Nhu cầu xem chương trình chuyên biệt cho sinh vicn 632.3.5 Kênh truyền hình dành riêng cho thanh niên 70 2.4 Những yếu tô ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận truyền hình 2.5 Nhận xét bước đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2Lèn era r DQftH
Tôi xin cam đoan đây là công ỉrình nghiên cứu cửa riêng tôi Các số liệu, hết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bô trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Phương Dung
Trang 3Lời đầu tiên tôi xin được dành đê bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
R hà báo - Tiến sĩ Tạ Bích Loan, "quirt đã
h u e tièp h n ó tu Ị d u n lô ! h o à n t h à n h lu ậ n D ÌM liàụ
Các cán bộ, giảng viên JUtou 'Báo chí
£7r«'rUiạ rĐ ạ ì học IKJtoa hoe -rã h ộ i tui nlĩũn IUĨII- r1)aì hoe Qua* (/ỉa lỉũà Q(õi (Tã tao m o i itĩỉn kiên (Tê (Ị ì ti ft đõ' tô i h oàn tltà n li h u m và n ĩtúm Ị lliò i liạ n
Các bạn bè thân mến (tã (fittft đõ tô i trrun/
Trang 4m ạ c L ạ c
Tra 11 ^
CHƯƠNG 1: TRUYỀN HÌNH VỚI ĐỜI S ốN G CỦA SINH VIÊN 14
1.1 Đặc điểm tác động của thông tin truyền hình tới khán giả 14
1.1.3 Từ tính thụ động đến tính chủ động trong tiếp nhận
1.2 Vai trò, chức năng của truyền hình trong đời sống xã hội 20
1.2.1 Vai trò của truyền hình khi mới xuất hiện trên th ế giới
1.2.2 Chức năng của truyền hình trong mối liên hệ với cóng
Trang 51.3.1 Sự cần thiết của truyền hình trong đời sông sinh viên 25
1.3.2 Tác động tích cực của truyền hình đối với sinh viên 27
1.3.3 Điều kiện tiếp nhận truyền hình của sinh viên 29
1.3.4 Đặc điểm tàm lý tiếp nhận truyền hình của sinh viên 30
1.3.5 Đặc điêrn nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên 32
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT NHU CẦU TIẾP NHẬN TRUYỀN h ì n h c ủ a
2.3 Kết quả nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh
2.3.1 Thời gian và thòi lượng xem truyền hỉnh 42
2.3.2 Các chương trình truyền hình được sinh viên ưa thích 44
2.3.3 N hu cầu vê sán chơi truyền hình dành cho sinh viên 52
2.3.4 N hu cầu vê chương trình dành riêng cho sinh vién 60
Trang 6b Nhu cầu xem chương trình chuyên biệt cho sinh vicn 63
2.3.5 Kênh truyền hình dành riêng cho thanh niên 70
2.4 Những yếu tô ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận truyền hình
2.5 Nhận xét bước đầu về nhu cầu tiếp nhận truyền hình của
2.5.1 Nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên rất phong
2.5.2 Yêu cầu của sinh viên đối với truyền hình 77
CHƯƠNG 3: MỘT s ố KIÊN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐÁP ÚNG NHU CÀU
3.1.3 M ột số chương trình trò chơi đáp ứng được nhu cầu
của sinh viên nhưng không phải là chương trình chuyên biệt
3.1.4 M ột số chương trình không nằm trong phần khảo sát
Trang 7a Chương trình “Gala cười sinh viên 2005” 83
b Chương trình truyền hình trực tiếp: “Mãi mãi tuổi hai
3.2 Một sỏ kiến nghị đối với Đài Truyền hình Việt Nam nhằm
đáp ứng nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội 85
3.2.1 Đôi với những chương trinh trò chơi đang phát sóng
3.2.2 Đối với kênh “Thanh thiêu niên và giáo dục từ x a ” 89
3.2.3 Đôi với chương trình chuyên biệt dành cho sinh viên 90
3.3 Đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận truyén
3.3.1 Về phía nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên 92 3.3.2 Vê phía các cơ quan chức năng liên quan 93
a Về công tác bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ của đội ngũ
c Về công tác quản lý và vấn đề kinh tế để sán xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Nhu cấu tiếp nhận truyền hình cùa sinh viên Hà Nội
MỞ ĐẦU
1 Tính thòi sự và cấp thiết của đề tài:
Truyền thông đại chúng là một bộ phận quan trọng của đời sống văn hoá xã hội nước ta Cùng với những thành tựu to lớn của đất nước trong công cuộc đổi mới, hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng đã có những chuyển biến tích cực và tiến hộ Sau hơn 10 năm "đổi mới báo chí vì sự nghiệp đổi mới đất nước” [49, 2091 nền báo chí nước nhà đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, cá về công nghệ làm báo, trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cúa đội ngũ người làm báo Truyền thông đại chúng phát triển nhanh về số lượng và quy mô, về nội dung và hình thức, về in ấn, phát hành và truyền dần đã ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của xã hội
Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại cl.úng này, truyền hình đang ngày càng chiếm vị trí to lớn Truyền hình tuy ra đời muộn hơn các loại hình khác như báo in, phát thanh nhưng nó đã và đang từng bước khẳng định vai trò của mình và có những bước tiến vượt bậc trong những năm qua
Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình là hình ảnh động về hiện thực trực tiếp, ngoài ra truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mô hình, sơ
đồ, biểu đồ, chữ viết Âm thanh trong truyền hình bao gồm lời bình của phát thanh viên, lời nói của con người, âm nhạc, liếng động và các âm thanh của hiện trường ghi hình Truyền hình đang sử dụng tổng hợp tát
cả các loại phương tiện chuyển tải thông tin có trong báo in, phát thanh
và điện ảnh
Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhừ việc giao tiếp với con người bằng cả thị giác và thính giác “Sức mạnh của truyền hình tăng lén nhờ phạm vi ảnh hưởng rộng rãi của nó Những thành tựu khoa học kỹ thuật
Trang 9v7iz/ cấu tiếp nhận truyẽn hình cùa sinh viên Ha Nọi
hiện đại đã tạo ra khả năng cho truyền hình xám nhập tới bất kỳ nơi nào trên trái đất” [30, 89] Với hình ảnh động và âm thanh, truyền hình gần như đạt tới mức tuyệt đối về phạm vi công chúng xã hội Bất cứ ai, dù là ngôn ngữ nào cũng có thể xem và hiểu được những gì được thể hiện trên truyền hình ngoại trừ những người bị hạn chế về thị giác và thính giác Do tính tổng hợp và chức năng đa dạng của mình mà truyền hình được gọi là “rạp hát tại nhà, quảng trường công cộng, trường học nhân dân, người hướng dẫn văn hoá đại chúng ” [47, 83]
Ở nước ta, sau hơn 30 năm ra đời truyền hình được coi là một ngành công nghiệp đã có những bước phát triến vượt bậc Mạc dù là một ngành công nghiệp non trẻ, gặp những trớ ngại về kinh tế, kỹ thuật, về không gian địa lý trong sự phân bố dân cư nhưng đến năm 2005, Irên 90%
số hộ đã được xem truyền hình hàng ngày với 4 chương trình chính và các chương trình cáp, “Đài truyền hình Việt Nam được coi là tờ báo hình lớn nhất đất nước” [47, 83]
Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thế các nhà báo, các cán bộ và nhân viên kỹ thuật, dịch vụ, là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội rộng rãi [38, 143], Chương trình truyền hình là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích và ý tưởng sáng tạo của những nhà truyền thông bằng phương tiện truyền hình Mỗi chương trình truyền hình đều nhằm tác động đến một đối tượng phục vụ nhất định Bới vậy, người làm báo nói chung và người làm truyền hình nói riêng cần nắm vững và hiểu rõ nhu cầu của đối tượng mình phục vụ để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu ấy
Trong những năm đổi mới, sinh viên Việt Nam là nguồn lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá không ngừng tăng nhanh
về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội Tiến sỹ xã hội học Bùi Phương Đình nhận định: “sinh viên là nhóm xã hội trẻ, đang được đào tạo về tri thức, có nhiệt tình, có nhiệt huyết, có ham muốn, tham vọng
Trang 10Jhu cấu tiếp nhận truyẽn hình cùa sinh vién Hà Nọi
Theo quy luật phát triển của xã hội, sinh viên sẽ đám nhiệm những cương vị nhất định trong xã hội, do lợi thế được đào tạo vé tri thức nên vai trò cúa họ càng quan trọng trong đời sống xã hội Nếu nói tuổi trẻ là tương lai của đất nước thì sinh viên là nhóm nổi trội nhất trong tuơng lai đó” (phụ lục) Tính đến năm 2003, sinh viên chiếm 0,96% dân số và chiếm 4% lực lượng thanh niên, đạt 118 sinh viên trên một vạn dân [18, 19], Sinh viên là lực lượng kế tục và phát huy nguồn lực trí tuệ của đất nước Trí tuệ là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, dân tộc Tài nguyên đó đang nằm chính Irong mỗi sinh viên Sinh viên là lớp người đang trong quá trình hoàn thiện, khẳng định nhân cách và tài năng, còn thiếu từng trải và kinh nghiệm sống, còn thiếu kiến thức và kỹ năng lập nghiệp Họ là một bộ phận quan trọng của xã hội thuộc tầng lớp trí thức của xã hội Khẳng định vị thế cùa sinh viên, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã phát biểu trong đại hội Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VII: “Sinh viên được đánh giá là lớp người ưu tú nhất trong lực lượng thanh niên của xã hội Sinh viên gắn liền với tuổi tre, với sự trẻ trung của lớp người mới Có thể nói họ là lực lượng đi đầu trong việc khám phá và học hỏi cái mới” [3, 7J
Sinh viên chính là một đối tượng quan trọng của truyền hình, là lớp người dễ dàng chấp nhận và thích nghi với sự phát triển của truyền hình Với lợi thế tổng hợp của âm thanh và hình ảnh động, thông tin truyền hình
có sức tác động trực tiếp tới nhận thức của người xem, góp phần hình thành thế giới quan, làm thay đổi nhận thức và hành vi Sức mạnh của phươne tiện này có ảnh hưởng tương đối lớn với sự hình thành nhân cách và nâng cao tri thức của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên Đây là điều mà các nhà làm truyền hình cần quan tâm
Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống truyền hình nước ta nói chung và Đài Truyển hình Việt Nam nói riêng chưa có những chương trình chuyên biệt dành cho đối tượng này Xây dựng các chương trình truyền hình phù hợp với nhu cầu của sinh viên là công việc rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của truyền hình như hiện nay Sinh viên có
Trang 11Ihu cấu tiếp nhận truyền hình cùa sinh vien Hà Nội
nhu Cầu gì đối với thông tin truyền hình, đặc điểm tâm lý xã hội của nhóm công chúng này ra sao, các chương trình cho sinh vicn cần đáp ứng được những yêu cầu gì? Việc nghiên cứu nhóm công chúng sinh viên trong mối quan hệ với thông tin truyền hình có thế đưa lới những kết qua gì phục vụ cho việc nghiên cứu các nhóm công chúng khác của truyền hình không?
Với những vấn đề đặt ra đó, chúng tỏi chọn đề tài Nghiên cứu nhu cầu tiếp
nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiẻn của đề tài:
Việc lựa chọn đề tài xuất phát từ những trăn trớ và quan sát thực
tế của bản thân người thực hiện đề tài về thực trạng đáp ứng nhu cầu xem truyền hình cho đối tượng sinh viên của Đài Truyền hình Việt Nam trong những năm gần đây
Việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài này của luận văn nhầm mớ ra vấn đề mới mẻ về nhu cầu xem truyền hình của sinh viên cá nước nói chung
và sinh viên Hà Nội nói riêng, đồng thời đặt ra cho các nhà báo Iruvền hình nói chung và các nhà báo của Đài truyền hình Việt Nam nói riêng việc nghiên cứu để đáp ứng các nhu cầu đó
Đề tài nghiên cứu sâu về nhu cầu xem các chương trình truyén hình của sinh viên Hà Nội, qua đó, sẽ góp phần quan trọng trong việc giúp các nhà báo truyền hình tìm ra phương thức thoá mãn được nhu cầu xem truyền hình của sinh viên
Đề tài sẽ là tài liệu tham kháo, góp phần vào hệ thông tư liệu khoa học chung về báo chí truyền hình, nhất là khoa học nghiên cứu về công chúng truyền hình, góp phần nhỏ phục vụ công tác nghiên cứu, giáng dạy
và học tập về báo chí học hiện nay Đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo rộng rãi cho những người quan tâm đến lĩnh vực này
Việc nghiên cứu này cũng là cơ sỡ đế đề tài phát triển ớ mức độ nghiên cứu sâu và rộng hơn trong tương lai
Trang 12J h u cấu tiếp nhận truyên hình của sinh viên Hà Nội
3 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Chúng tôi có thể khẳng định đề tài này là nghiên cứu đầu tiên vẽ công chúng truyền hình mà đối tượng là sinh vicn với những nhu cầu xem truyền hình dưới góc độ xã hội học và tâm lý học
Trước đây, năm 2000, tác giả Đỗ Thu Hằng, Khoa Báo chí, Phàn viện Báo chí và tu vẻn truyền đã báo vệ thành công luận văn
thạc sỹ khoa học báo chí với đề tài Tủm lý tiếp nhận still phẩm báo chí
của công chúng thanh niên sinh viên hiện nay Đây là một nghiên cứu
tương đối sâu về tâm lý đối tượng của các loại hình háo chí là thanh niên sinh viên Tuy nhiên, ở đề tài này, mục đích và đỏi tượng có khác với đề tài nghiên cứu của chúng tồi
Năm 2003, Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và tuyên
truyền đã có nghiên cứu đề tài cấp bộ với tên đề tài Ní>lìiên cứu nliu
cầu tiếp nhận sản phẩm báo chí của sinh viên Hà Nội Đây là một đề
tài dành để nghiên cứu, bàn luận về nhu cầu của đối tượng sinh viên Hà Nội ở các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình (tron” đó chủ yếu là báo in) Vì vậy, đề tài chỉ nghiên cứu một cách tổn I thế nhu cầu của sinh viên với các loại hình báo chí, chưa phải là nghiên cứu sâu
về nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên khu vực Hà Nội như mục đích nghiên cứu mà chúng tôi đã đặt ra
Tháng 2 năm 2005 vừa qua, Khoa Xã hội học, Phân viện Báo
chí và tuyên truyền đã có cuộc điều tra Nliu cầu vê' truyền lùiĩlì cùa sinli
viên Hà Nội Tên của cuộc điều tra tương đối giống với tên của đề tài
đối tượng của cuộc điều tra cũng trùng với đối tượng điều tra của đề tài: sinh viên Hà Nội, tuy nhiên, mức độ và mục đích nghiên cứu có khác nhau Cuộc điều tra này có tính chất “định tính phục vụ cho lớp tập huân xây dựng các chương trình truyền hình cho thanh niên do Hội nhà báo tiên hành” [19, 1], Báo cáo này đã nói rõ: “Đc đổi mới nội dung chương trình truyền hình cho thanh niên, chúng ta cần những cuộc điều tra rộng hơn tại nhiểu vùng khác nhau với nhiều nhóm thanh niên khác trong xã hội không phải là sinh viên Tuy nhiên, nhóm sinh viên được phỏng vấn
Trang 13/hu cấu tiếp nhận truyền hình cua sinh vien Hà Nội
cũng mang nhiều đặc trưng của thanh niên Việt Nam, thuộc rất nhiều vùng khác nhau của cả nước đến Hà Nội học tập, họ luôn đại diện cho lực lượng thanh niên ưu tú Việt Nam có tri thức, có sức khoe, là tương lai của đất nước” [19, 3] Như vậy, cuộc điều tra này nhằm mục đích sản xuất các chương trình truyền hình cho thanh niên nói chung chứ không phải là chương trình truyền hình chuyên biệt cho sinh viên nói r:ẻng Một phần kết quả cuộc điều tra này được tham khảo trong đồ tài nghiên cứu của chúng tôi
Vì công chúng truyền hình mới được quan tâm trong những năm phát triển mạnh mẽ của truyền hình gần đây nén trong các nghiên cứu xã hội học truyền thông hay tâm lý học truyền thông chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về công chúng truyén hình là sinh viên và nhu cầu tiếp nhận truyền hình của đối tượng này Điều này càng được khẳng định khi ở nước ta, việc nghiên cứu xã hội học truyền thông hay tâm lý học
truyền thông trong lĩnh vực công chúng truyền hình còn ở mức độ chưa sâu
và quan tâm đúng mức
Do đó, đề tài Nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận truyền hình của
sinh viên Hà Nội (Khảo sút các chương trình trnyên hình trên SÓI 1 Í> 1717, VTV2, VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam) là một đề tài hết sức mới mẻ.
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của chúng tôi là nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ nhu cấu của sinh viên đối với truyền hình, thực trạng đáp ứng nhu cầu đó và nhũng tác động, ảnh hướng của các chương trình truyền hình đến đối tượng công chúng là sinh viên
Đề tài này nghiên cứu tính đa dạng và phong phú trong nhu cầu của đối tượng sinh viên là khán giả truyền hình, lừ đó góp phần giúp các nhà báo truyền hình định hướng xây dựng các chuyên mục, các chương trình đa dạng với những nội dung phong phú, cụ thể, thiết thực, hình thức hấp dẫn đáp ứng tâm lý lứa tuổi vì chính nhu cầu của sinh viên là yếu tỏ quyết định đến việc lựa chọn đề tài cho mỗi chương trình truyền hình
Trang 14.'hu cầu tiếp nhận truvẽn hình của sinh viên Hà Nội
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giá luận vãn tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu nhất định Trước hết là nhiệm vụ nghiên cứu
Cơ sở lý luận báo chí nói chung và cơ sở lý luận vé truyền hình nói riêng Nhiệm vụ thứ hai là nghiên cứu về công chúng của truyền hình là sinh viên
và sự tiếp nhận của đổi tượng sinh viên trong mối liên hệ với truyền hình Nhiệm vụ thứ ba là nghiên cứu việc đáp ứng vổ nhu cầu đó từ phía truyền hình Nhiệm vụ thứ tư là nghiên cứu lý thuyết cư bản của tám lý học xã hội học và điều tra xã hội học vận dụng vào phân tích tâm lý tiếp nhận và nhu cầu của sinh viên với truyền hình Từ đó, chúng tôi thử đề xuất một
số ý kiến nhằm xây dựng một sô' chương trình truyền hình mang đặc trưng của sinh viên
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đặt ra những giả thuyết nhằm hướng đi nghiên cứu cụ thể sau:
Giả thuyết thứ nhất: như trên đã đề cập, sinh viên là mộl đối
tượng quan trọng của truyền hình, là lớp người dễ dàng chấp nhận và thích nghi với sự phát triển của truyền hình Vậy, sinh viên đã tiếp nhận những gì mà truyền hình cung cấp, họ có nhũng nhu cầu gì với Iruyền hình, những yếu tố nào chi phối nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội, thái độ và thời gian dành cho truyền hình của sinh viên thê hiện ra sao
Giả thuyết thứ hai: sinh viên có nhu cầu xem các chương trình
truyền hình chuyên biệt dành cho chính họ Vậy, Đài truyền hình Việt Nam đáp ứng nhu cầu đó như thế nào, có thể có những hướng gì đê đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đó
5 Đỏi tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, hạn hẹp về điều kiện nên đề tài của chúng tôi không mở rộng đối tượng nghiên cứu là sinh viên trong phạm vi cả nước mà chúng tôi chỉ nghiên cứu nhu cầu của nhóm sinh viên Hà Nội Nhóm sinh viên Hà Nội trong nghiên cứu của chúng tỏi được
Trang 15,,7/m cáu tiếp nhận truyền hình cùa sinh viên Hà Nội
hiểu là những sinh viên đang học tập tại các trường cao đáng, đại học trên địa bàn Hà Nội (bao gồm cả sinh viên nội thành - ngoại thành Hà Nội và sinh viên đến từ các tỉnh thành khác trong cá nước)
Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị - văn hoá - kinh tế của cá nước mà còn là đáu não giáo dục quốc gia, là nguồn cung cấp chất xám cho
cá nước Hiện nay, sô' sinh viên các trường đại học, cao đáng trcn địa bàn
Hà Nội là hơn 40 vạn sinh viên, Hà Nội là nơi tập trung đỏng đảo sinh viên nhất trong cả nước [14, 3] Với sô' lượng sinh vicn đỏng đáo này, chúng tôi không thê khảo sát được hết trong khuôn khổ đề tài luận văn Bới vậy, phạm
vi nghiên cứu của chúng tôi sẽ là cuộc điều tra mang tính chất thăm dò ý kiến của sinh viên Hà Nội tại 4 trường đại học: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Y Hà Nội, Học viện Tài chính, Đại học Ngoại thưưng và
2 trường cao đẳng: Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Cao đầng Xây dựng
Sở dĩ chúng tôi chọn nhóm sinh viên ở 4 trường đại học và 2
trường cao đẳng này vì trong khả năng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
Ngoài ra, tỷ lệ nam nữ sinh viên ở các trường đại học và cao đắng này tương
đối đều nhau, kết quả điều tra có thể nói lên sự đồng đều giữa nhu cáu cùa sinh viên nam và sinh viên nữ đối với truyền hình, hạn chế sự thiên lệch Đồng thời, tại các trường đại học, cao đẳng này, có nhiều hoạt động ngoại khoá dành riêng cho sinh viên mà theo chúng tôi, xem truyền hình cũng là một hoạt động ngoại khoá Ihco nhu cầu của sinh viên
Dung lượng của cuộc điều tra là 500 phièu hỏi, được phân bố: 100
phiếu ở mỗi trường đại học và 50 phiếu ở mỗi trường cao đẳng Thời gian
điều tra: tháng 5 năm 2005
Ngoài ra, với thời lượng phát sóng lớn như hiện nay cúa Đài Truyền hình Việt Nam, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là một số chương trình truyền hình phù hợp với nhu cầu của sinh viên xuất hiện từ năm 2000 đến nay, chúng tôi sẽ chỉ ra một số chương trình đó đe Đài Truyền hình Việt Nam có thể dựa vào đó để nghiên cứu xây dựng những chương trình truyền hình mới dành riêng cho công chúng là sinh viên
Trang 16Nhu cầu tiếp nhận truyền hình cùa sinh vỉén Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, chúng tỏi sứ dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đọc và tra cứu
tài liệu, sách báo, hồ sơ, văn bản có liên quan đốn đế tài
Nhóm các phương pháp nghièn cứu thực tiền:
Phương pháp xem trực tiếp: các chương trình truyền hình được
phát sóng trên các kênh VTV1, VTV2, VTV3 cúa Đài Truyén hình Việt Nam Phương pháp này nhằm phát hiện các chương trình đang được phái sóng phù hợp với nhu cầu xem truyền hình của sinh viên Sau khi xem các chương trình, tác giả luận văn sẽ ghi chép lại những vân đề có liên quan đốn
đề tài nghiên cứu
Phương pháp lập bảng an - két điều tra, kháo sát xã hội học:
dựa vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, tác giả luận văn đưa ra hệ thông câu hỏi mang tính chất thăm dò ý kiến sinh viên về nhu cầu xem truyền hình trên Đài Truyền hình Việt Nam của họ
Phương pháp chọn mẩu điều tra: sử dụng kết hợp phương pháp
lấy mẫu ngẫu nhiên với lấy mẫu theo xét đoán của bán thân người làm nghiên cứu Các phiếu được phát tới các sinh viên theo các nhóm trường đại học cao đẳng mang tính chất đại diện với mục đích có được kết quá gẩn với mẫu điển hình nhất Phương pháp chọn mẫu này phù hựp với một cuộc điều tra mang tính chất thăm dò
Thông qua kết quả của cuộc điểu tra, luận văn sẽ bước đầu đưa ra các phân tích đánh giá dựa trên các phương pháp khác như: phương pháp thống kê, xứ lý và phán tích số liệu; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp phân tích thông tin thứ cấp, phương pháp quan sát
Phương pháp thống kê, xử lý và phàn tích sô liệu: sau khi tiến
hành khảo sát xã hội học, thu thập các mẫu điều tra, chúng tỏi sử dụng
Trang 17Nhu cấu tiếp nhận truyén hình cùa sinh vien Ha Nôi
phần mềm SPSS version 13.05 (Statistical Pakage lbr Social Science) - phần mềm xử lý số liệu xã hội học dành cho máy tính cá nhân đế xứ lý
số liệu điểu tra Đây là phần mềm phiên bán tiếng Anh mới nhất hiện nay nó thích hợp cho những cuộc điều tra có cỡ mãu lớn, nó phát hiện và cảnh báo cho người nhập số liệu, cách sử lý số liệu dẻ dàng, the hiện các trường trên cùng một văn bản
Các số liệu sau khi được xử lý sẽ được phân tích, tone hợp căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài, phát hiện ra mối licn hệ giữ;' các hiện tượng, bản chất và tính quy luật phát triển của chúng, kiểm định các giá thuyết đã đặt ra
Phương pháp phỏng vấn sâu: là phương pháp được sử dụng đế lý
giải những vấn đề phát hiện được sau khi đã phân tích, tổng hợp số liệu của cuộc điều tra Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với các đối tượng sau: lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam, nhà nghiên cứu xã hội học, sinh viên
Phương pháp thảo luận nhóm: đế có được những ý kiên sâu, trực
tiếp hơn những ý kiến thu thập được từ cuộc điều tra, kháo sát xã hội học, chúng tôi tổ chức cuộc thảo luận giữa một nhóm 10 sinh viên đến từ 3 trường đại học (Đại học Y Hà Nội, Đại học Thuỷ Lợi, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn)
Phương pháp nghiên cứii thông tin thứ cấp: đê có thông tin từ
nhiều nguồn làm cơ sở cho luận văn, chúng tôi tiến hành phân tích các nguồn tư liệu: các luận văn và công trình nghiên cứu có liên quan đến đẽ tài Các kết quả và số liệu điều tra từ các nguồn: Ban Tư tướng văn hoá Trung ương, khoa Xã hội học - Phán viện Báo chí và Tuycn truyền, Đài Truyền hình Việt Nam
Các phương pháp trên được kết hợp chặt chẽ với nhau nhàm khác phục những khó khãn về điều kiện, phạm vi nghiên cứu và những vấn đé khác mà luận văn đặt ra
Trang 187 Cấu trúc và nội dung luận văn:
Mở đầu: Gồm bảy phần: tính thời sự và cáp thiết của đò tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, tình hình nghiên cứu đề tài, mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghicn cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc và nội dung luận vãn Phần mớ đầu gồm 13 trang
Chương 1: Truyền hình với đời sóng của sinh viên
Chương một gồm ba phần Phần một chúng tôi trình bày vé đặc điểm tác động của thông tin truyền hình tới công chúng khán giá nói chung Phần hai là phẩn trình bày về chức năng của trưycn hình trong mối liên hệ với khán giả từ khi truyền hình mới xuất hiện trên thế giới và ở Việt Nam,
từ đó nói lên vai trò tác động của truyền hình với khán giả và ngược lại Phần ba, chúng tôi đề cập sự cần thiết của truyền hình trong dời sống của sinh viên nói chung, nêu lên những tác động tích cực của truyén hình đối với sinh viên, điều kiện và nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Chương một gồm 21 trane
Chương 2: Khảo sát nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội
Chương này chúng tôi đi sâu vào năm phấn Phán một nêu lên những đặc điểm chung của sinh viên Hà Nội như: địa bàn sinh sống lại Hà Nội, trình độ học vấn đồng đều, có tri thức cao thuộc nhóm lứa tuổi thanh niên trong xã hội, mức sống và thu nhập không đồng đều Phần hai chúng tôi phân tích khái niệm về nhu cầu, phân tích nhu cầu chung của sinh viên, trong phần nhu cầu chung này, chúng tôi đi sâu phân lích về nhu cầu liếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội Phần ba chúng tỏi tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát xã hội học như: thời gian
và thời lượng xem truyền hình, chương trình truycn hình được sinh viên ưa thích, nhu cầu của sinh viên về sân chơi truyền hình, nhu cầu của sinh viên
về chương trình truyền hình chuyên biệt, kênh truyền hình dành liêng cho thanh niên Phần bốn chúng tôi chỉ ra những yếu tô' khách quan chi phối
vu sm m iM l MING / Nhu cầu tiếp nhận truyền hình cùa sinh vién Hà Nội
Trang 19vu PHUONũ uun u - Nhu càu tiếp nhận truyên hình cùa sinlì vien Ha i\'ọi
nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh vicn như: thời gian phát sóng, chất lượng máy thu hình, môi trường xem truyền hình, và yếu tố từ phía đài truyền hình (chất lượng chương trình) Phần năm chúng tỏi dưa ra một số nhận xét bước đầu về nhu cầu xem truycn hình của sinh vicn Hà Nội Chương hai gồm 44 trang
Chương 3: Một sô kiến nghị và giái pháp đẻ đáp ứng nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên Hà Nội
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sinh viên, sau khi tổng hựp - phân tích phần khảo sát xã hội học, chúng tôi đưa ra các vấn đề của luận
vãn, bao gồm: chương trình truyền hình Thanh niên chưa hấp dẫn sinh viên,
nội dung chương trình trò chơi dành riêng cho sinh viên còn hạn chế, một
số chương trình trò chơi đáp ứng được nhu cầu xem Iruyền hình của sinh viên nhưng không phải là chương trình chuyên biệt, một số chương trình không nằm trong kháo sát của chúng tôi (do phát SÓI12 sau thời gian kháo sát) được sinh viên hướng ứng Từ những vấn đề mà luận văn đặt ra chúng tôi mạnh dạn có một số kiến nghị cụ thể đối với những chương trình trò chơi được sinh viên yêu thích, đối với chương trình chuyên biệt dành cho sinh viên, đối với với kênh “Thanh thiếu niên và giáo dục từ xa - VTV7" Chương này dựa vào phần nghiên cứu lý thuyết, phần kết quả khảo sát xã hội học, chúng tôi bước đầu đưa ra những đề xuất giải pháp thực tiễn đối với cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng có licn quan đến sinh vicn đối với Đài Truyền hình Việt Nam với mong muôn cung cap một kênh V kiến cho các nhà báo truyền hình đế xây dựng kế hoạch cụ thế sán xuất các chương trình truyền hình phù hợp với nhu cầu của đối tượng sinh vicn nói chung và sinh viên Hà Nội nói riêng Chương ba gồm 20 trang
Trang 20vu t'Huưi\u i>u:,G — Nhu cầu tiếp nhàn truyén hình cùa sinh vien Hà Nội
phong phú, đa dạng sẽ ngày càng phong phú, phức tạp hơn trong bối cảnh đời sống xã hội đang có những chuyển biến về nhiều mặt Chúng lôi cho rằng, việc phát hiện những đặc thù nổi trội của sinh viên sẽ giúp nhà báo truyền hình có thể sản xuất những chương trình phù hợp với dặc thù nổi trội
đó bởi chính nhu cầu của sinh viên với những đặc thù riêng có là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn đề tài cho mỗi chương trình truyền hình Chúng tôi hy vọng các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ được quan tâm
và áp dụng trong lý luận và thực tiễn sản xuất các chương trình truyền hình dành riêng cho đối tượng Phần này gồm 6 trang
Tài liệu tham khảo
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã tham khảo và sử dụng 53 tài liệu tiếng Việt và 6 tài liệu tiếng Anh
Phụ lục
- Mẫu phiếu điều tra xã hội học
- Bảng thống kê số liệu điều tra
- Bài phỏng vấn lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam
- Bài phỏng vấn nhà nghiên cứu xã hội học
- Một số bài phỏng vấn sinh viên
- Biên bản thảo luận nhóm
- Quy hoạch phát triển của Đài Truyền hình Việt Nam
- Một số tài liệu tham khảo trên trang Web
- Một số bài báo liên quan đến đề tài
- Thư của khán giả
Trang 21CHƯƠNG 1: TRUYỀN HÌNH VỚI ĐỜI SốN G CỦA SINH VIÊN 1.1 Đặc điểm tác động của thông tin truyền hình tới khán giả:
1.1.1 Ký hiệu thông tin của truyền hình:
Mỗi loại hình báo chí đều có ký hiệu thông tin riêng Ký hiệu thông tin của báo in là chữ viết, ký hiệu thông tin của phát thanh là ám thanh Với truyền hình, ký hiệu thông tin bao gồm các ký hiệu trên cộng lại với khả năng chuyển tải thông tin dưới dạng hình ảnh động và âm thanh Truyền hình là dạng ký hiệu thông tin địa chí và trực tiếp, nó mang tính trực quan sinh động đơn nhất không thể nhầm lẫn [45, 19]
Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình là hình ảnh động
về hiện thực trực tiếp, hàm chứa trong những hình ảnh mà truyền hình đem lại cho công chúng là sự sống động của cuộc sống thực, không bị dàn cảnh, không bị khuấy động Hình ảnh trong thông tin của truyền hình mang một ý nghĩa rất to lớn trong toàn bộ ngôn ngữ của loại hình báo chí này, có ihế gọi
đó là yếu tô' chính vì tự thân nó là đúng và sâu sắc, chỉ có nó mới đủ khá năng thực hiện sự phản ánh nghệ thuật và phán ánh thực tế Tuy vậy, vẫn có
ý kiến cho rằng chừng nào sự giao tiếp của vô tuyến truyền hình chưa Irò thành một tiêu chuẩn tất yếu của toàn bộ hệ thống, khi mà chức năng thòng tin của truyền hình chưa trở thành quan trọng nhất thì yếu tố hình ánh của thông tin truyền hình chỉ là bước đầu tiên Yếu tố hình ảnh trong thõng tin truyền hình được coi là thành phần chủ đạo bời trên thực tế, hình ảnh động
là cái tạo nên tính đặc thù của truyền hình, tạo sức hấp dẫn và chuyên chớ phẩn thông tin chủ yếu của các chương trình truyền hình Ngoài những hình ảnh động, truyền hình còn sử dụng các loại hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu,
mô hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết Bằng nghệ thuật dựng hình (montace), người ta còn có thể dừng các hình ảnh động ở một khuôn hình đặc biệt cần thiết nào đó, biến thành một hình ảnh tĩnh nhằm nhấn mạnh, khắc hoạ một đặc điếm, một ý nghĩa cụ thể
Cùng với hình ảnh động, âm thanh là một trong hai yếu tố câu thành nên ngôn ngữ thông tin của truyền hình Âm thanh trong truyền
vu T nu ùiiii ỈỈVMC / Nhu cấu tiếp nhận truyén hình của sinh vién Hà Nội
Trang 22hình bao gồm: lời nói của người, âm nhạc, tiếng động, các âm thanh tại hiện trường ghi hình Lời nói là bộ phận chính trong âm thanh có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyên chư nội dung thông tin cúa truyền hình Bởi, một mặt, ý nghĩa xác định của các thông điệp phần lớn được thể hiện bằng lời nói Lời nói bổ sung ý nghĩa và định hình thông tin cho hình ảnh động vì không phải lúc nào hình ánh động tròn truyên hình cũng chuyến tải được rõ ràng nội dung thòng tin Mặl khác, những
tư tưởng thể hiện bằng lời bao giờ cũng đầy đủ hơn các phương tiện biểu đạt khác cả về chiều rộng và bề sâu, nhất là trong trường hựp những tư tưởng cần thê hiện có mối phức tạp, tế nhị
Sự kết hợp hài hoà giữa hình ánh động và ám thanh tạo cho truycn hình khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vỏ cùng phong phú Hầu như bất cứ sự kiện, hiện tượng, vấn để gì trong hiện thực đều có thố biếu đạt, phản ánh qua các chương trình truyền hình Đặc trưng này tạo cho truyền hình khả năng đặc biệt trong việc đa dạng hoá chức năng, đáp ứng nhu cẩu thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội và con người
Bởi vậy, truyền hình được coi là nhà hát, là trường học, là sân chơi, là công cụ giao lưu, là phương tiện giải quyết một loạt dịch vụ trong
xã hội hiện đại [52, 114]
1.1.2 Cơ chê tác động của truyền hình:
a Quá trình truyền thông rin của truyền liìnli:
Trong hệ thống các phương tiện truycn thông đại chúng, truyền hình đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng [28, 224], Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ việc giao tiếp với con người bằng cá thị giiíc và thính giác Đây là đặc điểm vượt trội của truyền hình so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác Tuy nhiên, quá trình truyền thôrg tin cứa truyền hình tới khán giả cũng tuân theo mô hình truyền thông chung của nhà lý thuyết thông tin và điều khiển học Claude Shannon [7, 16]
V ư m a u n o -O V m - - / Nhu cấu tiếp nhận truyên hình cùa sinh viên Hà Nội
Trang 23vu FHVUi'iU DĨhxii Nhu càu tiếp nhận truyẽn hình cùa sinh viétì Hà Xoi
Nhiẻu
▲
- Phản h ó i
-Trong đó:
s (source): Nguồn phát IÌI xêu tò munÍỊ tlìôniỊ till ban dầu và
khởi xướng quá trìnli truyền thôìiíỊ Nguồn phát chính là chủ thế của quá
trình truyền thông, là yếu tố đầu tiên quycì định hiệu quả của quá trình truyền thông
M (messge): Thông điệp là nội duntỊ tlìôin> till dược trao dôi từ
nguồn phớt đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp là những tri thức, tư
tướng, ý kiến, kiến nghị được hệ thống ký hiệu chuyên chớ Hệ thống ký hiệu có ý nghĩa như là phương tiện để vật hoá thông điệp, truyền hình sứ dụng hệ thống ký hiệu thông tin là hình ảnh động và âm thanh đế chuyên tải thông điệp
c (channel): Kênh truyền thông tin là sự thoniỊ Illicit cùa phương
tiện, con đường, cách thức chuyển lải các tliôiiíỊ diệp từ IHỊIIỒII phút đến dổi
tượng tiếp nhận Kênh truyền thông tin của truycn hình được hình thành
dựa trên cơ sở hai giác quan thị giác và thính giác của con người
R (receiver): Đối tượng tiếp nhận là những cá nliân hay bộ phận
công chúng trong xã hội tiếp nhận các thông điệp của kênh truyền thông tin Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông.
E (effect): Hiệu quả truyền thông được ngầm hiểu sau khi quá trình truyền thông được thực hiện từ nguồn phát đến đôi tượng tiếp nhộn
Phản hồi (feedback): được hiểu là sự tác động ngược trư lại của thông tin từ phía công chúng khán giả đối với truyền hình Đây là phần tứ
Trang 24Cần thiết để điều khiển và làm cho quá trình Iruyên ihòng được licn lục lừ phía đội ngũ người làm truyền hình tới đối tượng khán giá cứa mình và ngược lại Nếu không có phản hồi, thông tin của truyền hình chí là thõng tin một chiều và mang tính áp đặt Hiện nay truyền hình là một Irong những loại hình thông tin làm tốt khâu phán hồi của quá trình truyền thông.
Nhiễu (noise): luôn tồn tại trong quá trình truyền thông Các
thông tin của truyền hình khi truyền đi thường bị ánh hướng bới các điêukiện tự nhiên, xã hội, các phương tiện kỹ thuật gây sự sai lệch hav kémchất lượng về nội dung thông tin cũng như tốc độ truyền thông Nhiễu lùhiện tượng cần được xem xét và được coi là hiện tượng đặc biệt trong quátrình lựa chọn kênh truyền thông để xây dựng nội dung thõng tin Trongquá trình truyền thông, truyền hình luôn chú ý xử lý nhiễu để tăng hiệu quá
b Cơ chế tác độn í> của truyền hình tới khi u x'/t/.v" [ ị ị_
Truyền hình tác động tới công chúng khán giá và toàn xã hội bằng thông tin qua cơ chế [52, 30]:
vu THUcmu ư m u A'hu cấu tiếp nhận truyén hình cùa sinli l ien Hà Nội
Thông tin trong các thông điệp của truyền hình tác động vào ý thức xã hội, làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, nhận thức mới sẽ dẫn đến những hành vi xã hội mới Hành vi xã hội chính là hiệu quá cuối cùne mang tính vật chất của quá trình truyền thõng tin của truyén hình, nhờ có những hành vi đó mà xã hội vận động phù hợp với ý đồ của người làm truyền hình
Quy mô, tính chất của hành vi xã hội bị quy định bởi quy mô, tính chất của thông tin do truyền hình mang lại Thông tin cứa truyền hình lại bị chi phối bởi thái độ, quan điểm, mục đích của người làm truyền hình Cùng một vấn đề, sự kiện nhưng nhà báo truyền hình khai thác sự kiện, vân đó
Trang 25khác với những người làm phát thanh hay phóng viên báo in Nhà báo
truyền hình đưa ra những nhận xét, đánh giá hoàn toàn khác do phương
pháp, mục đích thông tin của mình
Việc hình thành thông điệp và cách thức chuyên tủi thông điệp
đến công chúng truyền hình là yếu tố quyết định hiệu quá tác động của
truyền hình Nhưng việc hình thành và cách thức chuyển tái này liên quan
chặt chẽ với sự hiểu biết về công chúng và đặc điếm quá trình nhận thức
của công chúng Bới lẽ, sự hiểu biết này cùng với mục đích truyền thông là
cơ sở hình thành phương pháp tạo lập và chuyển tải thông tin của truyền
hình
Trên cơ sở hiểu biết về công chúng và quá trình nhận thức, tiếp
nhận thông tin truyền hình của họ, người làm truyền hình tiến hành nghicn
cứu công chúng, tìm ra những căn cứ cụ thể để xây dựng thông tin truyền
hình đạt hiệu quả nhất Việc nghiên cứu công chứng là cơ sở xác định nội
dung thông tin, cách thức hình thành thông điệp, phương pháp chuyến tải
thông điệp để người làm truyền hình xây dựng những chương trình truyền
hình phù hợp với đối tượng phục vụ của mình
1.1.3 Từ tính thụ động đến tính tích cực trong tiếp nhận của công chúng:
Mối quan hệ giữa công chúng và các phương tiện truyền thông đại
chúng đã có sự thay đổi Quan niệm vể một công chúng thụ động từ lâu đã
bị phản bác Công chúng sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
tuỳ theo nhu cầu của mình Qua đó, theo quan điểm của một vài nhà khoa
học, công chúng hoàn toàn có ảnh hưởng tới dịch vụ Iruyền thông Trách
nhiệm của công chúng một mặt thể hiện qua việc theo dõi các quá trình xã
hội hoá nói chung và quá trình truyền thông đại chúng nói riêng, mặt khác
công chúng tìm hiểu vấn đề từ càng nhiều nguồn càng tốt và hồi âm lại cho
cơ quan truyền thông phân tích để cùng nhau tìm cách giải quyết [5, 64],
Khi mới xuất hiện, truyền hình giữ vai trò người cung cấp thông
tin bằng sóng điện từ độc quyển nên công chúng là người tiếp nhận thụ
vu rH ưunu b b ìii, _ Nhu cầu tiếp nhặn truyén hình cùa sinh viẻn Há Noi
Trang 26cầu tiếp nhận truyên hình cùa sinh viên Hà Noi
động, công chúng không có sự đóng góp tích cực Với vai trò nhà độc quyền, những nhà sản xuất truyền hình cho công chúng “món ăn” nào thì
họ được thưởng thức món ăn ấy, họ không có quyền chọn lựa nào khác ngoài những chương trình truyền hình mà nhà sản xuất cung cấp
Đến những thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, với sự phát Iriến của khoa học kỹ thuật nói chung và sự phát triển của kỹ thuật truyền hình nói riêng, nhiều nhà sản xuất truyền hình xuất hiện, các chương trình truyền hình đa dạng ra đời đã xoá đi sự cung cấp độc quyén của truyền hình như mới xuất hiện
Đồng thời, khoảng đầu thập kỷ 80, với việc phái hiện vai trò quan trọng của người tiếp nhận, một mỏ hình truyén thông mới của các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và của truyền hình nói riêng đã được thừa nhận một cách rộng rãi Trong mô hình này, người tiếp nhận được coi là yếu tố tích cực, chú động trong quá trình truyền thông Tính tích cực được thê hiện ớ sự lựa chọn tiếp nhận các thông tin truyền hình phù hợp với nhu cầu Mỏ hình mới trong quá trình truyền thông của truyền hình là kết quá logic của một loạt nghiên cứu phát hiện trong lĩnh vực truyền thông và xã hội học Nó phản ảnh một cách thực tế về trình độ phát triển cao hơn của xã hội loài người về trình độ vãn hoá, hiểu biết nói chung Sự nâng cao trình độ nhận thức tất yếu dần đến việc các đối tượng tiếp nhận của truyền hình không chấp nhận bị dẫn dắt, bị chi phối bởi những nhà cung cấp thông tin bằng phương tiện truyền hình Bán thân người tiếp nhận thông tin có điều kiện, hiểu biết
để lựa chọn, suy xét, tiếp nhận thòng tin một cách hợp lý
Lấy khán giả làm trung tâm thì ngay từ mối quan hệ giữa khán giá ngày nay với truyền hình đã khác trước căn bản vì có sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ dân trí ngày càng cao Quyền lựa chọn cua khán giả cao hơn trước Với mô hình truyền thông mới, truyền hình hiện nay đặc biệt quan tâm đến đối tượng tiếp nhận Đế đảm bảo hiệu quá hoạt động truyền thông của mình, những người làm truyền hình buộc phải nghiên cứu
Trang 27công chúng của minh Chính việc nghiên cứu này sẽ giúp người làm truyền
hình tìm ra cách thức, phương pháp, nội dung cần thiết để chuyến tải thông
tin một cách có hiệu quả Những phản ứng của công chúng sau khi nhận
được thông tin sẽ trở thành yếu tố tham gia việc quyết định những hành vi
truyền thông tiếp theo của nhà sản xuất truyền hình Điều này đòi hỏi
truyền hình phải có sự thay đổi nếu không sẽ không được lựa chọn Bới vậy,
từ đầu thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mớ ra thập
kỷ kỹ thuật số, thế giới đã xuất hiện xu hướng làm Iruyền hình với những
thẻ loại mới, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cúa công chúng như:
participant TV (truyền hình có sự tham gia), interactive TV (truyền hình
tương tác) Truyền hình Việt Nam đang từng bước đổi mới và bước đầu đã
áp dụng những thể loại mới này như các chương trình: Sao mai điểm hẹn,
Ngọn lửa tuổi trẻ, Mãi mãi tuổi 20 vù lìệ thống diện thoại 1900
Vai trò giữa công chúng và nhà sản xuất truyền hình càng được
xác định trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay Bởi vậy, các nhà
sản xuất truyền hình luôn phải cạnh tranh với nhau để có công chúng của
riêng mình bằng cách sản xuất các chương trình phù hợp với nhu cầu, thị
hiếu của công chúng Muốn làm được các chương trình truyền hình như
vậy buộc các nhà làm truyền hình phải nghiên cứu nhu cầu tiếp nhận của
công chúng Việc nghiên cứu sự tiếp nhận của khán giả không chỉ giúp
truyền hình đáp ứng nhu cầu của công chúng mà còn định hướng và điểu
chỉnh công chúng thông qua các chương trình của mình
1.2 Vai trò, chức năng của truyền hình trong đời Sống xã hội:
1.2.1 Vai trò của truyền hình khi mới xuất hiện trên thê giới và và
ở Việt Nam:
Với vai trò là một tờ báo, khi mới xuất hiện, truyền hình chưa
hề được để ý tới Truyền hình chưa bị coi là đối thủ cạnh tranh đáng kc
so với các loại hình báo chí khác, chỉ đến khi những kỹ thuật điện tử thế
hệ mới ra đời, khiến cho việc sản xuất chương trình truyền hình gọn nhẹ
Trang 28hơn tiện lợi hơn, đáp ứng được yêu cầu của công chúng thì vị trí của
truyền hình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng mới
nhanh chóng được khẳng định Trung bình mỗi ngày, công chúng trên
thế giới giành 3h07’ để xem truyền hình (nguồn: Eurodata) Điều đó cho
thấy truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng
đối với con người, nó không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin mà
còn là phương tiện giải trí rẻ, tiện lợi và hữu ích
Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muộn so với nhiều nước trên
thế giới Ngày 7 tháng 9 năm 1970 được đánh giá là mốc ra đời của ngành
truyền hình Việt Nam Tiềm năng của truyền hình rất lớn, tuy ra đời
muộn hơn so với báo in và phát thanh nhưng truyền hình đã thực sự trớ
thành phương tiện truyền thông đại chúng thu hút đỏng đảo công chúng
khán giả, trở thành món ãn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống
xã hội Ngày nay, chiếc ti vi đã trở nên thân thiết với mỗi người, mỗi gia
đình trong xã hội, là một phương tiện giải trí không thể thay thế
1.2.2 Chức năng của truyền hình trong mối liên hệ với cóng ng chúng khán giả:
Truyền hình là một trong những loại hình truyền thông đại chúng,
nó thực hiện các chức năng chung của các phương tiện truyền thông đại
chúng sau:
a Chức năng thông tin:
Là một tờ báo hình lớn nhất cả nước, Đài Truyền hình Việt Nam
luôn nhận thức rõ chức năng thông tin của mình Chức năng thông tin
không chỉ thể hiện ớ các chương trình truyền hình mà nó còn được thê hiện
rõ nét trên kênh tổng hợp VTV1 Mọi vấn đề của các lĩnh vực trong đời
sống xã hội đều được thông tin một cách nhanh chóng, tức thời và đầy đủ
nhất Chức năng thông tin của truyền hình mang tính đặc trưng riêng biệt
Bằng những hình ảnh có màu sắc kết hợp với âm thanh tạo nên các cưng
bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình có khả năng truyền đạt thông tin tới
Trang 29người xem một cách đầy đủ và chân thực nhất Đặc trưng của chức năng thông tin truyền hình liên quan chặt chẽ với các chương trình truyền hình và
có tác động lớn tới việc sáng tạo tác phẩm truyền hình Chương trình Thời
sự là chương trình mang đậm chức năng thông tin Nhũng thông tin mà chương trình Thời sự mang lại cho khán giả những hiểu biết kịp thời và tương đối đầy đủ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đáp ứng được nhu cầu nàng cao hiểu biết của khán giả truyền hình và đạt mục đích truyền đạt thông tin của người làm truyền hình
b Chức năng văn hoá - giáo dục:
Bản thân hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và của truyền hình nói riêng là những hoạt động văn hoá Bát kỳ một chương trình truyền hình nào cũng hướng tới mục đích giáo dục cái chân - thiện - mỹ cho công chúng Cho nên, truyền hình thực hiện chức năng vãn hoá - giáo dục là điều tất yếu Truyền hình thực hiện chức năng này bằng cách thông qua các chương trình truyền hình, truyền hình xã hội hoá các hiểu biết, kinh nghiệm sống, biến chúng từ cái riêng đơn nhất thành cái chung phổ biến; nâng cao trình độ tri thức cho xã hội dưới hình thức các chuyên mục về lĩnh vực khoa học cụ thê (Đài Truyền hình Việt Nam phát sóng kênh VTV2 dành riêng cho khoa học) Chức năng văn hoá
- giáo dục của truyền hình còn thể hiện ở việc giáo dục lối sống cho công
chúng, dẫn dắt, lôi kéo công chúng có lối sống tích cực, định hướng những
khuynh hướng lối sống cụ thể Hiện nay, VTV2 - kênh Khoa học và giáo
dục ngày càng làm tốt chức năng văn hoá - giáo dục, dược đông đảo công
chúng đón nhận
c Chức năng tư tưởng:
Truyền hình tác động vào ý thức xã hội đế hình thành và củng cố
hệ thống tư tưởng chính trị lãnh đạo xã hội với mục đích định hướng xã hội Truyền hình là phương tiện đặc biệt hữu hiệu trong việc giải quyết các
Trang 30cấu tiếp nhận truyén hình cùa sinh vien Hà Nội
nhiệm vụ của công tác tư tưởng trên phạm vi toàn xã hội cũng như trong khuôn khổ từng cộng đồng và đối với từng thành viên xã hội Truyền hình thực hiện chức năng tư tưởng thông qua việc thông tin nhanh chóng, kịp thời, chân thực mọi mặt của đời sống xã hội nhằm hình thành dư luận xã hội lành mạnh, mang tính tích cực Đồng thời, trong quá trình thông tin, truyền hình còn định hướng tư tưởng chính trị cho toàn xã hội, giáo dục những tư tưởng chính trị đó nhằm biến những thông tin mà công chúng thu nhận thành những quan điểm, lập trường chính trị xã hội tích cực, tiến bộ Báo chí nước ta được coi là công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước trong việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách tới toàn nhân dán, bới vậy, truyền hình luôn phải làm tốt chức năng này
d Chức năng giám sát và quản lý xã hội:
Các loại hình thông tin đại chúng đều làm tốt chức năng này, đặc biệt, với thế mạnh thông tin tác động trực tiếp tới cồng chúng của mình, truyền hình hiện nay đang trở thành một phương tiện truyền thông đại chúng tham gia vào quá trình giám sát và quản lý xã hội đạt hiệu quá nhất Thông tin của truyền hình đến với công chúng một cách nhanh chóng, đều đặn và trực tiếp Thông qua hệ thống các hình thức liên lạc (điện thoại, thư điện tử, hộp thư truyền hình ), truyền hình và công chúng xem truyền hình có mối liên hệ rất chật chẽ Truyền hình trớ thành diễn đàn của toàn dân, tạo dư luận xã hội, tích luỹ các tư tướng, ý kiến, kinh nghiệm của quần chúng, hình thành các chuẩn mực đạo đức và định hướng giá trị phù hợp với các mục tiêu và nhiệm vụ của xã hội
e Chức năng giải trí:
Trong xã hội công nghiệp hiện đại, sau những giờ làm việc vấl vá, con người có nhu cầu hưởng thụ những hoạt động giải trí nhằm giải toá sự căng thẳng, thư giãn, phục hồi khá năng hoạt động Nắm bắt nhu cầu thiết yếu đó của công chúng, năm 1996, Đài Truyền hình Việt Nam đã tách riêng
Trang 31kênh VTV3 thành kênh T hể thao - giải trí và Thòng tin kinh tế Sau sán chơi đầu tiên SV'96, Đài Truyền hình Việt Nam đã tạo ra hàng loạt sân chơi
với những nội dung thông tin phong phú, đa dạng, hình thức SỎI động có sức hấp dẫn, thu hút hàng triệu công chúng tham gia và theo dõi Giải trí là một nhu cầu của công chúng và bới vậy, công chúng rất dễ dàng bị thu hút
và ảnh hưởng bởi những chương trình giải trí Gặp nhau cuối tuần là một
chương trình giải trí thu hút được sự yêu mến của người xem Tuy nhiên, có một thời gian, tiếng cười mà chương trình đem lại cho khán giá là những tiếng cười vô bổ, nhạt nhẽo Chẳng hạn, những ngôn từ của diễn viên tuy là
để gây hài kiểu “con cái nói mà cha mẹ cứ cãi nhem nhẻm” nhưng đã khiến người xem, đặc biệt là trẻ nhỏ học rất nhanh và nói lại một cách vô ý thức, cũng bởi tại “nhà đài” Tiếng cười là món ăn tinh thần không thế ihiếu được trong cuộc sống, tuy nhiên các chương trình giải trí cần phải có tính định hướng, làm tăng khiếu thẩm mỹ và nâng cao nhận thức tư tướng cho công chúng Như vậy, các chương trình giải trí trên truyền hình mới đáp ứng được nhu cầu, mong mỏi của công chúng và “không có phương tiện nào khác có thể thu hút thời gian rỗi rãi của cư dân trên khắp hành tinh bằng truyền hình” [52, 57]
Khi phân tích các chức năng của truyền hình, chúng tôi đưa ra những chức năng riêng rẽ như vậy Nhưng trên thực tế, truyền hình tác động tới công chúng đồng thời có sự tham gia của cá năm chức năng trên bởi khán giả tiếp nhận thông tin từ truyền hình trong thời gian rảnh rỗi Sự tiếp nhận của họ là sự tiếp nhận tự do, sự tiếp nhận được thôi thúc từ nhu cầu bên trong, nhu cầu giải trí, nhu cầu tìm kiếm thông tin, nhu cấu muôn
mờ rộng và nâng cao hiểu biết Nhờ chức năng giải trí mà những tri thức khi phát ra dược công chúng tiếp nhận một cách tự nhiên và thoải mái, bời
đi kèm với tri thức là khoái cảm tinh thần, khoái cảm này là kích thích tố cho sự tiếp nhận thông tin tri thức Mặt khác, nhờ chức nàng giáo dục với những thông tin tri thức hữu ích mà việc giải trí bằng truyền hình của cõng chúng trở nên có ý nghĩa [47, 103]
Trang 32Các chức năng của truyền hình luôn quan hệ chặt chẽ và có liên quan lẫn nhau Bản thân các chức năng này tạo điều kiện và thúc đẩy lẫn nhau Mỗi chức năng của truyền hình được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và các chương trình truyền hình bao giờ cũng thực hiện đồng thời nhiều chức năng Bởi vậy, vai trò của truyền hình chí được nhận thức một cách đầy đủ khi đặt nó trong sự thống nhất hữu cơ giũa các chức năng đó.
1.3 Truyền hình trong đời sống sinh viên nói chung:
1.3.1 Sự cần thiết của truyền hình trong đời sông sinh viên:
Sinh viên là lực lượng ưu tú, là bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực trẻ, đội quân xung lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chúng ta cần một thế hệ sinh viên có bản lĩnh, có học vấn cao, có chuyên môn giỏi, có năng lực khoa học, công nghệ, có lối sống đẹp, có tinh thần cộng đồng và thích ứng nhanh Đó là phát biểu của Bí thư Trung ương Đoàn - Hoàng Bình Quân trong Đại hội đại biếu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ VII [18, 107],
Sinh viên Việt Nam nói chung có đời sống rất phong phú Ngay tù' khi bước vào giảng đường đại học, sinh viên đã biết tạo cho mình một đời sống riêng: đời sống sinh viên, đời sống của một con người đã trưởng thành
về thể chất và đang hoàn thiện về tinh thần Đời sống tinh thần của sinh viên biểu hiện thành những lập trường chính trị, thái độ sống, lối sống, cách nghĩ, hành vi ứng xử của họ trong các quan hệ xã hội
Đa số sinh viên hướng tới đời sống tinh thần lành mạnh, có lập trường tư tưởng chính trị, có thái độ sống tích cực và lối sống có văn hoá Lối sống có văn hoá được hiểu là toàn bộ hoạt động biểu hiện những phẩm chất tốt đẹp của con người trong lao động sản xuấl, trong các quan hệ xã hội, quan hệ với môi trường tự nhiên, qua sinh hoạt cá nhân và các sinh hoạt xã hội khác, phù hợp với văn hoá của dân tộc và thời đại [29, 135 Ị
Trang 33Lối sống có văn hoá của sinh viên Việt Nam được biếu hiện ớ những khía cạnh sau [29, 136]:
Tôn trọng lao động: sinh viên luôn ý thức học tập là nhiệm vụ
chính của mình, học tập là lao động trí óc, hướng tới việc hoàn thiện khả năng tri thức của bản thân Mỗi sinh viên đều học tập trên giảng đường và
tự học vì mục đích có tri thức trong tương lai, là một người lao động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội
Quan lãm tới hoạt độníỊ chính trị xã hội: cuộc sống của mỗi cá
nhân không thể tách rời đời sống chính trị xã hội chung của đất nước Sinh viên là lớp người nhạy cảm với các hoạt động chính trị - xã hội của đất nước cũng như những biến động của thế giới Bới vậy, ngoài mục đích học tập, sinh viên cũng quan tâm tới việc tham gia vào đời sống xã hội một cách lích cực, có trách nhiệm
Hướiiạ tới sự phát triển toàn diện nhân cácli: sinh viên luôn nỗ
lực học tập, rèn luyện bản thãn, tham gia vào các hoạt động thế thao văn hoá để phát triển năng khiếu cá nhân, không ngừng phát triến và hoàn thiện nhân cách với tinh thần khám phá chí tiến thủ, ý thức coi trọng thực tế và đổi mới, năng lực tích tụ tri thức, năng lực đạt được tri thức mới
và năng lực vận dụng tổng hợp các loại tri thức vào hoạt động thực tiễn
Sin lĩ hoạt lành mạnh: sinh hoạt ở đây là những hoạt động trong
đời sống hàng ngày của sinh viên được thể hiện qua mức sống, sự tiêu dùng, nếp sống, cách thức sử dụng thời gian nhàn rỗi Nhìn chung, sinh viên có mức sống và sự tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện của gia đình, sự chu cấp của gia đình bởi hầu hết sinh viên khi còn ngồi trên giáng đường đại học thì chưa có khả năng làm việc tạo thu nhập đế đám bảo cho chi phí học tập và chi phí tiêu dùng Hiện nay, có một bộ phận sinh viên năng động làm thêm tăng thu nhập nhưng chủ yếu họ vẫn cần sự trợ cấp của gia đình Bởi vậy, mức sống của sinh viên chủ yếu là mức sống phụ thuộc Nếp sống của sinh viên được hình thành bởi những hành vi ứng xử của họ trong những môi trường gia đình, bạn bè và xã hội Mỏi sinh viên có cách
Trang 34thức sử dụng thời gian nhàn rỗi khác nhau Tuy nhiên, trong luận án tiến sĩ
nghiên cứu “A7*M cầu giải trí của thanh niên”, tác giả Đinh Thị Vân Chi
đã đưa ra chỉ số về “thời gian nhàn rỗi cấp ngày, những hình thức giải trí phổ biến nhất của thanh niên Hà Nội (theo thứ tự) là xem ti vi (33,93** ) nghe nhạc (29,37%), chơi các môn thể thao phổ thông (26,79%), đọc sách báo (24,40%) hoặc đi chơi (14,09%)” [10, 137] Tác giá Trần Đức Mã trong báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cũng cho biết, xem ti vi chiếm tỷ lệ cao nhất trong các hoạt động giải trí của thanh niên nông thôn miền Bắc: xem ti
vi (72%), chơi thể thao (66%), đọc báo (53%), tâm sự với bạn (17%) nghe đài (14%), dạo chơi (13%) [46, 8],
Qua hai nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy trong khi nhàn rỗi, chủ yếu sinh viên dành thời gian xem các chương Irình Iruyền hình với mong muốn tìm kiếm sự giải trí sau những giờ học căng thẳng, đồng thời tìm kiếm thông tin và những kiến thức cần thiết mà truyền hình có thể đem lại cho họ như: kiến thức và thông tin khoa học, thế giới động vật, kiến thức về văn hoá xã hội, những thông tin kinh tế - chính trị trong và ngoài nước Chính truyền hình đã tạo ra một đời sống tinh thần lành mạnh, góp phần nâng cao tri thức cho sinh viên, đặc biệt trong thời gian nhàn rỗi
1.3.2 Tác động tích cực của truyên hình đối với sinh viên:
Sinh viên đại diện cho thế hệ tri thức trẻ, họ được coi là “mục tiêu và là động lực của sự phát triển xã hội cả trên phương diện tiềm năng trí tuệ, cả trên phương diện khả năng sức trẻ và văn hoá tinh thần” [6, 71], Đặc điếm tám lý lứa tuổi sinh viên có ánh hưởng nhiều đến việc hình thành phát triển nhân cách của sinh viên, nhất là tính nhạy cám yêu cái mới, thích cái vui, chuộng cái đẹp, tính sôi động, linh hoạt và táo bạo, sống nặng tình cảm hơn lý chí, dễ hướng tương lai, chóng quên quá khứ Những đặc điểm của giới trẻ như thích ứng nhanh, gày ân tượng mạnh, luôn có xu thế chi phổi nếp sống văn hoá tinh thần của sinh viên Những hoạt động âm nhạc, nghệ thuật, văn hoá, thê thao, du
Trang 35lịch, hoạt động giao tiếp và thời trang thích ứng với tâm lý, ‘ình cảm, hứng thú và đáp ứng khát vọng đời sống tinh thần của sinh viên.
Văn hoá tinh thần của sinh viên vừa gắn với sự phát triển trí tuệ sáng tạo và sự phong phú về thẩm mỹ nghệ thuật, vừa gắn với sự trưởng thành về nhân cách của sinh viên và là động lực cơ bản đế xây dựng thế hệ sinh viên yêu nước, có tính cộng đồng, lao động sáng tạo, phát triển đời sống tinh thần phong phú Văn hoá tinh thần cua sinh viên là thứ văn hoá trẻ, hướng về cái tiến bộ, lành mạnh, trong sáng, vãn minh, một thứ văn hoá khoa học và hiện đại, năng động và đổi mới Văn hoá tinh thần biểu hiện những đặc trưng của thế hệ trẻ vừa kế thừa cái tinh hoa tốt đẹp của truyền thống dân tộc, vừa biểu hiện tính nhân văn, nhân ái, nhân bản rất phong phú và đa dạng
Cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng khác, truyền hình đang góp phần xây dựng đời sống văn hoá tinh thần cho sinh viên Truyền hình “cung cấp và tạo cho sinh viên một khối lượng nhất định những tri thức, những ấn tượng thẩm mỹ cần và đủ đê làm nảy sinh ở họ lòng ham thích, thiên hướng, hứng thú với các sự vật, hiện tượng có V
nghĩa thẩm mỹ” [15, 160] Trên cơ sở những tri thức, ấn tượng thẩm mỹ
đó, truyền hình tạo cho sinh viên năng lực cảm thụ các chương trinh truyền hình, hướng dẫn họ tiếp thu đúng và sâu sắc nội dung tư tưởng của các chương trình đó
Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, sinh viên phải đứng trước nhiều thách thức để giữ vững bản lĩnh cúa mình Hiện nay, có một bộ phận sinh viên “có xu hướng chạy theo lối sống không lành mạnh, coi thường giá tri nhân văn, kỷ cương đạo lý, mắc nhiều tệ nạn xã hội” [26, 385], Truyền hình góp tiếng nói nhằm định hướng lối sống cho sinh viên, tạo đời sống tinh thần lành mạnh, giúp sinh viên giải toá căng thẳng sau giờ học bằng những chương trình giải trí, trò chơi, tạo những sân chơi bổ ích, thu hút sinh viên theo dõi và trực tiếp tham gia, gây hưng phấn và kích thích khả năng sáng tạo, sự năng động của thế hệ trẻ
Trang 361.3.3 Điều kiện tiếp nhận truyền hình của sinh viên:
Điều kiện tiếp nhận truyền hình và các sán phám cua truyẽn hình phụ thuộc vào trình độ học vấn và trình độ thẩm mỹ của người tiếp nhận
“Trình độ càng cao thì càng có khả nãng và hứng thú tiếp nhận thông tin ngược lại trình độ càng thấp thì có ít khả năng và hứng thú hơn, nhủi là đỏi với những thông tin về khoa học công nghệ, những biểu hiện của một nền văn hoá mới và hệ giá trị mới” [47, 157],
Sinh viên là lớp người đang trong quá trình hoàn thiện, khảng định nhân cách và tài năng Sinh vicn luôn nằm ớ trung tâm của những chuyển động xã hội, là lớp người dễ tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, có sức khoẻ và nhiệt tình lao động “Họ là nền tảng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước” [ 14, 121-
Sinh viên có tri thức và luôn có nhu cầu tiếp cận những tri thức mới nên họ có đủ điều kiện tiếp nhận, tự phân tích, đánh giá nhiều vấn đề thời sự mà họ tiếp nhận từ việc xem truyền hình Họ có khả năng giải mã những thông điệp thông tin mà truyền hình đem lại Vì vậy, sinh viên có ý thức đầy đủ khi xem một chương trình truyền hình đế tiếp nhận nhũng thông tin kiến thức Đó là điều kiện chủ quan khi tiếp nhận truyền hình của sinh viên, nghĩa là họ thực sự có nhu cầu và có năng lực tiếp nhện các sản phẩm của truyền hình
v ể mặt khách quan, sinh viên tiếp nhận truyền hình trong điéu kiện có thời gian rảnh rỗi, chương trình truyền hình mà họ ưa thích, thời gian xem phù hợp với thời gian biểu làm việc và sinh hoạt của họ Có những nghiên cứu cho rằng “Đối với những kênh truyền hình tổng hợp, trong những ngày làm việc trong tuần, buổi tối được coi là giờ vàng vì đó là thời điểm có nhiều người xem truyền hình nhất Vì thế, người ta thường bố trí những chương trình quan trọng, có ý nghĩa xã hội lớn vào thời gian này Các chương trình dành cho đối tượng chuyên biệt thường được phát vào những thời điểm thích hợp nhất đối với việc tiếp nhận của từng đôi tượng” [38, 144], Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định
Trang 37này Đồng thời, sinh viên muốn tiếp nhận các chương trình truyền hình thì điều kiện không thể thiếu được là chiếc máy thu hình, phải có ti vi (điều kiện vật chất) và điều kiện xem phù hợp (như khoảng cách từ mắt đến tivi, khoảng cách âm Ihanh từ tivi đến tai khán giá, thời gian xem tivi ) thì họ mới xem được truyền hình.
1.3.4 Đặc điếm tàm lý tiếp nhận truyền hình của sinh viên:
Tâm lý là một phạm trù dùng để chỉ các hiện tượng thuộc thế giới tinh thần của con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người Tâm lý tiếp nhận thực chất là toàn bộ các hiện tượng tâm lý các quy luật tàm lý gắn với sự tiếp nhận hiện thực khách quan để tạo ra
sự hình thành và biến đổi tâm lý của con người Tâm lý tiếp nhận truyền hình của sinh viên bị chi phối bởi đặc điểm tâm lý của sinh viên Mỗi sinh viên là một cá thể riêng biệt và họ có những sớ thích, mong muốn khác nhau
Về đặc điểm sinh lý và thế chất, sinh viên hấu hết ở độ tuổi từ
1 8 - 3 0 , sự phát triển thể chất cho phép họ có thể đảm nhận mọi công việc trong hoạt động học tập, lao động và giao tiếp xã hội Sinh viên có khả năng tham gia nhiều hoạt động với hiệu quả cao, tuy nhicn do sự hưng phấn cường độ cao của hệ thần kinh trong giai đoạn phát triển của đời người cùng với sức mạnh của thể chất, dẫn tới sinh viên có đặc điểm tâm lý sôi nổi, nhiệt tình, dễ tiếp nhận cái mới, dễ bắt chước và dễ bị kích động Sinh viên có khả năng nhận thức nhanh nhạy, sáng tạo và thực tế nên họ có tâm lý thích tiếp cận với cái mới, tiếp cận nhanh với các vân đề xảy ra trong cuộc sống của họ Đây là giai đoạn hình thành nhân cách của con người nên sinh viên rất mong muốn được khẳng định mình, nổi trội về một lĩnh vực nào đó nên họ ham học hỏi, thích thu thập được nhiều thông tin mới lạ, muốn cho mọi người thấy khả năng hiểu biết của mình Truyền hình chính là một phương tiện để sinh viên có thể thoả mãn được những mong muốn đó
Trang 38Hình ảnh động và âm thanh tổng hợp là đặc trưng của truyén hình tác động tới tâm lý tiếp nhận của công chúng nói chung và của sinh viên nổi riêng Các nhà nghiên cứu tâm lý học báo chí ở nhiều nước trên thế giới đã phân tích và đưa ra cơ chế liếp nhận hình ảnh động trên màn hình, trong
đó nhấn mạnh: khi nói về cái nhìn, người ta nghĩ ngay đến mắt và quên rằng mắt chỉ là một nửa của hệ thống cảm nhận hiện thực khách quan, nửa kia của hệ thống này là não cảm nhận riêng khi nhìn khõng phải là
do mắt quyết định mà là do não quyết định [13, 22], Xuất phát từ cư chế
đó, sinh viên khi tiếp nhận truyền hình thường rất chú động vì' họ phân tích những cái cần thiết khi xem truyền hình
Sinh viên có nhiều mục đích khác nhau khi tiếp cận và tiếp nhận
truyền hình Trong bài viết "Tâm lý độc íịiá của báo clìí thời nay' in trên tạp chí Người làm báo số tháng 10 năm 2003, tác giả đã cho biết yêu cầu
của độc giả đối với báo chí như sau:
Một là, muốn tiếp nhận được nhiểu thông tin mới, chính xác Hai là, muốn được mở mang hiểu biết, nâng cao trí tuệ
Ba là, muốn được giải trí
các tác giả đã cho rằng “hiệu quả của hệ thống thông tin đại chúng có quan
hệ mật thiết với các đặc điểm tâm lý của đối tượng nhu' khả năng chú ý nhận thức, hiểu biết, sự ghi nhớ các thông báo ” [51, 325], Tâm lý sinh viên khi tiếp nhận truyền hình mong muốn được nhận thức một cách đầy đú những thông tin mà truyền hình đem lại, muốn ghi nhớ các thông tin ấy và
từ đó nâng cao hiểu biết của bản thân họ trong lĩnh vực mà họ quan tám
Nói tóm lại, đặc điểm tâm lý tiếp nhận truyền hình của sinh viên thê hiện ở sự chủ động, sáng tạo, họ tiếp cận truyền hình với những mục
Trang 39đích và nhu cầu xuất phát từ chính bản thân họ Tuy nhiên, bên cạnh những
ưu điểm trên, sinh viên còn có tâm lý chỉ quan tâm đến vấn đề cua mình, đòi hỏi cao, thích cái mới lạ, nhanh chán
1.3.5 Đặc điểm nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh vién:
Nhu cầu của thanh niên, đặc biệt là sinh viên ngày càng đa dạng
và ở mức độ cao Nhu cầu văn hoá tinh thần của sinh viên cao song chưa được đáp ứng một cách đầy đủ Cuộc điều tra xã hội học những năm 90 đã chỉ ra nhu cầu nguyện vọng của thanh niên theo thứ tự giám dần như sau [50, 64]:
- Nhu cầu nghề nghiệp, việc làm gắn với thu nhập
- Nhu cầu về cuộc sống ổn định
- Nhu cầu học tập, phát triển tài nãng
- Nhu cẩu tình bạn, tình yêu, hôn nhân gia đình
- Nhu cầu hưởng thụ văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải trí
- Nhu cầu dân chủ, tự do, công bằng
- Nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội
Ngày nay, nhu cầu của sinh viên có sự phát triển tươrg đối hài hoà giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, giữa nhu cầu mang ý nghĩa
cá nhân và xã hội, đó là những nhu cầu đặc thù của lứa tuổi Với sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là truyền hình, nhu cầu hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật, vui chơi giải trí của sinh viên ngày càng đa dạng và được đáp ứng ở mức độ cao hơn
Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng [ 13, 27], hệ thông nhu cầu của sinh viên gồm:
Nhu cấn có đủ kiến thức, kỹ năng để hoạt động với một nghé nghiệp trong tương lai, có một vị trí trong hệ thốn % lao động xã hội: đáy là
nhu cầu cao nhất, chi phối các dạng hoạt động của sinh viên, là động cư thúc đẩy họ tích cực chuẩn bị mọi mặt về tri thức, kinh nghiệm cuộc sống
và khả năng tự thể hiện trong giao tiếp xã hội
Trang 40Nhu cầu được đám bảo các điểu kiện vật chất và tinh thun cho hoạt động học tập, nghiên ciht: hầu hết sinh viên chưa có thu nhập, mức
sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào sự chu cấp của gia đình Tuy nhiên, sinh viên đòi hỏi phải được đảm bảo các điều kiện vật chất tối thiểu nên họ luôn chủ động trong việc sắp xếp thời gian học tập, làm thêm, hoạt động phù hợp với điều kiện kinh tế của từng cá nhân
NỈ 1 U cầu ýơp tiếp, rình bạn, tình yêu: nhu cầu này được thế hiện ớ
sự khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong xã hội, được tòn trọng, được khẳng định mình và có tiếng nói riêng Sinh viên rất nhạy cảm trong mối quan hệ tình bạn và tình yêu, từ đó họ có sự chia sẻ, giúp đỡ và đồng cảm sâu sắc
Nhu cầu tự khẳnạ định và tự thực hiện: nhu cầu này chi phối
mọi hành vi trong các loại hình hoạt động: học tập, lao động, giao tiếp cho đến các hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí Trong hoạt động học tập, lao động và hoạt động xã hội, nếu biết phát triển nhu cầu này một cách hợp lý, sẽ cho kết quả to lớn bởi đó là nguyên nhân của sự lây lan tình cảm, bắt chước về hành vi và tạo ra sự thẩm định các định hướng giá trị của sinh viên
Như vậy, sinh viên có rất nhiều nhu cáu cơ bản trong đời sống của
họ Truyền hình là một phương tiện hữu ích có thể đáp ứng được nhu cầu cung cấp kiến thức, kỹ năng cho sinh viên, đồng thời, sinh viên có thể giải trí qua truyền hình để đáp ứng nhu cấu tự khẳng định và tự thực hiện Nhu cầu tiếp nhận truyền hình của sinh viên rất đa dạng Như trên chúng tôi đã phân tích, sinh viên muốn thông qua phương tiện truyền thông đại chúna là truyền hình để tiếp nhận được nhiều thông tin mới, chính xác; mở mang hiểu biết, nâng cao trí tuệ; giải trí và tăng tính thẩm mỹ; đồng thời lý giải những vấn đề nổi cộm trong xã hội Truyền hình và những nhà báo truyền hình phải tìm cách để đáp ứng được những nhu cầu đó vì chính nhu cầu của sinh viên là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn đề tài cho mỗi chương trình