1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Day hoc cong nghe 8 theo huong tang cuong to chuc hoat dong cho hoc sinh

89 39 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,09 MB
File đính kèm Day hoc Cong nghe 8 tang cuong to chuc hoat dong.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm học 2020 2021, Chương trình GDPT Việt Nam bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Một trong những điểm nổi bật của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là đổi mới dạy học từ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh. Năng lực chỉ hình thành và phát triển thông qua hoạt động và bằng chính hoạt động của chủ thể. Do vậy, để phát triển năng lực cho học sinh, một việc không thể thiếu là cần tổ chức, tạo điều kiện, hướng dẫn các em hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động. Thực tiễn giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay đã và đang có những cải cách chú trọng đổi mới về mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học trong đó coi đổi mới về phương pháp là vấn đề trọng tâm. Đổi mới phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Qua đó, học sinh không chỉ được cung cấp những kiến thức cơ bản ở nhà trường mà còn được trang bị phương pháp, cách thức, tự học ngay từ bậc phổ thông để học sinh có thể chủ động trong việc học, khám phá, tìm tòi cập nhật những kiến thức mới của nhân loại để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711QĐTTg ngày 1362012 của Thủ tướng Chính phủ: Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học. Là môn học khoa học ứng dụng, môn Công nghệ là chiếc cầu nối giữa kiến thức khoa học với sản xuất, là môn học kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn giữa các học sinh vừa học tập vừa trải nghiệm kĩ năng sống và định hướng cho HS nghề nghiệp trong tương lai. Việc vận dụng hình thức dạy học theo hướng tổ chức các hoạt động học vào dạy một cách phù hợp sẽ phát huy tính tích cực, tự lực, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác chia sẻ của học sinh, đồng thời khơi dậy hứng học tập, khả năng tìm tòi sáng tạo cho học sinh. Chính vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Dạy học môn Công nghệ 8 theo định hướng tăng cường tổ chức hoạt động học cho học sinh” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn học.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN TRỌNG KHANH

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu trích dẫn trong công trình này là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Thu Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm thư viện, các Thầy/ Cô ở khoa Sư phạm kỹ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các nhà khoa học

đã quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu,

và hoàn thành luận văn của mình Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc

PGS.TS Nguyễn Trọng Khanh – Khoa Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Xin cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp

đỡ, động viên tác giả!

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Thu Hường

Trang 5

MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ năm học 2020 - 2021, Chương trình GDPT Việt Nam bắt đầu triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới - Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Một trong những điểm nổi bật của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là đổi mới dạy học từ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh Năng lực chỉ hình thành và phát triển thông qua hoạt động và bằng chính hoạt động của chủ thể

Do vậy, để phát triển năng lực cho học sinh, một việc không thể thiếu là cần tổ chức, tạo điều kiện, hướng dẫn các em hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động

Thực tiễn giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay đã và đang có những cải cách chú trọng đổi mới về mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học trong đó coi đổi mới về phương pháp là vấn đề trọng tâm Đổi mới phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Qua đó, học sinh không chỉ được cung cấp những kiến thức

cơ bản ở nhà trường mà còn được trang bị phương pháp, cách thức, tự học ngay

từ bậc phổ thông để học sinh có thể chủ động trong việc học, khám phá, tìm tòi cập nhật những kiến thức mới của nhân loại để đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo đã xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền

Trang 6

thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"

Là môn học khoa học ứng dụng, môn Công nghệ là chiếc cầu nối giữa kiến thức khoa học với sản xuất, là môn học kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn giữa các học sinh vừa học tập vừa trải nghiệm kĩ năng sống và định hướng cho HS nghề nghiệp trong tương lai

Việc vận dụng hình thức dạy học theo hướng tổ chức các hoạt động học vào dạy một cách phù hợp sẽ phát huy tính tích cực, tự lực, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác chia sẻ của học sinh, đồng thời khơi dậy hứng học tập, khả năng tìm tòi sáng tạo cho học sinh Chính vì vậy tôi lựa chọn

nghiên cứu đề tài: “Dạy học môn Công nghệ 8 theo định hướng tăng cường tổ chức hoạt động học cho học sinh” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào

việc nâng cao chất lượng dạy học môn học

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lí luận về dạy học theo hướng phát triển năng lực người học,

đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS trong dạy học môn Công nghệ 8 nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động học tập của HS, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học

Trang 7

III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Công nghệ 8 ở trường trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Nội dung, chương trình môn Công nghệ 8 ở trung học cơ sở

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ 8 theo hướng tăng cường tổ chức hoạt động học cho học sinh sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực, chủ động trong học tập của học sinh Từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học môn học

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Nghiên cứu lí luận về dạy học tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, nghiên cứu quá trình dạy học môn Công nghệ 8 ở trường trung học cơ sở,

từ đó xây dựng biện pháp tổ chức hoạt động học cho học sinh trong quá trình dạy học môn Công nghệ 8

- Đề xuất và xây dựng biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Công nghệ 8 theo hướng tổ chức hoạt động học cho học sinh

- Kiểm nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của biện pháp đã đề xuất, đánh giá những giáo án minh họa biện pháp mà đề tài đã biên soạn

Trang 8

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Một số phương pháp nghiên cứu lí luận như: phương pháp phân tích,

tổng hợp, khi nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ

sở lí luận của đề tài và trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài

- Một số phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: sử dụng phương pháp

điều tra, phỏng vấn, nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình dạy học môn Công nghệ 8 hiện nay ở trường trung học cơ sở; sử dụng phương pháp chuyên gia để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của biện pháp tổ chức hoạt động học cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 8 ở trường trung học cơ

sở

Đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu điều tra khảo sát và kiểm nghiệm

VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Cấu trúc luận văn được chia 3 chương với nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động học cho học sinh

Chương 2: Dạy học môn Công nghệ 8 theo hướng tổ chức hoạt động học cho học sinh

Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 9

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ngày nay, hầu như quốc gia nào cũng có trường học Có thể đó là các trường học danh tiếng, được trang bị cơ sở vật chất, phương tiện dạy học hiện đại, nhưng cũng có thể chỉ là một căn nhà tuềnh toàng, tranh tre nứa lá Vì thế, hầu hết trẻ em đến tuổi đi học đều được học tập ở trường lớp, có thầy cô dạy

dỗ, giáo dục Còn ngày xưa, hầu hết những người được coi là tri thức, nhà hiền triết, nhà khoa học, đều ít nhiều phải tự học hoặc chủ yếu là tự học Bởi ngày

đó hầu như chưa có trường, lớp và tất nhiên cũng hầu như chưa có thầy giáo

Có thể nói hầu hết những triết gia, những nhà khoa học nổi tiếng thế giới đều trưởng thành, phát triển nhơ tự học

Nhà giáo dục học nổi tiếng J.Jrutxo(1712 - 1778) đã xác định: “Phải hướng học sinh tích cực giành kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo” còn J.A.Komenski- một nhà sư phạm danh tiếng của Thế kỉ XVII cũng đã cho rằng: “Học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng” Trong sách “Tự học như thế nào ?” của N.A.Rubakin (1862 - 1946) cũng nói đến ý nghĩa của sự tự học một cách tích cực của học sinh, Rubakin cho rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó chính là phương pháp tự học Tuy nhiên chỉ có động cơ thôi là chưa đủ, mà người học phải có kỹ năng tự học” Trong cuốn sách “Nghiên cứu học tập như thế nào” của Hebơc Smitman (CHDC Đức) cũng đã nói tới vấn đề

về cần có cách nghiên cứu như thế nào, tự học như thế nào để đạt được hiệu quả và kết quả tốt nhất [13]

Trang 10

Nổi bật hơn cả có lẽ là Raja Roy Singh, ông cho rằng người thầy giáo đóng vai trò rất quan trọng trong việc chỉ ra cách tự học cho học sinh Ông cho rằng người học sẽ phải học thường xuyên, học suốt đời để đáp ứng được những phát triển, thay đổi, đổi mới của xã hội Vì thế, người thầy giáo không chỉ dạy chữ mà còn phải giúp cho học trò có được năng lực nhận thức, năng lực tự học

để có thể học tập suốt đời [2]

Ngay ở nửa cuối của thế kỉ XX, khi khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển mạnh đòi hỏi người lao động phải không ngừng học tập và đòi hỏi nhà trường cũng thường xuyên phải đổi mới chương trình, nội dung dạy học Đi kèm với điều đó, người giáo viên trong mấy chục năm công tác của mình cũng không thể chỉ sử dụng vốn kiến thức được trang bị khi còn ngồi trên ghế nhà trường Chính vì thế nhiều nhà sư phạm trên thế giới cũng bắt đầu chú trọng đè cập tới việc tự học, mà đầu tiên chính là ở các giáo viên

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tấm gương sáng về tự học - cũng rất đề cao việc tự học Bác nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt; Về cách dạy thì phải tránh lối dạy nhồi sọ; Về học tập tránh lối học vẹt” [3]

Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), cũng một tấm gương về tự học Sau này, ông cũng đã nghiên cứu

về tự học và cũng là chủ biên cuốn “Quá trình dạy - Tự học” Đây có thể được coi là một trong những tài liệu đi tiên phong trong vấn đề nghiên cứu về vai trò,

ý nghĩa và phương pháp của tự học [24]

Trong suốt thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chỉ đạo

về đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục phổ thông Ngày 26/12/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã kí Thông tư 32 ban hành Chương trình giáo dục phổ mới - có thể gọi là Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Chương trình này đã đảm bảo thực hiện tinh thần của Nghị quyết 29 là đổi mới căn bản

Trang 11

và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực

và phẩm chất học sinh Nhưng từ trước năm 2018, Bộ GD&ĐT cũng đã triển khai các hoạt động nhằm dần dần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của người học [5; 7; 9; 10; 11]

Có thể nói, học tập tích cực, tự lực, tự chủ, sáng tạo, của người học nói chung và của học sinh phổ thông nói riêng đang là mục tiêu của giáo dục và đào tạo hiện nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Khái niệm hoạt động

“Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [26]

Hoặc có thể hiểu “Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người” [23]

Hoạt động có thể là những tác động giữa con người với con người tạo nên xã hội hoặc tác động giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra của cải cho xã hội

Trong dạy học, hoạt động cuat người học tác động vào đối tượng học tập

là nguồn tri thức sẽ tạo nên tri thức cho người học Đồng thời, trong hoạt động

đó cũng có hoạt động của người học với nhau

1.2.2 Khái niệm hoạt động dạy học

Dạy học là một hoạt động, bao gồm hai hoạt động: hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò Khi hai hoạt động này hòa cùng với nhau

sẽ tạo nên hoạt động giảng dạy - học tập, được gọi là hoạt động dạy học Khi nói đến dạy học là nói đến cả việc dạy và cả việc học Vì thế, nhà tâm lý học A.Mentriskaia cũng đã cho rằng: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động” [23]

Trang 12

Tuy nhiên, hai hoạt động này không đồng đẳng với nhau Trước đây, hoạt động dạy đóng vai trò chủ động, quyết định, chủ yếu, còn hoạt động học đóng vai trò bị động, thứ yếu Dần dần, vai trò, ý nghĩa của hoạt động học ngày càng được nâng cao, coi trọng

Tất nhiên, người thầy giáo là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục Nói chú trọng hoạt động học của người học không có nghĩa là hạ thấp vai trò,

vị trí của người thầy Nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học và nhà sư phạm trên thế giới vẫn đánh giá cao vai trò hoạt động của người thầy Davydov cho rằng:

“Các hoạt động dạy- học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” Còn John Dewey, nhà giáo dục người Mỹ, mặc dù có chủ trương coi học trò là trung tâm nhưng vẫn có những đòi hỏi rất cao ở người thầy Ông cho rằng: “Hãy tôn trọng trẻ em, tôn trọng chúng đến cùng, song hãy tôn trọng cả bản thân chúng ta (người lớn) nữa” [13]

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm không có nghĩa hạ thấp vị thế của người thầy mà nó chỉ là quan điểm đổi mới trong dạy học Đó là hai hoạt động dạy và học đều có chung mục đích nhưng quan trọng là mục đích của người học Trong hai hoạt động đó, quan trọng là người học học được cái gì chứ không phải là người dạy dạy như thế nào Hoạt động dạy của thầy vừa dạy cho trò, vừa giúp trò có được phương pháp học tập Cho người ta cá không bằng cho người ta cái cần câu và dạy người ta cách câu cá Triết lí đó đã chỉ ra cho người thầy cải tiến cách dạy, điều chỉnh hoạt động dạy

Trang 13

ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của chủ thể” [13]

- Tác giả Thái Duy Tuyên lại cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [10]

- Khái niệm tự học theo từ điển : “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của người giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục”

[26; Tr.458]

Có thể hiểu một cách khái quát nhất là: “Tự học là tự mình tìm kiếm lấy kiến thức, hình thành kĩ năng”

Sở dĩ cần đề cập tới khái niệm này vì trong học tập của học sinh (HS), kể

cả ở trên lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV thì vẫn có thể coi khi đó HS thực hiện hoạt động tự học

1.3 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC

1.3.1 Đặc điểm của hoạt động

- Có thể thấy đặc điểm đầu tiên là trong hoạt động học là: chủ thể của hoạt động là người học nói chung hay HS nói riêng làm việc có kế hoạch, có mục đích nhất định Trong quá trình hoạt động, chủ thể luôn biết cách tổ chức, lựa chọn, sắp xếp các hành động một cách hợp lí Và trong điều kiện, bối cảnh

cụ thể nào đó, chủ thể cũng biết cách điều chỉnh các hành động cho phù hợp

- Đặc điểm thứ hai của hoạt động học là đối tượng của nó chính là tri thức, là các sự vật, hiện tượng mà người học cần hiểu rõ, chiếm lĩnh để thỏa mãn nhu cầu hoặc để thực hiện một nhiệm vụ nào đó

Trang 14

- Đặc điểm thứ ba của hoạt động học là đó là hoạt động có mục đích rõ rệt Thông qua hoạt động học, người học nhận thức được đối tượng, chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng để tạo năng lực nhận thức và năng lực hành động cho mình Nhờ có đặc điểm này mà người học luôn biết định hướng học tập cho mình

Có thể thấy hoạt động bao giờ cũng có mối quan hệ mật thiết giữa ba thành tố: chủ thể, đối tượng và mục đích của hoạt động

1.3.2 Hoạt động tự học của học sinh

“ Hoạt động tự học của HS là hoạt động bao gồm tư duy tích cực trong suy nghĩ cùng các hành động với tư liệu học tập, sự trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với GV Hành động tự học của HS với tư liệu học tập, trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với GV là hành động nhằm chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho riêng mình Sự trao đổi, tranh luận giữa HS với nhau và giữa HS với GV nhằm tăng cường sự hỗ trợ từ GV và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học” [9]

Thông thường, ban đầu HS chưa nắm được phương pháp tự học, các không biết bắt đầu từ đâu và làm thế nào Vì thế, sự hướng dẫn ban đầu của người GV là rất quan trọng Trong dạy học, người GV phải dần dần từng bước hướng dẫn cho các em từ việc tìm kiếm thông tin, tìm tại liệu nào, ở đâu, cho đến việc thu thập thế nào, sử dụng ra làm sao v.v

Để HS nắm được phương pháp tự học, ngay trong quá trình dạy học ở trên lớp, người thầy đã phải hướng dẫn cho các em cách tư duy, phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận các vấn đề, cách tập hợp thông tin thông qua khái quát hóa Đồng thời, cũng chỉ cho các em có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn, từ trong thư viện cho đến ngoài đời sống thực tiễn Các bài tập không chỉ là khai thác kiến thức tỏng sách vở mà còn trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác

Trang 15

Tổ chức hoạt động tự học cho HS là người thầy tổ chức, hướng dẫn HS cách tìm đọc tài liệu, làm thực nghiệm để tìm hiểu nhằm tự lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng

Dạy học với mục tiêu nhằm phát triển năng lực cho HS, trong quá trình dạy học, người GV không thuyết trình, giảng giải đơn thuần như cách dạy thông thường mà khéo léo tổ chức cho HS tích cực tự hoạt động, tự học Thông qua chuỗi các hoạt động, HS không chỉ lĩnh hội được kiến thức, hình thành được kĩ năng mà còn nắm được phương pháp chiếm lĩnh kiến thức Đồng thời, HS cũng được làm quen với việc vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống, vấn đề thực tiễn

Theo định hướng như vậy, GV trở thành người tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình tự học của HS Tiến trình thực hiện tổ chức, hướng dẫn, của GV thường bao gồm các bước sau:

- Bước 1: GV tạo ra tình huống, nêu lên vấn đề cần giải quyết và giao nhiệm vụ cho HS Nhiệm vụ được giao sao cho tạo sự hấp dẫn để HS có ham muốn giải quyết Nhiệm vụ được giao cũng phải đảm bảo đề HS nhận thức rõ vấn đề cần giải quyết

- Bước 2: HS tiến hành giải quyết vấn đề, thực hiện nhiệm vụ một cách

tự lực, chủ động Hoạt động giải quyết của HS có thể có sự tham gia, hỗ trợ, hợp tác của bạn học, có thể độc lập

- Bước 3: HS báo cáo kết quả, GV tổ chức cho HS báo cáo, trao đổi, thảo luận và cuối cùng GV tổng kết, nhận xét, đánh giá và chốt lại những nội dung

Trang 16

dạy học tích cực như: DH giải quyết vấn đề, DH tìm tòi nghiên cứu, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật bể cá, và các PPDH đặc thù của môn học Theo Công văn 5555/BGDDT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 có nêu ra tiến trình dạy học được tổ chức thành các hoạt động học của HS: “Hoạt động khởi động, Hoạt động hình thành kiến thức; Hoạt động luyện tập, vận dụng, Hoạt động tìm tòi

mở rộng” và trong mỗi hoạt động lại chia ra 4 bước: “Chuyển giao nhiệm vụ học tập, thực hiện nhiệm vụ học tập, báo cáo kết quả thảo luận, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập” [7]

Để hình thành và phát triển năng lực HS, trên quan điểm vận dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, GV cần tăng cường tổ chức, hướng dẫn HS chủ động, tích cực trong hoạt động nhận thức mà cụ thể là hoạt động học (học trên lớp theo cá nhân, nhóm) Ở đây giới thiệu các hoạt động học chủ yếu mà GV có thể vận dụng trong quá trình dạy học

Tùy theo đặc điểm của môn học, điều kiện dạy học môn học và đặc điểm của HS mà GV có thể sắp xếp tiến tiến trình dạy học cho phù hợp Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà sư phạm tích cực, có thể chia các hoạt động dạy học trên lớp ra 5 hoạt động chủ yếu sau:

"cái" HS đã biết, bổ khuyết những gì cá nhân HS còn thiếu, giúp HS nhận ra

"cái" chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này

Từ đó, giúp HS suy nghĩ và xuất hiện những quan niệm ban đầu của mình

về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập

Trang 17

Câu hỏi mà GV đưa ra cần cố gắng đảm bảo được các yếu tố vừa sức, hấp dẫn, gắn với kiến thức đã học và thực tiễn cuộc sống

Câu hỏi và tình huống GV đưa ra cũng phải đảm bảo yêu cầu là HS có thể trả lời, làm được một phần mà không rơi vào một trong hai trạng thái: không làm được tí gì hoặc làm được hoàn toàn Chính cái mà HS không làm được, không trả lời được sẽ được giải quyết trong bài học này

Và như vậy, khi ở cuối tiết học, bài học, GV cần quay trở lại câu hỏi này, tình huống này để giúp HS trả lời được trọn vẹn câu hỏi, giải quyết được trọn vẹn vấn đề mà tình huống đặt ra ban đầu

* Hoạt động hình thành kiến thức:

- Mục đích của hoạt động: giúp HS lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng mới

và đưa các kiến thức, kĩ năng mới vào hệ thống kiến thức, kĩ năng của bản thân

- Phương thức hoạt động: GV sẽ giúp HS xây dựng kiến thức mới của bản thân trên cơ sở đối chiếu kiến thức, kinh nghiệm sẵn có với những hiểu biết mới; kết nối/sắp xếp kiến thức cũ và kiến thức mới dựa trên việc phát biểu, viết

ra các kết luận/ khái niệm/ công thức mới…

Hoạt động hình thành kiến thức là hoạt động trọng tâm nhất của tiết học Thời lượng của hoạt động này cũng chiếm phần lớn thời lượng của tiết học Tùy theo dung lượng và ức độ khó, dễ của kiến thức mà GV có thể chia nhỏ hoạt động này ra các hoạt động nhỏ riêng Mỗi hoạt động nhỏ sẽ giải quyết một phần nội dung kiến thức của bài

Tùy theo đặc điểm nội dung kiến thức mới, điều kiện dạy học và đặc điểm của HS mà GV có thể chia nhóm và vận dụng các PPDH, kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp

Khi tổ chức HS học tập theo nhóm, GV cần lưu ý có những biện pháp để đảm bảo tất cả HS cùng hoạt động, tránh tình trạng có HS dựa dẫm vào bạn mà không cố gắng học tập

Trang 18

Trong hoạt động này, GV cần chú ý có hai kiểu bài Nếu là bài lí thuyết thì hoạt động này giống khâu củng cố kiến thức Vì thế cuối hoạt động thì HS

sẽ nắm chắc được kiến thức của bài học

Còn nếu là bài thực hành thì hoạt động này có thể còn quan trọng hơn hoạt động hình thành kiến thức vì kết quả của hoạt động này là HS hình thành được kĩ năng thao tác kĩ thuật Khi đó, dung lượng thời gian và tầm quan trọng của hoạt động này lại là chính Cuối hoạt động, GV có thể tổ chức kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của HS

* Hoạt động vận dụng:

- Mục đích của hoạt động: giúp HS vận dụng được các kiến thức, kĩ năng

để giải quyết các tình huống/vấn đề mới, không giống với những tình huống/vấn đề đã được hướng dẫn hay đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống/vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống

- Phương thức hoạt động: GV sẽ hướng dẫn HS kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học giải quyết thành công tình huống/vấn đề tương tự tình huống/vấn đề đã học Đây có thể là những hoạt động mang tính nghiên cứu, sáng tạo, vì thế cần giúp HS gần gũi với gia đình, địa phương, tranh thủ

sự hướng dẫn của gia đình, địa phương để hoàn thành nhiệm vụ học tập Trước một vấn đề, HS có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau

Trang 19

Cần lưu ý, hoạt động vận dụng và hoạt động tìm tòi, mở rộng là HS làm việc ở nhà Vì vậy, GV cần chú ý sử dụng các kĩ thuật giao và kiểm tra nhiệm

vụ như là với bài tập về nhà vẫn làm

Đặc biệt, đối với những hoạt động có liên quan đến vấn đề an toàn lao động thì GV phải nhắc nhở HS hết sức chú ý đến điều này

* Hoạt động tìm tòi, mở rộng:

- Mục đích của hoạt động: giúp HS không bao giờ dừng lại với những gì

đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học, ham mê học tập suốt đời

- Phương thức hoạt động: GV cần khuyến khích HS tiếp tục tìm tòi và

mở rộng kiến thức ngoài lớp học HS tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau

Lưu ý:

- Như trên đã nêu, hoạt động vận dụng và tìm tòi, mở rộng là những hoạt động mà HS thực hiện độc lập (có thể theo nhóm nhỏ với những HS có nhà ở gần nhau) ở ngoài lớp học, thậm chí thường ở ngoài cả nhà trường Do vậy, nếu cần thiết, GV có thể cần sự hỗ trợ, hợp tác của phụ huynh học sinh Đặc biệt với khâu an toàn và hỗ trợ phương tiện đi lại, nếu cần

- Vì hoạt động vận dụng và tìm tòi, mở rộng là những hoạt động mà HS thực hiện độc lập hoặc theo nhóm nhỏ nên có thể không yêu cầu sản phẩm của tất cả các HS đều phải giống nhau Kể cả phương thức và tiến trình thực hiện

có thể cũng không giống nhau Khi đó, GV cần trao đổi để có những cách hướng dẫn cụ thể cho mỗi loại nhiệm vụ

- Hai hoạt động vận dụng và tìm tòi, mở rộng là những hoạt động dạy học không thực hiện trên lớp nhưng lại có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng

Đó chính là những hoạt động giúp HS rèn luyện tính tích cực, tự giác, chủ động

Trang 20

và hình thành năng lực giải quyết vấn đề Tuy nhiên, theo kế hoạch dạy học hiện nay, thời lượng dùng cho khâu kiểm tra miệng (kiểm tra bài cũ đầu giờ học bài mới) lại không có nhiều nên GV phải lưu ý để xử lí tốt điều này Nếu không có kiểm tra đánh giá thì một mặt không kiểm soát được hoạt động của HS, một mặt không tạo hứng thú, áp lực cho HS

Vì thế, GV cần suy nghĩ tìm giải pháp để không tốn nhiều thời gian nhưng vẫn có thể kiểm soát được kết quả làm việc của HS Ví dụ có thể yêu cầu các

em viết báo cáo kết quả, báo cáo thu hoạch với một số trang nào đó để GV có thể xem và đưa ra một vài ý kiến quan trọng, nổi bật

Khi kết quả hoạt động của mình được thầy biết đến, được nhận xét, được khen, được chê thì dù chỉ một chút thôi, HS cũng có hứng thú và áp lực để tiếp túc làm tốt hơn cho các lần sau

1.3.3.2 Kĩ thuật tổ chức hoạt động học của học sinh

Với mục đích và phương thức của các hoạt động dạy học nói trên, phương pháp tổ chức, hướng dẫn của GV đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến tự thành bại của mỗi hoạt động Ngay từ năm 2014, Bộ GD&ĐT đã có Công văn số: 5555/BGDĐT-GDTrH, ngày 8/10/2014 để “Hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng” [7]

Theo hướng dẫn của công văn này, khi lên lớp, GV phải làm tốt một số công việc cụ thể như sau:

“- Chuyển giao nhiệm vụ học tập: nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp

với khả năng của HS, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà HS phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của HS; đảm bảo cho tất cả HS tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ

Trang 21

- Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích HS hợp tác với nhau khi

thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của HS và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có HS bị "bỏ quên"

- Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung

học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho HS trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí

- Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình

thực hiện nhiệm vụ học tập của HS; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của HS; chính xác hóa các kiến thức

mà HS đã học được thông qua hoạt động”

Cũng cần lưu ý rằng, theo công văn này, việc dự giờ, nhận xét, đánh giá giờ dạy của GV cũng cần có sự đổi mới tương ứng Đó là chủ yếu đánh giá xem

HS học như thế nào, học được cái gì chứ không đánh giá giáo viên dạy cái gì

và dạy như thế nào

1.3.3.3 Một số loại hình hoạt động học của học sinh

a) Hoạt động cá nhân:

Trước khi tham gia phối hợp với bạn học trong các nhóm nhỏ, cá nhân luôn có một khoảng thời gian với các hoạt động để tự lĩnh hội kiến thức, chuẩn

bị cho các hoạt động đóng vai hay thảo luận trong nhóm Phổ biến nhất có thể

kể đến các hoạt động như đọc mục tiêu bài học, đọc văn bản, giải bài toán để tìm kết quả,…

Cá nhân làm việc độc lập nhưng vẫn có thể tranh thủ hỏi hay trả lời bạn trong nhóm, vẫn thực hiện các yêu cầu của của nhóm trưởng (nếu có) để phục vụ cho các hoạt động cá nhân

Tần suất của các hoạt động cá nhân trong nhóm rất lớn và chiếm ưu thế hơn so với các hoạt động khác Làm việc cá nhân giúp HS có thời gian tập trung

Trang 22

tự nghiên cứu, tự khám phá kiến thức, tự chuẩn bị những gì cần thiết trước khi

sử dụng nó để có những hoạt động khác cùng cả nhóm Trong quá trình làm việc cá nhân, gặp những gì không hiểu, HS có thể hỏi bạn ngồi cạnh hoặc nêu

ra trong nhóm để các thành viên khác cùng trao đổi và nếu nhóm không giải quyết được vấn đề thì nhóm trưởng có thể nhờ GV hỗ trợ

b) Hoạt động theo cặp (2 học sinh):

Tuỳ theo hoạt động học tập, có lúc HS sẽ làm việc theo cặp trong nhóm

GV lưu ý cách chia nhóm sao cho không HS nào bị lẻ khi hoạt động theo cặp Nếu không, GV phải cho đan chéo giữa các nhóm để đảm bảo tất cả HS đều được làm việc Làm việc theo cặp rất phù hợp với các công việc như: kiểm tra

dữ liệu, giải thích, chia sẻ thông tin; thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản (ví dụ như nghe, đặt câu hỏi, làm rõ một vấn đề), đóng vai

Làm việc theo cặp sẽ giúp HS tự tin và tập trung tốt vào công việc nhóm Quy mô nhỏ này cũng là nền tảng cho sự chia sẻ và hợp tác trong nhóm lớn hơn sau này

c) Hoạt động chung cả nhóm:

Trong các giờ học, nếu tổ chức dạy học theo nhóm thì luôn có các hoạt động cả nhóm cùng hợp tác Ví dụ, sau khi HS tự đọc một đoạn bài, trưởng nhóm sẽ dẫn dắt các bạn trao đổi về một số vấn đề của nội dung đó; hoặc sau khi một cá nhân trong nhóm đã đưa ra kết quả của một vấn đề, nhóm sẽ cùng trao đổi nhận xét, bổ sung về cách giải quyết vấn đề đó; hoặc là HS trong nhóm

sẽ cùng thực hiện một dự án nhỏ với sự chuẩn bị và phân chia công việc rõ ràng, Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nên hình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sự sáng tạo Điều quan trọng là HS cần phải biết mình làm gì và làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm

Trang 23

d) Hoạt động chung cả lớp:

Khi HS có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề hoặc có những khó khăn mà nhiều HS không thể vượt qua, GV có thể dừng công việc của các nhóm lại để tập trung cả lớp làm sáng tỏ các vấn đề còn băn khoăn Lưu ý rằng những tình huống như vậy không xuất hiện thường xuyên trong lớp học

Như vậy, việc lựa chọn hình thức làm việc nào: cá nhân, cặp đôi, nhóm hay cả lớp đều phụ thuộc vào yêu cầu của các loại hình hoạt động GV cần lưu

ý là không phải luôn tuân theo một cách máy móc thiết kế có sẵn của giáo án Tùy vào tình hình chung của cả lớp và thiết kế của cá nhân, GV có sự thay đổi, ứng dụng linh hoạt và phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả cho bài học và sự hứng thú cho HS

1.4 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 Ở MỘT

SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI

1.4.1 Mục đích, đối tượng và phương pháp khảo sát

1.4.1.1 Mục đích điều tra, khảo sát

Để triển khai biện pháp tổ chức hoạt động học cho HS, cần phải biết được tình hình dạy học ở cơ sở thế nào, PPDH thường được sử dụng của thầy, đặc điểm nhận thức của HS, điều kiện dạy học của nhà trường v.v Khảo sát cơ sở biện pháp tổ chức các hoạt động học cho HS nhằm mục đính như vậy Khi theo dõi và đánh giá được thực trạng dạy và học môn Công nghệ 8 và là người trực tiếp hướng dẫn, tổ chức hoạt động tự học cho HS sẽ tạo cơ sở thực tiễn để triển khai lí thuyết của đề tài

1.4.1.2 Đối tượng khảo sát

Qua quá trình tiến hành khảo sát thực trạng dạy học môn Công nghệ 8

và GV là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động tự học cho học sinh Khảo sát ở

9 trường THCS trên địa bàn thành phố Yên Bái (Bảng 1.1) Mỗi trường tác giả chỉ hỏi một giáo viên

Trang 24

“Bảng 1.1 Danh sách các trường THCS được hỏi ý kiến”

Về phía học sinh, tác giả chỉ hỏi học sinh ở 4 trường THCS (Bảng 1.2)

Bảng1.2 Số lượng học sinh được hỏi ý kiến”

2 Trường THCS Lê Hồng Phong 8A,8B,8C,8H 176

1.4.1.3 Phương pháp khảo sát

- Thông qua dự giờ, quan sát : Một số tiết dạy của các thầy, cô giáo tại các trường THCS nói trên để thu thập các thông tin chính xác nhất và thực trạng hiện tại trong việc dạy học môn Công nghệ 8

Trang 25

- Phương pháp chuyên gia: Xây dựng các phiếu hỏi để xin ý kiến của các GV

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Xây dựng hệ thống phiếu hỏi ý kiến HS

1.4.2 Tiến trình và kết quả khảo sát

- Trực tiếp hỏi và trao đổi với các em về nhu cầu học tập môn Công nghệ

8, tình hình học tập môn Công nghệ 8, phát phiếu xin ý kiến v.v

Khi phát phiếu có trao đổi thêm, giải thích với GV và HS về mục đích, nội dung của phiếu cũng như của công việc đang tiến hành Giải đáp những vấn

đề, câu hỏi mà GV và HS nêu ra

1.4.2.2 Kết quả khảo sát

a) Kết quả định lượng

Qua điều tra thực tế, khảo sát với 9 GV và 653 HS ở 4 trường THCS nói

trên Kết quả thu được như sau (Bảng 1.3 và 1.4):

Trang 26

Bảng 1.3 Kết quả điều tra khảo sát đối với giáo viên

Câu hỏi và phương án trả lời Số

A Tùy bài học dài hay ngắn, khó hay dễ 5 55,6%

3 Khi giao nhiệm vụ, bài tập về nhà, thầy cô có hướng dẫn cho HS phương pháp tự học?

B Thỉnh thoảng

4 Thông thường, khi giảng bài mới, thầy cô thường dùng cách nào dưới đây?

A Dẫn dắt vấn đề hấp dẫn như kể chuyện, hỏi HS, 2 22,2%

5 Khi giao nhiệm vụ cho HS, thầy cô thường sử dụng cách nào sau đây?

A Giao nhiệm vụ và yêu cầu HS giải quyết 2 22,2

B Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm 7 77,8

B Giao nhiệm vụ và gợi ý những vấn đề khó

Trang 27

Bảng 1.4 Kết quả điều tra khảo sát đối với học sinh

Câu hỏi và phương án trả lời Số

3 Trong giờ học trên lớp, các em thường được thầy cô yêu cầu làm gì?

A Chú ý nghe giảng và ghi chép bài đầy đủ” 485 74,3

B Khi giảng thầy cô đặt câu hỏi và yêu cầu trả lời”A 126 19,3

C Thường thầy cô yêu cầu đọc sách và trả lời câu hỏi”A 42 6,4

4 Để chuẩn bị cho tiết học mới, ở nhà các em thường làm gì?

A Học bài cũ, làm bài tập và đọc trước bài mới 102 15,6

C Khi thầy cô không giao nhiệm vụ thì không làm gì” 50 7,7

5 Trong giờ học trên lớp, thầy cô có yêu cầu học sinh phải:

A Giáo viên giao nhiệm vụ tự đọc, nghiên cứu để trả lời

B Giáo viên yêu cầu đọc qua“nội dung trong SGK, thảo

C Giáo viên yêu cầu nghe giảng và chép bài đầy đủ 496 76

Trang 28

6 Thông thương, ngoài sách giáo khoa, các em có tìm hiểu thêm kiến thức

qua:

B Có đọc sách giáo khoa và xem qua internet nếu thầy

C SGK, tạp chí, báo, internet, sách tham khảo, trao đổi… 67 10,3

7 Những khó khăn nào ảnh hưởng đến quá trình tự học của các em?

A Không đủ thời gian vì phải dành cho làm bài tập các

B Không biết cách tự đọc, tự nghiên cứu 170 26

C Thầy cô không yêu cầu và cũng không hướng dẫn” 418 64

b) Kết quả định tính

Qua tìm hiểu thực tế, qua trao đổi thêm với thầy cô dạy môn Công nghệ

8 ở các trường khảo sát, tác giả có thể rút ra ý kiến nhận xét như sau:

1) Trong chương trình giáo dục ở các nhà trường hiện nay, thì môn Công nghệ 8 đang được giáo viên thực hiện theo kế hoạch chung tự xây dựng theo chỉ đạo của phòng giáo dục thành phố áp dụng chung với tất cả các trường trên địa bàn Qua thống kê các trường việc trang bị một số phương tiện dạy học, trang thiết bị như: máy tính, máy chiếu, bảng tương tác, máy chiếu vật thể… một số đồ dùng dạy học trực quan như tranh ảnh, hình vẽ, còn chua nhiều và đầy đủ Tuy nhiên, so với yêu cầu dạy học của môn học, đặc biệt là đối với các bài thực hành thì còn chưa đầy đủ hoặc thiếu phương tiện dạy học Điều đó khiến cho các giờ thực hành gặp nhiều khó khắn Cũng vì thế mà việc GV có thể chuyển giao nhiệm vụ cho HS tự học, tự nghiên cứu bài học cũng bị hạn chế đáng kể

Trang 29

2) Về đội ngũ các thầy cô giáo ở các trường THCS ở trên đều có trình độ đạt chuẩn trở lên Đa số các thầy cô đều đã tích cực đổi mới PPDH, đã sử dụng phối hợp các PPDH tích cực, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tạo hứng thú cho HS tham gia xây dựng bài, phát huy tính tích cực, tự lực, Tuy vậy, do khâu kiểm tra đánh giá vẫn nặng về kiểm tra kiến thức, kiểm tra học

thuộc bài nên chưa tác động mạnh tới đổi mới PPDH

Khi dự giờ, có thể nhận thấy hầu hết các GV sử dụng các phương pháp

HS thảo luận nhưng chưa nhiều GV vẫn quen với cách dạy thuyết trình, giảng giải, ít chú ý tổ chức HS tự đọc, thảo luận, Nội dung dạy học vẫn còn mang nặng tính lí thuyết, còn ít liên hệ với thực tiễn đời sống và sản xuất Vì thế, tính hấp dẫn của môn học cũng bị giảm sút đáng kể

3) Về HS, do môn Công nghệ 8 không phải là môn chính và đến lớp 9 cũng không phải môn thi vào cấp trung học phổ thông nên phần lớn HS không coi trọng môn học nên chỉ qua loa , học tập còn mang tính đối phó.“Trong tiết học

GV chưa tạo được hứng thú học tập cho các em, thầy cô đọc chép và HS ghi bài.Thời gian các em giành cho bộ môn này là rất ít Trong giờ học thực hành, nhiều em lười quan sát không trực tiếp làm thực hành, không chú tâm vào công việc được giao hoặc ỷ lại cho bạn làm Về nhà, HS cũng chỉ cố gắng học thuộc kiến bài cũ và làm một số bài tập trong sách giáo khoa mà giáo viên yêu

Trang 30

cầu.“Việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại như máy tính có kết nối internet chưa được thường xuyên do điều kiện gia đình còn hạn chế Các giờ học ngoại khóa còn ít, HS còn lúng túng khi làm việc nhóm, trình bày báo cáo, giải quyết những vấn đề gắn với thực tiễn…”

Như vậy, qua khảo sát thực trạng tình hình dạy học môn Công nghệ 8 ở một số trường THCS trên địa bàn thành phố Yên Bái thấy việc dạy học môn Công nghệ 8 vẫn chưa được đổi mới đáng kể Tồn tại này có phân nguyên nhân chủ quan và có phần khách quan Qua đó cũng cho thấy có thể đổi mới PPDH

để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, qua đó nâng cao chất lượng dạy học môn học là biện pháp hoàn toàn có thể thực hiện được nếu GV

có phương pháp và sự quyết tâm

Trang 31

Kết luận chương 1

Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn về dạy học môn Công nghệ

8 theo hướng tăng cường hoạt động học tập cho HS nhằm phát triển năng lực

và phẩm chất cho các em có thể rút ra một số nhận định sau:

1 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có một điểm đổi mới rất quan trọng là đổi mới dạy học từ theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất HS Năng lực chỉ hình thành và phát triển thông qua hoạt động và bằng chính hoạt động của chủ thể Do vậy,

để phát triển năng lực cho HS, một việc không thể thiếu là cần tổ chức, tạo điều kiện, hướng dẫn các em hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động

2 Trong những năm gần đây, giáo dục phổ thông đã tích cực nghiên cứu và triển khai nhiều biện pháp đổi mới PPDH, trong đó, một trong những biện pháp chủ đạo là tăng cường tổ chức hoạt động học cho HS để các em có điều kiện phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo trong học tập Điều này cũng phù hợp với tình hình phát triển mạnh của khoa học, công nghệ, kĩ thuật đòi hỏi người lao động phải học tập suốt đời Nhà trường không chỉ dạy kiến thức mà còn phải dạy cho người học cách tìm ra kiến thức Tổ chức tốt hoạt động học cho HS sẽ thực hiện được cả hai nhiệm vụ đó

3 Môn Công nghệ 8 là một môn khoa học ứng dụng, có nhiều kiến thức gắn với thực tiễn nên có thể tạo điều kiện cho hoạt động tự học của HS Tuy nhiên, thực trạng dạy học Công nghệ 8 hiện nay vẫn còn những mặt hạn chế như dạy học còn mang nặng tính lí thuyết, chưa liên hệ nhiều với sản xuất và đời sống; lối truyền thụ tri thức một chiều đã ăn sâu trong tiềm thức, thói quen của cả GV

và HS

4 Qua nghiên cứu về tâm lí học hoạt động, về dạy học phát triển năng lực cho thấy một trong những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Công

Trang 32

nghệ 8, phát triển năng lực HS, phát huy tính tich cực, tự lực, chủ động của HS

là trong quá trình dạy học cần tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tự học,

tự nghiên cứu Đó chính là cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu tổ chức hoạt động học cho học HS trong dạy học môn Công nghệ 8 ở trung học

cơ sở

Trang 33

Chương 2 DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 THEO HƯỚNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CHO HỌC SINH

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN CÔNG NGHỆ 8

2.1.1 Mục tiêu

Theo Chương trình giáo dục phổ thông - Môn Công nghệ, ban hành kèm

theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT, ngày 05 tháng 05 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, mục tiêu của môn Công nghệ 8 được trình bày trong bảng chủ đề và mức độ cần đạt như sau [5; tr.46-50]:

“a) Kiến thức:

- Biết được thế nào là bản vẽ kĩ thuật; sự liên quan giữa hướng chiếu và hình chiếu, cách bố trí các hình chiếu ở trên bản vẽ; công dụng của một số loại bản vẽ kĩ thuật thông thường như bản vẽ chi tiết, bản vẽ lắp và bản vẽ nhà; các nội dung của bản vẽ chi tiết, nội dung và công dụng của bản vẽ lắp, biết cách đọc bản vẽ lắp đơn giản; quy ước ren, các kí hiệu ren; nội dung và công dụng của bản vẽ các hình chiếu của ngôi nhà; biết được một số kí hiệu bằng hình vẽ của một số bộ phận dùng trên bản vẽ nhà

- Hiểu được vai trò của bản vẽ kĩ thuật đối với sản xuất và đời sống; thế nào là hình chiếu

- Biết được vai trò quan trọng của cơ khí trong sản xuất và đời sống; sự

đa dạng của sản phẩm cơ khí và quy trình sản xuất ra chúng; một số vật liệu cơ khí phổ biến và tính chất cơ bản của chúng; hình dáng, cấu tạo và vật liệu chế tạo các dụng cụ cầm tay đơn giản trong ngành cơ khí; cấu tạo, nguyên lí làm việc, ứng dụng của một số cơ cấu truyền và biến đổi chuyển động

- Hiểu được quy trình và một số phương pháp gia công cơ khí bằng tay; khái niệm và phân biệt chi tiết; một số kiểu lắp ghép chi tiết máy và ứng dụng

Trang 34

của chúng trong ngành cơ khí; khái niệm truyền và biến đổi chuyển động trong

cơ khí

- Biết được vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống; quá trình sản xuất và truyền tải điện năng; một số nguyên nhân gây tai nạn điện; một số biện pháp an toàn điện và cách sơ cứu người bị tai nạn điện; một số vật liệu cách điện, dẫn điện và dẫn từ thông thường; khái niệm, cách vẽ sơ đồ nguyên

lí và sơ đồ lắp đặt mạch điện đơn giản; cách thiết kế một mạch điện đơn giản

- Hiểu được khái niệm, đặc tính kĩ thuật và công dụng của một số loại vật liệu kĩ thuật điện thông dụng

- Hiểu được cơ sở phân loại, cấu tạo, nguyên lí làm việc và cách sử dụng một số đồ dùng điện thường dùng trong gia đình

- Hiểu được cách tính điện năng tiêu thụ và sử dụng điện năng một cách hợp lí, tiết kiệm trong gia đình

- Hiểu được đặc điểm, cấu tạo, một số yêu cầu kĩ thuật của mạng điện trong nhà ; chức năng, cấu tạo, nguyên lí làm việc của các thiết bị lấy điện, đóng - cắt, bảo vệ mạch điện

b) Kĩ năng:

- Nhận biết được các hình chiếu ở trên bản vẽ

- Nhận dạng được các khối đa diện thường gặp: hình chóp, hình chữ nhật, hình lăng trụ đều, hình chóp đều; nhận dạng được các khối tròn thường gặp: hình trụ, hình nón, hình cầu; các dạng ren khác nhau

- Đọc được bản vẽ các hình chiếu của vật thể có dạng các khối đa diện; bản vẽ hình hộp chữ nhật, hình lăng trụ đều, hình chóp đều; bản vẽ hình trụ, hình nón, hình cầu; đọc được bản vẽ của vật thể có dạng khối tròn

- Vẽ được các hình chiếu của vật thể đơn giản từ mô hình hoặc hình không gian, của vật thể có dạng khối tròn đơn giản

- Nhận dạng được hình cắt và biết được công dụng của hình cắt

Trang 35

- Đọc được bản vẽ cái ke có hình cắt, bản vẽ côn có ren, bản vẽ lắp mối ghép bằng mộng

- Vẽ được hình cắt thay cho hình chiếu và ngược lại, vẽ được hình chiếu của bu lông và đai ốc theo hình không gian hoặc vật mẫu

- Đo, vạch dấu và kiểm tra được kích thước của sản phẩm bằng các dụng

cụ cầm tay như thước lá, thước cặp, mũi vạch, mũi chấm dấu,

- Tháo, lắp được một số mối ghép đơn giản

- Tháo, lắp và xác định được tỉ số truyền của một số bộ truyền động

- Sử dụng được một số dụng cụ bảo vệ an toàn điện và sơ cứu được người

bị tai nạn điện

- Phân loại được một số vật liệu điện thông dụng

- Sử dụng được một số đồ dùng điện gia đình đúng yêu cầu kĩ thuật, an toàn và tiết kiệm điện năng

- Sử dụng được các thiết bị điện của mạng điện trong nhà đúng kĩ thuật

- Có ý thức tiết kiệm điện năng khi sử dụng đồ dùng điện

- Làm việc khoa học, ngăn nắp, an toàn và yêu thích kĩ thuật 50]

Trang 36

điện”.[tr.46-2.1.2 Nội dung chương trình môn học

Công nghệ 8 là môn học ứng dụng, nghiên cứu vận dụng những nguyên

lí khoa học vào thực tiễn nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của

con người

Khung chương trình môn Công nghệ 8 (Theo chương trình giảm tải của

bộ Giáo dục và Đào tạo) gồm 52 tiết , cụ thể như sau:

“KẾ HOẠCH CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC

MÔN CÔNG NGHỆ - LỚP 8

Cả năm: 37 tuần = 52 tiết

Học Kỳ I: 19 tuần = 18 tiết (dạy 1 tiết /tuần) Học kỳ II: 18 tuần = 34 tiết (dạy 2 tiết/ tuần)

thức

Điều chỉnh

CHƯƠNG I : BẢN VẼ CÁC KHỐI HÌNH HỌC Bài 1: Vai trò của bản

Trang 37

Bài 5: TH : Đọc bản

vẽ các khối đa diện

5 - Chuẩn bị - nội dung- các

Kiểm tra một tiết 16 Kiểm tra Chương I+II K tra

PHẦN HAI : CƠ KHÍ Bài 17: Vai trò của cơ

Trang 38

Bài 18: Vật liệu cơ

- Các vật liệu cơ khí phổ biến

- Kim loại -Vật liệu phi kim loại-Tính chất cơ bản của vật liệu

21 và nội dung I bài

22 dạy trong

1 tiết (Thời gian còn lại

ôn cho HS)

Bài 22: Dũa và khoan

kim loại

21 - Dũa kim loại

- Khoan kim loại

- Khái niệm về chi tiết máy

- Chi tiết máy được ghép với nhau như thế nào

LT Hình 24.3

GV có thể chọn thay bằng hình khác

Trang 39

CHƯƠNG V : TRUYỀN VÀ BIẾN ĐỔI CHUYỂN ĐỘNG Bài 29: Truyền

năng trong sản xuất

TH

Trang 40

CHƯƠNG VII : ĐỒ DÙNG ĐIỆN GIA ĐÌNH Bài 36: Vật liệu kỹ

39 - Đồ dùng loại điện nhiệt

- Bàn là điện-Nồi cơn điện

CHƯƠNG VIII : MẠNG ĐIỆN TRONG NHÀ

Ngày đăng: 01/10/2020, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w