MỤC LỤCTrang Chương I Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát 6 triển kinh tê biển, giao thông vận tải đường biển; về vai trò của báo chí trongviệc phục vụ phát triển kinh tê 1
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC icHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BAO c h í
VŨ H ồN G NHUNG
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TÁI
THỜI KỲ DẨY MẠNH
(Khảo sát Tạp c h í H àng hải Việt Nam, Tạp ch í Giao thông Vận tải
và Báo Giao thông Vận tải từ năm 1997 đền năm 2002)
Chuyên ngành: Báo chí
M ã số: 5.04.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC • • «
N guoi hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ N guyễn Tuấn Phong
HÀ NỘI, 2004
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Hồng Nhung
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương I Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát 6
triển kinh tê biển, giao thông vận tải đường biển; về vai trò của báo chí trongviệc phục vụ phát triển kinh tê
1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát 6 triển kinh tế, kinh tê biển, giao thông đường biển
biển
thông vận tải đường biển
2 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về vai trò 11 của báo chí trong việc phục vụ phát triển kinh tê
Chương II Hàng hải Việt Nam trong nền kinh tê đất nước thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa Vai trò của báo chí đồi với sự phát triển ngành hàng hải
1 Một sỗ nét khái quát về ngành Hàng hải thê giới và 17 Việt Nam
2 Hàng hải Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tê 24
đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3 Vai trò của báo chí đối với sự vận động, phát triển của 26
ngành Hàng hải
GTVT (khảo sát từ năm 1997 đến năm 2002)
Trang 43.2 Vai trò của Tạp chí Hàng hải Việt Nam (khảo sát từ năm 29
1991 đến 2003)
Chương III: tạp chí hàng hải Việt Nam với sự phát triển của ngành 31
Hàng hải
Chương IV: Một số Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng tạp chí 42
Hàng hải Việt Nam
1 Xác định tôn chỉ mục đích, chức năng, nhiệm vụ, mục 42 tiêu
cộng tác viên
chí
Trang 53.5 Đổi mới về hoạt động tài chính 64
PHỤ LỤC
Trang 6(O à i trá t ủ a hủú e ítí nụàtt it /« » « // th ú i L ỳ itiiij tn a tiii íà titỊ íU ỊÍ iiẽ p iiíĩếí hiên đ a i ỉto á đ à i tm'ti'e
PHẦN MỞ ĐẦU
Với hơn 3200km bờ biển, có nhiều cửa sông và vũng vịnh, Việt Nam
là một quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển ngành kinh tế biển Trải qua 37 năm xây dựng và trưởng thành (05/5/1965 - 05/5/2002), ngành Hàng hải Việt Nam đã có nhiều đổi thay Những bước chuyển mình của Ngành đều được phản ánh kịp thời, sinh động qua báo chí và báo chí lại có tác động tích cực đến sự phát triển của Ngành Báo GTVT, Tạp chí GTVT đã giành một thời lượng không nhỏ để tuyên truyền phản ánh cho ngành hàng hải Tuy nhiên do là 2 tờ báo và tạp chí của cả ngành GTVT, có nhiệm vụ tuyên truyền phản ánh về tất cả các lĩnh vực của ngành GTVT như đường sắt, đường bộ, hàng không cho nên không thể chỉ tập trung cho việc tuyên truyền riêng cho ngành Hàng hải
Sự ra đời, tổn tại của Tạp chí Hàng hải Việt Nam với vai trò là cơ quan ngôn luận ngành Hàng hải Việt Nam đã khẳng định sự cần thiết phải có một tờ tạp chí chuyên ngành để theo sát phản ánh từng bước đi của một ngành kinh tế được coi là mũi nhọn của nền kinh tế nước nhà
Tạp chí Hàng hải Việt Nam, được Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao -
Du lịch cấp giấy phép xuất bản số 1270/BC-GPXB ngày 08/11/1990 (được
Bộ Văn hóa Thông tin cấp lại giấy phép số 205/GP-BVHTT ngày 07/5/2001), là cơ quan ngôn luận Ngành Hàng hải Việt Nam, xuất bản 1 tháng/kỳ Tạp chí đã xuất bản số đầu tiên vào tháng 1 năm 1991 Tuy nhiên trong thời kỳ đất nước đang thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa, từng bước hội nhập kinh tê quốc tế, ngành Hàng hải cũng đang có những bước chuyến mình lớn lao Để thực sự xứng đáng với tầm vóc của một cơ quan ngôn luận, Tạp chí Hàng hải Việt Nam cũng cần có những thay đổi cho phù hợp Là người đang trực tiếp tham gia vào hoại động của tờ tạp chí, chúng
1
Trang 7Ml i ti*t tỉìin tim e J // —
rO a i trò của hán í'/ii' ttế/ìiti/t troniỊ ẾỈềòì Uìj ĩtắiỊ Itiạtiii eồntậ iií/ ỉiiỊp /tri á ểtiệit íTại ho ít đ ấ t m/óe
tôi mong muốn được đóng góp một vài ý kiến để xây dựng tờ tạp chí ngày một vững mạnh hơn
1 Tính cấp thiết của để tài:
Thực tế cho thấy: Trong sự phát triển của ngành Hàng hải nói riêng và
sự phát triển của nền kinh tế nói chung, ta có thể thấy rằng vai trò của báo chí nói chung và báo chí ngành GTVT nói riêng trong việc tuyên truyền phản ánh mọi hoạt động của ngành Hàng hải là hết sức quan trọng cần được quan tâm Đặc biệt sự tồn tại, phát triển và nâng cao chất lượng hiệu quả của tờ tạp chí Hàng hải Việt Nam - tờ tạp chí chuyên ngành Hàng hải là việc làm cấp thiết Việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoạch định chiến lược phát triển của tạp chí góp phần nâng cao chất lượng và số lượng
đề tài tạp chí có hiệu quả thiết thực, cụ thể đối với Ngành là việc làm có ý nghĩa cấp bách, thiết thực hiện nay đối với Tạp chí
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về việc nâng cao chất lượng hiệu quả của tờ tạp chí Hàng hải Việt Nam Việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về tạp chí này theo chúng tôi là việc làm cần thiết có ý nghĩa thiết thực phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, phóng viên trong tạp chí
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
Thông qua việc nghiên cứu, khảo sát tình hình tuyên truyền, phản ánh của Báo GTVT, Tạp chí GTVT, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, đặc biệt tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Tạp chí Hàng hải Việt Nam qua
13 năm đặt trong bối cảnh phát triển của ngành Hàng hải thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chúng tôi xác định mục đích trọng tâm của luận văn là khẳng định vai trò cần thiết của báo chí đặc biệt là tờ Tạp chí Hang hai Việt Nam đối với ngành Hàng hải Qua nghiên cứu có
2
Trang 8('O a ì ir Ầ cái a h á n ( ' ỉií t iijt t u f t c 7 trrttn/ i ỉ t à i iù j ĩtíU Ị tttọế tít Of) tị (Ị t tiỊ Ỉ ù ẽ p iity á í ù ê n đ ạ i ế ỉtìá đ ã i tiiíắ ế '
thể đặt ra những vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung về tồn chỉ mục đích, nội dung, hình thức và tổ chức hoạt động, đối tượng bạn đọc nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của tờ Tạp chí Hàng hải Việt Nam trong thời gian tới.Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát làm luận văn chúng tôi cố gắng trình bày những ưu, nhược điểm của tờ tạp chí Hàng hải Việt Nam, để từ đó
đề xuất được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của Tạp chí HHVN
4 Nhiệm vụ của đề tài:
- Nêu khái quát về ngành Hàng hải trong thời kỳ đẩy mạnh cồng nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
- Phân tích, đánh giá vai trò của báo chí nói chung, báo GTVT, Tạp chí GTVT và Tạp chí Hàng hải Việt Nam nói riêng đối với sự phát triển GỈia ngành Hàng hải
- Trên cơ sở các phân tích đánh giá trên, áp dụng những cơ sở lý luận
về báo chí để đưa ra những biện pháp, những thay đổi cần thiết để xây dựng tạp chí Hàng hải có nội dung, hình thức đạt chất lượng cao
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận về báo chí, tham khảo cơ cấu hoạt động của những tờ tạp chí chuyên ngành khác
Đề tài cố gắng đưa ra một số đề xuất kiến nghị đối với các nhà quản lý trong quá trình điều hành tờ tạp chí
5 Cơ sở lý luận, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hổ Chí Minh
- Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về báo chí, về kinh tế, kinh tế biển và phát triển ngành Hàng hải
3
Trang 9fOai trà eủu lứt ú ehí tujtm ít ểỊ& iĩKĩ tro tu/ thài Ui) iTtttj Hi fifth C'Atitj tu/hiệp itíĩ/ỉ ểtiệti đại ỉioá đai iitiếĩe
Nhà nước về các nguyên tắc hoạt động của báo chí
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích và so sánh; phương pháp khảo sát phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng một cách khách quan, từ đó đề ra những nhận xét, đánh giá tính khoa học; nêu đề xuất kiến nghị có khả năng ứng dụng vào thực tiễn góp phần và việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của Tạp chí
Chương I: Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển
kinh tế biển, giao thông vận tải đường biển; về vai trò của báo chí trong việc phục vụ phát triển kinh tế
Chương II: Hàng hải Việt Nam trong nền kinh tế đất nước thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Vai trò của báo chí đối với sự phát triển của ngành Hàng hải
Chương III: Tạp chí Hàng hải Việt Nam với sự phát triển của ngành Hàng hải
Chương IV: Một số giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng Tạp chí
Hàng hải Việt Nam
Tóm lại, Hàng hải được COI là một ngành kinh tê đầy tiêm năng và quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển kỉnh tế đất nước thời kỳ
Trang 10Mitạti OẨÌtỉ til tie »ij —
Oai tri} et’iit túi ty ứ/ií iii/iiit/t l Ị ^ i K ĩ trotiíỊ thú i Uìj ĩĩãiỊ tttiittỉt eàtti/ tìtịỉùẽp Ị to á hiện iTttì lị 0 (1 đ á t ntỉởe
đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa Chính vì vậy Tạp chí Hàng hải Việt Nam với vai trò là cơ quan ngôn luận ngành Hàng hải cũng phải đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả phù lựxp với sự phát triển chung của Ngành, đáp ứng yêu cẩu mới trong giai đoạn hiện nay Việc nâng cao chất lượng, nội dung, hình thức và hiệu quả của Tạp chí là một việc làm thiết thực và cấp bách.
5
Trang 11f ' O a i t r ò e í t t í h á n e í i í ế ì i Ị ầ Ế ĩ t i C Ỵ 3 r (¥ < 7 Ế M ề ầ tỊ t í t á i U i ) i f i i t j t n ạ t t / i e â t ì t ậ t ì i Ị Í i i ị ị i i i í ì á / i i ê t i đ ạ i h í ) á t T í i ỉ n t ể ở e
PHẦN NỘI DƯNG Chương I:
CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VỂ PHÁT TRIỂN KINH TẼ BIEN, g i a o t h ô n g v ậ n t ả i
ĐƯỜNG BIỂN; VỂ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG
VIỆC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, KINH TÊ BIEN, g i a o t h ô n g đ ư ờ n g
BIỂN
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nhiều ngành kinh tế đã có những bước chuyển mình tích cực, trong đó có ngành Hàng hải Thực hiện các chủ trương, chính sách
đó, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cùng với nhiều ngành kinh tế khác vai trò của ngành Hàng hải trong sự nghiệp pháp triển kinh tế ngày càng được khẳng định
1.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tẽ
Bước vào thập kỷ 90 công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng; tuy nhiên nền kinh tế tăng trưởng chậm, chưa ổn định và còn suy thoái trong một số lĩnh vực Mặt khác tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp Đất nước ta vẫn trong tình thế còn nhiều khó khăn, thử thách gay gắt Chính vì vậy Đảng và Nhà nước đã đề ra phương hướng nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới (1996-2000) là mở rộng hợp tác quốc tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhưng không thể tách rời việc xây dựng đồng bộ và vận
6
Trang 12' O a i trò e ỉt íi h á n t h í ệ t íjù iiỉt c ị^ 7 r( y j trìì» iíỊ t h à i Ui) itíĩiỊ ttiíiti/ t ủ àitíỊ lU Ị Ỉ iìệ p ễ in á ỉiỉẽ t t đ ụ i ito / i đ u i H iió í'
hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Mục tiêu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ Cụ thể chúng ta phải tập trung cho mục tiêu phát triển, đạt tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm 9 - 10%, đến năm 2000 GDP bình quân đầu người gấp đôi năm 1990 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14 - 15%/năm Phát triển giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng không; các ngành dịch vụ thương mại vươn lên bảo đảm lưu thông hàng hóa thông suốt trong cả nước và mở rộng thương mại quốc tế, nâng cao hiệu quả các hoạt động về ngoại thương, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng thị trường xuất nhập k h ẩu 1
Đảng có chủ trương: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” Nghĩa là phát triển kinh tế phải được coi
là trung tâm, mọi nhiệm vụ khác đều tập trung xoay quanh phục vụ, làm tốt nhiệm vụ trung tâm này
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đánh giá Chiến lược 10 năm (1991-2000) nền kinh tế đã có một số chuyển biến tích cực Đại hội IX
đã đề ra mục tiêu chiến lược và quan điểm phát triển là đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
1 Vãn kiện Đại hội đại biếu toàn quốc lần thứ VIII, NXB C hính trị quốc gia Tr 18 34 36
7
Trang 13Mỉt ộ ti iỉủti tim e iij “
f()ai trồ ùỉta b á (% eiít ttợảit/i troếiíẬ tiiò i iùj đ a ụ tnitỂt/í eỏtiiỊ M jliiệ fi ỉtfíá ểiiện đ ạ i ittìá ĩtíìì tuióe
Mục tiêu cụ thể là: Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000; nâng đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI); năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trình độ thế giới ; Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được tăng cường, chi phối các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.2
Quan điểm phát triển là phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội vào bảo vệ môi trường; coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đổng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực; gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh Như vậy tại đại hội IX Đảng ta đã nêu cụ thể cần phát triển mạnh các ngành nghề trong đó có ngành Hàng hải cùng với những ngành kinh tế khác
1.2 Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tẽ biển
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của biển Nước ta có 329.000km2 đất liền và phía Đông lại có biển, hàng ngàn đảo lớn nhỏ, dọc bờ biển có rất nhiều vị trí có thể xây dựng cảng biển Biển liên kết với đất liền tạo nên thể thống nhất của lãnh thổ nước ta Dù tài nguyên biển có thể to lớn hay hạn chế thì đó là sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên đối với nước ta Biển đông có những nguồn tài nguyên tái tạo phong phú, đa dạng và những nguồn tài nguyên không tái tạo quan trọng Đây chính là những tài nguyên quan trọng để phát triển nền kinh tế nước ta Bên cạnh đó, biển Đông nước ta là một biển mở, thông với đại dương, là nhân tố quan trọng để mở rộng giao lưu thương mại quốc tế
2 Vãn kiện đại hội đại biểu toàn qu ố c lần thứ IX NXB C hính trị quốc gia, Tr 24 90
8
Trang 14r( ) a i t r ò e ủ í i ỉ ư í i ì e / i t t t f j t i t t i i ( ị ^ 7 r ( f r 7 i r a t u j t í i ò ì U ỳ đ ẩ ụ t t t í i t t / i c à M Ị i t i f h i ệ p i t ế ì á ỉ t i ệ t t đ ạ i h ế ì á đ ấ t t i i ể â e
Tại Văn kiện Đại hội VIII Đảng ta đã để ra nhiệm vụ khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của vùng biển, vùng ven biển để phát triển kinh tế, kết hợp với quốc phòng, an ninh, bảo vệ và làm chủ vùng biển của tổ quốc.3
Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã đặt ra mục tiêu phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, hàng không, hàng hải, bưu chính viễn thông, du lịch
Đặc biệt trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội Đảng
ta tiếp tục nhấn mạnh phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển: mở rộng nuôi trồng và đánh bắt, chế biến hải sản, tiến ra biển xa; khai thác và chế biến dầu khí; phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển, du lịch, dịch vụ; phát triển các vùng dân cư trên biển, giữ vững an ninh vùng biển, phát triển kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển.4
1.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong phát triển giao thông vận tải đường biển
Có thể nhận định một cách tương đối thì ngành Hàng hải thương mại
là ngành vận tải biển nhằm thoả mãn nhu cầu vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách theo đường biển cùng các dịch vụ phù trợ kèm theo từ một địa điểm đến một nơi khác trên cơ sở hợp đồng kinh tế được ký kết
Vận tải biển là một phương thức vận tải cho phép vận chuyển một khối lượng hàng hoá hoặc hành khách lớn trên cự ly vận chuyển dài với chi phí vận tải rất thấp nhưng lại có độ an toàn cao và ít gây ô nhiễm mồi trường
Trong xu thế hội nhập khu vực, quốc tế và toàn cầu hoá, vận tải biển trở thành cầu nối giữa các nước, các châu lục với nhau Thực tê cho thấy,
3 Vãn kiên đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, N X B Chính trị quốc gia Tr 90
4 Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, N X B Chính trị quôc gia Tr 95
9
Trang 15ẨUtậit tiitn tit tit 3/J —
rO a i trò e/tti há ó e ỉií tttjtmft trrtiuj th ờ i Ui) đẩỊậ imut/i eỏtttỊ tu/hiệp iiOÓ iùệti đ ụ i h o á đ ủ i tiiíiíứ
vận tải biển đảm nhận tới 90% tổng khối lượng hàng hoá của toàn thế giới Những quốc gia có biển, vận tải biển đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vận tải biển phát triển thúc đẩy theo một loạt các ngành kinh tế khác phát triển, tạo ra lợi thế cạch tranh cho các sản phẩm hàng hoá của một quốc gia trên thị trường quốc tế Phát triển vận tải biển góp phần tăng cường củng cố an ninh vùng lãnh hải
Việt Nam ta nằm sát đường hàng hải quốc tế, nơi hiện nay có mật độ tàu bè qua lại đông nhất thế giới, là cửa ngõ của các nước láng giềng không
có biển Đó là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển nhanh chóng vận tải biển
Trong hơn 40 năm qua, cùng với các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, mà nhất là trong thời kỳ đổi mới, ngành vận tải biển đã từng bước củng cố, xây dựng và phát triển trong các lĩnh vực như vận tải, cảng biển, dịch vụ hàng hải góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, ổn định và phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển
Đảng và Nhà nước cũng đã có chủ trương phát triển, cải tạo, nâng cấp một số cảng sông, cảng biển, sân bay; xây dựng dần cảng biển nước sâu.5
Ngành hàng hải là ngành mang tính quốc tế cao, luật Hàng hải ra đời sớm và phát triển mạnh bởi vì hoạt động hàng hải không chỉ diễn ra trong 1 quốc gia mà nó còn vượt qua khỏi biên giới quốc gia đó, liên quan đến nhiều nước trên thế giới Đó cũng chính là lý do mà nước ta đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định, Thoả ước, Công ước quốc tế, có hiệu lực nhằm điều chỉnh các lĩnh vực liên quan của ngành này Các tổ chức chính xây dựng Công ước quốc tế liên quan đến biển và hàng hải có thể kể là Liên hợp quốc (UN), IMO, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số tổ chức khác (ITU,
■s Vãn kiện Đai hội đai biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị qu ố c gia T r 88
10
Trang 16Jh iậ » ầ lU Ĩti l i m e ẦÍJ —
r()ai trà tim Ịiátì e h í n ụ ìu tít Ộ (7<Y ^7 tr4ì»nj iítò i UỊậ đ ẩ y titạtiit eỗnợ ttế/ìtiệp tio íi h iện đ ạ i ho á đ á i iit/ếí<'
UNCTAD ) Tổ chức hàng hải quốc tế đã ban hành nhiều Công ước liên quan đến nhiều lĩnh vực bao trùm đến hoạt động toàn diện của đội thương thuyền quốc tế v ề nguyên tắc, Công ước quốc tế chỉ ràng buộc nghĩa vụ chấp hành đối với quốc gia tham gia Nhưng cần thấy rằng, do tính chất giao lưu quốc tế của hàng hải thương mại, do nhu cầu tiêu chuẩn hoá an toàn và ngăn ngừa ô nhiễm toàn cầu ngày càng tăng lên, Công ước đã tìm cách quy định gián tiếp và khôn khéo, yêu cầu tất cả các nước cùng phải tuân thủ Chúng ta đã tham gia, ký kết 12 Công ước quốc tế về hàng hải, ký
18 Hiệp định hàng hải song phương và đa phương
Hiện Chính phủ đã ban hành 10 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 4 Quyết định, Bộ GTVT ban hành 37 Quyết định và 4 Quyết định do các Bộ khác ban hành có liên quan đến hoạt động của ngành Hàng hải
Những chủ trương, chính sách sự chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước bước đầu đã tạo cho ngành Hàng hải những cơ hội mới trong sự nghiệp phát triển và hiện đại hóa Ngành.
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC PHỤC v ụ PHÁT TRIEN KINH TẾ
Báo chí có vai trò rất quan trọng đối với việc phục vụ phát triển kinh
tế Báo chí đã có những phản ánh tác động tích cực đến từng bước đi, bước phát triển của mỗi ngành kinh tế
Công cuộc đổi mới đất nước có thể nói bắt đầu từ đổi mới kinh tế Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam được khởi đầu và bằng những đổi mới ở các cơ sở, trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ Trong quá trình đó báo chí đã góp phần phát hiện, tổng kết và phổ biến các mô hình tiên tiến ra phạm vi toàn quốc Báo chí đã kịp thời phản ánh các vấn đề và kiến nghị của các doanh nghiệp để các cơ quan hoạch định chính sách và
] I
Trang 17rO a ì trà ùiiíi háở fjtt ntjtin h Q Q r( K Ĩ trontj t h à i iùj itẩij tnếttt/ỉ C‘âtttj titỊÌtiệp h flá ếtìệti ítíiì it í) á đ ấ t tuiót'
quản lý kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy chế phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời báo chí cũng phổ biến kịp thời các quyết sách của các cơ quan quản lý, góp phần hướng dẫn hoạt động của các doanh nghiệp
Trong thời kỳ đổi mới, nội dung thông tin về kinh tế đã được các nhà báo đưa lên phương tiện thông tin đại chúng hết sức phong phú Hầu như tất
cả các tờ báo đều dành cho trang báo của mình một lượng thông tin kinh tế đáng kể Báo chí tích cực tuyên truyền nhằm đẩy mạnh sự nghiệp mở rộng
và hợp tác kinh tế nhiều mặt của nước ta với nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước Báo chí đã làm tốt định hướng tuyên truyền của Đảng trong thời gian qua, cổ vũ mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước và tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong những thành tựu của sự nghiệp đổi mới có
sự đóng góp không nhỏ của báo chí
Những thành tự to lớn của sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó có thành tựu của báo chí không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước
Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến công tác lãnh đạo, quản lý báo chí Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ
“Quản lý chặt chẽ công tác xuất bản, công tác điện ảnh và công tác phát hành sách, báo, phim ảnh Phát triển các phương tiện thông đại chúng, nâng cao chất lượng thông tin” Đến Đại hội lần thứ VII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí, xuất bản theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân Tăng đầu tư phương tiện phát thanh, truyền hình, đưa thông tin đến mọi vùng đất nước, đến phần lớn các gia đình nhất
12
Trang 18Jditttn oàn tim e it) —
r()ui trẬ Oita háo Í-ỈÚ M jtiu fi irúHiỊ tiiò ì Uij tTf/tj ttm nii eântỊ tiíjftiệp iifit't iiiệtt ĩt ụ i iiOfi ĩĩú t unite
là ở nông thôn và miền núi Coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại Quản lý chặt chẽ công tác xuất bản, thông tin báo c h í ”, " Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích”
Để luật pháp hóa, cụ thể hóa những quan điểm của Đảng về báo chí, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Luật Báo chí (ngày 28/12/1989, có hiệu lực thi hành 1/1/1990) Đây là đạo luật phản ánh những thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới trên lĩnh vực truyền thông đại chúng Tuy nhiên, sau khi thực hiện Luật báo chí được vài năm, nhất là sau khi có Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng, nhiều vấn đề về báo chí và hoạt động trên lĩnh vực này cần được bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Chính vì vậy ngày 31/12/1992, Ban Bí thư TW Đảng (khoá VII)
đã có chỉ thị 08/CT-TƯ về “Tăng cường sự chỉ đạo và quản lý nhằm nàng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí - xuất bản”
Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục đường lối đổi mới
và phát triển báo chí Cụ thể là “Phát triển đi đôi với quản lý tốt mạng lưới thông tin, báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, điện ảnh và các hình thức nghệ thuật khác Sớm hoạch định một chiến lược quốc gia về thông tin đại chúng, tính chân thật, tính chiến đấu và tính đa dạng của thông tin, coi trọng việc phát hiện và đề cao các nhân tố mới đồng thời với việc phát hiện
và phê phán các hiện tượng tiêu cực Tăng cường công tác thông tin đối ngoại” Tiếp tục đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển báo chí, thông tin đồng thời chấn chỉnh những yếu kém lệch lạc trong lĩnh vực này, Bộ Chính trị
TW Đảng khóa VIII đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 08/CT-TƯ,
và có Chỉ thị 22/CT-TƯ về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản
lý công tác báo chí, xuất bản Và gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật báo chí Điều này đã tạo điều kiện cho báo chí nước ta đi đầu trong việc định hướng
13
Trang 19ẤUiận iưttt tiiạe ẳíj —
íO a i trA úẦỉếi há ú e/tí ttế/ìiti/i iriìttt/ tỉiò ì U»J đẩỊỊ iHíiii/i eÔHiậ Htịítiệịi tioá ỉiiềtt íTụi itíìá đ ã i ầiiiríC'
tư tưởng, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, tích cực hóa các quá trình kinh tế - xã hội, trở thành một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Tại Hội nghị lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Đảng ta đã nhận định: Hệ thống thông tin đại chúng đã đạt được một số thành tựu: thông tin ngày càng phong phú, chất lượng nội dung và hình thức được nâng cao, sinh động, đa dạng, từng bước tiếp cận trình độ báo chí hiện đại, thực hiện tốt chức năng là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức
xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân Báo chí, xuất bản hiện nay trở thành nguồn thôn tin và sinh hoạt văn hóa quan trọng, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội; báo chí xuất bản đã góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phát hiện và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội , động viên phong trào thi đua yêu nước, báo chí tiếp tục làm sáng tỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần tổng kết thực tiễn, làm phong phú và cụ thể hóa đường lối của Đảng; thông tin đối ngoại đã mở rộng và nâng cao chất lượng góp phần nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế; nhiều cơ quan báo chí đã trực tiếp tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội như xóa đói giảm nghèo, đển ơn đáp nghĩa ; báo chí phát triển với nhịp độ nhanh về số lượng, cơ cấu, loại hình, đội ngũ nhà báo và những người làm việc trong lĩnh vực báo chí xuất bản tăng nhanh; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản được tăng cường Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó vẫn còn những yếu kém khuyết điểm như: Xu hướng xa rời tôn chỉ mục đích, chưa bám sát nhiệm vụ chính trị, đối tượng phục vụ, ít thông tin về ngành, địa phương, đoàn thể, khai thác quá nhiều những thông tin giật gân, câu khách ít tác dụng giáo dục; trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, đạo đức
Trang 20Mít tut iừin tittle ếĩj —
r O i l ì t r à e í i í t l i á ở e / i í M Ị ù n í t ( y ^ l r ( K J ỉ r o t H Ậ t h ờ i U ì f ĩ f â t j I t t i i t t ỉ i í ò t i i Ị n t Ậ Ì i i ê ị i í t í) á ỉ t i è t Ề đ u i Ịề o ú ĩt iít H i t t H '
nghề nghiệp của một bộ phận nhà báo bị suy giảm; một số cơ quan xuất bản
và phát hành chạy theo lợi nhuận nên đã bị tư nhân chi phối, tình trạng “bán giấy phép” có chiều hướng gia tăng
Chính vì vậy, Hội nghị cũng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng Cụ thể: củng cố, xây dựng, phát triển, từng bước hiện đại hoá hệ thống thông tin đại chúng; sắp xếp lại và quy hoạch hệ thống thông tin đại chúng nhằm tăng hiệu quả thông tin, tránh lãng phí, phối hợp hoạt động của các loại hình thông tin; xây dựng và từng bước thực hiện chiến lược truyền thông quốc gia phù hợp đặc điểm nước ta vào xu hướng phát triển thông tin đại chúng của thế giới; đẩy mạnh thông tin đối ngoại; không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp, chất lượng tư tưởng, văn hoá của hệ thống truyền thông đại chúng, khắc phục xu hướng thương mại hoá trong hoạt động báo chí, xuất bản; chăm lo đặc biệt về định hướng chính trị, tư tưởng, văn hoá, cũng như
về kỹ thuật hiện đại ; xây dụng, ban hành, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp quy
Riêng đối với ngành Hàng hải, trong điều kiện phát triển thông tin hiện nay mỗi sự kiện đều được báo chí phản ánh kịp thời, cung cấp cho người đọc những thông tin cần thiết, tạo ra dư luận xã hội tích cực đối với Ngành, giúp cho việc trao đổi thông tin về Ngành ngày một tốt hơn
Tóm lại báo chí Việt Nam đã cố những tác động tích cực đối với việc phục vụ phát triển kinh tế Và đặc biệt những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vế báo chí đã tạo cơ sở thuận lợi đ ể báo chí phát huy được những vai trò của mình.
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá cao những đóng góp của ngành Hàng hải Nhiều chủ trương chính sách được ban hành kịp thời đã giúp ngành Hàng hải từng bước khẳng định được
15
Trang 2116
Trang 22r( ) u i t r à f i t í ! h ả ú ( l u M j t t t t h Q & r( K ĩ t m t ế í Ậ ỉ / l ờ i U ì ị đ ù i j t n t i t t / t e ò n í Ị t i í Ị Ì ỉ i ẽ p l i ú á i t i è í i i t ạ i i i t ì á đ ấ t t n ể i í e
Chương II:
HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG NÊN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ Đ ố i VÓI s ự PHÁT TRIEN
Nhưng có thể nói khi Christops Columbo tìm ra châu Mỹ, thì đó là lúc
mà nhu cầu giao lưu thương mại giữa các châu lục bắt đầu hình thành Con Người không thể sử dụng những phương tiện vận chuyển bằng đường bộ được nữa bởi nó tốn quá nhiều thời gian và đôi khi không thực hiện được
Tiếp sau đó con người đã phát minh ra cách đóng những con thuyền buồm có thể chạy trên biển, việc giao lưu buôn bán giữa các quốc gia lúc bấy giờ bắt đầu được chuyển sang đường biển thay thế cho những chuyến đi dài ngày bằng đường bộ trên đất liền và đặc biệt mở ra cơ hội giao lưu buôn bán giữa các châu lục
Ngày nay, so với những loại hình giao thông vận tải khác như hàng
không, đường sắt, đường bộ thì giao thông đường biển là phương thức có
17
Trang 23M iỉận tùítt tỉtito JĨJ —
('Oai trà eỉiit iưííi e h í tií/íiti/i c y 3 f( y 3 trs)mj títồ ỉ UÌJ đ iìiị tiiỉiii/i eâitế/ iUỊỈiìệp ỉttĩá íiiệếi đ ụ i ít ú á đ ấ t ntíóe
giá cước vận chuyển thấp nhất, khả năng chuyên chở hàng khối lượng lớn tốt nhất
Chủ nghĩa Tư bản phương Tây ngày càng phát triển, dựa trên nền công nghiệp hiện đại, họ đua nhau xây dựng các hạm đội tàu hùng mạnh để làm công cụ chinh phục thuộc địa
Sự giao lưu quốc tế và việc buôn bán bằng đường biển giữa các nước
trong vùng Đông Nam Á với các nước phương Tây ngày càng phát đạt trong
nhiều năm trở lại đây
Ngày nay, khi thế giới đang ngày càng mở rộng mối giao lun, sự thông thương buôn bán, hợp tác giữa các nước ngày càng phát triển, nhu cầu vận chuyển hàng hóa giữa các quốc gia tăng, ngành Hàng hải thế giới đang ngày càng được đầu tư, phát triển
Vai trò quan trọng của ngành Hàng hải đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia và thế giới đã được nhiều công trình nghiên cứu và thực tế phát triển của các quốc gia từ trước đến nay đã khẳng định Ngược lại, ngành Hàng hải lại chịu hậu quả trực tiếp của sự phát triển nền kinh tế thế giới Trong gần hai thập kỷ vừa qua, những biến động sau đây đã tác động đến tình hình phát triển chung của ngành Hàng hải
Thứ nhất là những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới Sự thay đổi
biểu hiện thông qua những yếu tố sau đây: sự sụp đổ của Liên Xô và theo
đó là cả hệ thống XHCN ở Đông Âu Chính yếu tố này khiến sự xuất hiện
và phát triển của kinh tế thị trường tại khu vực này Do vậy, thị trường của các ngành vận tải, trong đó có cảng biển được mở rộng
Yếu tố thứ hai là xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của
các quốc gia, mà trước hết là sự củng cố và lớn mạnh của khối thị trường chung Châu Âu, với sự xuất hiện và lưu hành của đồng tiền chung Euro của khối này Sau đó là sự phát triển nhanh chóng của các khối kinh tế khác tại
Trang 24^'Oai trà eiiết tìẮỈo eltí tuỊ.ànii ÌrỡntỊ th ò i ta/ tTtĩiỊ ttt/iti/i eỏttiỊ tií/hiêp í ị tì ít li iin đ ạ i ito á đ u i ntểíỉe
các khu vực khác nhau trên toàn châu lục, ví dụ như Mercusos (Mehico -
Mỹ và Canada), của ASEAN với tổng doanh số thành viên từ 6 lên tới 10 năm 1999 cùng với rất nhiều các hoạt động khác nhau nhằm củng cố sự vững mạnh của các khu vực này
Xii th ế thứ ba là sự phát triển kinh tế thần kỳ của khu vực Đông Nam
Châu Á, với sự xuất hiện của 4 nước công nghiệp mới - NIC, đã biến khu vực này thành khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới trong những năm 80 và đầu 90 Một trong những nguyên nhân của việc tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia này là chiến lược kinh tế - lấy xuất khẩu làm động lực chính cho phát triển kinh tế Bên cạnh đó, xu thế dịch chuyển các ngành công nghiệp lắp ráp từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển, nơi có nguồn nhân công dổi dào và chi phí thấp hơn -
đó là các nước như: Singapore, Hổng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc Và hiện nay sự dịch chuyển này đang được lặp lại, nhưng lại từ các nước NIC sang các nước có nền kinh tế phát triển thấp hơn (Việt Nam, Lào, ) Chính xu thế này, cùng với việc phát triển kinh tế đã khiến ngoại thương phát triển nhanh chóng
Xit th ế thứ tư \k sự phát triển nhanh chóng, với cường độ cao của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, khiến cho việc toàn cầu hoá về kinh tế, kỹ thuật và tài chính phát triển nhanh chóng hơn và được củng cố vững chắc hơn Điều đó cũng có nghĩa là việc liên kết và toàn cầu hoá được củng cố, phát triển hơn và tiềm năng, cơ hội về thị trường kinh doanh cho các ngành, các lĩnh vực của các quốc gia cũng phát triển và
mở rộng hơn
Nhiều quốc gia trên thế giới đã tập trung vào việc phát triển ngành hàng hải, từ cảng biển, đội tàu, đến những loại hình dịch vụ hàng hải
19
Trang 25JluAn aảễi thạo ằĨị —
r()ai trà eíiti háo ch í iitjàitf» {} ỵ7r( K Ĩ (raniỊ iíih i UÌỊ đãÍJ tiiítti/t eàtiíỊ tiíỊÍiiêp itíì/t /liệu đ ụ i iiOíi đ ấ t ếỉiiíH'
1.2 Hàng hải Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có ngành Hàng hải xuất hiện từ khá lâu đời Trong những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, ngành Hàng hải đã
có những đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trước yêu cầu phát triển kinh tế, quốc gia Đại Việt sớm hình thành và phát triển giao thông vận tải đường thuỷ Nhưng từ buổi đầu với trình độ
“hàng hải sơ khai”, mỗi lần vận chuyển đường biển sang Trung Quốc là mỗi lần ông cha ta phải đương đầu với biết bao thử thách hiểm nguy
Từ xa xưa, sự giao lưu quốc tế và buôn bán trên đường biển giữa các nước trong vùng Đông Nam Á, giữa Trung Quốc, Đại Việt với các nước trong khu vực, cũng như với châu Âu đã hình thành và ngày càng phát triển Chính vì giao thông vận chuyển đường biển sớm phát triển, cho nên các thương cảng dần dần được hình thành và phát triển
Do nhu cầu giao tế với nước ngoài mà biển của đất nước ta với hệ thống bến cổ của vùng hải đảo Vân Đồn, một thương cảng đầu tiên của nước Việt Nam được chính thức thành lập dưới thời vua Lý Anh Tông năm thứ 10 (tức năm 1149) Dấu vết của sự phồn vinh thủa trước mà tư liệu khảo
cổ học đã làm rõ và chứng minh: khu cảng lịch sử này là một miền kinh tế trù phú, trung tâm của một khu vực có nhiều sản vật quý, hiếm, có thể thu hút sự chú ý của khách buôn nước ngoài Nó còn là một trạm quan trọng của trục giao thông đường biển quốc tế nối liền gần khắp vùng ven Biển Đông, Tây
Các nước phong kiến Đại Việt ngày càng có ý thức về cương giới biển, lần lượt ban hành các chính sách, quy chế, nhằm bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc ở ngoài biển khơi Sự giao lưu quốc tế và việc buôn bán bằng đường biển giữa các nước trong vùng Đông Nam Á với các nước phương Tây ngày càng phát đạt Do sự phát triển hàng hải quốc tế và phương Đông qua vùng
Trang 26ẨU iận m in thạo HJ —
r()tii ỉ ră 1‘ttti ỉìấ eỉtt t i Ợ ế ì t i / i Cị ỉ r / ì ễ H Ị tiiò ì Lì/ đ ì i Ị Ị ttttiti/i e ò n i Ị M Ị Ì i i í ậ i it tì ả ỉtiítt ĩ t í ễ i ỉtỏt itíĩt iỉtíởe
biển Việt Nam phồn thịnh, căng thúc đẩy ngoại thương Việt Nam phât triển Vì sớm có mối liín hệ hăng hải với câc nước trong khu vực, nín Việt Nam mặc dầu trình độ hăng hải còn thấp, nhưng vẫn được người nước ngoăi đânh giâ cao về kỹ thuật chế tạo tău, thuyền, vă khả năng vượt biển: “ Với
bờ biển dăi, địa hình chắc trở, nhưng lại có đông dđn miền duyín hải tham gia văo nghề mậu dịch vă đânh bắt câ hùng mạnh, Việt Nam đê sớm lă quốc gia biển - phụ thuộc văo biển khơi, vă tinh thông trong việc khai thâc nhiều nguồn lợi của biển”
Đến thế kỷ XVII, XVIII, Việt Nam có dịp khẳng định tiềm năng hải sản của mình vă củng cố bổ sung thím được nhiều kiến thức đóng tău vă nghề đi biển của câc nước phương Tđy Từ năm 1924 đến năm 1930, câc cảng Hải Phòng, Săi Gòn được người Phâp chú trọng tăng cường trang thiết
bị kho hăng, dụng cụ bốc xếp, phương tiện vận tải, tăng gấp hai, ba lần năm 1914
Quâ trình phât triển của lịch sử Việt Nam đê chứng tỏ cảng biển vă đường biển luôn luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xđy dựng vă bảo vệ Tổ quốc Thời kỳ Phâp thuộc, xu thế phât triển ngănh đường biển mạnh hơn, nhưng chính sâch kìm hêm của thực dđn Phâp, không lăm cho ngănh đường biển Việt Nam theo kịp với thời đại
Văo đầu thế kỷ XX, một số nhă tư bản Việt Nam bắt đầu kinh doanh nghề vận tải thủy Tiíu biểu lă nhă tư bản Bạch Thâi Bưởi với đội thương thuyền có tổng trọng tải 4.069 tấn, vận chuyển hănh khâch lă chủ yếu; có câc cơ sở đóng vă sửa chữa tău
Tuy nhiín, những cơ sở ngănh đường biển: cảng biển, phương tiện vận tải biển hoặc những cơ sở phục vụ giao thông vận tải biển thời thuộc Phâp, vẫn lă những cơ sở vật chất quan trọng để khi giănh được chính quyền, miền Bắc hoăn toăn giải phóng, Đảng vă Nhă nước ta có điều kiện củng cố
vă phât triển ngănh giao thông vận tải biển
Trang 27M iiậ it o ìin tỉm e ả tị —
rO a i tri) e/iít ềiếín e h í nợàti/t tríHUỊ th ò i L ỳ íĩtiy m ụ ti it tàặttỊ Hí/hiệp iềoá /tiện đ ạ i hú á (Tui tiiểâe
Năm 1945, tuy đất nước mới giành được chủ quyền nhưng nhu cầu giao thông vận tải rất lớn Ở vị trí một nước có hàng ngàn cây số bờ biển, chính quyền nhân dân các cấp đã khắc phục nhiều khó khãn, tự lực, tự cường, xây đựng những đội thuyền - tàu phục vụ chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc Nhà nước khuyến khích ngư dân, diêm dân tích cực khai thác kinh tế ven biển Khi thực dân Pháp nít khỏi thành phố cảng HảiPhòng (13-5-1955), đảo Cát Bà (22-5-1955), miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã giành được chủ quyền và quản lý gần 1 OOOkm bờ biển
và cả vùng biển bao la Nhiệm vụ đặt ra là phải xây đựng những cơ sở của ngành đường biển Việt Nam như bến cảng, bảo đảm hàng hải, vận tải biển, đại lý tàu biển, để nhanh chóng đáp ứng nhiệm vụ mới của đất nước
Trong quá trình hình thành và phát triển các cơ sở đầu tiên của ngành vận tải biển Nhà nước ta cũng ban hành một số thể lệ, qui định đảm bảo cho các hoạt động chính quy Đến năm 1960, khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tăng lên rõ rệt Năm 1957: 7.000 tấn, 1958:172.000 tấn, 1959: 236.000 tấn, 1960: 239.000 tấn Ngày 5-8-1962, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính thức ban hành bản quy tắc giao thông đường biển Trong bản quy tắc này qui định tất cả các phương tiện đi biển ở trong nước và nước ngoài đều phải chấp hành mọi qui tắc đi lại trong phạm vi hải phận của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Trước yêu cầu khách quan là Mỹ muốn phong toả để làm yếu những
cố gắng chiến tranh của cộng sản ở miền Nam Việt Nam, ngày càng đòi hỏi ngành đường biển phải được tổ chức lại, dưới sự quản lý chỉ huy của một cơ quan lãnh đạo tập trung thống nhất Ngày 5-5-1965, Bộ Giao thông vận tải
ra Quyết định số 1.046 giải thể Cục vận tải thuỷ để thành lập Cục vận tải đường biển và Cục vận tải đường sông, Từ đây, Cục vận tải đường biển
có trách nhiệm quản lý, chỉ huy các cơ sở, bộ phận trong ngành: hệ thống cảng biển, đội tàu biển, đại lý tàu biển, bảo đảm hàng hải, công nghiệp sửa
Trang 28Mittin txảti t i l tieJ // “
f ( ) a i ỉrà ũ ủ a t ĩ á a e iti tttjtittii trótiiỊ t í t ò ì U ì j ĩt iiụ i t t i t t t / i (‘ÒHÌỊ tiíỊÌiìêp t i o i i ỉiii> » i í t í i i i i t i á ỉĩ ẩ ì it f t ' i i e
chữa cơ khí, xây đựng công trình thuỷ và trường đào tạo công nhân kỹ thuật
nhất là tiếp nhận hàng hoá, vận chuyển, chi viện cho công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc, chi viện cho khu IV và miền Nam song Cục vận tải đường biển chỉ tiếp nhận và quản lý được một số cơ sở vật chất kỹ thuật hết sức nghèo nàn Hệ thống cảng biển chỉ có 1.700m cầu tàu, thiết bị bốc xếp
ít ỏi lại quá cũ kỹ Trong suốt năm 1967, đế quốc Mỹ vừa tăng cường ném bom bắn phá miền Bắc, mở các chiến dịch không tập lớn đánh phá ác liệt vào Hà Nội, Hải Phòng, các khu công nghiệp trên miền Bắc, vừa ráo riết thực hiện phong toả các cửa sông, ngăn chặn tàu nước ngoài ra vào cảng Hải Phòng và các cảng khác Tháng 3 năm 1967, chúng bắt đầu thả thuỷ lôi xuống các cửa sông, phối hợp với kế hoạch phong toả cảng Hải Phòng và các cảng khác, đế quốc Mỹ tìm mọi cách ngăn chặn giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, nhằm biến thành phố cảng Hải Phòng thành “cô đảo” Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Cục vận tải đường biển Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của ngành đường biển nước ta
Ngày nay trong xu thế hội nhập của thế giới, đứng trước nhu cầu vận chuyển ngày càng tăng, ngành Hàng hải Việt Nam đã có những đầu tư đổi mới về cơ sở hạ tầng cũng như các trang thiết bị phục vụ SXKD
Nhờ có sự quan tâm đầu tư thích đáng của Đảng, Nhà nước và các ban ngành có liên quan, ngành Hàng hải Việt Nam đã có những đổi thay rõ rệt
về mọi mặt, từng bước khẳng định vị trí của mình với khu vực và thế giới
Ngày nay, trong xu th ế toàn câu hóa, việc giao lưu thông thương giữa các nước đang ngày càng được quan tâm thì Hàng hải có thể được coi là một cách cửa rộng lớn nhất mở ra th ế giới của mọi quốc gia Với những ưu
th ể vượt trội trong lĩnh vực vận tải và khả năng tăng thu ngoại tệ góp phần
23
Trang 29ÀUtậtx tui ti tíịựeJ tj —
r( ỉa ì trồ ứiiíi hnfí e iií n y ủ tiỉt ( j T y y~ỉ troutỊ th ò i L ì Ị itíĩí/ titạtt/i eòiííỊ II tj h iệ p itoá iiiệti đ ạ i hf)ắ đ ấ i Hiioe
cân bằng cán cân thanh toán quốc tê' nên Hàng hải được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
2 HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG s ự NGHIỆP PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ ĐAY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Hiện nay, trong sự phát triển chung của kinh tế đất nước, ngành Hàng hải đã có những đóng góp không nhỏ Từ cảng biển, đội tàu, đến công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, dịch vụ hàng hải đang từng bước được đầu tư, nâng cấp theo hướng hiện đại hóa Hiện chúng ta có khoảng 90 cảng biển lớn nhỏ với tổng chiều dài bến 25km (gấp khoảng 2,4 lần so với năm 1995) và hàng vạn m2 kho tàng và bãi chứa hàng Bên cạnh những khu cảng chính có từ lâu như cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẩng, cảng Sài Gòn hiện chúng ta đã và đang xây dựng những khu cảng mới với độ sâu (âm) từ 9-23m như cảng Cái Lân, xây dựng khu cảng Thị Vải-Cái Mép, Bến Đình- Sao Mai Đặc biệt, vừa qua Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Dự án cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong Khi cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong được xây dựng chúng ta sẽ có được một cảng biển với năng lực có thể cạnh tranh với khu vực và trên thế giới
Hệ thống cảng biển Việt Nam đã hình thành 3 cụm cảng chính ở 3 miền của đất nước Ba cụm cảng này đóng vai trò rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Song song với việc xây dựng hệ thống cảng biển, cơ sở hạ tầng, Nhà nước cũng đã có những quan tâm thích đáng trong việc xây dựng và phát triển đội tàu biển Việt Nam
Năm 2003, sản lượng hàng hóa vận tải biển ước đạt gần 30 triệu tấn, tăng 25,39% so với 2002 Các đơn vị kinh doanh vận tải biển đã khôngngừng đổi mới, tăng cường trẻ hóa đội tàu, khai thác có hiệu quả đội tàu
24
Trang 30Jilt íĩn tưiễi tit at' itj —
r()ui trà et/ếi hảo el t í nợtìti/t 0% FY K Ĩ tr/ĩtií/ t h à i Uìị đảiỊ Ittanií eà»iij fií//itệfi Íictíì íiiệ n (tại h o á đ ấ t iịtểóe
hiện có, đồng thời tập trung phát triển đội tàu, tích cực tìm kiếm thị trường
và nguồn hàng Đặc biệt, các doanh nghiệp lớn trong nước như Tổng công
ty Hàng hải Việt Nam đã chú trọng nâng cao năng lực vận tải của đội tàu, tìm kiếm nguồn hàng ở nước ngoài, nên đã góp phần tạo ra mức tăng trưởng mạnh trong năm 2003 Riêng năm 2003, Vinalines đã đầu tư đóng mới và mua 11 tàu, tăng năng lực vận tải của đội tàu thêm 141.121 DWT
Tính đến hết 30/12/2003, đội tàu quốc gia đã có 928 tàu với tổng dung tích là 1.786.527,62 GT và tổng trọng tải là 2.650.010,14 DWT Trong đó tàu hàng khô chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đội tàu: 566 tàu (63,45%), 16 tàu container (1,79%), tàu dầu và dịch vụ dầu khí: 107 tàu (12%) Số lượng tàu trực thuộc các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số đội tàu biển Việt Nam (435 tàu, chiếm 48,77%) Dự kiến trong một vài năm tới, số lượng tàu biển sẽ tăng lên đáng kể tạo nên môi trường vận tải sôi động, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Đội tàu của chúng ta hiện vận chuyển được khoảng 10 - 15% thị phần vận tải Chính vì vậy Nhà nước đã có chủ trương mua, đóng mới những con tàu hiện đại hơn, năng lực vận chuyển cao hon nhằm nâng cao tỷ lệ vận chuyển của đội tàu Việt Nam Bên cạnh việc đầu tư mua tàu mới Nhà nước
có chủ trương phát triển ngành công nghiệp đóng tàu trong nước Điều này
sẽ vừa xây dựng được một đội tàu cho ngành Hàng hải vừa phát triển được ngành đóng tàu của chúng ta Chúng ta đã đóng thành công những con tàu 6.500 tấn và giờ đây chúng ta đang tiến hành đóng mới những con tàu có trọng tải lớn hơn (đang đóng tàu 13.500 tấn) và sửa chữa tàu biển đến300.000 DWT Ngoài ra, chúng ta cũng đã xây dựng, nâng cấp được một
hệ thống 71 đèn biển dọc từ Bắc đến Nam (kể cả quần đảo Trường Sa), hệ thống đài thông tin duyên hải và hệ thống luồng lạch thường xuyên được cải tạo nâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Hàng hải trên con đường hội nhập thế giới Chúng ta đang phấn đấu để thế kỷ 21, Việt Nam sẽ là một bờ biển sáng
25
Trang 31Mâiíĩti iưìti tit tie ầtị —
r( ) f i i t r à úi Ị a h á o ủ / ií t if f t it iit t r r t t t i Ị t í t ò i U ìf đ ủ i Ị ttụ tii/ i e ò t i í Ị t t t j iiiê f i ỉt t ìá í i i ê t t íTí/i ỉiO ế í í t a t it iiớ e
Những đổi mới và phát triển ấy đã thêm phần khẳng định vai trò của ngành Hàng hải trong nền kinh tế Việt Nam - ngành kinh tế mũi nhọn
Tóm lại, Việt Nam có tiêm năng to lớn đ ể phát triển ngành kinh tê biển ngang tầm khu vực và th ế giới, và những đóng góp to lớn của ngành công nghiệp này ngày càng được khẳng đinh trên tìiực tế.
3 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ Đ ố i VỚI s ự VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH HÀNG HẢI
Có thể nói, trong quá trình vận động và phát triển của ngành Hàng hải, báo chí đã góp một phần khá quan trọng Mỗi sự đổi thay, mỗi bước phát triển của ngành Hàng hải đều nhận được sự ủng hộ, cổ vũ, phản ánh rất kịp thời của báo chí Không những thế báo chí đã trở thành diễn đàn, thành nơi trao đổi những vấn đề nóng hổi của Ngành Những hoạt động nổi bật của Ngành như các công trình xây dựng đèn đảo, xây dựng những cảng biển quốc gia phát triển năng lực đội tàu đã được báo chí đề cập đến rất nhiều Những bài báo đó phần lớn đã nêu bật được tầm quan trọng của việc phát triển các lĩnh vực thuộc ngành Hàng hải Từ đó giúp các nhà quản lý nhìn nhận thực tế vấn đề và đưa ra được những quyết sách, xây dựng được những định hướng chiến lược đúng đắn và kịp thời
3.1 Vai trò của báo chí ngành GTVT: báo GTVT, Tạp chí GTVT (khảo sát từ năm 1997 đến năm 2002)
3.1.1 Báo Giao thông vận tải
Có thể nói với vai trò là tờ báo của ngành GTVT, là diễn đàn tin tức của 5 lĩnh vực GTVT nhưng ngành Hàng hải là một trong những ngành được Báo GTVT rất quan tâm phản ánh
Nằm 1997, Báo GTVT ra định kỳ 8 trang/1 sôVtuần nhưng đã giànhmột thời lượng không nhỏ cho việc phản ánh các hoạt động của ngành
26
Trang 32^O a i trò củ a lĩ Ún tiề í nụìitt/i tr4ì»n/ tittìi UÌỊ itáij m ạ n ỉi eèttíỊ iii//i/'ẽ// lio á Ííiẻn (Tai itná (Tai ttttâe
Hàng hải Hàng chục bài viết và hàng trăm tin ngắn đã được Báo GTVT chuyển tải tới bạn đọc
Những vấn đề như cảng biển, vận tải biển, dịch vụ hàng hải, pháp luật,
an toàn hàng hải là những vấn đề được báo GTVT quan tâm thường xuyên đăng tải
Năm 1998, 1999 Báo GTVT tiếp tục giành sự quan tâm đặc biệt cho việc đăng tải thông tin về ngành Hàng hải Việt Nam Những lĩnh vực như cảng biển, vận tải biển ngày càng được báo GTVT quan tâm tuyên truyền.Năm 2000 trở lại đây báo GTVT tăng kỳ lên 2 kỳ một tuần Nhờ vậy thời lượng dành cho ngành Hàng hải cũng được tăng lên Đây là thời kỳ mà Đảng, Chính phủ giành mối quan tâm đặc biệt cho việc xây dựng và phát triển hàng hải theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hóa Vì vậy những bài viết với nội dung tuyên truyền, phổ biến những kinh nghiệm, thành tựu trong việc phát triển đội tàu, quản lý khai thác cảng biển của các doanh nghiệp trong nước chiếm một tỷ lệ khá lớn (năm 2000: 10 bài viết về cảng biển, 4 bài viết về phát triển đội tàu và vận tải biển; năm 2001: 23 bài viết
về cảng biển, 10 bài viết về đội tàu và vận tải biển; năm 2002: 32 bài viết về cảng biển, hơn 10 bài về độ tàu và vận tải biển; năm 2003: 34 bài về cảng biển, 16 bài về đội tàu và vận tải biển) Đặc biệt trong những năm gần đây vấn đề về an toàn hàng hải ngày càng được quan tâm, số lượng bài viết hàng năm tăng từ 3 bài đến 10 bài/ năm
Tuy nhiên do đặc thù của báo viết, dung lượng “đất” hạn chế nên những bài viết trên báo GTVT chỉ nêu lên những vấn đề dưới dạng thông tin
là chủ yếu Những bài viết mang tính nghiên cứu chuyên sâu, phổ biến kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế
Có thể nói với vai trò một tờ báo của cả ngành GTVT, báo GTVT đã
có những quan tâm đặc biệt trong việc tuyên truyền phản ánh mọi hoạtđộng của ngành Hàng hải Việt Nam Chính vì vậy báo GTVT đã góp một
27
Trang 33Jit I a n tutu tit tit* lij —
O u i t r à l i t a h / io e ỉ t í n f j t i t t i t t r f i t u j t i i à i U Ì J í ĩ í ỉ í / t t i i i t i / i í H i t ợ t i ế ì á h iệ n đ ạ i h í ) ú (Tat t i i i ó e
phần không nhỏ trong việc xã hội hoá những thông tin về ngành Hàng hải Việt Nam Báo GTVT thực sự là công cụ đắc lực giúp cho độc giả nắm bắt kịp thời từng bước phát triển của ngành Hàng hải
3.1.2 Tạp chí Giao thông vận tải
Khác với tờ báo GTVT, Tạp chí GTVT là một tờ tạp chí chuyên ngành khoa học kỹ thuật, chính vì vậy những nội dung đăng tải trên Tạp chí GTVT tuy không chú trọng về mặt cung cấp thông tin như báo GTVT nhưng Tạp chí GTVT lại là nơi đăng tải những kiến thức chuyên ngành, những vấn đề khoa học kỹ thuật chuyên sâu hơn
Năm 1997, có khoảng 30 bài viết / năm
Năm 1998, có khoảng 30 bài viết / năm
Năm 1999, có khoảng 22 bài viết / năm
Năm 2000, có khoảng 30 bài viết / năm
Năm 2001, có khoảng 31 bài viết / năm
Năm 2002, có khoảng 45 bài viết / năm
Năm 2003, có khoảng 32 bài viết / năm
Như vậy có thể thấy rằng số lượng bài viết về ngành Hàng hải khá ổn định Do có lợi thế về mặt thời lượng của một tờ tạp chí nên những bài viết thường mang tính nghiên cứu chuyên sâu Những bài viết về các lĩnh vực kinh doanh cảng biển và vận tải biển không chiếm tỷ lệ lớn Nhưng những bài viết, bài nghiên cứu về các mô hình quản lý khai thác cảng biển và vận tải biển chiếm tỷ lệ khá cao Đặc biệt tạp chí GTVT đã đăng không ít những công trình, bài viết của các chuyên gia trong lĩnh vực luật pháp hàng hải Bên cạnh đó tạp chí cũng đăng tải những bài viết của các giáo viên trường Đại học hàng hải Việt Nam Như vậy có thể nói Tạp chí GTVT đã giữ vai trò như một cuốn tài liệu tra cứu chuyên ngành về ngành Hàng hải
Trang 34ẤUiận tui ti th ạo J/ỹ
-r()ai trồ e/iti háỡ e íií n ợ ìtn ỉi Ộ Í 7 Y / 7 Ểf4ĩitíj tỉtiíi Uìj íĩtĩ// tuftti/t aồtHỊ nij/iiêjỊ ho ú hit'tỉ đ ạ i ỉitì/t đ ấ t nưáe
Nói tóm ỉại tạp chí GTVT và báo GTVT, với hai hướng truyền tải thông tin khác nhau nhiũig đã góp một phần rất quan trọng trong việc tuyên truyền cho ngành Hàng hải Việt Nam Từng bước pỉìdt triển của ngành Hàng hải trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã luôn được báo GTVT và tạp chí GTVT theo dõi sát sao, đăng tải kịp thời.
3.2 Vai trò của Tạp chí Hàng hải Việt Nam (khảo sát từ năm 1991 đến 2003)
Kể từ năm 1991, khi mới ra đời Tạp chí Hàng hải luôn bám sát tôn chỉ mục đích hoạt động, thực sự là cơ quan ngôn luận của ngành Hàng hải Việt Nam
Với lợi thế của một tờ báo ngành nên Tạp chí đã thường xuyên bám sát các hoạt động của ngành Hàng hải Những sự kiện, thông tin nổi bật đều được Tạp chí đăng tải kịp thời thông qua những bài viết sâu sắc
Năm 1997, Tạp chí Hàng hải Việt Nam chuyển trụ sở tòa soạn từ TP Hải Phòng lên TP Hà Nội Tuy không gần với địa bàn hoạt động của các đơn vị trong Ngành như trước nữa những Tạp chí vẫn luôn bám sát tình hình hoạt động của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Đặc biệt kể từ năm 2001 đến nay Tạp chí Hàng hải Việt Nam ra bộ mới với khuôn khổ, hình thức trình bày đẹp hơn đã thực sự có những bước tiến mới trong việc tuyên truyền phổ biến thông tin đến bạn đọc trong và ngoài Ngành
Tóm lại, báo chí là cầu nôi hai chiêu giữa các cơ quan quản lý với các đơn vị sản xuất kinh doanh Đồng thời báo chí cũng đã cung cấp những thông tin vê ngành Hàng hải cho xã hội, góp phần giúp công chúng nhìn toàn diện về các ngành nghề kinh tê - xã hội của đất nước.
29
Trang 35^Oai trÀ eìiit háo e iií tu/ìitt/i Ĩị^7^(l77 tr/HHỊ tít fit Uìj ĩtãíẬ Hititiỉi íiêny tầíỊÍiiêp ỉto á ítiêti đ ạ i ỉto á iTai nưâe
Với những ưu th ế vượt trội so với các ngành vận tải khác như đường
bộ, đường sắt, hàng không vê giá cước, năng lực chuyền chỏ lớn, khả năng thông qua cao nên ngành Hàng hải đã sớm hình thành và phát triển,
ngày càng phát huỵ tính năng V Ư 0 trội đó trong XII th ế hội nhập toàn cầu.
Trước những đôi thay, phát triển đó của ngành Hàng hải, báo chí đã
có những đóng góp không nhỏ Mọi hoạt động, mọi bước đi của Ngành đã được báo chí phẩn ánh kịp thời, chân thực Thông qua những thông tin mà báo chí truyên tải, đông đảo bạn đọc có thể hiểu hơn về một ngành kinh tê mũi nhọn và quan trọng hơn cả ìà báo chí đã giúp cho các nhà quản lý nắm vữìĩg tình hình thực tế đ ể đê ra được những chủ trương đường lối phù hợp,
từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Hàng hải ngày càng phát triển.
30
Trang 36M l! tin tut it (ft tie UJ
-(X)tii trf) eítti háo eftt Mji'itth C}^r( K J trtĩtHỊ tíiở ì Uij tTtiij i n i t n h e ỏ t i í ị t t í Ị Ì t ì è p itatt ỉtỉêếi đ ụ i itiìá đ u i ntểỏe
Chương III:
TẠP CHÍ HÀNG HẢI VIỆT NAM VỚI s ự PHÁT TRIEN
CỦA NGÀNH HÀNG HẢI
1 TẠP CHÍ HÀNG HẢI VIỆT NAM
1.1 Sự cần thiết của Tạp chí đối vói Ngành
Ban đầu chỉ là bản tin nội bộ lưu hành trong Ngành Đến những năm cuối thập niên 80 và những năm đầu của thập niên 90 ngành Hàng hải đã có những bước tiến rõ rệt Điều này đòi hỏi cần phải phổ biến rộng rãi những thông tin về hoạt động của Ngành đến đông đảo bạn đọc không chỉ là những người trong ngành Hàng hải mà còn đến những đối tượng đang làm việc trong những ngành nghề có liên quan
Mật khác, giữa những cơ quan quản lý và các đơn vị, doanh nghiệp của Ngành cũng cần có những thông tin cầu nối hai chiều Mặc dù ngành Hàng hải Việt Nam đã được báo chí trung ương, địa phương, báo, tạp chí ngành rất quan tâm theo dõi tuyên truyền nhưng do là một lĩnh vực khá phức tạp nên đôi khi những tờ báo tạp chí này khó chuyển tải hết được thông tin đến bạn đọc
Đứng trước nhu cầu đó, lãnh đạo ngành Hàng hải đã nhận thấy sự cần thiết phải có một tiếng nói riêng một sự tuyên truyền mạnh mẽ hơn cho ngành Vì vậy, trên cơ sở tờ bản tin nội bộ, Tạp chí Hàng hải Việt Nam đã được Bộ Văn hóa thông tin thể thao và du lịch cấp giấy phép số 1270/BC- GPXB ngày 8/11/1990 tạp chí bắt đầu ra số đầu tiên vào tháng 1/1991
Kể từ khi Tạp chí xuất bản số đầu tiên, Tạp chí đã qua một lần thay đổi tiêu chí “Cơ quan ngôn luận kinh tế - khoa học - kỹ thuật Liên Hiệp
Trang 37Jill ă n tfiiti Hi tie itj
-Out trẬ etiii into t'Jii titjtitiii ( / 7 Y / 7 ỊrếìtiiẬ th ò i U/J tftitj iti/tii/t t‘ô 11 if iti//ttẽfi tiOÍi iiiẽti iftit iiOt'i if at nude
hàng hải Việt Nam” thành “Cơ quan ngôn luận Cục Hàng hải Việt Nam” Song trong quá trình phát triển cùa Ngành, Tạp chí nhận thấy ngày càng có nhiều đơn vị tham gia hoạt động hàng hải bao gồm các thành phần kinh tế
Vì vậy nhằm phát huy hiệu quả của Tạp chí Hàng hải rộng hơn, thu hút nhiều bạn đọc và nhận được sự cổ vũ ủng hộ của các ngành các cấp, các doanh nghiệp hàng hải cả nước, Tạp chí Hàng hải đã một lần nữa thay đổi tiêu chí là “Cơ quan ngôn luận ngành Hàng hải Việt Nam”
Thời kỳ đầu (từ năm 1991 - 1996), Tạp chí xuất bản với khuôn khổ 19x27cm và chỉ dày 32 trang Giai đoạn này hình thức của tạp chí chưa được đẹp, chủ yếu là do kỹ thuật in ấn lúc đó còn nhiều hạn chế: ảnh mờ, ảnh đen trắng là chủ yếu, giấy sẫm m àu
Về nội dung, Tạp chí Hàng Hải chưa xây dựng được thành những chuyên mục v ề hình thức trình bày thì có thể nói là rất đơn điệu, in hai màu là chủ yếu trên giấy sẫm màu (xem phần Phụ lục)
Từ năm 1997 khi tòa soạn Tạp chí chuyển trụ sở về Hà Nội, Tạp chí đã
có bước thay đổi cả về nội dung và hình thức
Về mặt hình thức, Tạp chí in trên giấy trắng, tốt, in 4 màu, số lượng ảnh minh họa, ảnh tin tức được sử dụng nhiều hơn Đặc biệt kể từ tháng 7/2001 Tạp chí thay đổi khổ in từ 19x27 lên 20,5x28,5 và số trang tăng lên
64 trang Tạp chí đã áp dụng phương thức trinh bày tạp chí bằng những phần mền chế bản điện tử hiện đại Do vậy hình thức của tạp chí có thể nói
có một bước tiến đặc biệt so với thời gian trước (xem phần Phụ lục)
Về mặt nội dung, từ năm 1997 - 2001 Tạp chí đã có nhiều thay đổi về mặt nội dung tuy nhiên vẫn chưa xây dựng được thành các chuyên mục cố định cho từng tháng
Bắt đầu từ năm 2002, Tạp chí xây dựng những chuyên mục như:
- Sự kiện nhận định
Trang 38f O a i trà eii n háo oil í ttijttiiii trrttiij tíiồ i lu/ iTtitj tnạtth cètííỊ ntỊỈtìêp ỉítìá hìêti ĩta i itíìá đ ấ t ttưáe.
- Nghiên cứu trao đổi
Trang 39M liậ tl ƠẨttl fit tu- M Ị —
Oai trò eúíí hit ú cỉtt Ếiế/ìtti/i ( j ~ 7 ' 4 ) ~ĩ i ro tì (Ị thòi Ui/ tftitj inítn/t e ô tiíỊ tttj/iỉèp iềếĩá ti ít'tì iĩítì iiiìá đui Hiểỏe
Tuy nhiên tùy theo định hướng tuyên truyền của từng quý, chủ đề của từng tháng, mà các chuyên mục này có thể thay đổi hoặc số lượng bài viết trong các chuyên mục có khác nhau về mặt dung lượng
1.2 Về nhân sự, bộ máy tổ chức, cơ chẽ vận hành
Tạp chí Hàng hải Việt Nam có bộ máy tổ chức và cơ chế vận hành theo mô hình chung của một tòa soạn báo Tuy nhiên do là một tờ Tạp chí chuyên ngành (lại là chuyên ngành khá hẹp) nên một sô' bộ phận được tinh giản
Ban đầu cơ chế vận hành của tạp chí như cơ chế một Ban thuộc Cục Hàng hải Việt Nam Các cán bộ của Tạp chí hầu hết đều là những người đang công tác trong Ngành được điều chuyển sang, toàn bộ chưa qua một lớp đào tạo báo chí nào
Sau đó, trước yêu cầu phải phát triển Tạp chí Hàng hải Việt Nam trong
xu thế phát triển chung của ngành Hàng hải, kề từ năm 2003 lãnh đạo Cục Hàng hải Việt Nam đã quyết định cho Tạp chí hoạt động tự chủ về tài chính dưới hình thức đơn vị sự nghiệp có thu Điều này vừa tạo thuận lợi cho Tạp chí có thể chủ động trong mọi hoạt động nhưng đồng thời cũng đặt ra những đòi hỏi cao hơn đối với Tạp chí là phải vừa lo đảm bảo về mặt chuyên môn nghiệp vụ vừa phải lo cân đối thu chi
Tuy nhiên về nhân sự của Tạp chí hầu hết vẫn là cán bộ chưa được đào tạo qua chuyên ngành báo chí
Tính đến nay Tạp chí có 15 cán bộ, nhân viên nhưng chỉ có 1 phóng viên được đào tạo báo chí, một phóng viên ảnh và mới chỉ có 3 cán bộ đang theo học tại chức báo chí
Do là một tờ báo ngành, cộng với đội ngũ cán bộ chưa có kinh nghiệm làm báo nên cơ chế vận hành của Tạp chí chưa thực sự theo đúng quy trình của một tờ báo, đội ngũ phóng viên, biên tập viên thiếu
Trang 40JJjtiitt o/tn tim e it) —
r ° t Ằ Ì I'tta i u ' i f i e/tf tu/titiỉt ỉrrntí/ t/ifli Uij tfiiij Mttttit v ỏ t n Ị i t í Ị Ì i ì ê p it O i l /tiên it iii ỉiOết tĩíĩt n tiff ủ
1.3 Về nội dung, hình thức của tạp chí
Thời gian đầu tạp chí xuất bản với khuôn khổ thành phẩm là 19cm X
27cm và dày 32 trang, nhưng hiện nay theo chỉ đạo của lãnh đạo Cục Hàng
28,5cm và dày 64 trang mỗi kỳ
Cũng như vậy, thời gian mới xuất bản nội dung và hình thức của Tạp chí chưa được phong phú và trình bày chưa đẹp Đến nay nhờ được đầu tư nên bước đầu đã có những thay đổi tích cực
1.4 Về hoạt động quảng cáo, phát hành, tài chính, bạn đọc, hiệu quả
Về quảng cáo, phát hành, bạn đọc do là tạp chí chuyên ngành hẹp, cũng xuất phát từ việc đội ngũ cán bộ nhân viên chưa được đào tạo những kiến thức chuyên ngành về báo chí nên những hoạt động này chưa đạt hiệu quả như mong muốn Công tác phát hành mới chỉ phục vụ đối tượng bạn đọc trong ngành là chủ yếu chưa phát hành được rộng rãi như một số tờ tạp chí chuyên ngành khác
Về khâu tài chính, thời gian trước do hoạt động dưới hình thức phụ thuộc, trực thuộc, mọi hoạt động tài chính đều thông qua Văn phòng Cục HHVN nên đôi khi kém chủ động Hiện nay, sau khi tách tài khoản riêng, hoạt động tài chính đã tương đối độc lập, tuy nhiên vẫn cần có sự hỗ trợ của Văn phòng Cục HHVN
Qua hơn 13 năm hỉnh thành và phát triển, hình thức và nội dung của Tạp chí đã có nhiều cố gắng cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bạn đọc Tuy nhiên, Tạp chí còn nhiều hạn chế cần được khắc phục, cải tiến hơn nữa.
35