1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)

119 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 26,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật hình sự BLHS Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2009 đã dành một chương riêng quy định trách nhiệm hình sự TNHS đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

N G U Y Ê N DUY HỮ U

CÁC TỘI XÂM PHẠM súc KHỎE CỦA N6ưdl KHÁC

THEO LUẬT HÌNH Sự VIỆT NAM (frên C0 sở số liệu thực tiễn địa bần tỉnh Dắk Lắk)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC • • sĩ LUẬT HỌC • •

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Íìí

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn đều được rút ra từ kết quả nghiên cứu

Tác giả luận vãn

Nguyễn Duy Hữu

Trang 3

SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO LUẬT HÌNH s ự

VIỆT NAM 12 1.1 QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VỀ s ứ c KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ

Sự CẦN I HIÉ I BẢO VỆ SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI BẰNG LUẬT HÌNH Sự VIỆT NAM 121.1.1 Quan niệm về quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người 121.1.2 Sự cần thiết bảo vệ sức khỏe của con người bằng Luật hình sự

Việt Nam 181.2 KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIẾM c ơ BẢN CỦA CÁC TỘI

XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO LUẬT HÌNH Sự VIỆT NAM 221.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác 221.2.2 Những đặc điểm cơ bản của các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác 25

1.3 CÁC TỘI XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO

LUẬT HÌNH Sự MỘT số N ư ớ c 33

M Ụ C LỤC

Trang 4

1.3.1 Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo Luật hình sự

Cộng hòa Liên bang N ga 331.3.2 Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo Luật hình sự

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 361.3.3 Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo Luật hình sự

Nhật B ản 37

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH s ụ VIỆT NAM VỀ

CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 40 2.1 KHÁI QUÁT LỊCH s ử LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM QUY ĐỊNH

VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA CON NGƯỜI 402.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 402.1.2 Giai đoạn sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước khi ban

hành Bộ luật hình sự năm 1999 44

2.2 CÁC TỘI XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG

Bộ LUẬT HÌNH Sự HIỆN HÀNH 472.2.1 Khái quát chung 472.2.2 Dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe

của người khác 502.2.3 Dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội vô ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 602.2.4 Hình phạt áp dụng đối với các tội xâm phạm sức khỏe của người khác 62

2.3 PHÂN BIỆT CÁC TỘI c ố Ý XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC VỚI CÁC TỘI c ố Ý XÂM PHẠM TÍNH MẠNG

CỦA CON NGƯỜI 672.3.1 Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe người khác dẫn đến chết người 68

2.3.2 Phân biệt giữa tội giết người (chưa đạt) với tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 70

Trang 5

Chương 3: THựC TIÊN XÉT x ủ CÁC TỘÍ XÂM PHẠM s ứ c KHỎE

CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK VÀ NHỮNG KIÉN NGHỊ, GIẢI PHÁP 72 3.1 THỰC TIỄN XÉT x ử CÁC TỘI XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA

NGƯÒỈ KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐÃK LẢK 723.1.1 Khái quát tình hình xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người

khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2009 đến năm 2013 723.1.2 Nhận xét, đánh giá tình hình xét xử các tội xâm phạm sức khỏe

của người khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 813.2 KIÊN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT HÌNH

S ự HIỆN HÀNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM s ứ c KHỎE CỦA

NGƯỜI KHÁC 923.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY

ĐỊNH CỦA Bộ LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 98

KÉT LƯẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỦ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

HĐTP: Hội đồng Thẩm phánLHS: Luật hình sự

PLHS: Pháp luật hình sự

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối caoTNHS: Trách nhiệm hình sự

Trang 7

DANH M Ụ C CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình công tác thụ lý, giải quyêt án hình sự của TAND

tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) 72Bảng 3.2: Sô vụ án và sô bị cáo đã thụ lý, giải quyêt các tội xâm

phạm sức khỏe con người trên địa bàn tỉnh Đẳk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) 73Bảng 3.3: Sô vụ án và sô bị cáo đã thụ lý giải quyêt vê tội cô ý gây

ửiương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ữên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 5 năm (2009 - 2013) 74Bảng 3.4: Môi tương quan giữa sô vụ án, sô bị cáo theo Điêu 104 so

với Chương XII BLHS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) 76Bảng 3.5: Sô vụ án và sô bị cáo đã bị xét xử sơ thâm vê tội cô ý gây

ihưưiig tícli lioặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngưừi khác

so với các tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) 77Bảng 3.6: Sô vụ án và sô bị cáo đã được xét xử sơ thâm vê tội cô ý

gây thưưng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lẳk và trên cả nước trong giai

Bảng 3.7: Sô vụ án và sô bị cáo đã bị xét xử sơ thâm vê các tội xâm

phạm sức khỏe của người khác quy định từ Điều 105 đến Điều 110 BLHS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn

Trang 8

DANH M Ụ C CÁC BIẾU ĐÒ

Biêu đô 3.1: Sô vụ án và sô bị cáo vê tội cô ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do Tòa án xét

xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lẩk trong giai đoạn 5 năm

Biêu đô 3.2: Môi tương quan giữa sô vụ án, sô bị cáo theo Điêu 104

so với Chương XII BLHS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013) 76Biêu đô 3.3: Sô vụ án và sô bị cáo đã bị xét xử vê các tội xâm phạm

sức khỏe của người khác (Điều 105 đến Điều 110 BLHS trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm

Trang 9

MỞ ĐẦU

Quyền con người là giá trị cao quý chung của nhân loại, được cộng đồng quốc tế công nhận và trở thành vấn đề cơ bản quan trọng được cụ thể hóa trong Hiến pháp và pháp luật quốc gia, đặc biệt là việc bảo vệ và bảo đảm các quyền đó trước sự xâm hại của tội phạm

Ý thức về tôn trọng quyền con người và việc bảo vệ nhân quyền là một quá trình lịch sử lâu dài và gắn với lịch sử phát triển của xã hội loài người, cũng như sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế -

xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cấp khác nhau, qua đó quyền con người dần trở thành giá trị cao quý chung của toàn thể nhân loại và cộng đồng quốc

tế, trong đó có Việt Nam

Trong các quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách,

pháp luật cvia Nhà nưác ta Trên cơ sả này, khoản 1 Điều 20 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “7 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thản

thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hĩnh hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhán phẩm ’’'’ [27] Do đó, khi

có bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến các quyền con người nói chung, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm nói riêng đều

bị xử lý rất nghiêm khắc Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2009 đã dành một chương riêng quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, trong đó các tội xâm phạm sức khỏe của người khác chiếm

một vị trí quan trọng, được đặt ở vị trí thứ hai sau khách thể '‘‘tỉnh mạng"' của

con người cũng quy định cùng trong Chương XII Bộ luật này

Trang 10

Hiện nay, để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khá:, các nhà làm luật nước ta đã quy định tương đối đồng bộ và có hệ thống các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong BLHS Việt Nam từ Điều

104 đến Điều 110 Trong khi đó, thời gian gần đây các tội xâm phạm sức khce của người khác có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, gây thiệt hại ngHêm trọng đến thể chất và tinh thần của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chmg của xã hội với nhiều thủ đoạn tinh vi, manh động từ chủ thể thực hiện tội phạm BLHS do Nhà nước ban hành quy định các hành vi nguy hiểm cho

xã lội bị coi là tội phạm, tuy vậy những quy định này chỉ nêu lên các dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất của một cấu thành tội phạm, trong khi trên thực tế tội phím xảy ra vô cùng phức tạp và đa dạng Có nhiều trường hợp khi tập hợp các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm có những dấu hiệu giống nhau nêr trong thực tiễn xét xử, Tòa án còn bị lúng túng gây nhiều tranh cãi và dẫn đến việc định tội danh còn chưa chính xác như: giữa tội giết người (Điều 93) vớị lội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khỏe của người khác (Đ.ều 104); giữa tội cổ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngươi khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105) và tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106); giữa tội cố ý gây thương tích hoặc gâv tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) với tội gây thương tích hoậc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điéu 107); giữa tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngư^i khác (Điều 108) với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏi của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điéu 109); v.v Bên cạnh đó, trong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạn sức khỏe của người khác có những nội dung còn chưa thống nhất, một

số tnh tiết định khung quy định chưa rõ, gây khó khăn trong khi áp dụng, mâi thuẫn với các điều luật khác

Trang 11

Tất cả những tồn tại, hạn chế và nhầm lần trong việc định tội danh, trong việc xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS), việc đánh giá chứng cứ cùng với những nhận thức chưa thống nhất trong lý luận đã làm giảm đi hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, việc bảo vệ các quyền và tự do của con người nói riêng, cũng như dễ dẫn đến oan, sai hay vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của công dân bằng pháp luật hình sự Việt Nam phải là một trong những nguyên tắc trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay Ý thức được tầm quan trọng đó, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Đắk Lắk không ngừng đây nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án, phấn đấu không để xảy ra việc kết án oan người không có tội và bỏ lọt tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất các bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc sai do lỗi chủ quan của Thẩm phán, bảo đảm các quyết định của Tòa án đúng pháp luật, đầy

đủ, rõ ràng, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao, có tính khả thi và được dư luận

xã hội đồng tình, ủng hộ Ví dụ: Năm 2009, tổng sổ các vụ án sơ thẩm và phúc thẩm về các tội phạm trong Chương XII - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người mà TAND tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết là 676 vụ án (1.124 bị cáo); năm 2010 là 625 vụ án (1.082 bị cáo); năm 2011 là 612 vụ án (918 bị cáo); năm 2012 là 748 vụ án (1.349 bị cáo) và năm 2013 là 649 vụ án (1.202 bị cáo) v.v [28], [32] Tuy nhiên, vẫn còn một số ít trường hợp áp dụng không đúng, chưa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội nên dẫn đến việc định tội danh thiếu chính xác, xác định khung, mức hình phạt chưa rõ ràng, việc hủy án, sửa án, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vẫn còn tồn tại, trong đó có nhóm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, uy tín của Tòa án nói riêng

Trang 12

Với những lý do nêu trên, để khắc phục tình trạng này, đồng thời phục

vụ trực tiếp cho công tác thực tiễn xét xử và góp phần thực hiện Quyết định số

1236/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10/9/2012 về việc '"Phê duyệt

Kế hoạch tổng kết thi hành BLHS năm 1999‘'\ cũng như Nghị quyết số 22/NQ-

CP ngày 22/3/2014 về “Aạy dựng pháp luật'", irong đó nhấn mạnh các định

hướng, yêu cầu việc sửa đổi, bổ sung BLHS phải hướng tới mục tiêu xây dựng

một bộ luật có chất lượng và tính khả thi cao, có tính dự báo, tạo sơ sở pháp lý

sắc bén để đấu tranh hữu hiệu phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người,

quyền công dân, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Các tội xâm phạm sức

khỏe của người khác theo Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở sổ liệu thực tiễn

địa bàn tỉnh Đẳk L ẳ kr làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, trong khoa học LHS trong và ngoài nước đã có nhiều công

trình trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác dưới các góc độ ỉchác nhau:

* Dưới góc độ sách chuyên khảo, hài viết ở nước ngoài: 1) Jill Peay, Mental Health and Crime - Contemporary Issues in Public Poỉỉcy (Sức khỏe

tâm thần và tội phạm - vấn đề đương đại trong chính sách công), Published

by Taylor & Prancis, 2010; 2) James Q Wilson, Richard J Hermstein, Crime

and Crime on Health: the Defmitive Study o f the Causes o f Crime (Tội phạm

và tội phạm về sức khỏe: Nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm),

Published August Ist 1986 by Touchstone Books (first published 1985); 3)

C.L.Ten, Crime, guỉlt and punishment (Tội phạm, lỗi và hình phạt),

Clarendon Press, Oxford, 1987; 4) P.J Fitzgerald, Criminal Law and

punishment, Clarendon Press, Oxford, 1992; 5) Prancis T Cullen and Paul

Gendreau, Crime on Health: Policy, Practice (Tội phạm về sức khỏe: Chính

sách, thực tiễn), Magazine published quarterly by the Criminal Justice Section

of the American Bar Association, Vol 3/1999, p 109-175; v.v

Trang 13

* Dưới góc độ giáo trình, sách chuvên khảo, sách tham khảo ở trong

nuớc: 1) GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương IV - Các tội xám phạm tỉnh

mang, sức khỏe, danh dự và nhân phâm của con người, Giáo trình LHS Việt

Nam (Phần các tội phạm) (GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2007; 2) GS.TS Võ Khánh Vinh, Chương III - Các tội xâm

phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhản phãm của con người, Giáo trình

LHS Việt Nam (Phần các tội phạm) (GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên), Nxb

Cóng an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) PGS.TS Trần Văn Luyện, Các tội xâm

phạm tỉnh mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb Chính

trị Quốc gia Hà Nội, 2000; 4) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận chuyên sâu

B l HS, tập I, các tội xám phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm

cia con người, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; 5) TS Trần Minh

Hiởng, Tim hiểu các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhản phẩm

cia con người, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002; 6) TS Phạm Văn Beo, LHS

Vtệt Nam - Quyển 2, Phần các tội phạm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2(09; 7) Bùi Anh Tuấn, Hồ Thị Nệ, Tim hiểu các tội phạm xâm phạm tỉnh

mmg, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 2001; 8) TS Bùi Văn Thịnh, Đặc điểm, nguyên nhân của tội

pmm cổ ỷ gáy thương tích - Hoạt động phòng ngừa của Lực lượng cảnh sát

mán dán, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; 9) BS lon-Boóc-Đê-i-a-nu,

B quyết giúp con người sổng lâu, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2001; v.v

* Dưới góc độ luận văn, luận ản tiến sĩ luật học ưong nước: Nói

ctung, đã có nhiều công trình nhung lại tập trung đề cập riêng rẽ đến Điều

104 BLHS (Tội gây thưomg tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

kiác) hay tập trung nghiên cứu tội phạm này dưới khía cạnh tội phạm học -

piòng ngừa tội phạm của nhóm tội phạm này như: 1) Nguyễn Hữu cầu, Đặc

đểm tội phạm học của tội cổ ỷ gây thương tích hoặc gáy tổn hại cho sức khỏe

Trang 14

của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giai pháp nâng cao hiệu quả,

Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2002; 2)

Nguyễn Thu Hòa, Tội cổ ỷ gáy thương tích hoặc gày tốn hại cho sức khỏe của

người khác trên cơ sở nghiên cứii thực tiễn xét xử thành phổ Hà Nội, Luận

vãn thạc sĩ Luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2007; 3) Nguyễn

Thị Phương, Đấu ừ-anh phòng, chống các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

danh dự, nhân phẩm của con người trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc

sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2007; 4) Nguyễn Mạnh Hùng, Đấu

tranh phòng, chổng tội cố ỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011; 5) Tào Duy Tùng, Các tội xám phạm sức

khỏe của người khác theo LHS Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh

Thanh Hóa, giai đoạn 2006 - 2012, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật,

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; v.v

* lyirứi góc độ hài viết nghiên cm4 khoa học, hiện nay, trên Tạp chí

TAND, Tạp chí Công an nhân dân và một số tạp chí khác cũng đăng nhưng

chỉ mang tính chất đơn lẻ và phân tích các dấu hiệu pháp lý giữa các tội

phạm, cũng như định tội danh đối với từng vụ án cụ thể, ví dụ: 1) GS.TS

Nguyễn Ngọc Hòa, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phám, danh

dự của con người - So sảnh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985, Tạp

chí Luật học, số 1/2001; 2) TS Nguyễn Đức Mai, Phân biệt tội gảy thương

tích dẫn đến chết người với tội giết người và tội vô ý làm chết người, Tạp chí

TAND số 7/1998; 3) PGS.TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới cơ bản về

các tội xâm phạm tỉnh mạng, sức khóe, nhãn phâm, danh dự của con người

trong BLHS năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2001; 4) TS Đồ

Đức Hồng Hà, Phân biệt tội giết người với một sổ tội phạm khác xâm phạm

tính mạng con người, Tạp chí TAND, số 2/2003; 5) ThS Phan Anh Tuấn,

Trang 15

Định tội danh trong trường hợp một hành vi thoa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2001; 6) TS Trịnh Tiến Việt,

Đoàn Văn Hải phạm tội cổ ỷ gây thương tích dẫn đến chết người, Tạp chí

TAND, số 7/2001; 7) TS Đỗ Đức Hồng Hà, Các tội xâm phạm sức khỏe của

con người trong Bộ luật Gia Long, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/2007;

8) Nguyễn Thị Hợp, Pháp luật về xác định tội danh và thực tiễn áp dụng, Tạp

chí TAND, số 15(7)/2011; v.v

Như vậy, những bài nghiên cứu hoặc một số sách, báo pháp lý đã nêu mới chỉ khái quát được một số vấn đề chung về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác như phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự, định tội danh, áp dụng tình tiết định tội, định khung, cũng như đánh giá, nhận định một số vấn

đề liên quan đến phân biệt với một số tội phạm trong BLHS hoặc nghiên cứu nhóm tội (hoặc riêng một tội) cố ý gây thương tích dưới góc độ pháp lý hình sự hay phòng ngừa tội phạm (Tội phạm học); v.v Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa

có công trình nào nghiên cứu về vấn đề các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo LHS Việt Nam và trên một địa bàn cụ thể có tình hình an ninh trật

tự, an toàn xã hội phải đề phòng, bảo vệ chặt chẽ là địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Khái quát quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người và sự cần thiết của việc bảo vệ sức khỏe của con người bàng LHS Việt Nam;

- Xây dựng khái niệm khoa học về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và phân tích những đặc điểm cơ bản của các tội phạm này theo LHS Việt Nam;

- Nghiên cứu các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo BLHS Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, để rút

ra những nhận xét, đánh giá;

- Hệ thống hóa các quy định của Pháp luật hình sự (PLHS) Việt Nam từ giai đoạn trước năm 1945 đến nay về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, đặc biệt, luận văn tập trung làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý hình sự

và hình phạt của các tội phạm này trong BLHS nước ta hiện hành để rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Đánh giá, phân tích thực tiễn xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013),

so sánh với tình hình cả nước, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;

- Đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đổi tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của đề tài - Các

tội xám phạm sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở

số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk).

Trang 17

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo LHS Việt Nam, đánh giá thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013), trên cơ sở đó, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản, từ đó luận chứng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam, cũng như những giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm này trên địa bàn Đắk Lắk nói riêng, trên cả nước nói chung

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đe tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý của Nhà nước đối với nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nói chung, về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học LHS như: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của TAND tối cao và của TAND tỉnh Đắk Lắk để phân tích các tri thức khoa học LHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn này

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

6.1 Ỷ nghĩa khoa học

Trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân hiện nay, cũng như bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người, một giá trị cao quý của hệ thống các quyền con người, thì việc nghiên cứu

Trang 18

để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là rất cần thiết

không chỉ bổ sung vào kho tàng lý luận về các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác, mà còn nâng cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, qua đó bảo

đảm xử lý tội phạm và người có hành vi phạm tội một cách khách quan,

công bằng và đúng pháp luật, không oan, sai hay vi phạm pháp luật trong

thực tiễn giải quyết vụ án hình sự

6.2 Ỷ nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận văn làm cơ sở để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện

quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại TAND tỉnh Đắk Lắk nói riêng,

cả nước nói chung qua đó, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống

tội phạm nói chung, việc bảo vệ các quyền và tự do của con người nói riêng,

cũng như phòng, chống oan, sai và vi phạm pháp hiật trong thực tiễn giải

quyết vụ án hình sự

Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên

cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành LHS và tố tụng hình sự tại các cơ

sở đào tạo luật học trên cả nước

7 Những điểm mới của luận văn

Đe tài phân tích dựa trên những bản án, quyết định, báo cáo công tác

chính thức của ngành TAND tại tỉnh Đắk Lắk - đó là những số liệu thực tế

góp phần làm rõ hơn về thực trạng các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

trên địa bàn có tình hình an ninh, trật tự xã hội quan trọng này Do đó, những

điểm mới cơ bản của luận văn được phản ánh như sau:

- Khái quát quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người và sự cần thiết của việc bảo vệ sức khỏe của con người bằng LHS Việt Nam;

Trang 19

- Xây dựng khái niệm khoa học về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác và phân tích những đặc điểm cơ bản của các tội phạm này theo LHS Việt Nam;

- Nghiên cứu các tội xâm phạm sức khỏe của người khác theo BLHS Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa nhàn dân Trung Hoa và Nhật Bản, để rút

ra những nhận xét, đánh giá;

- Hệ thống hóa các quy định của PLHS Việt Nam từ giai đoạn trước năm 1945 đến nay về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, đặc biệt, luận văn tập trung làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt của các tội phạm này trong BLHS nước ta hiện hành để rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Đánh giá, phân tích thực tiễn xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05 năm (2009 - 2013),

so sánh với tình hình cả nước, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân ca bản;

- Đe xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về các tội phạm này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm sức khỏe của

người khác theo Luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Các quy định của Luật hình sự Việt Nam về các tội xâm

phạm sức khỏe của người khác

Chương 3: Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và những kiến nghị, giải pháp

Trang 20

Chương I

MỘT SÓ VẤN ĐÈ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM

SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO LUẬT HÌNH s ụ VIỆT NAM

1.1 QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VỀ sứ c KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ sự

CẦN THIẾT BẢO VỆ SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI BẰNG LUẬT HÌNH sự

VIỆT NAM

1.1.1 Quan niệm về quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người

Ngày 10/12/1997, trong bài diễn văn của mình, cựu Tổng thư ký Liên Hợp quốc Kofi Annan đọc tại Đại học Tổng hợp Teheran nhân kỷ niệm lần

thứ 50 ngày ra Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã nêu:

“Hôm nay, trên khắp mọi miền của trái đất, tất cả người lớn, trẻ em thuộc mọi niềm tin và tiếng nói, thuộc mọi màu da và sắc tộc, sẽ tập hợp lại để nối vòng tay giữ lấy các quyền con người của chúng ta Tất cả sẽ làm như vậy với nhận thúc rằng quyền con người là nền tảng cho sự hiện hữu và đồng tồn của nhân loại; rằng quyền con người mang tính phổ quát, bất phân chia và lệ thuộc nhau; và rằng quyền con người là trọng tâm của tất cả những gì mà Liên Hợp quốc đang ước vọng đạt được trong hòa bình và phát triển” Như vậy, có thể

khẳng định rằng: quyền con người là những giá trị thiêng liêng và cao cả nhất

mà tất cả mọi người, không phân biệt nam nữ, màu da, sắc tộc, thành phần, địa vị xã hội, nghề nghiệp đều phải có và được hưởng một cách đương nhiên.

Trước hết, quyền con người là một phạm trù đa diện [9, tr.37], là một ừong

những giá ừị phổ quát của xã hội loài người và là giá trị tổng hợp [55, tr.l 1] Có

rất nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau về quyền con người và nội dung của quyền cũng rất đa dạng, phong phú Điểm qua lịch sử cho thấy, ý tưởng ban đầu về quyền con người với tư cách là các giá trị nhân phẩm của con người đã có từ xa xưa trong lịch sử của nhân loại trong các nền văn hóa và tôn

Trang 21

giáo Có thể thấy những giá trị cao quý phù hợp với con người trong triết học

Châu Phi của ''ưbuntư' hay việc bảo vệ người nước ngoài trong đạo Hồi

''''Quy tắc vàng" về yêu cầu mọi người cần đối xử với người khác như đối xử

với chính bản thân mình tồn tại trong tất cả các tôn giáo lớn Điều này cũng tương tự với trách nhiệm của xã hội về quan tâm tới người nghèo, vì các khái niệm cơ bản về công bằng xã hội [56, tr.l2]

Ngoài ra, khái niệm quyền con người với bản chất là các quyền tự nhiên của con người có nguồn gổc từ thời Hy Lạp cổ ở các nhà triết học như Ảngtiphôn, Ankiđan Thời kỳ này, Bộ luật Hammurabi có thể được coi là văn bản pháp luật thành văn đầu tiên của nhân loại đề cập đến quyền con người [9, tr.67-68] Sau đó, theo một số tài liệu, tư tưởng về quyền con người còn được phản ánh thông qua các học thuyết, ấn phẩm tôn giáo, chính trị và pháp

lý của nhân loại từ xưa đến nay như: Văn tuyển Nho giáo (Luận ngữ), Kinh

Vệ Đà của đạo Hin-đu, Kinh Phật của Đạo Phật, Kinh thánh của Đạo thiên chúa, Kinh Kô-ran của Đạo Hồi và ở các mức độ khác nhau đều phản ánh những quan điểm có tính hệ thổng của nhân loại về nhân phẩm, tự do, bình đẳng, bác ái và việc bảo vệ những giá trị đó [19, tr.27] Thậm chí, Bộ Quốc triều Hình luật (1470-1497) thời Hậu Lê của Việt Nam cũng xứng đáng được xem là một Bộ luật chứa đựng nhưng tư tưởng nhân văn cao cả về tôn trọng

và bảo vệ quyền con người, mà nó đã được nhiều nhà khoa học đánh giá cao

về những giá trị nhân đạo, khoan dung và vì con người [50, tr.22]

Còn ở châu Âu, kể từ thời Phục Hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiên ngày càng trở nên phổ biến Có thể kể đến một số đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh), Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà Lan), I Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxom (Mỹ) [7, tr.l5] Mặc dù, khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ châu Âu nhưng ngày nay cần khẳng định rằng những khái niệm cơ bản của quyền con người về tự do và công bằng xã hội có tính chất phổ biến trên toàn thế giới

Trang 22

Trên phương diện pháp luật, quyền con người đã được nhiều văn bản

pháp luật khác nhau, từ các điều ước quốc tế đến các văn bản pháp luật Việt Nam ghi nhận thành một hệ thống các quyền Do đó, cốt lõi khái niệm quyền con người là khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người trong xã hội

hay "'điều cổt yếu là các quyền con người phải đưực bảo vệ bằng pháp luậr

đúng như GS.TSKH Lê Cảm đã viết:

Việc bảo vệ các quyền con người đã và vẫn đang là vấn đề trung tâm và có ý nghĩa thời đại của hành tinh chúng ta, vì nó không chỉ là vấn đề mang tính lịch sử từ bao đời nay, mà còn mang tính thời

sự quốc tế, không những là mục tiêu cơ bản ừong cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, tự do, dân chủ và công lý, mà còn là mối quan tâm thưòng xuyên của nhân loại tiến bộ trên toàn trái đất [2, tr 15].Trong hệ thống những quyền ấy có quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người

Con người cần có sức khỏe để sống, làm việc và tham gia bình thường vào các quan hệ xã hội Đối với cá nhân mỗi người, sức khỏe được ví như một loại tài sản vô cùng quý Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Ngay từ năm 1941, dưới sự lãnh đạo

của Người, chương trình Việt Minh ghi: “Câ« khuyển khích nền thể dục quốc

dán, làm cho giống nòi ngày càng thêm mạnh" Còn trong thời kỳ lãnh đạo

dân tộc tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch

Hồ Chí Minh cho rằng; "''Sức khỏe của cản bộ và nhân dân được đảm bảo thì

tỉnh thần càng hăng hải Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì khảng chiến càng gần thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công'\ Điều này nói lên rằng Bác

Hồ của chúng ta đã đánh giá rất cao vai trò của sức khỏe [61, tr.l] Quan niệm

về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự lành mạnh cả về thể xác

lẫn tinh thần Người đã định nghĩa: ''Ngày nào cũng tập thể dục thì khỉ huyết

lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” [61, tr.l] Nội dung của

Trang 23

định nghĩa này hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức

Y tế Thế giới trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 ''Sức khỏe là trạng thái

hoàn toàn thoải mái về tâm hồn, về thê xác, về xã hộr Như vậy, với Chủ tịch

Hồ Chí Minh, sức khỏe không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là tài sản chung Tạo nguồn sức khỏe không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là trách nhiệm của cộng đồng Ngày nay, chúng ta ngoài việc tự chăm sóc sức khỏe, mỗi cá nhân có nghĩa vụ tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe Với Bác Hồ, con người là

vị trí trung tâm của mọi hoạt động và quyền được sống là quyền cao nhất của con người Khi được sống thì sức khỏe là yếu tố quan ữọng nhất, nếu không có sức khỏe thì chẳng làm được gì Vì thế, Ngưòd dạy chúng ta: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công” Đó chính là tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác chăm sóc sức khỏe [61, tr.l]

Ngoài ra, theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì ‘‘"Sức

khỏe là trạng thái sảng khoái về mặt thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chi là không có bệnh hay tật, không yếu đuổi mà là ở trạng thải cỏ thể chất tốt, trí tuệ phát triển và xã hội lành mạnh'" [60].

Như vậy, bảo vệ loại tài sản quý này là trách nhiệm của mỗi người, mỗi gia đình, của Nhà nước và toàn xã hội Cá nhân có trách nhiệm tự chăm lo, bảo vệ sức khỏe của bản thân, giữ cho thân thể được khỏe mạnh, tránh những tác nhân gây bệnh làm tổn hại sức khỏe

Sức khỏe và cuộc sống lâu phụ thuộc vào sự chăm lo bản thân và những phương pháp bảo vệ phòng ngừa hơn là vào bác sĩ và thuốc men, sức khỏe giống như hòa bình, ta chỉ có thể hưởng thụ nó một khi ta biết bảo vệ nó Sức khỏe mạnh không phải là một đặc quyền, không phải là quà tặng, mà là phần thưởng [1, tr.240]

Do đó, gia đình có trách nhiệm chăm lo cho sức khỏe của từng thành

Trang 24

viên trong gia đình mình Nhà nước có chính sách y tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, chăm lo và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

Thực hiện trách nhiệm nặng nề nói trên, Nhà nước ta đã ban hành Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dâti giai đoạn 2011 - 2020, lầm nhìn đến năm 2030, Irong

đó nêu rõ quan điểm:

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; dịch vụ y tế công là dịch vụ xã hội đặc biệt, không vì mục tiêu lợi nhuận; đầu tư cho y tế là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mồi ngưòã dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt ừ-ận Tổ quốc,

các đoàn ứiể nhân dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, ừ-ong đó

ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật; v.v

Cho nên, xác định mục tiêu chung của chính sách bảo vệ sức khỏe nhân dân là:

Bảo đảm mọi người dân được hưỏTig các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số [62, tr.l]

Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp luật, Nhà nước ta còn coi vấn đề được

bảo vệ về sức khỏe là quyền cơ bản của con người và ghi nhận quyền này

vào Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp

năm 2013 quy định: “Mọ/ người cỏ quyền bất khả xâm phạm về thân thể,

được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tẩn, bạo lực, truy bức, nhục hĩnh hay bất kỳ hình thức đổi xử nào khác xâm phạm thản thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩrri" [27, tr.l9] Nói

Trang 25

một cách khác, đúng như chuyên gia trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, GS TS Nguyễn Đăng Dung viết:

Quyền con người, đó là những quyền cơ bản nhất của con người, được có một cách tự nhiên gẳn bó mật thiết với con người - một động vật cao cấp có lý trí, và có tình cảm ỉàm cho con người khác với các động vật khác, mà Nhà nước thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mình là phải bảo vệ các quyền đó [8, tr.l 12]

Chúng tôi tán thành với cách lập luận của tác giả khi nhấn mạnh sâu hơn về nội dung này:

Vấn đề nhân quyền luôn luôn đi kèm và không thể thiếu được vấn đề bảo vệ nhân quyền Một mặt phải chỉ ra, tức là ghi nhận cho rõ

và đầy đủ tất cả các quyền con người có thể có, để con người cần phải biết mà có thể thụ hưởng và ngăn chặn ngay sự vi phạm chính những quy định quyền con người đã được ghi nhận ra từ bất kể chủ thể nào Một mặt khác, phải ngăn chặn ngay từ trước sự có ứiể vi phạm đến quyền con người của một chủ ửiể quan trọng nhất đó là Nhà nước; một khi các quyền đó bị vi phạm cần phải có các biện pháp trừng trị những chủ ửiể vi phạm và cũng cần có những biện pháp khôi phục lại những quyền đó, đồng ửiời cũng nhấn mạnh nghĩa vụ, trách nhiệm phải bảo vệ nhân quyền từ phía Nhà nước [8, tr 122-123]

Như vậy, nghiên cứu quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

hiện hành, có thể thấy rằng quyền được bảo vệ sức khỏe của con người có hai

nội dung chủ yếu là:

Một là, quyền của mồi cá nhân được Nhà nước chăm lo, bảo vệ, chăm

sóc về sức khỏe, phòng, chống và ngăn ngừa các nguy cơ đến từ bệnh tật và các nhân tố tự nhiên khác;

ĐAI HỌC QUỎC GIA HẢ N'-

Trang 26

Hai là, quyền được bảo vệ chổng lại mọi hành vi trái pháp luật, được

thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý của con người

Do đó, với nội dung thứ nhất, quyền được bào vệ về sức khỏe được bảo

đảm bởi cơ sở pháp lý là hệ thống các văn bản về chăm sóc y tế, bảo hiểm xã

hội, y tế cộng đồng Còn với nội dung thử hai, quyền được bảo vệ về sức

khỏe được bảo đảm về mặt pháp lý bởi Hiến pháp và hệ thống các văn bản

pháp luật về hành chính, dân sự, hình sự và tố tụng hình sự, trong đó BLHS

được xem là văn bản pháp lý đồng bộ và có hệ thống nhất có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng trong việc bảo vệ, xử lý các hành vi phạm tội xâm phạm một cách

cổ ý hoặc vô ý đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người

1.1.2 Sự cần thiết bảo vệ sức khỏe của con người bằng Luật hình

sư Viêt Nam• •

LHS là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao

gồm các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội là

tội phạm và qiiy định chế tài hình sự áp dụng cho ngiròri phạm những tội đó

Trong hệ thống pháp luật, LHS có vị trí, vai trò rất quan trọng Lời nói đầu

của BLHS Việt Nam đã khẳng định PLHS là một trong những công cụ sắc

bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực

vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ

quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích

hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự

quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã

hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời,

PLHS góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi

mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Do đó, từ quy định của BLHS, có thể thấy, LHS Việt Nam có chức

Trang 27

năng trước hết và cơ bản là chức năng báo vệ cho sự phát triển bình thường

của các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam

Là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự, LHS được coi là công cụ phản xạ tự vệ của xà hội chống lại tội phạm - những hành vi nguy hiêm cho xã hội, cho Nhà nước, cho con người Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của LHS là nhiệm vụ bảo vệ ở thời đại nào và quốc gia nào, LHS cũng có nhiệm vụ ấy [45, tr.90] Trong các quan hệ xã hội mà LHS Việt Nam bảo vệ, có quan hệ xã hội liên quan đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người Cụ thể, LHS Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người xuất phát từ những lý do cụ thể sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ những lý do mang tính lịch sử và đặc điểm phát

triển cụ thể của xã hội Việt Nam Cho đến nay, đất nước Việt Nam đã trải qua quá trình phát triển liên tục từ hàng nghìn năm lịch sử Trong hàng nghìn năm lịch sử ấy, đã có những giai đoạn, dân tộc Việt Nam bị các thế lực nước ngoài

đô hộ, áp bức, bóc lột và tước bỏ mọi quyền cơ bản của con người Vào năm

1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam đã đứng lên làm Cách mạng tháng Tám giành lại độc lập cho dân tộc và các quyền tự do, dân chủ cho mình Có thể khẳng định rằng các quyền con người ở Việt Nam, trong đó có quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người là thành quả đấu tranh cách mạng với bao tổn thất và hy sinh xương máu của nhân dân và dân tộc ta PLHS Việt Nam có nhiệm vụ phải bảo vệ quyền này bằng cách quy định nhừng hành vi xâm phạm đến sức khỏe của con người là tội phạm và quy định hình phạt đối với người phạm các tội đó

Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò của quyền được bảo vệ về sức khỏe

Trang 28

của con người trong hệ thống các quyền con người cơ bản hiện nay Dù rằng đặc tính cơ bản của quyền con người là không thế phân chia, song điều này không có nghĩa là các quyền cụ thể của con người là có vị trí, vai trò như nhau Có những quyền có mức độ gắn bó thiết thân với sự tồn tại của con người hơn nên phải được xem ỉ à quan Irọng hơn, cần được ưu tiên hơn so với các quyền khác Trong số các quyền được coi là quan trọng hơn, cần được ưu tiên đó có quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người.

Vai trò quan trọng của quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người thể hiện ở chồ quyền này luôn gắn với quyền sống của con người Trong thực

tế, ranh giới giữa quyền được bảo vệ về sức khỏe với quyền sống là vô cùng mong manh Người có hành vi dùng bạo lực hoặc các thủ đoạn khác tác động lên thân thể của người khác thực sự rất khó kiểm soát mức độ xâm phạm của

họ Nhiều khi ý định ban đầu chỉ muốn xâm phạm đến sức khỏe nhưng trong thực tế lại xâm phạm đến quyền sống của người khác Nhiều người phạm tội, thậm chí còn không qvian tâm đến khách thể mà họ xâm hại là quyền đvrợc bảo vệ về sức khỏe hay quyền sống của người khác Thực tiễn các vụ án liên

quan đển hoạt động của các đối tượng “xữ hội đen", phạm tội có tổ chức hoặc

phạm tội có tính chất côn đồ là những minh chứng cho những trường hợp này

Mặt khác, vai trò của quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, tự

nó, trong tính độc lập với hệ thống các quyền con người khác cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Như đã trình bày trong mục trên, sức khỏe là vốn quý, nếu không muốn nói là quý nhất của con người Không có sức khỏe thì dù có sống thì sự sống đó cũng không hơn gì một sự tồn tại mang tính thực vật, đời sống thực vật không hơn không kém Người không có sức khỏe không thể tham gia vào các quan hệ xã hội mà họ mong muốn, phải phụ thuộc vào người khác và

bị gạt ra bên lề của mọi sinh hoạt xã hội Con ngưòd cần có sức khỏe cũng như họ cần mạng sống của mình Không phải ngẫu nhiên mà trong BLHS

Trang 29

Việt Nam cũng như BLHS nhiều nước trên thế giới, các nhà lập pháp thường quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khóe, danh dự, nhân phẩm trong cùng một chương và thường đặt chương này lên vị trí những chương đầu tiên của BLHS hoặc Chương đầu tiên trong Phần các tội phạm BLHS.

Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy, quyền được bảo vệ về sức khỏe

từ lâu đã được coi là khách the bảo vệ quan trọng của LHS các nước và cũng như của Việt Nam LHS trong các giai đoạn lịch sử trước đây đã có nhiều quy định trừng phạt hành vi trái pháp luật xâm phạm sức khỏe của người khác Hiện nay, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác là một trong những nhóm khách thể quan trọng cần bảo vệ bằng LHS Việt Nam

Thứ ba, xuất phát từ ý nghĩa của vấn đề bảo vệ sức khỏe của con người

đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Sức khỏe là vấn đề trước hết thuộc về mỗi cá nhân Sức khỏe luôn gắn liền với cá nhân mỗi người, không ai có thể khỏe thay cho người khác hay đem sức khỏe của mình trao đổi, giao dịch với người khác Sức khỏe không mua bán được bằng bất kỳ thứ gì

Tuy nhiên, tiếp cận trên phương diện xã hội, có thể thấy rằng sức khỏe của mồi cá nhân có ảnh hưởng đến đời sống chung của cả cộng đồng Cá nhân không khỏe thì cộng đồng mất đi một thành viên tích cực tham gia vào các hoạt động chung Hon nữa, cộng đồng xã hội, trước hết là cộng đồng nhỏ nhất như gia đình, cơ quan phải có trách nhiệm giúp đỡ người trong trạng thái sức khỏe không bình thường, bị ốm đau, bệnh tật Nhà nước, xã hội cũng phải đầu

tư nhiều nguồn lực cho việc chăm sóc y tế và chữa bệnh cho những đối tượng

đó Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là liên quan đến sức khỏe tâm thần còn tốn nhiều kinh phí cho xã hội cũng như những nguy cơ từ phía những người

có bệnh gây ra cho xã hội [57, tr.33]

Như vậy, vấn đề sức khỏe đã vượt ra ngoài phạm vi của mỗi cá nhân

Trang 30

mà nó thực sự trở thành đối tượng phải chăm lo chung của cả cộng đồng

Trong Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nhà nước ta đã xác định rõ:

Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mồi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của

các Bộ, ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các

đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trong đó ngành

y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật [62, tr 1]

Tóm lại, xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề sức khỏe của nhân

dân - nguồn lực quan trọng của xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc nên LHS cũng phải góp phần tích cực, trong phạm vi chức năng,

nhiệm vụ của mình, vào sự nghiệp nói trên bàng cách quy định những hành

vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác là tội phạm,

cũng như quy định hình phạt và các chế tài hình sự khác đối với các tội

phạm ắy Han thế, I ,HS, bằng các quy định của mình về các tội xâm phạm

sức khỏe của người khác phải góp phần phòng ngừa tội phạm, giáo dục và

nâng cao ý thức tuân theo pháp luật cho mọi người, nâng cao ý thức tôn

trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác cho mọi công dân, nói rộng ra là

cho mọi cá nhân trong xã hội

1.2 KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIẾM cơ BẢN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

Trong BLHS Việt Nam hiện hành, các nhà lập pháp xây dựng ba khái

niệm tội phạm tại ba điều luật là Điều 8, Điều 277 và Điều 292 BLHS Điều 8

BLHS quy định khái niệm chung về tội phạm; Điều 277 quy định khái niệm

tội phạm về chức vụ và Điều 292 quy định khái niệm các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp Như vậy, cho đến nay, nhà nước ta chưa chính thức ghi nhận

Trang 31

khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác vào BLHS cũng như các văn bản PLHS khác.

Do đó, khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác (hay của con người - gọi theo khách thể chung của Chương XII) hiện nay chỉ tồn tại trong các tài liệu, công trình nghiên cứu dưới dạng các khái niệm khoa học pháp lý, phản ánh quan điểm riêng rẽ của các nhà khoa học Có thể liệt kê một

sổ quan điểm về khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong các công trình đã công bố dưới dây:

Trước hết, quan điểm của tập thể tác giả Giáo trình LHS Việt Nam của

ÍChoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: “Cức tội xâm phạm sức khỏe là

những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ỷ hoặc vô ỷ) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác''' [3, tr.l27]

Tương tự, quan điểm nêu trên cũng được chia sẻ trong cuốn Giáo trình LHS Việt Nam, tập I của Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2010 do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên [18, tr.409]

Tuy vậy, khác với hai quan điểm nêu trên, quan điểm của TS Trần Thị

Quang Vinh lại cho rằng: “Các tội xám phạm sức khỏe của con người là

những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cổ ý hoặc vô ỷ xâm phạm đến sức khỏe của con ngườr [51, tr.61 ].

Ngoài ra, TS Đỗ Đức Hồng Hà trong một bài viết đã đưa ra quan điểm

khác hom: “Các tội xám phạm sức khỏe của con người là hành vi cỏ loi, xám

phạm quan hệ nhân thản mà nội dung của nó ỉà quyền được tôn trọng và bảo

vệ sức khỏe của con ngườr [15, tr.27] Tương tự, PGS.TS Trần Văn Luyện

cũng quan niệm: “Các tội xám phạm sức khỏe của con người là những hành

vi nguy hiếm cho xã hội, có lễi, gáy tổn hại hoặc đe dọa gáy tổn hại đến quyền sổng, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con ngườr [20, tr.60]

Đặc biệt, một số tác giả khác như ThS Đinh Văn Quế (trong tập I Bình

Trang 32

luận khoa học BLHS), TS Bùi Văn Thịnh (trong sách Đặc điểm, nguyên nhân của tội phạm cổ ỷ gáy thương tích và hoạt động phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát nhân dân) hay các tác giả sách Bình luận khoa học BLHS năm 1999,

tập II, quyển I lại không đưa khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe nói chung và xây dựng khái niệm cho từng tội xâm phạm sức khỏe cụ thể quy định trong BLHS

Tóm lại, từ các khái niệm khoa học về các tội xâm phạm sức khỏe đã liệt kê ở trên, có thể rút ra một số nhận xét dưới đây;

Một là, vấn đề khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe được nhiều nhà

khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm làm rõ Trong hầu hết các bài viết, sách tham khảo, sách chuyên khảo, Giáo trình LHS Việt Nam (Phần các tội phạm) hay các cuốn Bình luận BLHS đều nêu ra khái niệm về các tội xâm phạm sức khỏe ở các mức độ khác nhau

Hai là, hầu hết các tác giả đều tiếp cận khái niệm các tội xâm phạm sức

khỏe dựa trên các dấu hiệu chung của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 8

BLHS Theo đó, các dấu hiệu của tội phạm xâm phạm được nêu ra là: a) Dấu hiệu hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; b) Dấu hiệu lỗi (cố ý hoặc

vô ý); c) Dấu hiệu khách thể bị xâm phạm (quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người)

Ba là, các tác giả có xu hướng xây dựng khái niệm các tội xâm phạm

sức khỏe con người theo phương pháp lược bớt, thu gọn dấu hiệu Đa phần các tác giả không đề cập đến dấu hiệu đặc điểm chủ ứiể (độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự) và dấu hiệu tính trái pháp LHS (quy định tại Chương XII của BLHS)

Từ sự phân tích nêu trên, tham khảo quan điểm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã công bố, có thể rút ra khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con người như sau:

Trang 33

Các tội xám phạm sức khóe của người khác là những hành vi nguy

hiêm cho xã hội, được quy định trong LHS, do người có năng lực trách nhiệm

hĩnh sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ỷ hoặc vô

ỷ, xâm phạm quyền được báo vệ về sức khỏe của con người được Hiến pháp

vù pháp luật ghi nhận, bảo vệ và việc xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo

vệ về sức khỏe của con người phản ánh đầy đu nhất bản chất của loại tội

phạm này.

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, "'đặc điểm" được hiểu là “những

nét riêng biệt” [43, tr.215] Đặc điểm của một sự vật, hiện tượng là những nét

riêng biệt của sự vật, hiện tượng đó để phân biệt với sự vật, hiện tượng khác

Theo cách tiếp cận này, đặc điểm của các tội phạm xâm phạm sức khỏe con

người là những nét riêng của nhóm tội phạm này có ỷ nghĩa vừa phản ánh bản

chất của nhóm tội, vừa phân biệt nhóm tội thuộc đối tượng nghiên cứu với các

tội phạm khác có liên quan, chẳng hạn như các tội xâm phạm tính mạng con

người hay các tội xâm phạm sử hữu (ở một vài tội phạm cụ thể mà trong đó

có hành vi xâm hại có thể đồng thời xâm hại đến sức khỏe người khác như tội

cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiến đoạt tài sản )

Với tư cách là một hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực, các tội xâm

phạm sức khỏe của người khác như các hiện tượng xã hội khác, có rất nhiều

các đặc điểm khác nhau Mỗi một góc độ nghiên cứu, tiếp cận lại có thể rút ra

những đặc điểm riêng của nhóm tội phạm này Do vậy, để giới hạn lại vấn đề

nghiên cứu, tác giả luận văn chỉ nêu lên những đặc điểm cơ bản của các tội

phạm xâm phạm sức khỏe từ góc độ pháp lý, dựa trên nền tảng lý luận về các

dấu hiệu của tội phạm nói chung

Như vậy, xuất phát từ khái niệm các tội xâm phạm sức khỏe của con

Trang 34

người đã đề cập trong mục trước cũng như căn cứ vào quy định của pháp

LHS Việt Nam hiện hành, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của các tội

phạm này như sau;

* Các tội xám phạm sức khỏe cua người khác là những hành vỉ nguy hiêm cho xã hội.

Khoa học LHS Việt Nam cho rằng: mọi tội phạm nói chung, trong đó

có các tội xâm phạm sức khỏe con người phải là hành vi của con người

Những gì mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì không thể là tội phạm Chỉ qua hành vi của mình,

con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã

hội và những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người cũng chỉ

có thể được xác định qua chính những biểu hiện bên ngoài mà trước

hết là qua chính hành vi của họ [18, tr.50]

Việc xác định tội phạm xâm phạm sức khỏe của con người phải là hành

vi do con người thực hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng Theo đó, nguyên tắc

''hành v r trong LHS được xác lập và phản ánh vào trong thực tiễn phòng ngừa,

đấu tranh chổng tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác Với nguyên tắc

"‘hành v f\ Nhà nước ta nhấn mạnh đối tượng đấu tranh bằng pháp LHS của

Nhà nước không phải là các tư tưởng, ý nghĩ, ý đồ phạm tội Những tư tưởng, ý

nghĩ, ý đồ này tuy là lệch lạc song đó không phải là đối tượng đấu tranh, xử lý

của LHS mà là đối tượng hướng đến để giải quyết của các giải pháp về tuyên

truyền, giáo dục, cảm hóa hay các giải pháp về kinh tế - xã hội nói chung

Các tội xâm phạm sức khỏe con người không phải là hành vi của con

người chung chung Hành vi là một trong những hình thức biểu hiện sự tồn tại

của con người trong thế giới khách quan Hành vi của con người không thể và

chưa thể là tội phạm nếu nó chưa mang tính chất nguy hiểm cho xã hội dưới

những dạng nhất định Do đó, các tội xâm phạm sức khỏe con người phải là

những hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 35

Một hành vi được coi là nguy hiểm cho xã hội nói chung, theo lý luận

LHS Việt Nam, phải có nhừng đặc tính sau đây:

Một là, hành vi đó phải thực sự gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây

thiệt hại cho một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thế được LHS bảo vệ

Hai là, mức độ gây thiệt hại clio các quan hệ xã hội được LHS nêu trên

phải ‘‘'đáng k ề \ Theo quy định của khoản 4 Điều 8 BLHS hiện hành thì: những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác

Ba là, phải không thuộc một trong các trường hợp được loại trừ TNHS

Như vậy, cơ sở để xác định một hành vi có phải là tội phạm xâm phạm sức khỏe con người hay không chính là việc trong bản thân hành vi đó có chứa đựng tính chất nguy hiểm cho xã hội hay không Tính nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sức khỏe ở đây thể hiện qua việc hành vi phạm tội

đã thực hiện gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác, hoặc dưới dạng thương tích nhất định ở bên ngoài cơ thể của nạn nhân, hoặc dưới dạng các tổn thương bên trong cơ thể của họ

về lý thuyết, hành vi khách quan trong nhóm tội xâm phạm sức khỏe của người khác có thể được thực hiện theo cả hai hình thức là hành động

phạm tội và không hành động phạm tội Hành động phạm tội là “hình thức

của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm Không hành động phạm tội là "hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thê của tội phạm qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm ” [18, tr.105] Tuy nhiên, thực tế thì đa phần tội phạm xâm phạm

Trang 36

sức khỏe người khác đều được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội bởi đặc điểm hình sự của nhóm tội phạm này thường được thể hiện qua các

dạng hạo lực Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác phổ biến là những

hành vi nguy hiểm cho xã hội mang tính bạo lực, khó kiềm chế

Không phải mọi hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác đều là tội phạm xâm phạm sức khỏe của con người Những hành vi xâm phạm sức khỏe người khác chỉ cấu thành tội phạm xâm phạm sức khỏe con người khi có mức

độ nguy hiểm cho xã hội đạt ngưỡng "‘'đáng k ề \ Mức độ nguy hiểm "'đảng kề'

của hành vi phạm tội xâm phạm súc khỏe của người khác được xác định dựa trên cơ sở nhiều tình tiết cụ thể khác nhau Đó là những tình tiết liên quan đến đối tượng xâm hại, đến tính chất có tổ chức hay không có tổ chức và đặc biệt

là liên quan đến tỷ lệ thương tật mà người có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác gây ra cho nạn nhân

Liên quan đến dấu hiệu hành vi khách quan trong các tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác, cũng cần phân biệt giữa các trường hợp phạm tội xâm phạm sức khỏe người khác với trường hợp phòng vệ chính đáng Theo quy định của Điều 15 BLHS, PLHS Việt Nam cho phép mọi người được quyền chống trả lại hành vi tấn công bất hợp pháp của người khác đang xâm phạm sức khỏe của mình hoặc của những người khác Hành vi chống trả trong phòng

vệ chính đáng có thể gây ra những thiệt hại nhất định cho người có hành vi tấn công trái pháp luật Việc gây thiệt hại cho sức khỏe của kẻ tấn công trái pháp luật trong trường hợp này là hoàn toàn hợp pháp Điều 15 BLHS hiện hành quy

định rõ: "'Phòng vệ chính đảng không phải là tội phạnỉ\ Những trưòng hợp

gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác mà không thuộc phạm vi của phòng

vệ chính đáng hoặc không thỏa mãn các điều kiện của phòng vệ chính đáng, chẳng hạn như phòng vệ quá sớm, phòng vệ quá muộn, phòng vệ tưởng tượng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đều có thể bị coi là tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác trên những cơ sở chung

Trang 37

* Các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định ừ-ong BLHS

Khoản 1 Điều 8 BLHS đã quy định rõ: ‘Tộ/ phạm là hành vi nguy hiểm

cho xã hội, được quy định trong BLHS-.y Do đó, như mọi tội phạm khác, các

tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định trong BLHS Phần chung BLHS quy định dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm Phần các tội phạm BLHS quy định dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sức khỏe con người Trước đây, trong BLHS năm 1985, các tội xâm phạm sức khỏe con người được quy định trong Chương 2 Phần các tội phạm BLHS năm

1985 Hiện nay, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác được quy định từ Điều 104 đến Điều 110 BLHS năm 1999

Như vậy, việc Nhà nước ta xác định các tội phạm xâm phạm sức khỏe của con người phải là những hành vi đã được quy định trong BLHS xâm hại tới khách thể được LHS bảo vệ, đó là quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trên nhiều phương diện khác nhau Tnrớc hét, việc quy định này bảo đảm cơ sở pháp lý để các ca quan nhà nưóc

có thẩm quyền tiến hành cuộc đấu tranh với các tội phạm xâm phạm sức khỏe người khác có căn cứ pháp luật, trong giới hạn và trên cơ sở pháp luật, chống mọi hành vi tùy tiện trong việc xử lý người phạm tội, bảo đảm sự thống nhất trong quá trình triển khai các biện pháp đấu tranh, qua đó pháp chế xã hội chủ nghĩa được tăng cường

Mặt khác, việc thống nhất ghi nhận các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong BLHS cũng góp phần khẳng định các cam kết quốc tế của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng thế giới về việc quyết tâm thực hiện các nghĩa vụ quốc gia khi tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, nhất

là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên Hợp quốc trên cả hai phương diện chủ thể: nạn nhân của hành vi xâm phạm sức khỏe con người và người đã gây ra hành vi phạm tội đó Đối với phía nạn

Trang 38

nhân, các quy định về tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác trong

BLHS là cơ sở pháp lý bảo đảm rằng Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ sử

dụng một công cụ pháp lý mạnh là LHS để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm

về thân thể, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, về phía người

phạm tội, quy định của BLHS đặt ra giới hạn pháp lý của sự trừng phạt, bảo

đảm các quyền chính đáng của người phạm tội trong mối quan hệ với Nhà

nước Trong giới hạn này, Nhà nước bảo đảm rằng chỉ trừng phạt người có

hành vi xâm phạm sức khỏe người khác trong phạm vi chế tài của các điều

luật quy định, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào mức độ cụ

thể của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác

có lỗi (cố ỷ hoặc vô ý) của người phạm tội.

Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam hiện nay cho ràng;

ĩ.ỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện

dưới dạng cố ý hoặc vô ý Ngưòd bị coi là có lỗi khi người đó ứiực

hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự

tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết

định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội [18, ừ.55]

Mọi tội phạm đều phải là những hành vi có lồi Các tội xâm phạm sức

khỏe con người, theo nguyên tắc chung là những hành vi được thực hiện với

một trong hai hình thức lỗi là cố ý hoặc lồi vô ý

Đối với trường hợp lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của

mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, thấy

trước được hậu quả của hành vi đó (chắc chắn sẽ gây thương tích, gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác hoặc có thể sẽ gây ra hậu quả đó) mà vẫn mong

Trang 39

muốn gây ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Điều này có nghĩa rằng, đối với nhóm tội phạm xâm phạm sức khỏe của người khác, nếu được thực hiện dưới hình thức lồi cố ý thì có thể thuộc về một trong hai dạng của

cố ý là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Trong một số trường hợp đặc biệt, do người phạm tội không lường hết mọi hậu quả phát sinh thì có thể xuất hiện hồn hợp lỗi Đây là trường hợp cố ý với hành vi xâm phạm sức khỏe người khác và vô ý với hậu quả chết người đã xảy ra mà một số tài liệu giáo trình

LHS Việt Nam đã đề cập [ 18, tr 150]

Đối với trường hợp lỗi vô ý, người phạm tội xâm phạm sức khỏe người khác không nhận thức được hành vi của mình có thể gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (lồi vô ý vì cẩu thả) Có trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi mà

họ thực hiện có thể sẽ gây ra thiệt hại cho sức khỏe của người khác, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (vô ý vì quá tvr tin) Nhìn chung, trưòng hợp phạm tội xâm phạm 5?ức khỏe người khác vái lỗi vô ý có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với trường hợp phạm tội

do cố ý; do đó, mức chế tài được quy định cho các tội vô ý thường thấp hơn

so với các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác

Việc khẳng định lỗi (cố ý hoặc vô ý) của các tội xâm phạm sức khỏe của người khác như một đặc điểm cơ bản của nhóm tội phạm này ỉà sự khẳng định chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các tội xâm phạm sức khỏe con người Chính sách

đó là ‘''không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là quy trách nhiệm

hình sự cho người chỉ căn cứ vào việc người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của hộ" [18, tr.55] Dấu hiệu lỗi của

người phạm các tội xâm phạm sức khỏe con người nói lên thái độ tâm lý chủ quan của họ Chỉ đối với những người có lồi, việc áp dụng hình phạt và các

Trang 40

chế tài hình sự khác mới thực sự có ý nghĩa trừng trị, giáo dục và cải tạo, làm

cho họ có ý thức và trách nhiệm hơn đổi với sức khỏe của người khác trước

khi thực hiện một xử sự cụ thể nào đó

trách nhiệm hình sự và đủ tuôi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện.

Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện để một người có lỗi khi thực

hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong khoa học pháp lý hình sự Việt

Nam, năng lực trách nhiệm hình sự được hiêu thống nhất là khả năng của một

người nhận thức cũng như khả năng điều khiển được hành vi của mình khi

tham gia các quan hệ xã hội BLHS Việt Nam không quy định khái niệm “có

năng lực trách nhiệm hình sự” mà quy định ‘"''tĩnh trạng không cỏ năng lực

trách nhiệm hình sự' với hàm ý rằng: một người bình thường, nếu không ở

trong tình trạng không có năng lực TNHS sẽ đương nhiên được coi là có năng

lực trách nhiệm hình sự

Ngiròri phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác phải là người

có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do

luật định Độ tuổi do luật định đối với người phạm các tội xâm phạm sức

khỏe con người được xác định dựa trên cơ sở quy định của Điều 12 BLHS

tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [26, Điều 12]

Như vậy, tùy thuộc vào từng tội phạm xâm phạm sức khỏe con người

cụ thể cũng như mức cao nhất của khung hình phạt mà BLHS quy định cho

mỗi tội phạm đó, độ tuổi chịu TNHS được quy định khác nhau Có trường

Ngày đăng: 01/10/2020, 09:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm