúng tôi cũng thấy rõ rằng neười ta chỉ dùnsi tối đa 3 - 4 tính từ phẩm chất cùng lúc Cụm từ dùng nhiều tính từ nhất chúng tôi thu thập được gồm có 4 tính từ phẩm chất đứns trước bổ nghĩa cho một danh từ đứng sau Nhưng những danh ngữ gồm từ 3 từ trở lên chúng tôi sẽ đề cập đến ở những phần sau của luận vãn

Mặc dù được phân chia khá kỹ càng (nhiều nhất là đến 11 nhỏm nhỏ khác nhau) nhưng thực tế vấn đề còn phức tạp hơn nữa Trong tiếng Anh, hầu hết các danh từ đều có dạng tính từ tương ứng Điều này làm cho số lượng và ngừ nghĩa của tính từ tăng lên rất nhiều và việc phân chia càng trử

Trang 40

nên rất khó khãn Bởi vì một danh từ thường có nhiều nehla và có khi mỗi nghĩa lại có một tính từ tương ứng Ví dụ:

Economy 1 nền kinh tê —> economic

2 tiết kiệm —> economical

Khi đó nghĩa từ vựng của tính từ là khá rõ ràng Nhưníi khi các nghĩa của danh từ chỉ có chung một (jạn<4 tính từ thì người học thường phải rất cẩn thận khi chọn nghĩa Có lẽ chính vì vậy mà một số tác giả mới gọi chúng là nhóm tính từ miêu tả hay “sự kiện” và chỉ phân biệt một số tiêu biểu và dễ nhận ra trong đó mà thôi

Với loại danh ngữ có hai từ gồm tính từ + danh từ (kể cả nhừne tính

từ ở dạng so sánh hơn và so sánh nhất) chúng tôi chỉ chọn loại tính từ chỉ phẩm chất + danh từ vì nghĩa của nhóm này rất đa dạng và gần như không theo một qui luật nào như đã trình bày ở trên Chính vì tính từ có sự đa dạng

về nội dung ngữ nghĩa và sự sắp xếp phức tạp như vậy nên khi có nhiều tính

lừ hổ nghĩa cho một danh từ, người học mới £ặp khó khăn khi lĩnh hội và dễ mắc lỗi

Organic material (vật liệu hữu cơ)', global warming (sự ấm lên loàn

cấu); natural emisions {phát thải tự nhiên)', natural enermy {thiên đ ịc h )

Để có thể hình dung được kết cấu hình thức và nội dung của loại chuyên danh gồm 2 từ chúng ta hãy xem bảng sau:

B Ả N G 1 C H U Y Ê N D A N H G ổ M 2 T Ừ

1 constituent

Ngày đăng: 01/10/2020, 14:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w