1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế luận văn ths lý luận nhà nước và pháp quyền 5 05 01

120 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 26,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THỊ KIM PHƯƠNG

CÁC c ơ QUAN HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC ở ĐỊA PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC參 ♦ • •Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và pháp quyền

Mã số: 5 05 01

N gư ờ i h ư ớ n g d ầ n k h o a họ c:

PGS TS PHẠM HỒNG THÁI

HÂ NỘI - 2003

Trang 2

Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước

địa phương trong tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

Nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đối với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Nhiệm vụ, quyền hạn ban hành văn bản pháp luật của các

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Trang 3

Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước

địa phương trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước

địa phương trong việc giải quyết khiếu nại, lố cáo của công dân

Hoạt động thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đối với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Hoạt động ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân

Hoạt động ban hành văn bản cá biệt của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoạt động giải quyết khiếu nại, tỏ cáo của các cơ quan

ỉ 3

3542

Trang 4

Chương 3: MỘT GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC cơ QUAN HÀNH

CHÍNH NHÀ NƯỚC ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG VIỆC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ 83

Nâng cao vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước

địa phương trong việc bảo đảm pháp chế - nhu cầu cần thiết khách quan

Một số giải pháp chung nhằm nâng cao vai trò của các

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế

Cần sớm ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Kiện toàn cơ cấu tổ chức Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp

Bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao năng lực của cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa ỊỶiương trong việc bảo đcUTi I^iáp chế Tăng cường sự phối hợp của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân địa phương với các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế

Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chê

Đổi mới hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến

83

88

88

89 91 94

96

98

pháp, pháp luật và các văn bán của cơ quan nhà nước cấp trên 98

Trang 5

3.3.2 Đổi mới và tăng cường công tác thanh tra trong hệ thống

các cơ quan hành chính nhà nước địa phương 993.3.3 Đổi mới hoạt động ban hành văn bản pháp luật của các cơ

quan hành chính nhà nước ở địa phương 1003.3.4 Tăng cường hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của các

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 1013.3.5 Nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác giải quyết khiếu nại,

tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương 103

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tăng cường pháp chế là một trong những yêu cầu khách quan và cấp thiết của công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta hiện nay Vãn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên một trong những nhiệm vụ quan trọng để thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là

“ phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” {21 - tr.135} Tăng cường pháp chế còn là một trong những yêu cầu quản lý xã hội của Nhà nước ta Điều 12 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Điều đó nói lên pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản nhất thông qua đó Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội

Trong bộ máy nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế Các cơ quan hành chính nhà nước địa phương là những cơ quan gần dân, trực tiếp chuyển tải mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống

Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương những năm qua đã được quan tâm đổi mới, nâng cao vai trò trong việc bảo đảm pháp chế ở địa phương, phát huy được bản chất dân chủ của bộ máy nhà nước và hoàn thành về cơ bản những công việc thuộc thẩm quyển của mình Tuy nhiên, trước biến động của đời sống xã hội, bộ máy nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng còn có những khiếm khuyết, bất cập, chưa theo kịp với thay đổi của cuộc sống Hoạt động

Trang 7

bảo đảm pháp chế của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thời gian qua chưa thực sự đạt hiệu quả cao, còn tổn tại tình trạng: một số cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham nhũng, tiêu cực làm giảm lòng tin của nhân dân vào hệ thống chính trị; tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân ở các địa phương còn diễn ra phức tạp, có chiều hướng gia tăng, cần được giải quyết kịp thời; ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân còn nhiều hạn chế; vi phạm pháp luật còn xảy ra nhiều;

Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với việc bảo đảm pháp chế nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chúng tỏi chọn đề tài: “ Các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế*’ làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm ở những khía cạnh khác nhau Chẳng hạn, bài viết: “ Đại hội lần thứ V III của Đảng và vấn đề cải cách nền hành chính Nhà nước Việt Nam” - tác giả Bùi Xuân Đức; ‘T ìm hiểu các quan điểm cải cách Bộ máy nhà nước theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V III” trong cuốn “ Đại hội V III Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về Nhà nước và pháp luật” ,NXB Khoa học xã hội, 1997, Hà Nội; “ Cải cách hành chính địa phương: Lý luận và thực tiền” - Tô Tử Hạ, Nguyên Hữu Trí, Nguyễn Hữu Đức đổng chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, 1998; “ Vấn đề giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân chủ và pháp chế trong quá trình đổi mới nước ta” -

GS TS Hoàng Văn Hảo, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2,1992; “ Thực hiện công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cấp

Trang 8

chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay” - tác giả Uông Chu Lưu - trong Chuyên đề: “ Bàn về thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyển địa phương” - tập thể tác giả, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ tư pháp - Thông tin Khoa học pháp lý, số 3, 1999; ‘‘丁ổ chức và hoạt động của các cơ quan chính quyền địa phương” trong cuốn “ Tìm hiểu về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992” ,NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1994; “ Một số ý kiến xung quanh việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND xã hiện nay” - tác giả Trần Nho Thìn, “ Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương” - tác giả Vũ Thư, “ Bàn về mô hình tổ chức chính quyền địa phương” - lác giả Dương Quang Tung, “ Một số vấn đề về cải cách bộ máy Nhà nước” - tác giả Nguyễn Cửu Việt - trong “ Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; “ cải cách hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp,,- TS Thang Văn Phúc, NXB Chính irị Quốc gia, Hà Nội, 2001;

Về cơ bản, các tác giả nói trên tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chính quyền địa phương và đưa ra những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, bao gồm cả Hội đồng nhân dân, u ỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân các cấp, mà chưa đề cập một cách toàn diện về vị trí, vai trò của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thể hiện trên các phương diện: hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; hoạt động thanh tra; hoạt động ban hành văn bản pháp luật; hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo

và vai trò của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật - là những mặt hoạt động cơ bản nhằm bảo đảm và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện việc bảo đảm pháp chế củacác cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là một việc làm cần thiết nhằm tăng cường hơn nữa hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước Ư địa phương.

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

M ục đích nghiên cứu của luận văn:

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế, trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế

Luận văn có các nhiệm vụ:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế;

- Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế;

- Đưa ra một số giải pháp về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhằm tăng cường vai trò của các cơ quan này trong việc bảo đảm pháp chế

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lên in và tư tưởng Hồ Chí Minh VC Nhà nước và pháp luật

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

và một số phương pháp khác để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề

Trang 10

5 G iới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn là vấn đề có nội dung rộng, phức tạp Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ luật học, chúng tôi tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản

- Vị trí, tính chất pháp lý, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế;

- Thực trạng hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế những năm gần đây;

- Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về vai irò của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế;

- Luận văn đưa ra một số giải pháp vé tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương góp phẩn tăng cường pháp chế nước

ta trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu luận văn:

Trang 11

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân năm 1994( sửa đổi, bổ sung) các đơn vị hành chính của nước ta được phân định như sau:

Nước chia thành tính, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tính và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã (gọi chung là cấp huyện);

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường (gọi chung là cấp xã).

Điều 118 - Hiến pháp 1992 và Điều 4 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân

và ủ y ban nhân dân năm 1994 quy định, mỗi đơn vị hành chính đều thành lập Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân

Trang 12

Cần lưu ý rằng, ớ nước ta, chính quyền địa phương là một thổ thống nhất gồm Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân Trong đó, Hội đồng nhân dân cóThường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân; ủy ban nhân dân có các cơ quan chuyên môn Nhưng khi đề cập tới các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thì chỉ nói tới các cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước địa phương, tức là ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn của chúng.

9

a) Uy ban nhân dân

ủ y ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước â địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các vân bán của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 123 - Hiến pháp năm 1992,

Điều 2 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân năm 1994)

ủ y ban nhân dân do Hội đồng nhân cỉân cùng cấp bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách đề cử chức vụ từng người Kết quả bầu cử này phải được Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn Đối với ủ y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn

Uỷ ban nhân dân là cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước vừa do Hội đồng nhân dân cùng cấp giao, vừa do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên giao và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ; là

cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên địa phương, thực hiện việc chỉ đạo, điều hành hàng ngày công việc hành chính nhà nước ở địaphương Với vị trí như vậy, ủ y ban nhân dân có hai tư cách thống nhất:

Trang 13

- Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm thi hành những nghị quyếl của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân;

- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, ủ y ban nhân dân chịu trách nhiệm không chỉ chấp hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân

mà cả những quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, thi hành pháp luật thống nhất của Nhà nước Uỷ ban nhân dân chịu Irách nhiệm và báo cáo công tác vừa trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa trước ủ y ban nhân dân cấp trên; đối với cấp tỉnh thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chính phủ Uỷ ban nhân dân các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ là

cơ quan hành chính nhà nước cao nhất

•>

Với hai tư cách trên, Uy ban nhân dân được xác định là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyển chung địa phương,chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và tổ chức, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành quản lý cụ thể, thường xuyên, liên tục trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ở địa phương

9

b) Các cơ quan chuyên môn thuộc Uy ban nhân dán

Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân là cơ quan được lập ra để

giúp ủ v ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa

phươniị và bảo đảm sự thống nhất quản lý của n^ành hoặc lĩnh vực công tác

từ Trung ương đến cơ sở (Điều 53 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 1994)

Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhàn dân không phải là cơ quan Hiến định Hiến pháp chỉ gián tiếp nói tới cơ quan này Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân năm 1994 cũng chỉ dừng mức những

Trang 14

quy định chung về vị trí, tính chất của cư quan chuyên môn Ihuộc ủy ban nhân dân Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân do Chính phủ quy định dưới hình thức Nghị định và cơ quan chuyên

môn thuộc Uy ban nhân dân do Uy ban nhân dân quyết định thành lập

Cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân đa phần được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “ hai chiều trực thuộc” :

- Cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản

lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủ y ban nhân dân cấp mình, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan chuyên môn cấp trên và khi cẩn thiết thì báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân

- Người đứng đầu cơ quan chuyên môn do Chủ lịch Uy ban nhân dân cùng cấp bổ nhiệm, nhưng trước khi bổ nhiệm có sự thoả thuận với người đứng đầu cơ quan chuyên môn cấp trên Trong trường hợp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn cấp trên không nhất trí thì Chủ tịch ủ y ban nhân dân vẫn có quyên quyết định bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về quyết định bổ nhiệm đó.Cần phân biệt cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân với các cơ quan quản lý Nhà nước khác địa phương Đó là các cơ quan thuộc ngành dọc ở Trung ương đặt tại địa phương (như Ngân hàng Nhà nước, Bưu điện, Thuế, Công an, Quân sự, Thống kê, Đầu tư phát triển, Cục quản lý vốn và tài sản doanh nghiệp Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, ) hay cơ quan được tổ chức

ra để thực hiện (hoặc giúp thực hiện) một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước nào

đó (như các Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, ) Những cơ quan này có cách tổ chức và hoạt động tương tự nhưng không phải là cơ quanchuycn môn thuộc ủ y ban nhàn dân

Trang 15

Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhan dân là các cơ quan thẩm quyền riêng, thực hiện chức năng quản lý trong phạm vi một hoặc một số ngành, lĩnh vực nhất định Các cơ quan chuyên môn thực hiện hoạt động quản

lý hành chính với tư cách là cơ quan giúp việc Uỷ ban nhân dân, chứ không phải nhân danh mình Nói cách khác, cơ quan chuyên môn không phải ỉà một pháp nhân công quyền

Tuy trực thuộc vào Ưỷ ban nhân dân cùng cấp, nhưng cơ quan chuyên môn vẫn có tính độc lập nhất định bởi vì cơ quan chuyên môn là một thực thể pháp lý, một cơ quan có những mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác Với Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo và quản lý về

tổ chức, biên chế và công tác của Ưỷ ban nhân dân cấp mình Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan chuyên môn Với cơ quan thẩm quyền riêng ở cấp trên, cơ quan chuyên môn chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ Với Hội đồng nhân dân cùng cấp, thủ trưởng của cơ quan chuyên môn thuộc Ưỷ ban nhân dân khi cần thiết thì báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân Với các cơ quan chuyên môn cùng một cấp, đây là quan hệ phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa các chủ thể có cùng địa vị pháp lý.Các cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân là các sở, Ban, Ngành (cấp tính, thành phố trực thuộc Trung ương); Phòng, Ban (cấp huyện, quận); Ban (cấp xã, phường) Có thể có một số tên gọi khác như ủ y ban,

1.1.2 Vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế:

Điều 12 - Hiến pháp 1992 quy định: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,, Điều này khẳng định pháp chế là một trong những phương pháp quản lý của Nhà nước

Trang 16

đối với xã hội “ Không ngừng tăng cường pháp chế*’ có nghĩa là phải thường xuyên coi tăng cường pháp chế là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước Tăng cường pháp chế không phải là công việc nhất thời mà là công việc lâu dài, đặc biệt khi chúng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì yêu cầu tăng cường pháp chế càng được đặt ra cấp bách hơn.

Vé khái niệm pháp chế, trong khoa học pháp lý nước ta có những quan điểm khác nhau Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội: Pháp chế chính là sự đỏi hỏi các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình

Pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu, đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải tôn trọng và thực hiện đúng các yêu cầu của pháp luật {24 - tr.354Ị Nội dung cốt lõi của pháp chế theo quan điểm này là sự thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của các chủ thể pháp luật trên thực tế Theo chúng tôi nếu quan niệm như vậy chưa phản ánh được các mặt của pháp chế với tư cách là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp

Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia quan niệm: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ pháp luật troníỊ đó đồi hỏi phái tôn trọng, thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thường xuyên đôi với các quy phạm pháp luật của các cơ quan nhả nước, tổ chức xã hội, cán bộ, công chức, các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, của mọi công dân; đấu tranh phờtỉíỊ ngừa và chống các tội phạm, vi phạm Hiến pháp

và pháp luật, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật. Ở đây, pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên lắc cơ bản nhất thông qua đó Nhà nước thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội {30 - tr.401 Ị Khái niệm pháp chế trong Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng, pháp chế vừa là phương pháp, nguyên tắc quản

Trang 17

lý nhà nước vừa là sự thực hiện nghiêm chính, thường xuyên đối với pháp luật của tấl cả các chủ thể pháp luật Chúng tôi đồng ý với quan diểm hiểu pháp chế theo nghĩa rộng này.

Để pháp chế trở thành hiện thực trong cuộc sống cần có các bảo đảm Những bảo đảm này trước hết thuộc về trách nhiệm của các quan nhà nước

Những bảo đảm đối với pháp chế Ị à những điều kiện khách quan của sự phát ìriển xã hội và những phương tiện do Nhà nước và các tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúnỊỊ tạo ra nhằm báo đảm cho các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chình, thườiiịỉ xuyên, liên tục pháp luật, sử dụng đúng đắn các quyển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý, bảo đảm sự

ổn định các quan hệ pháp luật {30 - tr 408}.

Những bảo đảm đối với pháp chế gồm: những bảo đám kinh tế, những bảo đảm chính trị, những bảo đảm tư tưởng, những bảo đảm pháp lý và những bảo đảm xã hội

Bảo đảm kinh tế: Nền sản xuất xã hội phát triển tạo ra những điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhún dân là cơ sở vững chắc để mọi chủ thể pháp luật thực hiện tốt những quyền và nghĩa vụ của họ Nền kinh tế phát triển vững mạnh sẽ hạn chế dần dần và loại bỏ những nguyên nhân của nhiều vi phạm pháp luật Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước {21 - tr.188} ở nước ta hiện nay là bảo đảm cơ bản đối với pháp chế Những bảo đảm kinh tế là cơ sở của tất cả những bảo đảm khác đối với pháp chế

Bảo đảm chính trị: đó là sự ổn định chính trị, sự phát triển của nền dân chủ xã hội Ở nước ta, yếu tố đặc biệt quan trọng trong những bảo đảm chính trị là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa là trung tâm của hệ thống chính trị, hảo đảm pháp chế bằng hoạt động có tổ chức trên cơ sở pháp luật của bộ máy nhà nước, bằng sự giáo dục cán bộ, công chức ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức

Trang 18

đạo đức và tinh thần tôn trọng pháp luật Sự phát triển toàn diện nén dân chủ

xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở, trong các cơ quan nhà nước, tổ chức, sự tham gia của quần chúng nhân dân lao động, các tổ chức xã hội vào quản lý những công việc của nhà nước và xã hội, đấu tranh phòng chống các

tệ nạn xã hội, tham nhũng cũng góp phần quan trọng trong việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật

Những báo đảm tư tưởng đối với pháp clìếìầ hệ tư tưởng Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, những giá trị tư tưởng và đạo đức, truyền thống của dân tộc, sự thống nhất của chính trị, đạo đức và pháp luật, tình hữu nghị đoàn kết giữa các dân tộc, sự phát triển trình độ văn hoá nói chung, đặc biệt là văn hoá pháp lý của mọi tầng lớp nhân dân lao động

Những bảo đám pháp lý đối với pháp chế là những hoạt động của cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật nhằm đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, quyền, tự do của công dân Ở nước ta các cơ quan bảo vệ pháp luật gồm: Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, các cơ quan nội chính, thanh tra nhà nước, thanh tra nhà nước chuyên ngành,

Những bảo đảm xã hội đối với pháp chế là tổng thể những hoạt động, biện pháp, cách thức do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng thực hiện nhằm đấu tranh chống những vi phạm pháp luật, những tiêu cực trong đời sống xã hội Công tác phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm pháp luật, công tác giáo dục của các tổ chức xã hội nhằm cải tạo người

vi phạm, sự kiểm tra và giám sát của các tổ chức xã hội đối với việc thực hiện pháp luật

Những bảo đảm pháp chế do tất cả các quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng tạo ra Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đối với việc bảo đảm pháp chế

Trang 19

Nhiệm vụ của Nhà nước là quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, các cấp, các ngành ở Trung ương lẫn địa phương Tuy nhiên, do xuất phát từ vị trí, tính chất pháp lý, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, nên các cơ quan hành chính nhà nước

địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế

Điều 123 - Hiến pháp năm 1992 và Điều 41 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 quy định: Uỷ ban nhân dân “ chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân”

Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp là những cơ quan có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhân dân, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các lĩnh vực địa phương So với các cơ quan nhà nước Trung ương và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương cũng như các

cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương (Toà án và Viện kiểm sát), hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp

ch ế là trực tiếp,cụ thể, thường xuyêtt, liên tục nhất.

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế là trực tiếp nhất vì hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương được quyết định bởi chức năng trực tiếp tổ chức

và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng, trật tự - an toàn xã hội ở địa phương Để bảo đảm pháp chế, trước hết chính các cơ quan hành chính nhà nước địa phương phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của các

cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong

tổ chức và hoạt động của mình

Hơn nữa, cùng với CƯ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, các cơ quan hành chính nhà nước địa phương còn chịu trách nhiệm chính trong việc

Trang 20

áp dụng các biện pháp và tạo mọi điều kiện cần thiết để các cơ quan, tổ chức

và các cá nhân địa phương thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật Hoạt động bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương luôn gắn liền với chức năng quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương - là chức nâng chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế mang tính cụ thể hơn so với các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Trên cơ sở các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương phải tiến hành các biện pháp triển khai thực hiện, chủ động, sáng tạo, phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương để đạt được hiệu quả cao nhất Các biện pháp đó có thể là ban hành văn bản pháp luật cụ thể hoá, chi tiết hoá các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp theo quy định của pháp luật; có thể là tổ chức tập huấn các văn bản của cơ quan cấp trên, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện văn bản của cấp trên; Trong đó, một hoạt động điển hình cho thấy cơ quan hành chính nhà nước địa phương thực hiện việc bảo đảm pháp chế một cách cụ thể là ban hành các văn bản cá biệt Số lượng các văn bản cá biệt do các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành rất lớn, cao hơn nhiều lần so với Hội đồng nhân dân, Viện kiểm sát, Toà án ở địa phưcrng

Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương trong việc bảo đảm pháp chế được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục nhất

Trong phạm vi thẩm quyền của minh, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có trách nhiệm hoạt động thường xuyên, hàng ngày một cách chủ động và sáng tạo đổ đáp ứng yêu cầu và diễn biến nhanh chóng, phức tạp và

Trang 21

đa dạng của hoại động quản lý Hoạt động quản lý địa phương rất phong phú, nhiều công việc cụ thể, diễn ra liên tục đã làm cho hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước địa phương có số lượng lớn hơn rất nhiều lần so với hệ thống các cơ quan nhà nước khác.

1.2 NHIÊM VU QUYỀN HAN CỦA CẤC cơ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC ở ĐỈA PHƯƠNG TRONG VIÊC BẢO ĐẢM PHÁP CHẼ

Để bảo đảm pháp chế, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình dưới các hình thức quản lý khác nhau Căn cứ vào mức độ cụ thể được quy định trong pháp luật, các hình thức quản lý này được chia thành những hình thức quản lý mang tính pháp lý và những hình thức quản lý ít mang tính pháp lý

Những hình thức quản lý mang tính pháp lý là những hình thức được pháp luật quy định cụ thể gắn với việc ban hành và áp dụng các quy phạm pháp luật Những hình thức này thể hiện rõ nét tính chất quyền lực trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, đem đến sự biến đổi trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, tức là làm nảy sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính Những hình thức mang tính pháp 丨ý bao gồm: Ban hành các quyết định có ý nghĩa chung, chủ đạo; ban hành các quyết định quy phạm pháp luật; ban hành những văn bản cá biệt

Những hình thức quản lý íl mang tính pháp lý được các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của minh rất phong phú, bao g(5m: Tiến hành các hoạt động tổ chức trực tiếp (nghicn cứu, tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng các biện pháp cụ thể nhằm ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quản lý, tổ chức điều tra, điều phối hoạt động, tổ chức hội thảo, tổ chức phong trào thi đua, ) ; Thực hiện các hoạt động mang tính chất tác nghiệp vật chất -

kỹ thuật (chuẩn bị tư liệu, dữ kiện, thông tin cho việc ban hành các quyết

Trang 22

định; lập báo cáo, nhập trình công việc; chứng thực văn bằng, cấp chứngchỉ, )- Đây là những hình thức quản lý không đem đến sự thay đổi trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, khổng làm phát sinh các quan hệ pháp luật hành chính.

Trong việc bảo đảm pháp chế, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương sử dụng cả hình thức quản lý mang tính pháp lý lẫn hình thức quản lý

ít mang tính pháp lý VI những hình thức quản lý nói trên được thể hiện dưới nhiều hoạt động khác nhau, rất đa dạng nên trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi không thể nghiên cứu hết các hoạt động đó, mà chỉ tập trung nghiên cứu những hoạt động thể hiện rõ nét nhất nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế

Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp 1992 và pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc bảo đảm pháp chế và thực tiễn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, có thể chia thành năm nhóm nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu:/ Nhiệm vụ, quyền hạn did cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tron^ việc tổ chức thực ì li ệ tì và kiểm tra việc thi hàììh Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà mtớc cấp trên;

2 Nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra của cơ qitan hành chính nhà nước ở địa phương đôi với việc ílìi lìùnlì Hiến pháp, plĩáp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

3 Nhiệm vụ, quyền hạn ban hành văn bán pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phươnịỊ

4 Nhiệm vụ, quyển hạn của cơ quan hành chính nhà nước ỏ địa phương

".ong việc phổ biến, giáo (lục pháp luật:

5 Nhiệm vụ, quyển hạn củư cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc gidi quyết khiếu nại, tố cáo ciỉa công dãn.

Trang 23

1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cư quan hành chính nhà nước ở địa

phương trong tổ chức thực hiện và kỉếni tra việc thi hành Hiến pháp,

pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

Các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, tức là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành Chấp hành là sự thực hiện trên thực tế các luật, các văn bản mang tính luật của Nhà nước (một số Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh), các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên nói chung Điều hành là chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý Đặc trưng của hoạt động điều hành là ra văn bản dưới luật mang tính chất pháp lý - quyền lực được bảo đảm bằng khả năng áp dụng cưỡng chế, trong đó chủ yếu là văn bản cụ thể -

cá biệt

Với chức năng như vậy, các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nói riêng có vai trò rất quan trọng trong tổ chức thực hiện việc thi hành Hiến pháp và pháp luật địa phương Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống Điều 41- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 quy định:

“ Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp,’

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo và thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở nhiều lĩnh vực quán lý hành chính nhà nước:

- Xây dựng, tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, bảo đảm thực hiện đúng việc phân bổ ngân sách cho từng lĩnh vực ở địa phương;

- Xây dựng, tổ chức và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lựi trcii cơ sở quy hoạch thống nhất của

Trang 24

Trung ương; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình khuyến nông, khuyên lâm, khuyến ngư;

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở địa phương;

- Chỉ đạo việc xây dựng, tổ chức quản lý công trình giao thông ở địaphương theo quy định của pháp luật;

- Tổ chức quản lý, phát triển mạng lưới kinh doanh, thương mại và kếhoạch phát triển du lịch ở địa phương;

- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục, đào tạo; bảo đảm điều kiện vật chất cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục, thể Ihao của địa phưcfng;

- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch, biện pháp chăm lo đời sống của nhân dân địa phương, thực hiện các chính sách xã hội;

- Thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường ở địa phương;

- Tổ chức thực hiện các biện pháp xây dựng lực lượng vũ trang và quốc phòng toàn dân ở địa phương;

- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chỉ đạo công tác đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác;

- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật;

- Thành lập, sáp nhập, giải thể, quyết dịnh nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan chuyên môn, tổ chức sự nghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân theo quy định của Chính phủ

Trang 25

Đổ thực hiện dược nhiệm vụ cỊLian lý nhà nước Irong các lĩnh vực nêu trên, các cơ quan hành chính nhà nước địa phương tiến hành các hoạt động

tổ chức thực hiện như: thành lập các ban chỉ đạo để lãnh đạo và phối hợp hoạt• • • 1 • , 「 • J| •

động của cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hữu quan trên địa bàn quản lý của mình; tổ chức các hội nghị tập huấn triển khai thi hành các văn bản pháp luật mới ban hanh, xây dựng các chương trình hành động; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ chung;

Bên cạnh nhiệm vụ tổ chức trực tiếp thực hiện việc thi hành Hiến pháp• • • • < ! • • • 1 X

và pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương còn chịu trách nhiệm kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và vàn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương. Điểu 43 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và u ỷ ban nhân dân năm 1994 quv định về nhiệm vụ, quyển hạn của

u ỷ ban nhân dân, trong đó 11CU lõ Uỷ ban nhàn dân có irách nhiệm: ‘‘… kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bủn của quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đổng nhân dân cùng cấp trong cơ quan Nhà nước,

tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tlưn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương,,(Khoản 2)

Phạm vi kiểm tra của u ỷ ban nhân dân bao hàm mọi vấn đề thuộc mọi ngành và lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của minh Uỷ ban nhân dân có thể kiểm tra bất kỳ một hoạt động nào của dối tượng bị quản lý, có thể tiến hành thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất khi phát hiện những vi phạm

Hoạt động kiểm tra của cúc cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương được tiến hành dưới nhiều hình thức: nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của đối tượng bị kiểm tra, tự tổ chức các tloàn thanh ira tổng hợp hoặc về từng vấn đề, hoặc thông qua thanh ira nhà mróc, thanh ira chuyên ngành, hoặc thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trang 26

Căn cứ vào tính trực ihuộc của đối tượng thuộc lliẩm quyền kiểm tra với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, các đối tượng thuộc thẩm quyền kiểm Ira được chia thành:

Nhóm dối tươníỉ thứ nhất: tất cả các CƯ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Sự kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đối với nhóm đối tượng này là hcí sức quan trọng

Ưỷ ban nhân dân là cơ quan trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc quản lý nhà nước trên các iĩnh vực kinh tế - xã hội của địa phươnu nên kiểm tra việc thi hành Hiến pháp và pháp luật 丨à một hoạt động gắn lién với hoạt động quản lý của uỷ ban nhân dân Mặt khác, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân ra quyết định, chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó (Điều 124 - Hiến pháp 1992; Điều 41 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994), nên trao cho Uỷ ban nhân dân nhiệm vụ kiểm tra đối với việc thực hiện các quyết định quản lý do chính Ưỷ ban nhân dân ban hành là để uỷ ban nhân dân có đủ cơ sở, căn cứ đánh giá hiệu quả của các quyết định quản lý, từ đó sửa đổi hay ban hành văn bản mới cho phù hợp

Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra nhóm đối tượng này, Uỷ ban nhân dân được quyén áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (được u ỷ ban thường

vụ Quốc hội thông qua ngày 02/7/2002), các biện pháp xử lý vi phạm hành chính bao gồm: các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính (cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính); các biện pháp khắc phục hậu quả (buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây đựng trái phép; buộc thực hiện

Trang 27

các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do

vi phạm hành chính gây ra; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện; buộc liêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại; các biện pháp khác do Chính phủ quy định); hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác (giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính) Ngoài ra, trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu của lội phạm xảy ra, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương phải chuyển cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự

Các sở, phòng, ban với tư cách là những cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp cũng tiến hành hoạt động kiểm tra đối với các cơ quan,

tổ chức, đơn vị không trực thuộc mình về mạt tổ chức ơ địa phương trong việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật - gọi là kiểm tra chức năng Khi tiến hành kiểm tra theo chức năng, các cơ quan kiểm tra có quyền ra quyết định yêu cầu

cơ quan bị kiểm tra cùng cấp đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định

đó, nhưng không có quyên tự 丨rTinli đình chỉ, sửa đổi lioặc bãi bỏ những quyết định đó, cũng không có quyền áp dụng các chế tài ký luật, phạt hành chính, trừ trường hợp cơ quan kiểm Ira chức năng đó có chức năng là cơ quan thanh tra nhà nước chuyên ngành Khi có tranh chấp giữa cơ quan kiểm tra chức năng và đối tượng bị kiểm tra, về nguyên tắc, đối tượng bị kiểm tra phải chấp hành nhưng có quyền kiến nchị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Nhóm đối tươm tlĩứ hai: các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

và cán bộ, công chức của các cơ quan này

Hoạt động kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước địa phương đối với nhóm đối tượng này được đặc trưng bởi tính trực thuộc của các đối tượng bị kiểm tra vào chủ thể kicm tra, do đó mang tính chất nội bộ - còn được gọi là kiểm tra nội bộ Kiểm tra nội bộ là nhiệm vụ, chức năng không chí

Trang 28

cua ưỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp mà của bất kỳ cơ quan quản lý nào Ở đây, khái niệm kiểm tra nội bộ được dùng để chỉ hoạt động kiểm tra do thú trưởng các cơ quan quản lý thẩm quyền chung, thủ trưởng các cơ quan quản lý ngành và lĩnh vực thực hiện trong nội bộ hệ thống ngành và lĩnh vực quản lý trực thuộc mình.

Phạm vi kiểm tra của Ưỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân bao quát mọi vấn đề thuộc nhiệm vụ của mọi cơ quan, đơn vị, cán bộ, nhân viên cấp dưới Thủ trưởng quan hành chính nhà nước ở địa phương có Ihể trực tiếp tổ chức kiểm tra hoặc lập ra tổ chức chuyên giúp thủ trưởng thực hiện công việc này Trong khi tiến hành kiểm tra, thủ trưởng hoặc tổ chức thay mặt thủ trưởng có quyền áp dụng mọi hình thức và biện pháp thuộc quyền hạn của thủ trưởng, kể cả việc soát xét, kiểm kê, niêm phong, ra quyết định đình chỉ hoặc bãi bỏ các quyết dịnh của cấp dưới, đình chỉ hành vi vi phạm, khen thưởng cơ quan, cán bộ cỏ thành tích, kỷ luật cơ quan và cán bộ vi phạm,

Theo quy định của Điều 52 - Luật Tổ chức Hội dong nhàn dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quycn bãi bỏ các văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, của thủ trưởng cơ quan chuycn môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình; có quyền cách chức Chù lịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, cách chức thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp mình, có quyền áp đụng các hình thức kỷ luật đối với các cán bộ, công chức thuộc quyền quan lý của mình

1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đỏi với việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

Thanh tra trong quản lý không có mục đích nào khác là phục vụ cho quản lý tốt hơn Hoạt động thanh tra không mang mục đích tự thân mà là hoạt

Trang 29

dộng gắn liền với quán lý nhà nước và khỏng nằm ngoài mục đích của công tác quán lý nhà nước Ó đau có quản lý nhà nước thì ở đó cẩn có kiểm tra, thanh tra Tiến hành hoạt động thanh tra có nghĩa là để nghiên cứu, thu thập

số liệu, đánh giá hoạt động quán lý và mục đích cuối cùng là tìm hiểu kết quả tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Căn cứ vào chủ trương, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao; so sánh với những nguyên tắc của hoạt động chấp hành và diều hành, tìm nguyên nhân dần tới những ưu điểm và những sai sót; đồng thời xác định biện pháp khắc phục những trở ngại ảnh hướng tới hiệu quả của hệ thông quản lý

Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức và cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền

và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân (Điều 1 - Pháp lệnh Thanh tra năm 1990)

Như vậy, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, mỗi

cơ quan hành chính nhà nước đều tự mình tiến hành hoạt động thanh tra đối với các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý của mình trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

ở đây, chúng tôi tập trung để cập tới một loại cơ quan chuyên biệt - các

tổ chức Thanh tra nhà nước - có chức năng chủ yếu là ihanh tra Các cơ quan này tạo thành một hệ thống thống nhất với hai phân hệ:

Trang 30

Phân hệ thứ nhất gồm: Thanh tra nhà nước của Chính phủ; thanh tra nhà nước tính, thành phố trực thuộc Trung ương Ihuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp; thanh tra nhà nước ớ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tính của

Uỷ ban nhân dân cùng cấp

Phán hệ thứ hai gồm: Thanh tra Bộ, Ihanh tra của cơ quan ngang Bộ và

cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là thanh tra Bộ); thanh tra sở trực thuộc Giám đốc sở Phân hệ thanh tra Bộ, sở bao gồm hai loại Một là, cơ quan có quyền thanh tra mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan tới chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành của

Bộ, sở - gọi là thanh tra nhà nước chuyên ngành Hai là, tổ chức thanh tra nội

bộ đổi với cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc thủ trưởníí cùng cấp

Về nguyên tắc tổ chức, theo Pháp lệnh Thanh tra ngày 29/3/1990,các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc trực thuộc hai chiều: trực thuộc hệ thống Tổng Thanh tra nhà nước và Bộ trưởng hoặc Uỷ ban nhân dân Thanh tra sở còn một chiều trực thuộc nữa là trực thuộc Thanh tra Bộ

Như vậy, cơ quan được thành lập chủ yếu dể thực hiện chức năng thanh tra nằm trong hộ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là: thanh tra lỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnlì của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; thanh tra sở trực thuộc Giám đốc sơ (lưu ý rằng, chức năng thanh tra nhà nước ở xã, phường, thị trấn do Uỷ ban nhân dân cùng cấp trực tiếp đảm nhiệm)

Các tổ chức thanh tra nhà nước ở địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn như sau:

- Thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cùng cấp; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc quy én quản lý của cơ quan Trung ương và địa phương

Trang 31

khác đóng tại địa phưong mình ihco thẩm quyền quán lý nhà nước của chính quyền cùng cấp (Riêng thanh tra sở chỉ thực hiện quyên thanh tra trong phạm

vi quản lý nhà nước của sở và quản lý công tác thanh Ira đối v ớ i các cơ quan, đơn vị do sở trực tiếp quản lý)

- Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyén giái quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo;

- Chí đạo về tổ chức và hoại động thanh tra đối với cơ quan, tổ chức hữuquan;

- Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra;

- Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyen những vấn đề quán lý hành chính nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trên, trong quá trình thanh tra, các

tổ chức thanh tra nhà nước có quyển:

- Yêu cầu cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc thanh tra, yêu cầu cơ quan, đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra;

- Trưng cầu giám định;

- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên; khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản;

- Quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp luật; ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyển tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc được sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý;

Trang 32

- Đình chỉ việc làm xét thấy dang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của quan, tổ chức và công dân;

- Tạm đình chí việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang công tác với tổ chức thanh tra hoặc dang là đối tượng thanh tra, nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây trở ngại cho việc thanh tra;

- Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên;

- Kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của pháp luật;

- Chuyển hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự

có thẩm quyền giải quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm

1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan

hành chính nhà nước ở địa phương

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội đang tồn tại ở địa phương theo định hướng của Nhà nước, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành văn bán pháp luật chứa đựng các quy định thích hợp Có thể nói, xây dựng, ban hành văn bản pháp luật là một trong những chức năng cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan hành chính nhà nưức địa phương

Văn bản pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành là phương tiện đổ quản lý, tác động trực tiếp lới hiệu quả quản lý của

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Văn bản pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước ư địa phương han hành trong da số trường hợp còn là phương liện đưa các chủ trương, chính sách, quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở Trung ương và nghị quyết của Hội dồng nhân dân cùng cấp

đi vào cuộc sống

Trang 33

Nếu coi hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương là một quá trình thì việc xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ứ địa phương là khâu đầu tiên, mà sản phẩm trực tiếp của nó là các văn bản pháp luật.

Theo tính chất pháp lý, văn bản pháp luật do các cơ quan hành

chính nhà nước ở địa phương ban hành được chia thành ba loại sau:

Văn bản chủ đạo (còn gọi là văn bản chung, vãn bản chính sách): vãn bản chủ đạo do các cơ quan hành chính nhà nước ở (lịa phương ban hành là văn bán đề ra chủ trương, itườnịị lối, nhiệm vụ, biện pháp lớn cố tính chất chung ở địa phươníỉ, làm cơ sở cho việc ra các văn ban quy phạm pháp luật hoặc các văn ban cá biệt, là cônsị cụ dinh hướniị cho í oàn bộ hoạt động quản

lý của các cơ quan hành chính nhủ nước ỏ địa phương.

Các văn bản chủ đạo nhằm ban hành chính sách trong quản lý nhà nước

địa phương thường được Ihể hiện dưới hình thức quyết định của Ưỷ ban nhân dân

Vãn bản chủ đạo có vai trò quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước Nhưng nếu Uỷ ban nhân dân ban hành nhiều văn bản chủ đạo sẽ làm mất đi lính chuẩn mực và tính cụ thể cúa quản !ý hành chính nhà nước

Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 1992, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ưỷ ban nhân dân năm 1994, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được Quốc hội khóa X I,kỳ họp thứ hai sửa đổi, bổ sung một số điều ngày 16/12/2002 quy định: Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật với hình thức quyết định, chỉ thị (các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật)

Khoán 3 - Điều 124 - Hiến pháp 1992 quy định: “ Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhàn dân phải tháo luận tập Ihể và quyết định theo đa số” Như vậy, có loại văn bản do tập thể Uỷ ban nhân dân

Trang 34

ban hành, có loại do Chủ lịch Uý ban nhân dân ban hành Nhưng đáng tiếc, Hiến pháp 1992 và các luật hiện hành không quy định rõ hình thức văn bản nào của Uỷ ban do tập the Uv ban ban hành hoặc do cá nhân ban hành thay mặt Uỷ ban, hình thức văn bán nào là của Chủ tịch Ưỷ ban.

Văn bàn quy phạm pháp luật của Uv han nhân (lân là hình, thức pháp lỷ thể hiện và ghi nhận ỷ chí quyền lực nhả nước của Uỷ ban nhân dân, được ban hành trên cơ sở và nhằm thi hành Hiến pháp, luật, vân bản của các cơ quan nlìủ nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp theo đúng thẩm quyền, hình í hức, trình tự và thú tục do pháp luật quy định, chứa đựns rác quy phạm có tính bắt buộc chung dể điểu chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý hành chính ở địa phương.

Văn bản quy phạm pháp luậl do ưỷ han nhân dân ban hành có vị trí quan trọng trong sự điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính địa phương, là

c ơ sở cho việc ban hành các văn bản cá b iộ l của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Mặc dù quy định Uỷ ban nhân dân có thẩm quycn ban hành quyết định

và chỉ thị, nhưng pháp luật hiện hành khôníĩ quy định rõ trường hợp nào Uỷ ban nhân dân sử dụng hình thức văn bản quyết định, Iruừng hợp nào dùng hình thức văn bản chỉ thị và sự khác nhau giữa hai hình thức văn bản này là gì?

Từ điển Tiếng Việt giải thích từ “ chi ihị” như sau: 1 Vạch ra cho cấp dưới thi hành; 2 Điều cấp trên chỉ thị cho cấp dưới {54 - tr.337} Văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân chí có hiệu lực irong phạm vi địa phương hoặc đối với quan, tổ chức do địa phương quản lý đóng địa phương khác Theo chúng tôi, có thể thấy rằng, sự khác nhau cơ bản giữa quyết định và chỉ thị là ở đối tượng tác động của chúng Đối tượng tác động của hình thức văn bản quyết định rộng hơn chỉ thị bao gồm tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân trong xã hội, nếu đối tượng này liên quan đến nội dung quy định của văn bản Loại hình văn bản chi thị được dùng để tác

Trang 35

động lởi các cơ Cịuan, tổ chức và cá nhân cấp dưới cỗ mối quan hệ trực thuộc

trong cùng hệ thống với cơ quan ban hành chí thị đó

Văn bản cá biệt: Nếu như, đối với loại hình thức văn bản quy phạm pháp luậl, trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chí

Uỷ ban nhân dân được quyền ban hành, thì pháp luật hiện hành lại quy định

u ỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uv ban nhân dân, một số cán bộ, công chức địa phương cũng có thẩm quyền ban hành văn bản cá biệt

Văn bán cá biệt do các cơ quan lìành clìúìlì nhò nước ở dịa phươníỊ ban hành dê úp dụng pháp Ỉỉiật vào các trường hợp cụ thể, đổi với tổ chức, cá nhân cụ thể, được ban hành trên cơ sở văn bản chã đạo và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên hoặc của chính cơ quan ban hành vân bán cá biệt đó, đôi khi nó cũng được ban hành trên cơ sở ván bản cá biệt của cấp trên.

Văn bản cá biệt của các cư quan hành chính nhà nước ở địa phương là phương tiện pháp lý chủ yếu để thực hiện các quy phạm pháp luật trên thực tế Đây là loại văn bản mà các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ban hành với số lượng lớn hơn nhiêu lần so với văn bản chủ đạo và văn bản quy phạm pháp luật

Thông qua quy định tại khoản 4 - Điều 124 - Hiến pháp 1992: “ Chủ tịch

Ưỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của cơ quan thuộc uỷ ban nhân dân và các văn bản sai trái của ưỷ ban nhân dân cấp dưới” ” chúng ta thấy rằng Hiến pháp 1992 “ ngụ ý” trao cho các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền ban hành quyết định quản lý nhà nuớc Việc quy định quyền ban hành quyết định quản

lý nhà nước cho các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân là hoàn toàn hợp lý Các cơ quan chuycn môn Ihuộc Uỷ ban nhân dân là một loại cơ quan

hành chính nhà nước được giao thực hiện những nhiệm vụ và chức năng quan

Trang 36

trọng Để ihực hiện các nhiệm vụ và chức năng đó, nhất thiết phải có quyồn ban hành quyếl định quản lý nhà nước, một quyền hạn mang lính quyền lực - pháp lý đặc trưng, là công cụ chủ yếu để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng được giao Không cỏ quyền hạn này, các nhiệm vụ và chức năng được giao sỗ Irớ nên kém hiệu lực.

Trên thực lế, các cơ quan chuycn môn thuộc Ưỷ ban nhân dân vẫn ban hành quyết định cá biệt, cụ thể Nhưng do không xác định rõ quyền ban hành, phạm vi, nội dung, hình thức, trình tự, hiệu lực pháp lý của các quyết định cá biệt, cụ thể của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân nên hoạt động này không có trật tự và không ít vi phạm pháp chế đã xảy ra trong lĩnh vực này

1.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa

phương trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật

Điều 31 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “ Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp lu ậ t, -,, Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều

có trách nhiệm trong việc giáo dục ý thức công dân, trong đó có một phần là giáo dục ý thức pháp luật Giáo dục pháp luật là công viôc có tầm đặc biệt quan trọng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Khoản 2 - Điều 43 - Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân năm 1994 quy định Uỷ ban nhân dân

có nhiệm vụ: tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luậl, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương” Với vị trí và vai trò

là những cư quan lổ chức trực tiếp việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, là những cơ quan thưởng xuyên tiếp xúc với dân, gần dân, trực tiếp giải quyết

Trang 37

quyền lựi và nghĩa vụ của dân, nên các cư quan hành chính nhà nước ở địa phương giữ vai trò chủ lực trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân địa phương.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật do các cơ quan hành chính nhà nước địa phương tiến hành là hoạt động có mục đích, có hệ thống

và có định hướng đổ hình thành và nâng cao ý thức pháp luật và văn hoá pháp

lý cho mọi công dân và những người có chức vụ thuộc đối tượng quản lý của mình

Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chú nghía Việt Nam, điều đó đòi hỏi phải khắc phục thói quen sống chưa theo pháp luật tồn tại lâu nay trong tâm lý người dân Lối sống chưa quen trong việc tuân ihco pháp luật của người Việt được hình thành trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Pháp luật thành văn xuất hiên ở nước ta chính trong thời

kỳ Bắc thuộc Người Việt Nam đứng trước sự lựa chọn, hoặc là chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của các triều đại phong kiến phương Bắc, hoặc là chổng lại chúng Sự lựa chọn thứ nhất đồng nghía với quá trình ‘‘Hán hoá” ,

đổng nghĩa với sự diệl vong dân tộc Sự lựa chọn thứ hai là con đường sống của dân tộc, mặc dù sự lựa chọn đó là “ chọc tức” kẻ thù Nhân dân la chọn con đường thứ hai Đời này qua đời khác, người Việt truyền cho nhau cái ý chí không tuân thủ pháp luậl của kẻ thù phương Bắc Sự không chấp hành luật pháp, sự vi phạm chúng trong con mắt cộng đồng người Việt là lỗ sống, là hành động cao thượng Thay cho sự chấp hành luật pháp của Nhà nước đô hộ, người Việt ứng xử với nhau theo các tục lệ làng xã của mình Thời kỳ Bắc thuộc hơn một nghìn năm là quãng thời gian đủ để hình thành một tập quán sống theo lệ làng, chứ không theo luật pháp Trong các thế kỷ tiếp theo, sau khi nước nhà giành được độc lạp, Nhà nước và pháp luật phong kiến nhiều giai đoạn là vũ khí áp bức và bóc lột nhân dân lao động Chính điều đó tạo thêm lòng cãm thù và thái độ ticu cực của quảng đại quần chúng đối với pháp luật Đồng thời với việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật - xây dựng một hẹ thống

Trang 38

pháp luật thực sự phản ánh đúng quyền lợi của nhân dân - và tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp 丨uậl là những hướng quan trọng trcn con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Bôn cạnh viôc hiểu được tâm lý, thói quen của người Việt Nam nói chung, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cần phải nắm được những đặc thù của địa phương mình để tìm ra các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thích hợp Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương khi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải có kế hoạch, chương trình cụ Ihể, có trọng lâm, trọng điểm, thiết Ihực, phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, từng thời điểm và trình độ dân li í của địa phương, từng đối lượng; không áp dụng máy móc, khuôn mẫu,

mà phải thường xuyôn sáng tạo, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo Thực tiễn cho thấy, nhiều năm trước đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các lỉnh miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn yếu, chưa có hiệu quả Năm 1997, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Ưỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai tổ chức Hội thảo khoa học

“ Phổ biến, giáo dục pháp luật ử miền núi và dân tộc ít người” với sự tham gia của 25 tỉnh, thành phố nhằm lựa chọn mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả ở miền núi, dân tộc ít người Sau đổ, một số tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người đã dịch một số nội dung pháp luật sang tiếng dân lộc thiểu số, thu băng và phát đến tận hộ thống truyền thanh cơ sở như Gia Lai, Đắc Lắc, Lào Cai, Sóc Trăng, đem lại hiệu quả tuyên truyền cao, được người dân đón nhận một cách tích cực {7 - tr.7}

Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cần gắn công tác phổ hiến, giáo dục pháp luật kết hợp với phát triển kinh tế, giáo dục văn hoá, nâng cao dân trĩ, giáo dục đạo đức và giáo dục chính trị, lý tưởng cách mạng Để nâng cao ý thức pháp luật của người dân không thể chỉ dựa vào các biện pháp tuyên Iruyền, giáo dục pháp luật một cách thuần tuý, mà các cơ quan hành

Trang 39

chính nhà nước ở địa phương cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả trong tổ chức trực liếp và quản lý các lĩnh vực kinh tố - xã hội ở địa phương Qua đó, nhằm xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặl, nâng cao đời sống vật chất và linh Ihần của nhân dân địa phương, ảnh hưởng mạnh đến quá trình hình ihành ý thức pháp luậl,văn hoá pháp ỉý của nhân dân địa phương.

Phổ biến, giáo dục pháp luật là công tác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của các văn bản pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành Nhân thức được được ý nghĩa và tầm quan trọng đó, ngày 07/1/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 02/1998/CT- TTg vồ tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và Quyết định 03/1998/QĐ-TTg về Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một bước mới Tất cả 61/61 tính, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập được Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật cấp lỉnh, đều do Chủ lịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng Sở Tư pháp đưực giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Hội đồng Có thể nói, các cư quan hành chính nhà nước địa phương giữ vai Irò quan trọng trong lãnh đạo, tổ chức và điều hoà phối hợp hoạt động của nhiều

cơ quan khác của nhà nướó', các lổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan thông tin đại chúng, ở địa phương đối với nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật.Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được các cơ quan hành chính nhà nước địa phương kết hựp chặl chẽ với công tác tổ chức thực hiện việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, các hoạt động tuyên truyền khác, các phong trào vận động quần chúng, với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải đáp các vướng mắc VC pháp luật và với công tác hoà giải ở cơ sỏ

Kinh phí là một yếu tố hết sức cần thiết cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương được thực hiện một cách Ihường xuyên, liên tục và

Trang 40

có hiệu quả Ngày 12/12/1998, Bộ Tài chính đã có Thông lư SỐ156/1998/TT- Brl'C vé việc hướng dẫn, bổ sung, sửa đổi hệ thống mục lục ngân sách Nhànưức, trong mục 111 “ Thông tin, tuyên truyền, liên lạc” mở thêm hai tiểu mục mới là Tiểu mục 11 “ Chi tuyên lruyền giáo dục pháp luậl theo Quyếl định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 07/1/1998 của Chính phủ” và Tiểu mục 12 “ Chi tủ sách pháp luật ở xã, phường, thị trấn Iheo Quyết định số 1067/1998/QĐ-TTg ngày 25/11/1998 của Chính phủ” Như vậy, kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được đưa vào mục lục ngân sách Nhà nước và các cấp ngân sách chủ động thực hiện Hàng năm, trên cơ sở dự toán ngân sách địa phương được Hội đồng nhân dân các cấp thông qua, các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phưưng sẽ quyết định phân bổ kinh phí cụ thể cho các cơ quan,

tổ chức ihuộc quyền quản lý của mình thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

1.2.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Từ những quy định của pháp luật về thẩm quyền và trách nhiệm giải quyếl khiếu nại, tố cáo và từ kết quả hoạt động của các đoàn công tác liên

ngành, đã khẳng định vai trò và trách nhiệm của các CƯ quan hành chính nhà

nưức ở địa phương trong công tác giải quyếl khiếu nại, tố cáo là rất quan trọng

Quyền khiếu nại, quyền lố cáo thể hiện rõ nél mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân theo nguyên tắc trách nhiệm qua lại Công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước, ngưực lại, Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm, bảo vệ các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân khi bị các vi phạm pháp luật xâm phạm Nhà nước có quyền buộc các công dân phục tùng các quyết định pháp luật, hành vi công vụ, ngược lại, công dân có quyền lự vệ hợp pháp trước các vi phạm pháp luật mà ti-ước hết là các vi phạm pháp luật xuất

Ngày đăng: 01/10/2020, 10:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w