1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn ở tây nguyên)

108 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 23,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gánh chịu không lớn và nếu có xảy ra sai sót trong việc giải quyết vụ án thì hậu quả cũng dễ khắc phục.Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam thì thủ tục rút gọn chỉ áp dụng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ HUÉ

THỦ TỤC RÚT GỌN

(TRÊN C ơ SỞ SỐ LIỆU THựC TIẺN ở TÂY NGUYÊN)

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng Hình sự

Mă sơ: 60 38 01 04

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đ ỏ THỊ PHƯỢNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xỉn cam đoan Luận văn là công trĩnh nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bổ trong bất kỳ công trình nào khác Các sổ liệu, vỉ dụ và trích dân trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi cỏ thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chán thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trương Thị Huế

Trang 3

TRONG LUẬT TÓ TỤNG HÌNH s ự VIỆT NAM 8

1.1 Khái niệm về ửiủ tục rút gọn ữong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 81.2 Ý nghĩa của thủ tục rút g ọ n 141.3 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ

tục rút gọn 161.3.1 Quy định về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục

rút gọn 161.3.2 Quy định về thời hạn và thủ tục điều tra, truy tổ, xét xử sơ thẩm

theo thủ tục rút gọn 311.3.3 Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn 42KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44

Chương 2: THỤC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRÊN

ĐỊA BÀN CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN VÀ MỘT SÓ GIẢI

PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP

DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG LUẬT TÓ TỤNG

HÌNH S ư VIỆT NAM 45

2.1 Thục tiễn áp dụng tìiủ tục rút gọn ừTên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên 452.2 Nguyên nhân 562.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thủ

tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam 62

KÉT LUẬN 89 MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm

các tỉnh Tây Nguyên từ ngày 01/10/2008 đến 30/09/2012 46Bảng 2.2: Số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ

Bảng 2.3: Số liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ

Bảng 2.4: Sổ liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ

Bảng 2.5: Sổ liệu thổng kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ

Bảng 2.6: Sổ liệu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU Đ ồ

Biểu đồ 2.1; Tổng số vụ án hình sự đã xét xử và tổng số vụ án hình sự

xét xử theo thủ tục rút gọn từ 2008 đến 2012 47Biểu đồ 2.2: Tình hình giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn

trong các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 48Biểu đồ 2.3; Tỷ lệ các loại án xét xử theo thủ tục rút gọn trong thời

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết số 08 - NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một

số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ: “Nghiên

cứii đề quy định và thực hiện thủ tục tổ tụng rút gọn đổi với những vụ ản đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rô ràng, hậu quả ít nghiêm ừ-ọng

Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có một chương mới quy định về thủ tục rút gọn đó là chương XXXIII gồm 7 điều từ Điều 317 đến Điều 323

Chương “Thủ tục rút gọn” nằm trong phần thứ 7 của Bộ luật Tố tụng Hình sự là phần quy định về thủ tục đặc biệt Do đó, các thủ tục tố tụng này không áp dụng cho tất cả các vụ án hình sự mà chỉ giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với một sổ vụ án nhất định

Thủ tục rút gọn đã được quy định ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, tố chức bộ máy của cơ quan tư pháp cũng như yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm mà

ở các quốc gia này có những quy định về thủ tục, điều kiện, phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn khác nhau

Mặc dù, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định thủ tục rút gọn thành một chương riêng bao gồm những quy định về phạm vi, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục áp dụng Các quy định về thủ tục rút gọn cũng không trái với các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, không trái với chức năng thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng và vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng

Nhưng, những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn lại có nhiều điểm chưa hợp lý, một số quy định còn chung chung,

Trang 7

chưa cụ thể, rõ ràng trong khi hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn

áp dụng các quy định này, do đó hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao, chưa đạt được mục đích mà Bộ luật Tố tụng hình sự đề ra

Đi liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 25/5/2005 về Chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ việc cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn cần phải được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm được nhanh chóng, kịp thời, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Mặt khác, luật hình sự đã phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, tính chất phức tạp của các vụ án hình sự cũng khác nhau, do đó việc Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003 quy định các hình thức tố tụng khác nhau để giải quyết là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở khoa học Một chế định về thủ tục rút gọn trong pháp luật tổ tụng hình sự đầy đủ, hoàn thiện và hợp lý hiện nay vẫn

là một yêu cầu với các nhà lập pháp nước ta

Nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của thủ tục rút gọn trên thực tế nhất là ở các tỉnh Tây Nguyên, luận văn thạc sỹ với đề

tài: ''Thủ tục rút gọn trong Luật tổ tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn ở Tây N guyên y mong muốn đưa ra một cái nhìn cơ bàn và

toàn diện về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong quá trình xét xử các vụ án Hình sự ở các tỉnh Tây Nguyên

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu

Là một thủ tục tố tụng tiến bộ với nhiều ưu điểm được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định trước đây, thủ tục rút gọn được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn quan tâm và nghiên cứu, như:

Luận văn tìiạc sỹ Luật học “TTỉiỉ tục rút gọn trong pháp ỉuật tố tụng hình

sự - Những vẩn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội, 2001 của Nguyễn Minh Quang;

Luận văn thạc sỹ Luật học “77;« tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt

Nani", Hà Nội, 2004 của Nguyễn Văn Hiển;

Trường Đại học Luật Hà Nội ''''Thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sụ^’’

đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2008

Sách: "‘Thủ tục rút gọn trong pháp luật to tụng hĩnh sự Việt Narri",

NXB Tư pháp, Hà Nội 2004 của tác giả Nguyễn Văn Hiển;

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nơm, Đại học Luật Hà Nội, Nhà

xuất bản Công an nhân dân, 2009;

Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2003, PUS i s vỏ Khánh Vinh

(chủ biên), Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2004

"''Thủ tục rút gọn trong Bộ luật tổ tụng hĩnh sự ' của TS Khuất Văn Nga

“ về thủ tục rút gọn và những bất cập trong thực tiễn điều tra, triiy tố, xét

xử ' của tác giả Lê Quốc Thể (Tạp chí Tòa án nhân dân số 13 tháng 7/2007);

về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định Bộ luật Tổ tụng Hình sự năm 2003'’’ của ThS Nguyễn Văn Quảng

(Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2008);

Trang 9

“ơ /ả/ quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn - Thực trạng và những kiến

nghị đề x u ấ r của tác giả Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí Nhà nước và pháp luật

số 7/2008);

^'Hoàn thiện thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp'’’ của TS

Nguyễn Đức Mai (Tạp chí Tòa án nhân dân số 15 tháng 8/2008);

‘‘'‘Hoàn thiện các quy định của Bộ luật to tụng hình sự về thủ tục rút gọn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp’’’ của ThS Nguyễn Văn Quảng (Tạp chí

Kiểm sát số 18&20 tháng 9&10 /2008);

“A/ộí sổ ỷ kiến về thủ tục rút gọn trong tổ tụng hình sự" của tác giả

Trần Quốc Văn (Tạp chí Kiểm sát số 13 tháng 7/2009);

"'Những vưởng mắc khi áp dụng thủ tục rút gọn trong tổ tụng hình sự

và một số kiến n g h r của TS Phạm Minh Tuyên (Tạp chí Tòa án nhân dân số

01 tháng 01/2011);

“ FữV/ đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa Giản

lược trong hệ thổng Tòa án nhân dân “của Chánh án Tòa án nhân dân Tối

Cao Trưưng Hòa Bình (Tạp chí Tòa án sổ 4 Iháng 2/2014)

Các công trình nghiên cứu, các bài viết kể trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của BLTTHS năm 2003 về thủ tục rút gọn, một số ít bài viết đề cập đến thực tiễn áp dụng cũng như những bất cập, vướng mẳc khi giải quyết án hình sự theo thủ tục này và cũng chỉ mới dừng lại ở phạm vi một số địa phương mà chưa đề cập đến thực tiễn áp dụng các quy định này

Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về thủ tục rút gọn trên

cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn, thực tiễn thi hành ít được quan tâm nghiên cứu

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự, tìm ra những bất cập trong quy định về thủ tục rút gọn của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nhàm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự về thủ tục rút gọn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục này trong tổ tụng hình sự

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn như: khái niệm thủ tục rút gọn; trình tự, thủ tục các quy định của pháp luật trong việc áp dụng thủ tục rút gọn; ý nghĩa của thủ tục rút gọn

- Nghiên cứu và đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn;

- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 về thủ tục rút gọn; xác định nguyên nhân của thực trạng đó

5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu và hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm:

6 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Với những đối tượng nghiên cứu nêu trên, phạm vi nghiên cứu đề tài được xác định như sau:

Trang 11

- Những quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 của Việt Nam và một số nước trên thế giới

- Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn từ năm 2008 đến năm 2012 trên địa bàn các Tỉnh Tây Nguyên

7 Phương pháp nghiên cứu

Đe tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận, quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng

và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp

Luận vãn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

8 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam Nêu lên mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn, góp phần thống nhất nhận thức về vấn đề này

- Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành

về thủ tục rút gọn, thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong thời gian qua trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Đưa ra những nhận xét, đánh giá, xác định nguyên nhân của thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn, xác định những bất cập trong các quy định của pháp luật về thủ tục rút gọn cần được hoàn thiện, những vưÓTìg mắc trong việc áp dụng thủ tục rút gọn cần được giải quyết

- Luận văn đưa ra một sổ kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận; danh mục tài liệu tham khảo

Trang 12

Phần nội dung của luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng

hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn áp dụng tìiủ tục rút gọn trên địa bàn các tỉnh Tây

Nguyên và một sổ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc

áp dụng tìiủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 13

Chương 1

NHŨÌVG VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN

TRONG LUẬT T ố TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam

Thủ tục tổ tụng hình sự được hiểu là cách thức, trình tự được áp dụng

để phát hiện và xử lý tội phạm một cách thống nhất nhằm mục đích cơ bản là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Luật tố tụng hình sự nói chung, ngoài thủ tục tố tụng thông thường còn có những thủ tục đặc biệt khác để giải quyết vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, các thủ tục tố tụng đặc biệt, đó là: thủ tục tố tụng đổi với người chưa thành niên, thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và thủ tục rút gọn

Như vậy, thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, luy được rúl ngắn về thời gian tổ tụng, giản lược inột sổ Ihủ tục nhất định nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhàm giúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng đối với những

vụ án nhất định [1, tr.728]

Quy định về thủ tục rút gọn sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết nhanh chóng một số lượng lớn những vụ án ít nghiêm trọng, góp phần vào việc giải quyết án tồn đọng, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng được một trong những nội dung của cải cách tư pháp hiện nay

Đe đưa ra ichái niệm về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự, cần nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của thủ tục này Dưới góc độ là một thủ tục tố tụng đặc biệt trong tố tụng hình sự, thủ tục rút gọn có những đặc điểm sau:

Trang 14

+ Rút ngắn về thời gian tố tụng: Một đặc điểm đặc trưng của thủ tục rút

gọn là thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tục này có sự rút ngắn so với thủ tục thông thường Trong thủ tục thông thường, nhà làm luật quy định một thời hạn tố tụng tối đa để tiến hành các hoạt động tố tụng ở những giai đoạn tố tụng nhất định nhàm bảo đảm việc giải quyết vụ án chính xác, kịp thời, đúng pháp luật Tuy nhiên, với một số vụ án nhất định có thể cho phép giải quyết nhanh hơn so với thời hạn thông thường, nếu áp dụng thời hạn chung để giải quyết thì có thể gây ra sự lãng phí về thời gian, tiền bạc, công sức của các cơ quan tiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng Với những vụ án

đó, pháp luật quy định một thời gian tố tụng ngắn hơn thời hạn thông thường, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ án nhanh chóng nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

Nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể hiểu rõ hơn đặc điểm này Tại Đức, đối với những vụ án thích hợp cho việc xét xử trực tiếp (theo thủ tục xét xử nhanh với những vụ án đơn giản hoặc chứng cứ rõ ràng), khi có đề nghị của Cơ quan công lố, phiên toà chính sẽ được mở ngay lập tức ở Trung Quốc, đối với vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn, Toà án nhân dân phải kết thúc trong thời hạn 20 ngày sau khi thụ lý

vụ án ở Pháp, trong trường hợp phạm tội quả tang, nếu phạt tù cao nhất theo luật định là từ một năm đến bảy năm và nếu Viện trưởng Viện công tổ bên cạnh Toà án sơ thẩm thấy các yểu tố đòi hỏi phải đưa bị cáo ra toà ngay thì Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà án sơ thẩm có thể quyết định đưa bị cáo ra Toà ngay trong cùng ngày [13, Điều 395] Tại Liên bang Nga, việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn được tiến hành trong thời hạn không quá bốn mươi tư ngày Cơ quan điều tra ban đầu trong thời hạn mười ngày phải xác định các tình tiết về tội đã phạm và nhân thân người phạm tội, thu thập các chứng cứ cần thiết cho việc xét xử vụ án; trong trường hợp cần điều tra làm rõ

Trang 15

các tình tiết của tội phạm thì Cơ quan điều tra ban đầu tiến hành các thủ tục điều tra không quá hai mươi ngày; thời hạn tối đa cho việc xét xử tại Toà án

là mười bổn ngày

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam quy định thời hạn tối

đa cho việc giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá ba mươi ngày, theo đó thời hạn điều tra là mười hai ngày, thời hạn truy tố là bốn ngày và thời hạn xét xử là mười bốn ngày Như vậy, thời hạn này so với thủ tục thông thường đã được rút ngắn rất nhiều

Trong khi thủ tục tổ tụng thông thường thì thời hạn điều tra vụ án hình

sự đối với tội ít nghiêm trọng là không quá hai tháng (sáu mươi ngày) kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra và có thể gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng (sáu mươi ngày) Như vậy thời hạn điều tra một vụ

án hình sự đổi với tội ít nghiêm trọng theo thủ tục tố tụng thông thường tối đa không quá 120 (một trăm hai mươi) ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn điều tra tối đa là 12 (mười hai) ngày Như vậy ở giai đoạn điều tra, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 108 (một trăm linh tám) ngày

ở giai đoạn truy tố thì thời hạn quyết định truy tố là không quá 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án và kết luận Điều tra trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn nhưng không quá 10 (mười) ngày Như vậy, thời hạn truy tố một vụ án hình sự đổi với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn truy tố tối đa là 04 (bốn) ngày Như vậy ở giai đoạn truy tố, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 26 (hai mươi sáu) ngày

ở giai đoạn xét xử thì thời hạn chuẩn bị xét xử là không quá 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án đối với tội ít nghiêm trọng còn đổi với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời

Trang 16

hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 (mười lăm) ngày Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 45 (bốn mươi lăm) ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn chuẩn bị xét

xử tối đa là 14 (mười bốn) ngày Như vậy ở giai đoạn xét xử, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 31 (ba mươi mốt) ngày

Do vậy, với thủ tục tổ tụng thông thường thì thời hạn điều tra, truy tố

và xét xử đối với tội ít nghiêm trọng là 195 ngày còn thủ tục rút gọn chỉ có 30 ngày, rút ngắn được 165 ngày (05 tháng 15 ngày) một thời gian đáng kể

+ Giản lược về thủ tục tổ tụng: Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với một số

vụ án nhất định, do có sự rút ngắn về thời gian so với thủ tục tố tụng thông thường nên để phù hợp với sự rút ngắn về thời gian đó, pháp luật cho phép người tiến hành tố tụng không phải tiến hành một số hoạt động tố tụng nhất định mà lược bớt một số thủ tục tổ tụng trong quá trình giải quyết vụ án

Sự giản lược về mặt thủ tục trong thủ tục rút gọn theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 được thể hiện: Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát mà không phải làm bản kết luận điều tra Việc truy tố bị can trước Toà án cũng chỉ bằng quyết định truy tố thay cho Bản cáo trạng

Nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn: Theo

quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc áp dụng thủ tục rút gọn vẫn phải đảm bảo tôn trọng nguyên tắc cơ bản của tổ tụng hình sự quy định tại chương II Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà

án có hiệu lực pháp luật; Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Nguyên tắc xét xử công khai; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; Nguyên tắc Thẩm phán và Hội

Trang 17

thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa sổ; Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử; Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án .

Sở dĩ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như pháp luật tổ tụng hình sự của các nước trên thế giới không quy định hệ thống nguyên tắc riêng đối với thủ tục rút gọn vì về bản chất thủ tục rút gọn vẫn là một thủ tục tố tụng trong hệ thống tổ tụng hình sự của một quốc gia Việc quy định thủ tục rút gọn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như thủ tục thông thường hay các hình thức tố tụng đặc biệt khác sẽ đảm bảo tính thống nhất cho pháp luật tố tụng hình sự quốc gia, đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật cho mọi công dân, đảm bảo dù áp dụng hình thức tố tụng chung hay hình thức tố tụng đặc biệt thì quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ pháp luật tố tụng về cơ bản là như nhau

+ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Pháp luật tố tụng hình sự quy

định việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một số loại án nhất định Khi

áp dụng thủ tục rút gọn thời gian được rút ngắn, thủ tục lố tụng được giản lược nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

Tuy nhiên, dù giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn hay theo thủ tục chung thì một trong những yêu cầu đặt ra đổi với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải đảm bảo vụ án được giải quyết một cách chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế những sai sót có thể xảy ra vì bất kỳ lý do nào

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới cho thấy: Pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia quy định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn có sự khác nhau nhưng về cơ bản chỉ áp dụng thủ tục này với những tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội đơn giản, rõ ràng, mức hình phạt áp dụng không cao, hậu quả pháp lý mà bị can, bị cáo phải

Trang 18

gánh chịu không lớn và nếu có xảy ra sai sót trong việc giải quyết vụ án thì hậu quả cũng dễ khắc phục.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 của Việt Nam thì thủ tục rút gọn chỉ áp dụng khi có đủ các điều kiện sau: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm

đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng

+ Mục đích của thủ tục rút gọn: Trong tố tụng hình sự, thủ tục rút gọn

được áp dụng nhằm mục đích giải quyết một số loại vụ án hình sự nhất định, nhanh chóng, kịp thời để giảm bớt gánh nặng về số lượng án cần giải quyết quá lớn cho cơ quan tiến hành tố tụng, hạn chế tình trạng án tồn đọng để quá hạn luật định

Bên cạnh đó, việc giải quyết một số vụ án theo thủ tục này cũng giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cho các cơ quan tiến hành tố tụng và

người tiên hành to tụng cũng nhir của những người tham gia tô tụng

Tuy nhiên, thủ tục rút gọn vẫn phải đảm bảo được những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Từ những dấu hiệu của thủ tục rút gọn đã phân tích trên đây, có thể đưa

ra một khái niệm về thủ tục rút gọn như sau: Thủ tục rút gọn trong tổ tụng

hình sự là một thủ tục to tụng đặc biệt có sự rút ngắn về thời gian, giản lược

về thù tục, áp dụng đổi với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, có tính chất ít nghiêm trọng, người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, nhưng vân đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Trang 19

Ỉ.2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn

Ỷ nghĩa về chỉnh trị: Việc áp dụng thủ tục rút gọn nhằm mục đích giải

quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đồng thời cũng góp phần hoàn thành một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết

số 49- NỌ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra là: Tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm các quyền con người trong hoạt động tổ tụng hình

sự Việc rút ngắn thời gian, giản lược một số thủ tục tố tụng nhất định, tạo điều kiện giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhưng vẫn đảm bảo được những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật góp phần thiết thực vào việc thực hiện định hướng mà Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị về Chiến

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra là: “Hoạt động xét xử được

tiên hành cỏ hiệu quả và hiệu lực cao

Trong trường hợp có khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của

bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Viện kiểm sát phải giải quyết khiếu nại này và Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng thủ tục rút gọn khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát

Hơn nữa, thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

đã góp phần đề cao vấn đề bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự

Ỷ nghĩa về mặt pháp lý: Quy định về thủ tục rút gọn là sự kế thừa và

Trang 20

phát triển những quy định về thủ tục rút ngắn trong các văn bản trước đây của pháp luật tổ tụng hình sự Việt Nam, đồng thời cũng là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp nước ta khi quy định về thủ tục rút gọn lchông được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên vào năm 1988.

Chế định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có sự tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến bộ của pháp luật nước ngoài, những quy định phù hợp với nền lập pháp nước ta, đáp ứng yêu cầu xu thế quốc tế hoá mọi mặt của đất nước hiện nay

Quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là

cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng giải quyết nhanh chóng, kịp thời nhiều vụ án ít nghiêm trọng, có tính chất phạm tội quả tang, đơn giản, rõ ràng không cần phải mất nhiều thời gian, không phải thực hiện nhiều thủ tục tố tụng Đáp ứng nhu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm

Ỷ nghĩa về mặt xã hội: Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết một

số vụ án nhất định một cách nhanh chóng, sớm đưa tội phạm ra xử lý trước pháp luật, góp phần giải quyết kịp thời tất cả các vụ án mà cơ quan tiến hành

tố tụng đã thụ lý, giảm lượng án tồn đọng, quá hạn ở các cơ quan này, đồng thời góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian xử lý các vụ án khác phức tạp hơn, cần nhiều thời gian hơn

Mặt khác, thủ tục rút gọn còn góp phần nhanh chóng khôi phục quan hệ

xã hội bị xâm phạm, tội phạm sớm được xét xử, người bị hại sớm được khôi phục quyền lợi, người phạm tội sớm phải chịu hình phạt nên cũng sớm trở về hoà nhập cuộc sống, từ đó góp phần nhanh chóng ổn định trật tự xã hội

Ngoài ra, thủ tục rút gọn còn là biện pháp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức cho việc điều tra, truy tố, xét xử một số tội phạm nhất định; giảm tải gánh nặng công việc cho các cơ quan tư pháp; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm trong quần chúng nhân dân, đáp ứng mong mỏi của

Trang 21

nhân dân về việc trừng trị tội phạm; đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian

cho những người tham gia tố tụng vì thời gian giải quyết vụ án ngắn nên

người tham gia tố tụng không phải mất nhiều thời gian cho vụ án

Việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án nhất định nhưng

vẫn đảm bảo được những mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là lchông để lọt

tội phạm, không làm oan người vô tội, giải quyết vụ án hình sự một cách

khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần củng cố lòng tin

của nhân dân vào pháp luật, vào hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và bộ

máy nhà nước nói chung Việc giải quyết nhanh chóng các vụ án hình sự sẽ

củng cố thêm lòng tin của người dân vào sự công bằng của pháp luật, sự công

tâm của cán bộ công tác trong ngành tư pháp, hiệu quả công tác tư pháp sẽ

được nâng cao, đảm bảo hiệu quả và hiệu lực

1.3 Những quy định của Bộ iuật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn

1.3.1 Quy định về phạm vi, điều kiện và thấm quyền áp dụng thủ tục rút gọn

về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn là

giới hạn luật định cho phép thủ tục rút gọn được áp dụng trong những giai

đoạn nhất định của tố tụng hình sự

Điều 318 Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003 quy định về phạm vi áp

dụng thủ tục rút gọn như sau: “Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tổ và

xét xử sơ thẩm được ảp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo

những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của

Chương này” Với quy định như vậy, thủ tục rút gọn không áp dụng trong tất

cả các giai đoạn tố tụng mà chỉ được áp dụng trong ba giai đoạn: điều tra, truy

tố và xét xử sơ thẩm Đây là các giai đoạn trọng tâm của trình tự tố tụng, thể

hiện rõ nét nhất chức năng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

cũng như mối quan hệ phối hợp và chế ước của ba cơ quan này

Trang 22

Theo quy định tại Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án sau khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát, quyết định này được ban hành sau khi khởi tổ vụ án, tức là trong giai đoạn điều tra vụ án.

Sở dĩ pháp luật không quy định áp dụng thủ tục rút gọn ở ngay giai đoạn khởi tố vụ án vì ở giai đoạn này các dấu hiệu của tội phạm mới đang được xác định, cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể xác định được các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của pháp luật

Thủ tục rút gọn cũng không được áp dụng ở các giai đoạn sau khi xét

xử sơ thẩm như: xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục thi hành án

Neu vụ án phải xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì tính chất “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng” không còn nữa mà vụ án đã trở thành phức tạp vì “khi bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã bị kháng cáo, kháng nghị là đã có sự không thống nhất giữa Toà án với Viện kiểm sát hoặc giữa Toà

án với những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong việc giải quyết

vụ án” [11] và vụ án được áp dụng thủ tục chung để giải quyết sẽ đảm bảo các tình tiết của vụ án được xem xét toàn diện và đầy đủ hơn Tuy nhiên, việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định không áp dụng thủ tục rút gọn đổi với việc xét xử phúc thẩm là bó hẹp phạm vi áp dụng của thủ tục này

về mặt lý luận cũng như thực tiễn xét xử cho phép nhận định có những

trường hợp việc kháng cáo của bị cáo không làm cho tính chất của vụ án trở nên phức tạp Đa số các bị cáo thực hiện quyền kháng cáo để xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt với tâm lý cầu may, nhiều trường hợp người bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì họ có quan hệ hôn nhân, huyết thống với bị cáo hoặc vì thông cảm, tha thứ, không muốn gây thù oán

Trang 23

với bị cáo chứ không phải vì phản đối việc giải quyết vụ án của tòa án cấp sơ thẩm, cũng không phải vì bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm không đảm bảo tính hợp pháp hay tính không có căn cứ [11].

Với những trường hợp trên thì thực chất không có vấn đề cần xem xét thêm các tình tiết thuộc nội dung vụ án, cũng không cần xem xét lại việc áp dụng pháp luật của tòa án cấp sơ thẩm mà chỉ xem xét có thể giảm hơn nữa mức án cho bị cáo hay không mà thôi

Vì vậy, trong trưòng hợp này, nếu như vụ án đã có đủ điều kiện để xét

xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn ữiì những điều kiện đó vẫn được duy trì sau lchi bản án bị kháng cáo, hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử phúc thẩm những vụ án này mà không ảnh hưởng đến chất lượng xét xử và vẫn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo Việc hạn chế áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử phúc thẩm trong những trường hợp này là không cần thiết

Mặt khác, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm thì vẫn phải áp dụng theo thủ tục chung mà theo quy định tại Điều 242 Bộ luật Tổ tụng Hình sự về thời hạn xét xử phúc thấm thì

“Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày Như vậy, tổng số thời hạn điều tra, truy

tổ, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 30 ngày trong khi thời hạn xét xử phúc thẩm là 60 ngày, đây là điều không hợp lý làm mất đi ý nghĩa của thủ tục rút gọn [27

Pháp luật tố tụng hình sự một sổ nước trên thế giới cũng quy định phạm

vi áp dụng thủ tục rút gọn có sự khác nhau: Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng Hoà nhân dân Trung Hoa, Bộ luật Tố tụng Hình sự Cộng hoà Pháp quy định thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, không áp dụng trong giai đoạn điều tra và truy tố Còn Bộ luật Tổ tụng Hình sự Tây úc, Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam quy định thủ tục rút gọn được áp dụng cho cả

Trang 24

ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Một số nước khác lại quy định áp dụng thủ tục rút gọn đổi với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm như: Hàn Quốc và Nhật Bản Điều 408 Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định: Trường hợp Toà phúc thẩm Jokoku - Nhật Bản, sau khi xem xét bản trình bày lý do kháng nghị iokoku đã tìm thấy những tài liệu khác chứng tỏ rằng việc kháng nghị là không thể chứng minh được thì Toà án có thể bác kháng nghị bằng một bản án mà không cần phải tiến hành thủ tục xét xử bằng lời nói Tại khoản 4, khoản 5 Điều 364 Bộ luật Tổ tụng Hình sự Hàn Quốc quy định: Khi Toà án thấy rằng rõ ràng đơn kháng cáo không có cơ sở, Toà án có thể bác đom kháng cáo bằng bản

án mà không cần tố tụng miệng, bằng cách thẩm tra đơn kháng cáo, bản trình bày lý do kháng cáo hoặc bất kỳ tài liệu nào của bản án

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước đây cũng có quy định về việc

áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm, cụ thể là tại Thông tư sổ 19/TT - TATC ngày 12/10/1974 của Tòa án nhân dân tối cao đã quy định về điều kiện, trình tự áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử ở giai đoạn phúc thẩm Các quy định

đó vẫn có những điểm hợp lý và cần được tiếp tục kế thừa và phát triển

v ề điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Điều kiện áp dụng thủ tục rút

gọn là nhừng căn cứ mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cần và đủ để có thể

áp dụng thủ tục này

Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

Điêu kiện thứ nhát là người thực hiện hành vi phạm tội bị băt quả tang:

Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến các cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan Điều tra có thẩm quyền

Trang 25

Theo quy định trên thì phạm tội quả tang là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.

- Trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ: Người đang thực hiện tội phạm được hiểu là người đang thực hiện những hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Đang thực hiện tội phạm có thể là: đang thực hiện những hành vi làm cơ sở tiền đề liền trước hành vi phạm tội Những hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội

mà đây là những hành vi rất gần, không thể tách ra được với hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm nên được coi là hành vi thực hiện tội phạm

Ví dụ như: hành vi giơ dao để đâm, lắp đạn vào súng để bắn [28, tr.l56, 157, 204,205]

Đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng chưa thực hiện được hết các hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc mới thực hiện được một trong số những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm

Ví dụ như; đang dùng vũ lực với nạn nhân để giao cấu với nạn nhân, đang

uy hiếp tinh thần nạn nhân để chiếm đoạt tài sản, [28, tr.l 56, 157, 204,205]

Hành vi đang thực hiện có thể đã gây ra hậu quả hoặc chưa gây ra hậu quả, có thể diễn ra trong một thời gian ngắn (như hành vi cướp tài sản) hoặc có thể diễn ra trong một thời gian dài (như hành vi tàng trừ trái phép

vũ khí quân dụng)

- Trường họp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ: Trường hợp này các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện hết, đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, tội phạm vừa mới được hoàn thành nhung người thực hiện hành vi phạm tội chưa kịp chạy trổn hoặc đang cất dấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xoá những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện và bị bắt giữ

Trang 26

Thời điểm bị bắt giữ có sự tiếp liền về mặt thời gian với thời điểm hành

vi phạm tội được thực hiện, người thực hiện hành vi phạm tội chưa rời khỏi hiện trường vụ án

Như vậy, phạm tội quả tang gồm các trường hợp: trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ; trường hợp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ và trường hợp đang bị đuổi bắt vì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm

- Trường hợp người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ: Người đang thực hiện tội phạm được hiểu là người đang thực hiện những hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Đang thực hiện tội phạm có thể là: đang thực hiện những hành vi làm cơ sở tiền đề liền trước hành vi phạm tội Những hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội

mà đây là những hành vi rất gần, không thể tách ra được với hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm nên được coi là hành vi thực hiện tội phạm

Ví dụ như: hành vi giơ dao để đâm, lắp đạn vào súng để bắn [28, lr.l56, 157, 204, 205]

Đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng chưa thực hiện được hết các hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc mới thực hiện được một trong số những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm

Ví dụ như: đang dùng vũ lực với nạn nhân để giao cấu với nạn nhân, đang

uy hiếp tinh thần nạn nhân để chiếm đoạt tài sản, [28, tr 156, 157, 204, 205]

Hành vi đang thực hiện có thể đã gây ra hậu quả hoặc chưa, có thể diễn

ra trong một thời gian ngắn (như hành vi cướp tài sản) hoặc có thể diễn ra trong một thời gian dài (như hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng)

- Trường họp ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện và bị bắt giữ Trường hợp này các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã

Trang 27

được thực hiện hết, đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, tội

phạm vừa mới được hoàn thành nhưng người thực hiện hành vi phạm tội chưa

kịp chạy trốn hoặc đang cất dấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xoá

những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện và bị bắt giừ

Thời điểm bị bắt giữ có sự tiếp liền về mặt thời gian với thời điểm hành

vi phạm tội được thực hiện, người thực hiện hành vi phạm tội chưa rời khỏi

hiện trường vụ án

- Trường hợp đang bị đuổi bắt thì bị phát hiện khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm Đây là trường hợp người phạm

tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát

hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt

Việc thực hiện tội phạm, chạy trốn và đuổi bắt có sự liên tục, không có

sự gián đoạn về mặt thời gian và diễn biến của sự việc

Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng, ai

trông thấy cũng có thể biết đó là tội phạm Các vụ án mà người phạm tội bị

bát quả lang thông thường là nhừng trường hợp chứng cứ tang vật cùa vụ án

được thu giữ đầy đủ, người làm chứng, người bị hại cũng được xác định cụ

thể nên người phạm tội không thể chối cãi về hành vi mà mình đã hoặc đang

thực hiện, do đó việc xác định tội phạm được nhanh chóng

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết án hình sự cho thấy không phải chỉ có

trường hợp phạm tội quả tang việc xác định tội phạm mới được nhanh chóng,

chính xác mà có nhiều trường hợp vụ án tuy không phải thuộc trường hợp quả

tang, song sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, thuộc trường hợp ít

nghiêm trọng, căn cước lai lịch của bị can rõ ràng nhưng không được áp dụng

thủ tục rút gọn vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang

Ví dụ: A trộm cắp của B một chiếc xe máy, hai hôm sau trên đường A

đi tiêu thụ thì bị B phát hiện báo công an bắt giữ, A thừa nhận hành vi trộm

cắp xe máy của B, tang vật được thu hồi trả lại ngay cho B

Trang 28

Hoặc có những trưòmg hợp người phạm tội tự thú, đầu thú về hành vi phạm tội của mình và hành vi phạm tội đó cũng đơn giản, chứng cứ rõ ràng, việc chứng minh tội phạm vẫn đảm bảo yếu tổ nhanh chóng, chính xác nhưng

vì cũng không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng thủ tục rút gọn [27]

Do vậy, việc Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2009 quy định điều kiện người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang thực chất chỉ có ý nghĩa khoanh vùng, hạn chế các vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn một cách cơ học

Mặt khác, mục đích của thủ tục rút gọn là làm giảm áp lực, giảm sự quá tải về số lượng án phải giải quyết theo thủ tục thông thường Cho nên, việc quy định điều kiện người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang là bó hẹp

so với thực tiễn, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chổng tội phạm

Điều kiện thứ hai là sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng: Điều

kiện ''sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng" mang tính định tính.

Pháp luậl tố lụng hình sự hiện nay chưa có ván bàn hướng dẫn cụ thể thế nào là “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng”, vấn đề này trước đây đã được đề cập tại Thông tư sổ 10 - TATC ngày 08/7/1974 của Toà án

nhân dân Tôi cao: “Tội phạm đơn giản, rõ ràng là: vụ án không có các tình

tiết phải mất thì giờ điền tra, xác minh, bị cảo đã nhận tội và trong vụ án chỉ

có một hoặc hai bị cảo Tuy nhiên, văn bản này hiện nay đã không còn hiệu

lực Do vậy, không thể dựa vào quy định tại Thông tư sổ 10 - TATC ngày 8/7/1974 để áp dụng cho vấn đề này Điều kiện “sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng” gồm hai dấu hiệu; sự việc phạm tội đơn giản và sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng Căn cứ vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, có thểhiểu điều kiện này như sau:

- Sự việc phạm tội đơn giản là những sự việc mà vấn đề cần chứng

minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định

Trang 29

Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định những vấn đề cần chứng minh gồm:

1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm

và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không

có lỗi, do cố ý hay do vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự haykhông; mục đích, động cơ phạm tội;

3 Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị cáo;

4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.+ Hành vi phạm tội thường do một người thực hiện hoặc có thể có nhiều người thực hiện nhưng là trường hợp đồng phạm giản đơn, việc xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng dễ dàng mà không phải trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của

tvrng đối tượng Tội phạm được thực hiện tại một địa điểm nhất định, không

liên quan đến nhiều địa bàn khác

+ Người thực hiện hành vi phạm tội thường là người đã thành niên, có

đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ Hành vi mà họ thực hiện thường do lỗi

cổ ý, yếu tố lỗi được thể hiện rõ ràng và dễ xác định

+ Mục đích phạm tội thường là lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi mangtính nhất thời, dễ xác định

+ Sự việc phạm tội không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, không liên quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay những vấn

đề chính trị, an ninh, kinh tế phức tạp khác Việc giải quyết vụ án cũng không đòi hỏi phải tiến hành những hoạt động điều tra phức tạp khác

Trang 30

- Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng

Chứng cứ rõ ràng có thể được hiểu là những chứng cứ phản ánh đầy đủ, chính xác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án Vụ án thuộc trường hợp phạm tội quả tang nên chứng cứ của vụ án được thu thập tương đối đầy đủ ngay sau khi bắt người thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị bắt giữ, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu được tại hiện trường các chứng cứ cần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ án được thu thập nhanh chóng, đầy đủ

Chứng cứ của vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, có giá trị chứng minh trực tiếp, khách quan và hợp pháp Chứng cứ rõ ràng là một yếu tố quan trọng để xác định vụ việc phạm tội là đơn giản, đồng thời rút ngắn quá trình điều tra, xác minh của cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điều kiện để giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác

Troiig ihực liễn áp dụiig Ihủ lục rúl gọn dể giải quyél vụ án hình sự ihì hai yểu tố sự việc phạm tội đơn giản và chứng cứ rõ ràng có mối liên hệ lôgíc với nhau Trong khái niệm sự việc phạm tội đơn giản có bao hàm cả yếu tổ chứng cứ rõ ràng và ngược lại Tính chất sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ

rõ ràng phải luôn tồn tại trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm

vụ án hỉnh sự

Nếu trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn mà phát hiện có những tình tiết phức tạp, phải điều tra bổ sung, cần thời gian để xác minh thêm thì thủ tục rút gọn bị huỷ bỏ, vụ án phải giải quyết theo thủ tục thông thường

Điều kiện thứ ba là tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng.

Bộ luật hình sự năm 2009 đã phân hóa tội phạm thành bốn loại tội khác nhau, bao gồm; tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trang 31

“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đổi với tội ấy là đến ba năm tù ”

(Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2009) Theo quy định này để xác định tội phạm ít nghiêm trọng phải dựa trên hai dấu hiệu: dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội và dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý

Dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội là tính nguy hiểm cho xã hội Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội

Dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý là tính chịu hình phạt Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến ba năm tù

Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lý mà người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải gánh chịu là không lớn nên việc

xử lý có thể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường họp việc xử lý có sai sót thì hậu quả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các trường hợp thực hiện tội phạm khác và việc khắc phục hậu quả cũng dễ dàng hơn

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 có 149/267 điều luật có quy định về tội phạm ít nghiêm trọng Tuy nhiên không phải tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng thủ tục rút gọn vì còn phụ thuộc vào các điều kiện khác như: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; người

phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng; đặc biệt là điều kiện “sự việc phạm tội

đơn giản, chứng cứ rõ ràng

Nhiều vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng lại phức tạp trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ như các tội gây rối trật tự công cộng, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp thì cũng không thể áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết Do vậy, số lượng án ít nghiêm trọng được áp dụng để giải quyết theo thủ tục rút gọn là rất hạn chế

Trong khi thực tiễn xét xử lại có nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng,

Trang 32

hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1,2,4 quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng song

không thể áp dụng được thủ tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiện “tội

phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”.

Việc phân loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự của nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào mức độ gây nguy hại của hành vi và mức cao nhất của khung hình phạt có thể áp dụng đổi với hành vi phạm tội đó chứ không phân loại tội phạm theo mức độ đơn giản hay phức tạp của hành vi phạm tội Do đó, việc xác định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chỉ với tội phạm ít nghiêm trọng là không phù hợp về cơ sở lý luận và thực tiễn

Điều kiện thứ tư là người phạm tội cỏ căn cước, lai lịch rõ ràng: vấn

đề căn cước, lai lịch của bị can, bị cáo là một trong những vấn đề cần chứng minh của vụ án hình sự theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, vấn đề này có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án

Lý lịch của bị can, bị cáo liên quan đến năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, liên quan đến việc quyết định hình phạt (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo) Căn cước lai lịch của người phạm tội đã rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh có thể được rút ngắn và từ đó bảo đảm thời gian tố tụng

Đặc điểm về căn cước, lai lịch của người phạm tội được hiểu một cách chung nhất là đặc điểm về nhân thân của người phạm tội Nhân thân của người phạm tội bao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hành cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị, xã hội, tiền án, tiền sự [6, tr.38]

Khi quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án hình sự, việc xác định căn cước, lai lịch của người phạm tội rõ ràng hay không có thể dựa vào lời khai ban đầu của người phạm tội về lý lịch của họ

Trang 33

Đối với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì ỉdiông những lý lịch bị can, bị cáo phải rõ ràng, có giấy tờ chứng minh hợp pháp, những thông tin về vấn đề này cụ thể, độ tin cậy cao mà còn đòi hỏi việc xác minh căn cước, lai lịch của người phạm tội dễ dàng, nhanh chóng không ảnh hưởng tới thời hạn giải quyết vụ án [6, tr.42

Bốn điều kiện trên đây một mặt độc lập với nhau, mặt khác lại có mối quan hệ bổ trợ nhau Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn nếu một trong các điều kiện trên không đảm bảo thì vụ án phải chuyển về thủ tục thông thường để giải quyết

Ví dụ; không phải mọi tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng thủ tục rút gọ, vì có nhiều tội danh tuy là ít nghiêm trọng nhưng lại hết sức phứctạp trong thu thập và đánh giá chứng cứ như các tội phạm về chức vụ, tộiphạm xâm phạm các hoạt động tư pháp [17]

Điều kiện về người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang và điều kiện người thực hiện tội phạm có căn cước, lai lịch rõ ràng là tiền đề xác định diều kiện sự việc phạm lội dơn giản, chứng cứ rố ràng Vì Ihế khi xem xél áp dụng thủ tục rứt gọn cần phân tích đánh giá từng điều kiện trong mối liên hệ tổng thể với các điều kiện khác và chỉ quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi cả bổn điều kiện trên đều đảm bảo

về thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại Điều

320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

1 Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều trahoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại điều 319 của Bộluật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

2 Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Trang 34

3 Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại Bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết

định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ

ngày nhận được quyết định Khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát

đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết

trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại

Theo quy định này, hiện nay chỉ có Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp

với Cơ quan Điều tra đang thụ lý vụ án là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất

là có thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

về thẩm quyền điều tra và khoản 1 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, vụ án ít nghiêm trọng thuộc

thẩm quyền điều tra của Cơ quan Điều tra cấp huyện

Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về nhiệm vụ,

quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát,

theo đó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền “ra các quyết định và

tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát”

Như vậy, người có thẩm quyền ký quyết định áp dụng thủ tục rút gọn là Viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, khi Viện trưỏTig Viện kiểm sát

vắng mặt, một Phó viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ ra quyết định áp dụng thủ

tục rút gọn trong hai trường hợp;

Một là, theo đề nghị của Cơ quan Điều tra Trong quá trình thụ lý vụ

án, xét thấy có đủ điều kiện áp dụng theo thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2003, Cơ quan Điều tra sẽ đề nghị Viện kiểm sát ra

quyết định áp dụng thủ tục rút gọn Trên cơ sở đề nghị này và những tài liệu

mà cơ quan điều tra chuyển sang, Viện kiểm sát thấy vụ án có đủ điều kiện

Trang 35

quy định tại điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án.

Hai là, Viện kiểm sát tự ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn mà không cần phải có đề nghị của Cơ quan Điều tra Chức năng của Viện kiểm sát là

“thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vỉ trách nhiệm do luật định” Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát hoạt

động khởi tố vụ án của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhận thấy có đủ điều kiện theo luật định thì có thể tự mình ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Trong cả hai trường hợp trên, Viện kiểm sát chỉ có thể áp dụng thủ tục rút gọn “sau khi khởi tố vụ án” và “quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra và bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định án dụng thủ tục rút gọn”

Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát có thể bị khiếu nại, người có quyền khiếu nại là bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ Thời hạn khiếu nại là 3 ngày kể từ ngày nhận quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và Viện kiểm sát phải giải quyết khiếu nại này, Cư quan điều tra chỉ được áp dụng thủ tục rút gọn khi đã có quyết định giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát

Pháp luật tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền, thời hạn giải quyết khiếu nại, chứ không quy định căn cứ, cách thức giải quyết khiếu nại và hậu quả của việc giải quyết khiếu nại Tuy nhiên chúng ta có thể nhận định nếu khiếu nại được chấp nhận thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định huỷ quyết định

áp dụng thủ tục rút gọn, vụ án quay về giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, còn nếu Viện kiểm sát nhận thấy khiếu nại không có cơ sở thì thủ tục rút gọn được áp dụng để giải quyết vụ án

Việc quy định thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thuộc về Viện kiểm sát, Cơ quan Điều tra chỉ có quyền đề nghị trong khi Cơ quan Điều

Trang 36

tra lại là chủ thể tiếp cận vụ án ngay từ thông tin ban đầu, là cơ quan chịu trách

nhiệm chính trong việc thu thập chứng cứ và các tài liệu liên quan của vụ án

Mặt khác, lại có thêm một thủ tục là Cơ quan Điều tra phải làm văn bản

đề nghị Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn Điều này không

những không giản lược thủ tục mà còn gây phức tạp thêm

Như đã phân tích ở trên, việc quy định thẩm quyền ra quyết định áp

dụng thủ tục rút gọn như pháp luật hiện hành là chưa phù hợp

Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn cho thấy các

cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự quan tâm đến việc áp dụng thù tục

này Một mặt, do thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn quá ngắn (đặc

biệt là trong giai đoạn điều tra, truy tố chỉ có 16 ngày)

Mặt khác, pháp luật cũng không quy định bắt buộc phải áp dụng thủ tục

rút gọn khi vụ án xảy ra có đủ điều kiện luật định nên việc áp dụng thủ tục rút

gọn chưa đi vào ý thức của những người tiến hành tố tụng, vẫn còn quan niệm

áp dụng cũng được không áp dụng cũng được Cho nên, Điều tra viên và Cơ

quan Điều tra ờ hàu hết các quận, huyện chưa chù dộng trong việc dề nghị áp

dụng thủ tục rút gọn, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát ở một số nơi vẫn không

mấy quan tâm đến thủ tục này Thực tế trên dẫn đến tình trạng việc áp dụng thủ

tục rút gọn để giải quyết các vụ án có đủ điều kiện luật định còn rất hạn chế

1.3.2 Quy định về thời hạn và thủ tục điều tra, truy tổ, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn

về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn

Thời hạn trong tố tụng hình sự được hiểu là khoảng thời gian tối đa mà

Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép tiến hành các hoạt động tổ tụng để giải

quyết vụ án Một đặc điểm cơ bản của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là

sự rút ngắn về thời hạn tố tụng một cách đáng kể so với thủ tục thông thường

Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003 quy định thời hạn điều tra, truy tố,

xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn các vụ án hình sự như sau:

Trang 37

+ Thòi hạn điều tra: Do tính chất đơn giản của vụ án, hoạt động điều

tra theo thủ tục rút gọn không quá phức tạp, tốn kém thời gian và công sức của Cơ quan Điều tra cho nên thời hạn điều tra theo thủ tục này được rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Thời hạn điều tra được tính dựa theo quy định chung tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là “kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra” Việc quy định thời hạn điều tra rút ngắn như vậy là để cho việc điều tra được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của

bị can và những người tham gia tố tụng khác

+ Thời hạn truy tố: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 thì trong thời hạn 4 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định sau đây ” Sau khi nhận được quyết định đề nghị truy tổ và hồ sơ vụ án từ Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát tiến

hành xem xét lại toàn bộ hồ sa vụ án và trong thời hạn không quá bốn ngày kể

từ khi nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định sau: truy tổ bị can trước Toà án bằng quyết định truy tố; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Thời hạn truy tố được quy định rất ngắn (chỉ 04 ngày) nhằm đề cao tinh thần trách nhiệm của Viện kiếm sát cũng như đảm bảo sớm đưa vụ án ra xét

xử, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm là phải kịp thời, nhanh chóng, kiên quyết và chính xác

+ Thời hạn xét xử sơ thẩm: là mười bổn ngày kể từ ngày nhận được

hồ sơ vụ án Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng; tiến hành những việc khác cần thiết cho việc

Trang 38

mở phiên toà “Trong thời hạn bảy ngày kế từ ngày ra quyết định, Toà án

phải mở phiên toà xét xử vụ án Như vậy, thời hạn xét xử theo thủ tục rút

gọn là mười bốn ngày

Theo những quy định trên thì thời hạn tiến hành các hoạt động tố tụng theo thủ tục rút gọn là ba mươi ngàv kể từ ngày khởi tố vụ án cho đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó: Thời hạn điều tra là mười hai ngày, thời hạn truy tố là bốn ngày, thời hạn xét xử sơ thẩm là mười bốn ngày Tất cả những thời hạn này đều không được gia hạn

Việc quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm rút ngắn rất nhiều so với thủ tục thông thường Một mặt, nhàm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chổng tội phạm Mặt khác, nhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng

Tuy nhiên, thời hạn điều tra, truy tố theo thủ tục rút gọn như hiện nay là quá ngắn, tạo ra áp lực lớn về thời hạn tố tụng đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên Trong khi đó, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố thì giản lược rất ít với thời hạn điều tra là mười hai ngày, Điều tra viên phải làm việc hết sức khẩn trương mới có thể kết thúc điều tra theo đúng thời hạn Trên thực tế, với 3 ngày tạm giữ, Điều tra viên chủ yếu chỉ kịp củng cố về hành vi phạm tội thực tể của bị can và xác định cơ bản các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Tuy nhiên, nhiều vụ án với thời hạn này không đủ thời gian đế điều tra xem xét các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn Ví dụ: xác minh trường hợp bị can có tiền án, tiền sự; tiền án, tiền sự đó đã được xóa hay chưa, trường hợp định giá tài sản để xác định bị can phạm tội ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng, nhất là đối với những vụ án mà bị can bị tạm giữ vào ngày thứ 6, thứ 7 trong tuần Vì vậy, một số vụ án sau khi gia hạn tạm giữ mới xác định được

đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nhưng lại không thể áp dụng được vì nếu

Trang 39

áp dụng sẽ vi phạm tố tụng Với 9 (chín) ngày còn lại họ phải hoàn tất các thủ

tục và điều tra xác minh tiếp, nhiều thủ tục cần phải có thời gian bởi phải phụ

thuộc vào các cơ quan khác như: giám định, thẩm tra lý lịch, xác minh bản án,

xác minh việc thi hành án dân sự

Với thời hạn truy tố là 4 ngày thì chỉ đủ để Viện kiểm sát xem xét quyết

định đường lối xử lý vụ án Do đó, trong thực tế giải quyết vụ án theo thủ tục

rút gọn, Kiểm sát viên phải theo sát quá trình điều tra ngay từ khi ban hành

quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án, đề ra yêu cầu điều tra

và phối hợp với Điều tra viên trong quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Kiểm

sát viên phải nghiên cứu hồ sơ ngay trước khi kết thúc điều tra Khi hồ sơ

được chuyển đến Viện kiểm sát đề nghị ra quyết định truy tố thì Kiểm sát

viên về cơ bản đã nắm bắt được nội dung của vụ án và quan điểm của Cơ

quan Điều tra nên việc ra quyết định truy tố không có nhiều vướng mắc

Tuy nhiên, với thời hạn 04 ngày, việc giao hồ sơ vụ án và quyết định

truy tổ lại có những vướng mắc như: pháp luật không có quy định rõ khi nào

thì Viện kiểm sát phải giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, khi nào thì phải giao

quyết định truy tố cho bị can, nếu áp dùng thời hạn giao hồ sơ vụ án cho Tòa

án, giao quyết định truy tố cho bị can theo quy định chung thì lại không hợp

lý, trong khi theo thủ tục tổ tụng thông thường được quy định tại khoản 1,

khoản 3 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự thì:

1 Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định nêu trên, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người

bào chữa biết; giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc

quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can

3 trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố bàng bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng

đến Toà án

Trang 40

về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm các vụ án hĩnh sự theo thủ tục rút gọn:

Khi áp dụng thủ tục rút gọn, pháp luật tố tụng hình sự không những có quy định rút ngắn về thời gian tố tụng để giải quyết vụ án hình sự mà còn có quy định giản lược các thủ tục tố tụng cho phù hợp với thời hạn tiến hành tố tụng đã quy định

Vụ án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết là vụ án ít nghiêm trọng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có lai lịch rõ ràng, hành vi phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên pháp luật cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng không phải thực hiện một số các thủ tục tố tụng không cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án nhằm rút ngắn thời gian giải quyết vụ án đáp ứng sự kỳ vọng của quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm và yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm

+ về thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra Theo Điều 321 Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003 thì: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là mười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi lố vụ án; Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát Đe xử lý vụ án theo thủ tục rút gọn, các hoạt động điều tra do Cơ quan Điều tra tiến hành chủ yếu là: xác minh căn cước, lý lịch của bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai của người bị hại, định giá tài sản ; các hoạt động điều tra phức tạp như: trưng cầu giám định, thực nghiệm điều tra, đối chất, uỷ thác xác minh lý lịch hầu như không phải tiến hành Khi kết thúc điều tra, Cơ quan Điều tra ra quyết định đề nghị truy tổ bị can với nội dung: tóm tắt sự việc, đề nghị truy tố theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức bồi thường thiệt hại về dân

sự (nếu có) và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát

Việc không phải làm bản kết luận điều tra để mô tả lại toàn bộ nội dung

Ngày đăng: 01/10/2020, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w