Số lượng luận vãn và các công trình, đề tài nghiên cứu VC vấn đề này còn rất hiếm: Tình hình ngoài nước: Vì đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc một Irong những lình vực còn rấ t m ới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐỨC LÂM
PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỆT NAM VỂ HÀNG HOÁ XưẤT
NHẬP KHẨU TRONG TẾN TOÌNH m ự c THI
C H U Y Ê N N G À N H : LU Ậ T K IN H TẾ
M Ã SỐ : 50515
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NCỈUỜI HƯỚN(; DẨN KHOA HỌC: TS LUẬT IIỌC NGUVỄN a n h s ơ n
Hà nội • 2003
Trang 2LỜỈ c 人MƠN!
LỜ丨MỞ ĐẦU 5
1 Tính cáp thiết của Luận văn 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứ u 9
5 Kết cấu của Luận văn 9
Chương 1: cơ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC HÌNH THÀNH QUAN HỆ THUƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 1.1 Khái lược quá trình hình thành và phát triển Quan hệ thương mại Việt Nam • Hoa K ỳ 10
ỉ 1.1 Quá trình hỉnh thành quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 10
1.1.2 Tình hình thương mại Việt Nam • Hoa Kỳ từ 1995 đến nay 11
1.2 M ột số Quy định pháp lý về thương mại hàng hoá giữa Việt Nam • Hoa K ỳ 14
1.2.1 Pháp luật quốc tế 14
1.2.2 Pháp luật quốc gia : 18
Chương 2: PH人p LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM vê HÀNG HOÁ XUẨT NHẬP KHAU tr o n g tiê n tr ìn h THỤt THI ÍIIỆP ĐỊNH TỈIUƠNG MẠI VỈỆT NAM - ĨỈOA KỲ 2.1 Pháp luật hải quan về hàng hoá xuất nhập khẩu 22
2.1.1 Quy định của Pháp Luật H ải quan Việt Nam về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu 22
2.1.2 Thực trạng hoạt động cửa hải quan Việt Nam 24
2.2 Pháp luật hải quan về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và phân loụỉ hànịị hoá xuất khẩu, nhập khẩu 34
Trang 32.2.1 Về biêu thuế xuất nhập khẩu 342.2.2 Vé xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhậpkhẩu 372.2.3 Vê phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu 392.2.4 Vé áp dụng các tiêu chuẩn đối với hàng hoá xuất khẩu, nhậpkhẩu 422.3 Pháp luật về thủ tục hải quan Việt Nam và xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan 442.3.1 Về thủ tục hải quan 442.3.2 Vế Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan 462.4 M ột số tác động của H Đ TM VN -H K đối với pháp luật Hải quan ViệtNam về hàng hoá xuất nhập khẩu trong tiến trình thực thi Hiệp định 482.4.1 M ột số tác động có đnh hưởng chung đối với pháp luật H ải quanViệt Nam vê' hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu 482.4.2 M ột số quy định có ảnh hưởng đến thủ tục hải quan đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hoá trong pháp luật H ải quan Việt Nam 542.4.3 M ột số tác động của các quy định vê tiêu chuẩn phân loại hànghoá trong IỈĐ TM V N -H K đôi với các quy định vê phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong pháp luật H ải quan Việt Nam 592.4.4.M ột sô quy định vê' việc áp dụng hệ thống định giá H ải quan dựatrên giá trị giao dịch của hàng nhập khẩu 612.4.5 Một sô tác dộng của các biện pháp phi quan thuê đối vói hànghoá xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 732.4.6 M ột số ngoại lệ về rào cẩn thương mại phi thuế quan trongÌID T M V N -IỈK : …: : 80
Chương 3:
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM VỀ
HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU trong tiến tr ìn h THựC t h i HĐTMVN-HK
3.1 Hoàn thiện pháp luật hải quan việt nam về xuất nhập khẩu hàng hoá • 843J.1 Hoàn thiện Biểu thuế xuất nhập khẩu .84
Trang 43.1.2 Iloàn thiện pháp luật vê phân tích, phân loại hàng hoá xuất
nhập khâu 85
3.1.3 Hoàn thiện các quy định vé thủ tục H ải quan Việt Nam trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên g iớ i 86
3.1.4 Rà soát, điéu chỉnh, thay đổi các biện pháp bảo hộ sản xuất nội địa thông qua các hàng rào phi thuế q u a n 87
3.1.5 Sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực H ải quan Việt Nam đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu 87
3.2 Chương trình Hiện đại hoá Hải quan 89
3.2.1 Sự cần thiết và mục tiêu Hiện đại hoá H ải quan 89
3.2.2 Hiện đại hoá nghiệp vụ hdi quan 90
3.3 Công tác tổ chức và tạo nguồn nhân lực 93
3.3.1 Nâng cao năng lực trinh độ cửa đội ngũ cán bộ công chức 93
3.3.2 Công tác tổ chức, phân công công tác hợp lý trong việc sử dụng đội ngũ cán bộ cửa ngành H ải quan để thực th i nhiệm vụ 94
KẾT LUẬN 96
Trang 5LỜI CẢM ƠN!
rác ị>iử xin /1}>Ỏ lờ i cảm (m tớ i lấ l cả các bạn bở và đồìiỊỉ, tìịỉhiệp đã ủììịị hộ
vù Ị>inp dỡ cho việc hoàn lliủnh d ề lủi Luận vãn tối tigìiiệp iiùy 'ỉ'rước liê/1, tôi
xin cảm ơn Lãnh dạo Tổng cục IId i quan, Khoa Lìiậí irường Đ ại học Quốc gia
Hà nội dữ hưởtiỊị Jan lạo mọi điều kiện chơ lô i tiyltiên cứìi, hoàn i/tành luận văn ỉố! ìiịịhiệp này Sự dậỉiịỊ viên, giúp đỡ của Lãnh đạo Thanh tra 'ỉ ổỉiỊỊ cục
H ải quan C Ũ ỈIỊỊ là một động lực to lớn Ịịiúp tô i nhanh chóng hoàn thành đề tài Lỉtận vâtì ilìeo đúììịị liến độ đê ra
Cho phép lô i dược Ịịỉri lờ i cảm ơn trân trọng tớ i Tiến s ĩ Luật học N ịịĩiyễìi Anh Sơn - Vụ Pháp chê Tổìì^ cục H ải quan dã có nhữìig định hướng, ý kiến liế l sức (ịuý bán líố i cho việc n^líiên nCỉt đề là i Luận vãn này sẽ không thực hiện được tiến iliiế u ìihữĩìỊị địnlỉ hưứ"g có tíĩììi châi gợi mở vầ tĩhữỉĩỊỊ ỷ kiến của Tiến sĩ
C ìiòi áì/ig, lô i xin cảm ơn cức cán bộ của Bộ Thương mụi, Bộ Tư pháp, Phỏnỉi H i ương m ại và Công nghiệp Việi Nam đă lạo điều kiện và giúp đỡ lô iiro/ì}Ị việc tiếp cận các là i liệu và lliô ỉig liu hết sức có giá trị liên quan đếìi
phạm vi ìỉịịhiêìi CÚ11 của luận văn tôĩ nghiệp.
Trang 6Trong những năm gần đây, một số khái niệm như “ toàn cầu hoá” ,“ hội nhạp kinh tế thế giới” ,“ Tổ chức Thương mại thế giới” ,đã trở nên quen thuộc trong đời sống kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội của nước ta Đặc biệt, từ khi Hiọp định Thương mại song phương Viẽt Nam - Hoa K ỳ (H Đ TM V N -H K ) được
ký kốl thì “ cơ hội và thách Ihức” không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà
đã trở thành sự kiện thực tế quan trọng đòi hỏi những “ Chương trình hành dộng” của Chính phủ, của các Bộ, ngành theo một tiến trình hội nhập được thoả lhuân(l) Trong liến trình hội nhập đó, tuy H Đ T M V N -H K không phải là mốc đầu liên nhưng là một mốc quan trọng mang tính đột phá mà V iệt Nam đã đạt được
H Đ T M V N -H K chủ yếu là nhằm vào quan hệ thương mại song phương Việl Nam - Hoa Kỳ Nhưng trong Hiệp định này lại có rất nhiều các quy định viện dẫn tới các Hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đòi hỏi Việt Nam ngay từ bây giờ đã phải tuân thủ và thực thi một số nguyên tắc của tổ chức này (mặc dù cho tới nay Việt Nam vẫn chưa phải là thành viên của WTO) Cùng với đó là một số quy định buộc Việt Nam phải tham gia và thực thi một số Điều ước quốc tế khác Nội dung Hiệp định này và các điều khoản viện đẫn cùa
nó dã lạo ra một sự thay đổi lớn trong hệ thống pháp luật Việt Nam trôn nhiều lình vực quan trọng
Để chuẩn bị lốt cho việc thực hiện H Đ TM V N -H K , ờ Việt Nam đã có nhiều cư quan, lổ chức, nhất là các Bộ, Ngành ở Trung ương đã và đang quan tâm, đối chiếu với tinh thần và nội đung của Hiệp định để sắp xếp, phân loại hệ thổng các văn bản pháp luậl nhằm bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện và phù hựp với các thoả thuận mà nước ta đã cam kết Bộ Tư pháp đã tổng hợp đợi dílu xác định được 148 văn bản liôn quan cần phải bổ sung, sửa đổi, trong đó có
26 Luật, 19 Pháp lộnh, 01 Quyết định của Chủ tịch nước, 54 Nghị định của Chính phủ, 08 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Theo thông báo của Bộ Tư pháp Việt Nam thì hiện có 500 văn bản của các địa phương phải bãi bỏ hoặc chỉnh sỉra(2) Trong hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng này, phap luật Hải quan không phải là mót ngoại lô
1 Tính cấp thiết của Luận văn
Việc đánh giá, xem xét các khía cạnh tác động của H Đ TM V N -H K đến
hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và các quy định pháp luật về Hải quan nói liỏng đang là inộl vấn đồ được quan lâm sâu sắc Trôn thực tế, quan hộ flm(mg mại giữa Viôl Nam và Hoa Kỳ đirực liến hành qua hiôn giới, cho I1ÛI1, trong quá trình Ihực hiện, chúng chịu sự điều chỉnh của pháp luậl Hải quan của
cả hai nước Đối với Hoa Kỳ, mức độ ảnh hưởng của Hiệp định đối với pháp luậl Hải quan không lớn vì Hoa Kỳ đã tuân thủ hầu hết các nguyên lắc và quy định của W TO; Hoa K ỳ là một siêu cường, có nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ chế Ihị Irường hàng trăm năm nay với hộ thống pháp luật đã khá hoàn
Trang 7chỉnh và tương ứng với các chuẩn mực quốc tế Còn Việt Nam, là một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp đang trong quá Irình chuyển đổi sang
cơ chế thị trường với hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và mang nặng sự ảnh hưỏng của cư chế quản lý lập trung quan liêu Mặc dù đã là Ihành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) nhưng hiện nay Việt Nam vẫn còn nhiều quy định chưa tương ứng với các chuẩn mực quốc tế Do vây, đd Ihực hiện các cam kct trong H Đ TM V N -H K , Việt Nam cần phải cơ cấu lại hệ ihống pháp luât nói chung va pháp luật Hải quan nói riêng Tuy nhiên, cổng việc này vẫn đang trong quá trình triển khai Số lượng luận vãn và các công trình, đề tài nghiên
cứu VC vấn đề này còn rất hiếm:
Tình hình ngoài nước: Vì đối tượng nghiên cứu của luận văn thuộc một Irong những lình vực còn rấ t m ới và đặc thù (liên quan lới pháp luật Hải quan Việt Nam) cho nên, tới thời điểm hiện tại chưa thấy luân văn, cồng trình nào được thực hiện ngoài nước có liên quan tới pháp luật Hải quan Việt Nam về xuất nhập khẩu hàng hoá trong tiến trình thực thi H Đ TM V N -H K
'ỉ'ình hình írong nước: H Đ TM V N -H K là một văn bản pháp lý quan trọng đối với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong cộng đồng Ihế giới Văn bản này có ảnh hưởng lâu dài và tới rất nhiều lình vực khác nhau của đòi sống xã hội, đặc biệl là lới nền kinh lố quốc gia Do đỏ, ngay lừ khi còn đang trong quá trình đàm phán, HiÇp định này đã được nhỉểu lầng lớp nhân dân của cả hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ quan tâm sâu sắc Từ khi được ký kết lới nay, đã có rất nhiều các bài báo, có một số cuốn sách, nhiều tham luân tại các hội nghị có đề cập tới Hiệp định này Các công trình nghiên cứu có liên quan chủ yếu là đề cập tới hai khía cạnh kinh tế và pháp lý của bản Hiệp định Đặc hiệt, hiện nay mới chỉ có một số bài nghiên cứu và đề cập rnộl cách chung và khái quát về một số ảnh hưởng đối với pháp luật Hải quan Việt Nam trong việc thực thi H Đ T M V N -H K 0) Tuy nhiên, hỉôn nay chưa Ihấy có mộl luận văn, công uình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về Pháp Luât Hải quan Việt Nam
về hàng hoá xuất nhập khẩu trong tiến trình thực thi H Đ TM V N -H K bo đỏ, việc tiến hành một luân văn nghiên cứu về vấn đề này đang trử thành một yêu cầu cấp bách nhằm gop phần lim hiổu sAu thôm vé mọt vấn đề quan trọng mới hình Ihành trong đ ở ĩ sống kinh lế đaì nước Đồng ihời, đưa ra các kiến nghị, giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiộn các quy định pháp luật Hải quan Việt Nam
VC lìàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, tăng cường sự quản lý Nhà nước về Hải quan
2 Đối lifting và phạm vi nghiên cứu của luận Vỉìn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số quy định, tác động của
H Đ TM VN -H K đối với pháp luật Hải quan Việt Nam về hàng hoá xuất nhập khẩu trong liến trình thực thi Hiệp định
Phạm vi nghiên cứu: Do đây là một vấn đề lớn và phức lạp nôn trong khuôn khổ nghiên cứu của luân văn, tác giả tập trung vào làm rõ mức độ ảnhXcm them TS Nguyen Anh Sơn và TS Lc Thị Thu Thuỷ, ''Plìáp luật ỉ ỉải quan Việt Nam và việc íhựr Ị hi
H iệp dịnh Thương mại Việt Nam - ỉ ì oa K ỵ \ Tạp chí Nghiôn cứu I -ập pháp, số 6/2002, trang 60 — 65.
Trang 8hưởng của H Đ TM V N -H K đối với pháp luật hải quan Việl Nam về hàng hoá xuất nhẠp kháu trong liến trình thực thi H Đ TM VN -H K.
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Tì m hiổu mộl số quy định về hàng hoá xuất nhập khẩu Irong
H Đ T M V N -H K có liôn quan tới pháp luật Hải quan Việt Nam
- Nêu ia các lác động (lích cực và liêu cực) của một số quy định về hàng hoá xuất nhập khẩu trong H Đ T M V h -H K đối với Hải quan Việt Nam trong tiến trình thực thi Hiệp định
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Hải quan Viột Nam về hàng hoá xuất nhập khẩu
4 Phương pháp nghiên cứu luận văn
LuẠn văn được nghiên cứu liên phương pháp luện của chủ nghTa Mác -
Lê nin về duy vật hiện chứng và duy vậl lịch sử, lư tưỏng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước la về đường lối phát triển kinh tế là kim chỉ nam cho phương pháp nghiên cứu
Nội dung luân văn được tiếp cận trên cơ sở các quy định trong các văn bản hiện hành như: Các văn hản pháịì luât của Viôt Nain, H Đ TM V N -H K , quy chố đãi ngộ Tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia của Hoa Kỳ đối với mộl số quốc gia (áp dụng đối vổi cả Việt Nam trong viôc tlìực hiện H Đ TM VN -H K), đổ thực hiện mục liêu nghiên cứu đã đc ra
Các phương pháp được sử dụng mộl cách tổng hợp đổ đat đirợc các mục liêu đồ ra đối với luân văn trong đó đóng vai trò chủ đạo là hai phương pháp Phân tích quy phạm và Phân tích - Tổng hợp, trong đó có sự sử dụng phối hợp với các phương pháp khác như Thû'ng kê, So sánh,
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đẩu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội (Jung của luận văn được kết cấu tliành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở PHÁP LÝ CHO VIỆC HÌNH THÀNH QUAN HỆ THƯƠNG
MẠ丨VIỆT NAM - HOA KỲ
Chương 2: PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM VỀ HÀNG HOÁ XUÂT
KIIẨU, NHẬP KIIẨU TRONG tĨẾN TRÌNII T IIỊl' Till IIIỆP DỊNII TỈIUDNG m ạ i v iệ t nam - HOA KỲ
Chươllg 3: MỘT số KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HẢ丨 QUAN VIỆT NAM VỀ HÀNG HOÁ XUẨT NHẠP KHAU TRONG TIÊN TRÌNH THỤC THI HIỆP ĐỊNH THUÜNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
Ngoài ra, tron g luân văn còn có các bảng hiểu, sơ dồ minh hoạ cho từng nội dung nghicn cứu cụ thể để làm rõ hơn về vấn đề được đề cập
Trang 9Chương 1:
C ơ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC HÌNH THÀNH QUAN HỆ THƯƠNG M Ạ I V IỆ r NAM • HOA KỲ
1.1 KHÁI LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRlỂN q u a n
HỆ THUƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
1.1.1 Quá trình hình thành quail hệ thương mại Việt Nain Hoa Kỳ
Trưức năm 1975, Hoa Kỳ có quan hệ Ihương mại với Việt Nam chủ yếu
là trên phần lãnh thổ phía Nam do chính quyền Sài Gòn quản lý Kim ngạch buôn bán hàng năm không lớn, hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng viện trợ của Hoa K ỳ để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam, các hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ yếu là các mặt hàng cao su, gỗ, hải sản, đồ gốm,
Tháng 5-1964, áp dụng Đạo luâl buồn bán với kẻ thù, Hoa K ỳ cấm vận chống miền Bắc Việt Nam và sau tháng 4-1975 Ihì mử rộng cấm vận đối với loàn bộ lãnh lliổ Viộl Nam trôn lâì cả mọi lĩnh vực thương mại, tài chính, lín dụng ngân hàng và tài sản Hoa Kỳ cũng áp dụng chế tài khống chế các nước đồng minh và các tổ chức quốc tế mà Hoa Kỳ cỏ vai trò chủ chốt trong mọi ljuan hệ kinh tế với V iộl Nam Tuy nhiên, thông qua nhiều con đường klìác nhau, Việt Nam vẫn có quan hệ kinh íế và viện trợ phát triển với nhiều nước và nhiều tổ chức kinh tế, tổ chức phi chính phủ Nhiều doanh nghiệp của Hoa Kỳ cũng đã có hàng xuấl khẩu vào Ihị trường Việl Nam thông qua con đường gián tiếp Năm 1987, hàng của Hoa Kỳ nhập vào Việt Nam trị giá 23 triệu USD, năm I9K8 là 15 triçu và nam 1989 là 11 n iệu USDW-
Trong giai đoạn 1988 - 1993, tnặc dù khi đó vÃn còn lộnli cấm vân, nhưng nhiều doanli nghiôp Hoa Kỳ đã thông qua các chi nhánh hoăc liên doanh đăng ký tại các quốc gia khác đã có 6 dự án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với
số vốn đăng ký khoảng 3,3 Iriộu USD Từ tháng 4 -1992, Hoa K ỳ bắt đầu ihực hiện chính sách mềm dẻo trong quan hệ với Việt Nam hằng việc hưứng tới bãi
bỏ lệnh cấm vân Iheo một lộ trình nhất định do hai hôn thoả (huân M ở đẩu cho các chính sách này là viỌc đồng ý xuất khẩu sang Việt Nam các hàng hoá đáp ứng nhu cfiu lieu dùng, phục vụ dứi sống của COI1 người Tiếp đó clio phép các doanh nghiệp Hoa Kỳ được tĩiở các văn phòng đại diện, tiến hành nghiên cứu kliii llii, clio phép tham gia đnìi (liỉỉu các công (rình ở Viọt Níitn, hì»n hìmh (ịiiy định về cấp giấy phcp buôn bán vứi Viôl Nam
Tliáng 7-1993, Moa Kỳ tuyên hố không can Uiiệp viỌc các lổ chức l.'ii cliính quốc (ế như Quỹ Tiền lệ Quốc te (IM F), NgAn hàng thế giới (WB) và NgAn hàng Phát Iriổn Châu Á (ADB) nối lại quan hệ với Việt Nam Tháng 10 -
1993, quan hệ giữa Việt Nam và các tổ chức tài chính quốc lế được nối lại Tới lluíng 11 thì Hội nghị quốc tế về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam được tổ
4: rT S , Dinh Vftil Tiẻn • PTS IMiHin Quy én: “ 77", hiển d ề hựỊ) ỉá r và kinh doanh vôi M ỹ\ N X ĩrih ố n g kô, ỉ là
nỏi • 1997, uang 63.
Trang 10chức lại Palis, (hủ đô nư(1fc Pháp, đại diôn của Hoa Kỳ cũng tham dự hội nghị này với lư cách quan sát viên.
Năm 1994 được coi là một năm quan Irọng Irong việc cải thiện C|uan họ thương mại giữa hai hên được đánh dấu hằng việc Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton luycn hố hãi bỏ dạo luật cấm vận với Việl Nam (ngày 03/02/1994), mộl đạo luật được duy Irì trong SUỐI 17 năm mà sự tồn tại của nó chỉ với lý do là Việi Nam bị 1 loa Kỳ coi là kẻ ihù Bãi hủ lônh cấm vận đối vỏi ViÇi Nam là kốl quả của sự phát li iổn nhanh chỏng của nền kinh tế thị tioíừng Viôl Nam trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX; sự mòn hoá trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và những cố gắng của Việt Nam trong việc phối hợp vởi Hoa
Kỳ để giải quyết mộl số vấn đề tồn đọng của chiến tranh xâm lược Việt Nam
Sau l uy ỏ 11 bố của Tổng thống, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã chuyển Viộl Nam lừ nhỏm z (gồm Bắc Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam) lôn nhóm Y ít hạn chế llurơng mại hơn (gồm các nước thuộc Liên x ỏ cũ, các nước thuộc khối Vac- sa-va cũ, Anhani, Mông cổ, Lào, Campuchia)
Bộ Vận lải và Thương mại Hoa Kỳ cũng đã bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy hay Hoa Kỳ vận chuyển hàng hoá sang Việt Nam; các tàu mang cờ Việt Nam được vào cảng Hoa Kỳ nhưng CÒI1 hạn chế, phải xin phép irưỏc 7 ngày và thông báo làu dến uước 3 ngày
Từ sau khi cấm vân bị hãi hỏ, quan hệ thương mại song phương ỉuôn tăng theo từng năm Kim ngạch 2 chiều đạl 225 triệu USD vào năm 1994, đến năm
1995 đạl 450 n iệu và năm 1996 là 935 USD⑶
Tiếp llico đó, ngày 11/7/1995, Tổng lliống Hoa K ỳ đã tuyên hố bìnli lhư<'mg hoá quan hệ với Việt Nam và vào ngày 6/8/1995, tức là gần 1 tháng sau, hai nưỏc đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Sự kiện này mở đầu (hời kỳ hang giao đẩy đủ lrC'11 các lĩnh vực kinh tế, ihưưng mại, vỉín hoá, giữa Việl Nam và Hoa Kỳ Trong đỏ, hợp tác kinh tế và thưưng mại sẽ là Irọng tâm lion g Ijuan hộ giữa liai míớc
1.1.2 lìn h hìiili ỉhươiig mại Việt Nam - Hoa K ỳ từ 1995 đến nay
Sau khi hình thường hoá và thiếl lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có nhiều hước đi nhằm tích cực đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa liai nước Hoa Kỳ là một đối tác kinh tế quan trọng mà Việt Nam không thể không tiếp cận: ngược lại, Viộl Nam cũng là mội thị Irơừng mà Hoa Kỳ không
bỏ lỡ cơ hội <JỎ chiêm ưu ihổ íroiig các hoai động kinh lố so vứi các Iiưỏc khác Hai năm sau khi bình thường hoá quan hệ, hai hên đã thoả thuận tẠp trung đẩy mạnh các quan hệ thương mại, dàm phán chuẩn hị để ký kết Hiệp định llur<íng mại
■ r r s Oinh Van liế n • P IS Phạm Qiiycn: ''Tìm hiểu ,1/hợp tác và kinh doanh với M ỹ \ NXB Thổng ke I là nội - I9(>7% irang (>5.
Trang 11M ộl Irở ngại cần nghiên cứu để mở đường cho hoạt động Ihương mại giữa hai nước là hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định về hoạt động thương mại khi đó vẫn còn rất hạn chế, chưa tiếp cận được với pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế phát triển Hầu hết pháp luật thương mại quốc tế đều xuất phát từ nguồn gốc quan trọng là các Điều ước quốc lế về thương mại đa phưcĩng như các Hiệp ước, Hiệp định và hiện nay là các quy tắc thương mại do Tổ chức Thương mại Thế giới (W TO) quy định trong các cuộc đàm phán từ ngày Ihành lâp tổ chức G Arr r năm 1947 Đổ đạt đưực tiếng nói chung trong mội chừng mực nào đó, một Phái đoàn Liên Bộ Hoa Kỳ đã sang ihăm và tìm hiểu pháp luâl ViệL Nam từ iháng 11/1995 Sau khi nghiên cứu, đến tháng 4/1996,Hoa K ỳ đã trao cho Việt Nam bản tóm lược vồ những yếu tố bình thường hoá quan hệ kinh
lố Việt Nam - Hoa Kỳ Việt Nam cũng trao cho Hoa K ỳ một biôn bản chứa đựng 5 nguyên lắc cơ bản bình thường hoá quan hộ kinh tế - thương mại và chương trình đàm phán H Đ T M V N -H K vào tháng 7/1996 Trải qua 11 vòng dàm phán giữa hai phía Việt Nam và Hoa kỳ, đến ngày 13/7/2000, H ĐTM VN-
H K được ký kết tại Washington Đại diện cho phía Việt Nam là Bộ trưởng Vũ Khoan, đại diện cho phía Hoa Kỳ, bà Charlene Barsefsky Tham dự lỗ ký kết cỏ Đại sứ hai nước (Đại sứ Viội nam lại Hoa Kỳ là ông Lô Văn Bàng và Đại sứ Hoa K ỳ tại Việt Nam là ông Peterson), trưởng hai đoàn đàm phán (Ông Trần Đình 匕ương và Ông Joseph Diamond) và nhiều quan chức khác
Trong suốt tiến trình đàm phán và ký kết H Đ TM V N -H K , quan hệ thương mại giữa hai quốc gia không ngừng phát triển, lượng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá (Xem Bảng 1) Trong giai đoạn 1997 — 1999,kim ngạch hai chiểu giữa Việt Nam - Hoa K ỳ bị giảm sút Nguyên nhân chủ yếu là do cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực Đông Nam Ả năm 1997 Hậu quả cuộc khủng hoảng này đối với Việt Nam ngay một lúc không lớn nhưng kéo dài (trong khi các nước trong khu vực chỉ bị ảnh hưởng trong khoảng 16 - 18 tháng dã có thổ khôi phục lại tốc độ tăng Irưởng) và ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động ihưưng mại quốc lố nói chung và với Hoa Kỳ nói riông Nhưng sau năm 1999, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá giữa hai nước đã trỏ lại mức ổn định
và không ngừng gia lăng Nếu như năm 1995, tổng kim ngạch xuất nhập khđu hai chiều là 451,4 Iriệu USD thì tới cuối năm 2001,con số này đã đạt mức 1.513,4 triệu USD,tức là tăng gần gấp 3 lần; đến năm 2002, một năm khi
H Đ T M V N -H K đi vào thực hiện, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đã là con số 2.974,9 Iriộu USD, lức là tăng gấp 6 lẩn năm 1995 và gấp 2 lẩn so với năm 2001
Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế của cả hai nước thì sau khi
H Đ T M V N -H K đi vào thực hiện sẽ làm gia tăng hơn nữa lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Trang 12(Đơn vị tính: Triệu USD)
; F
Ba 廳 24.1 •11.6 39.6 25.6 14.o| 29.0 29.2 -0-20 26.3 28.3 -2.00 19^É 7.7 -18-S 399 60.0 -20.1 31.6 56.5 -24.9 41.10 90.50 -49.40 卜今广 —
觸 10.6 ; 10.7 32.8 29.7 31 25.3 38.0 -12.7 22.9 41.6 -18.7 26.lj[;< ; :23.1 3; 0D 31.7 50.9 •19.2 29.1 82.1 -53.0 39.20 134.00 -94.80 Năm 1L9 7.3 4.60 32.8 26.8 60丨24.1 2S.1 -4.00 19.4 43.0 -23.6 1 :-.22.^i 39.0 -16.7 26.0 59-3 •33.3 ;17,5 78.3 -0.80 45.10 151.60 -106.50
Ghi chú: Những chữ viết tắt trong Bảng: XK-Xuất khẩu; NK ■ Nhập khẩu; cc - Cán cân thương mại
N guồn: Tác giả đề tài Tổng hợp từ các số liệu của Phòng Thống kê - Cục Ngoại Thương Hoa Kỳ (U.S Census
Bureau, Foreign Trade D ivision, Data Dissemination Branch, Washington, D c 20233 )
Trang 131.2 MỘT SỐ ỌƯY ĐỊNH PHÁP LÝ vê THƯƠNG MẠI HÀNG HO人 GIŨA
VIỆT NAM - HOA KỲ
1.2.1, Pliáp luật quốc tế
I.2 Ỉ.I H iệp định thương m ại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
Hiệp định này được ký kết ngày 13/7/2000 và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Mặc dù có lên gọi là Hiệp định về quan hệ thương mại nhưng nội dung của Hiệp định không chỉ liên quan đến lĩnh vực 丁hương mại hàng hoá,
H ương mại dịch vụ mà còn gồm cả hoạt động đầu tư, các Quyền sở hữu trí luộ IìCmi quan đốn Ihưưng mại(7) Thực chất của bản PĨĐ TM V N -IỈK là mộl văn hản pháp lý với những điều khoản làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động thương mại giữa hai quốc gia Hơn nữa, H Đ TM V N -H K còn là văn bản cơ sử cho cho các Hiệp định thương mại song phương sau này mà Việt Nam sẽ tiến hành đàm phán, ký kết với từng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ là thành viên của W TO trong quá trình V iệl Nam gia nhập tổ chức kinh tế này, bởi nội dung cơ bản của bản Hiệp định được cấu thành từ các cơ sở pháp lý của WTO(8) V ì vậy, Việt Nam
đã cam kết 2 nguyên tắc cơ bản sau:
• Đồng ý áp dụng các nguyên lắc, quy định của W TO làm cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
• Cam kết mở cửa thị trường, cụ thể là thị trường hàng hoá, dịch vụ, hoạt động đầu tư Iheo đúng nguyên tắc của WTO
Với những cam kếi đó, các bên tham gia Hiệp định phải Ihực hiộn theo đúng những điều khoản đã được ghi nhận Với Việt Nam, việc thực hiên
H Đ TM V N -H K sẽ là một minh chứng cho cộng đồng thế giới thấy quyết tâm hội nhâp sâu vào nền kinh lế Ihố giới của Việt Nam sau những nỏ lực gia nhập ASEAN, AFFA, APEC; đổng thời, củng cố niềm lin cho các nhà đầu tư nưóc ngoài về mộl môi Irường kinh doanh lành mạnh, minh bạch với hô thống luậl lô
111 ương mại phù hợp với các chuẩn mực của thế giới
Hiệp định Thương mại Việl Nam - Hoa Kỳ gồm 7 chương, 72 điều và kèm Iheo có 9 phụ lục, đổ cập tới hầu hết các vấn đồ về quan hệ thương mại hai nước như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ sở hữu trí tuộ, quan hệ đầu
tư, giải quyếl tranh chấp,
Về hiệu lực của l liỌp định, điổm 1,điổu 8, Chưưng V ll quy địnli: " i iiỌp định này sẽ có hiệu lực vào ngày mà các bên trao đổi, thông báo cho nhau rằng mõi bên đã hoàn íấl các thủ lục pháp lý cần thiết để đưa Hiệp định có hiệu lực
và có hiệu ỉ ực trong thời hạn 3 năm” ,“ Hiệp định này đưực gia hạn tiếp tục 3 năm một nếu một trong hai bên không có ý định chấm dứt Hiệp định” Ngày
7: 1)0 hạn chế vồ phạm vi nghiên cứu nôn đề tài này chỉ tập trung di sâu nghiên cứu về Pháp luật Mải quan Viọt Nam vé hàng hoá xuất khâu, nhập khẩu irong tiốn trình thực thi H Đ TM VN -IIK
R: Khi môi ilìành viCn WTO ỉhiốt lủp quan hộ tlnrưng mại song phương với một quốc gia hoặc lanh lliổ khổng phải là 1 hà nil viôn của WTO, luật lô áp (lụng mà các bôn buộc pỉiải thừa nhân là ỉuẳt lô của WTO.
14
Trang 14H/6/2001, Tổng ihống H()a Kỳ đã chính thức trình Nghị viện Hoa K ỳ xem xét và pliỏ chuẩn Hiệp định, v ề phía Viọt Nam, sáng ngày 23/1 1/2001,Chủ lịch nước IVần Đức Lương đã đọc tờ trình Quốc hội đề nghị phê chuẩn H Đ TM V N -H K
Cơ sở cho các quan hộ thương mại giữa hai hên đưực Ihể hiện xuyên SUỐI hản 1 ỉiổp định là 2 nguyôn lắc cơ bản của hộ thống thương mại đa phương gồm:
• Quy chế “ Tòi huệ quốc” (hay “ Quan hệ thương mại bình thường” - NTR)
• Quy chế ‘‘Đãi ngộ quốc gia”
Cả hai nguyên lắc này đều được áp dụng hầu hết trong các chương của Hiệp định, ngoại trừ các trường hợp ngoại lệ, các trường hợp chưa áp đụng hoặc không áp dụng hai nguyên lắc này đưực liệt kê à các phụ lục kèm theo mỗi chương có chứa các ngoại lệ đó
Phẩn lớn các nội dung về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá giữa Việl Nam và Hoa K ỳ được điổu chỉnh theo các quy định tại Chương I
H Đ TM V N -H K và mộl số các quy định khác nằm rải rác Iron g các Chương và Irong các Phụ lục của Hiệp định Các quy định này tác động tới pháp luật Hải quan của cả hai quốc gia, từ các quy trình liến hành các thủ tục hải quan đối với liàng hoá xuất khẩu, nhập kháu đốn các quy định về chế độ ưu đãi mức Ihuố; các cách thức định giá lính thuế của cơ quan Hải quan hai quốc gia đối với hàng hoá của nhau; cách thức hạn chế các rào cản phi Ihuế quan, Điều đáng lưu ý
là trong Chương I của H Đ TM V N -H K , có nhiều quy phạm thực chất, quy định irực liếp về cỊuyền và nghĩa vụ của cơ quan Hải quan của hai quốc gia nhưng cũng có rất nhiều quy phạm viện dAn, quy định dẫn chiếu lới các văn bản pháp luậl quốc lế khác nhau Do vậy, ảnh hưởng đến pháp luât Hải quan của Việt Nam không chỉ cỏ các nội (Jung thực định trong H Đ TM V N -H K mà còn cỏ các nghía vụ theo các Điều ước quốc tê khác mà nội dung của Hiệp định dãn chiếu lởi (các tác động này đưực phân lích cụ thổ trong các phần sau của luân văn
1.2.1.2 M ột số Đ iều ước quốc tế khác có liên quan
!.2.1.2.1 lliệ p định chung về (huế quan và thương mại ỉ 994 (G A U '1994)
Tix.)ng H Đ T M V N -H K có rấl nhiều điều khoản dẫn chiếu tới các quy định cúa G A IT và CÍÍC phụ lục Hong kluiôn khổ của CiArr r Chỉ I iOng Irong Cliưưiig
1 vồ Tlurtíng mại hàng hoá <Jã cỏ 4 điều khoản dẫn chiếu tới các quy định cil a
G A T I' 1994, cụlhể:
- Tại Khoản 5 Điều 2: “ Ngoài những nghĩa vụ ghi trong khoản 2 và 4 của Điều này phải tuân thủ các ngoại lệ được quy định tại Điều ỈII của
G ATT 1994 và Irong Phụ lục A của Hiệp định này”
- Tại khoản 6 Điều 2 : “ Phù hợp với các quy định của G A IT 1994, các Bên hảo đảm không soạn thảo, ban hành hoặc áp dụng những quy
15
Trang 15định và tiêu chuẩn kỹ thuậl nhằm lạo ra sự trở ngại đối với Ihương mại quốc tố hoặc bảo hộ sản xuấl Irong nưóc,".”
- Tại khoản 2 Điều 3 : “ Các Bên, trừ khi được quy định cụ Ihổ trong Phụ lục 13 và c của Hiệp định này, loại bỏ lấl cả các hạn chế, hạn ngạch, yêu cđu cấp phép và kiểm soát xuất khẩu và nhập khẩu đối với mọi loại hàng hoá và dịch vụ, ngoại trừ những hạn chế, hạn ngạch, yêu cầu cấp phép và kiểm soát được G ATT 1994 cho phép”
- Tại khoản 4 Điều 3 : “ Trong vòng hai (02) năm kổ từ khi Hiệp định này có hiệu lực, các Bên áp dụng hệ thống định giá hải quan dựa trên giá Irị giao dịch của hàng nhập khẩu để lính Ihuế hoặc của hàng hoá tương lự, chứ không dựa vào giá trị của hàng hoá theo nước xuất xứ, hoặc giá Irị đưực xác định một cách võ doán hay kliông có ca sở, với giá Irị giao dịch là giá Ihực lô, đã thanh toán hoặc phải ihanh toán cho hàng hoá khi được bán để xuất khẩu sang nước nhập khẩu phù hợp với những liôu chuẩn được thiết lập Hong Hiệp định vồ viÇc Thi hành Điều V II của G ATT 1994M
G ATT 1994 gồm 16 điều, 4 phụ lục và chùm các Hiệp định liên quan GATT 1994 là kếl quả của một quá trình đàm phán lâu dài giữa các quốc gia thành viên của G ATT 1947 Ngày 30/10/1947, 23 quốc gia tham dự vòng đàm phán Gcneve đã ký vào bản Hiộp định chung về Thuế quan và Thương mại và bản I liệp định này bắt đẩu có hiệu 丨ực kd từ ngày 01/01/1948 Lúc này, nó được coi như một bản thoả thuận tạm thời đổ sẽ được thay Ihế bằng một bản Hiến chương chính thức sau đó Tuy nhicn, G ATT 1947 đã tồn tại tới 47 năm tiếp theo và đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các nguyên tắc hoạt động cơ bản của hệ thống thương mại đa phương quốc tế hiện đại Các quy tắc phắp lý của G ATT 1947 la nền lảng của khuôn khổ pháp lý thànỉi lập WTO
và là “ hành lang pháp lý” cho các hoạt động thương mại xuyên quốc gia GATT
1947 được ihống nhất thay đổi, bổ sung một số nôi dung để ra đời GATT 1994 Cùng VỚI nó là một Điều ước quốc tế làm cơ sở cho sự ra đời của WTO (bắl đầu hoại động từ ngày 01/01/1995)
G ATT 1994 đã dành sự quan tâm đặc biệt hơn cho các nước đang phái triển, đề cao nhu cầu đảm bảo phát triển bền vững bằng việc phát triển kinh tế gắn với gìn giữ môi irường Đồng thời, văn kiện này cũng đề cập nhiều đến những tien đc hỗ Irự cho phai íriổn nền kinh tế của các nước đang phái triển qua những hoạt động kinh tế tạo nhiều giá trị hàng viôc sử dụng tri thức Đặc biệt, qiiíi chùin Hiệp định vổ Ihương mại liTuig lidá đã (hổ hiỌn (]iiyố( lArn và nhn cA'n cải cách cư câu quản lý thương mại quốc tê Việc đối thoại và trao đổi lliông tin giữa các cơ quan quản lý của từng Chính phủ với doanh nghiệp được đề cao trên
cơ sở nâng cao Irách nhiệm của mõi bên Qua đó, hình ihàníi mội khuôn kliổ cồng bằng hơn cho hoại động của cộng đổng doanh nghiệp và khuyến khích quan hộ cộng lác giữa các thành phần kinh tế Cuối cùng, G ATT 1994 và các Hiệp định liên quan đến thương mại hàng h()á đều cùng nhằm khuyên nghị và phấn đấu để Ihuế quan hoá những biện pháp phi quan Ihuế và nâng cao sự minh bạch Irong chính sách thưưng mại
Trang 16G ATT và W TO không đồng nhất với nhau GATT 1994 là một văn bản thiết lập các quy tắc cho thương mại thế giới; còn WTO là một tổ chức quốc tế được thành lập sau đó nhằm trợ giúp cho Hiệp định này Mặt khác, GATT 1994 chỉ hẩu như tâp trung vào thương mại hàng hoá còn W TO và các Hiôp định của
nó lại bao trùm !ên cả thương mại dịch vụ, các phát minh có giá trị thương mại, các phát kiến và thiết kế (tài sản trí tuệ)
V ì Việt Nam đang nỗ lực để trở thành thành viên của W TO nên có lẽ cần phải phân biẹt sâu hơn về mội số điểm khác biệt giữa W TO và GATT WTO là một chế định đã phát triển vượt ra ngoài phạm vi của GATT, chúng có một số điểm khác biệt cơ bản sau:
• WTO và các Hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài (Với tư cách là một lổ chức quốc lế, WTO có nền tảng pháp lý vững chắc vì các thành viên đã thông qua các Hiệp định và chính các Hiốp định đã
mô tả phương íhức hoạt động của tổ chức này) G ATT mang tính lâm thời (G ATT 1947 chưa bao giờ được Quốc hội các nước phê chuẩn và
nó không có một quy định nào về việc thành lập một tổ chức)
• WTO có các nước thành viên, G ATT chỉ có “ các bên tham gia ký kết” Do vậy, chính thức thì GATT chỉ mang tính chất một Hiệp định
• WTO bao gồm cả Thương mại dịch vụ và Quyền sở hữu trí tuệ, GATT chỉ giải quyết các vấn đề của Thương mại hàng hoá
• Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh hơn so với cơ chế của GATT Các phán quyết của W TO không thể bị ngăn cản
1.2.1.2.2 Công ước quốc tê về Hệ thống H ài hoà về M ã và M iêu lả hàng
áp dụng có thổ là 0% hoặc 5% hoặc cao hơn Do vậy, việc đàm phán về cắt giảm thuế quan giữa các quốc gia là sự nhượng bộ lẫn nhau, vấn đề này càng trở nên phức tạp do sự khác biệt trong danh mục hàng hoá Trước đây, nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản và các nước trong Cộng đồng Châu Au (EC), đã sử dụng Danh mục thuế quan Brussels (Brussels T a riff Nomenclature - lîl'N ) cho việc phân loại sản phẩm để làm căn cứ tính thuế Danh mục này đo Hội đồng
17
Trang 17Hợp lác Thuế quan xây dựng ử Brusscls(9) Ngược lại, Hoa K ỳ lại kiên quyết sử dụng hệ thống phân loại của riông mình, có tên là Biểu Thuế quan Hoa Kỳ Cl'ariff Schedules o f United States - TSUS)(10>.
Vì các lý do trôn, trong thập kỷ 80 của thế kỷ X X ,một số quốc gia (bao gồm cả Hoa K ỳ và các nước thành viên của Danh mục thuế quan Brussels -
B丁N) đã đàm phán một hệ thống phân loại sản phẩm thống nhất và có sự điều chỉnh sao cho mọi thành viên đều có thể chấp nhận được Kết quả đàm phán đã cho ra đời Hộ thống Hài hoà về Mã và Miêu tả hàng hoá (Harmonized Commodity Description and Coding System- Gọi tắt là Công ước HS) vào năm
1984 và được nhiều nước chấp nhân(U) Đây được coi là một Bộ luât quốc tế về một ngôn ngữ chung toàn cẩu về hàng hoá; là sản phẩm trí tuê của đại biểu 60
Tổ chức Hải quan các nước thành viên sáng lập và 20 íổ chức quốc tế khác nghiôn cứu Irong thời gian gần 10 năm (từ 1976 - 1983) để đúc kết và kế thừa
có chọn lọc những kết quả đã đạt được từ trước tới nay Với tư cách là một ngôn ngữ chung toàn cầu về phân loại và mã hoá hàng hoá, Công ước HS không những tạo điều kiện thuận lợi trong các cuộc đàm phán thương mại, thúc đẩy công cuộc cải cách thủ tục hành chính, đẩy nhanh tốc độ hội nhập của nền kinh tố" các nước với khu vực và thế giới mà còn đóng góp rất lớn trong các chương tình lự động hoá và hiện đại hoá các thủ tục hải quan, góp phẩn đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong thương mại quốc tế
Việt Nam đã gia nhập Cồng ước về Hệ thống Hài hoà về Mã và Miêu tả hàng hoá vào năm 1998(12) ,Công ước này có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 01 tháng 01 năm 2000 Tại Hoa Kỳ, Công ước này đã được đưa ra trước Quốc hội ngày 15-6-1987 nhưng việc thực thi hệ thống này ở Hoa K ỳ gặp rất nhiều rắc rối vì những tranh chấp chính Irị xung quanh Đạo luậl Thương mại 1988 Hệ thống này chỉ được chính thức thực thi khi đạo ỉuật trên được thông qua vào tháng 9-1988
1.2.2 Pháp luật quốc gia
ỉ 2.2.1 M ột số văn bẩn qưy phạm pháp lu ậ t chủ yếu của Việt Nam có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Do những đặc thù trong hoạt động của ngành Hải quan, có liên quan khá nliiồu đốn các lĩnh vực như Ngoại giao, Tài chính, Tlurơiig mại, NgAn híing, Đíỉii
lư nước ngoài, Bưu chính viễn thông, Du lịch, Văn hoá thông tin, Y lế, Quàn lý
9: Danh mục thuế quan Brussels (Brussels T ariff Nomenclature • BTN) còn được gọi là Danh mục Phân loại Hàng hoá theo Biểu thuế (Nomenclature for the Classification o f Goods in Customs Tariffs) hoặc Danh mục của Hội dổng Hợp tác lỉà i quan (Customs Cooperation Council Nomenclature) Danh mục này được điểu chỉnh, bổ sung nlỉiéu lần.
I0: Biểu thuế quan đẩu tiên của Hoa Kỳ ra đời chi bốn tháng sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ có hiệu lực Các biểu tliuố quan hiộn hành của Hoa Kỳ có hiệu lực từ ngày 31-8-1963.
Cổiig ƯỚC vé I lộ tíiống Hài hoà vổ Mã và MiCu tả hàng hoá dược Hội dổng Hợp tác Hải quan thông qua ngày 14-6-1983 và bắt dẩu có hiệu lực khi dược ít nhất 17 nước hoặc khối liên minh thuế quan chấp nhận, nhưng không ihc sớm hơn ngày 01-01-1987.
12 : Quyết dịnh số A ^ Q Đ -C m ngày 06/3/1998 của Chủ tịch nước CHXHCNVN
Trang 18biên giới, cho nên có nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý theo chuyên ngành Hiên nay, ở nước ta có 24 cơ quan nhà nước ban hành văn bản quản lý nhà nước về hải quan và hiên có 52 văn bản Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ đang trực tiếp
cổ hiôu lực thi hành liôn quan đến công tác hải quancl2) Các văn bản quan Irọng nhất của Việt Nam liên quan đến hoạt động thương mại về xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Hoa K ỳ có thể kể đến:
Luật Hải quan 2001
Luật Thương mại 1997
Luật Thuế xuấí khẩu, thuế nhập khẩu 1991 đã được sửa đổi bổ sung năm
1993 và năm 1998
Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 về đối xử Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia trong Thương mại quốc tế năm 2002; Pháp lệnh số 42/2002/PL- UBTVQH10 về Tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam năm 2002; Pháp lệnh so 38/2001/PL-UBTVQH10 về Phí và ú phí
Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công
và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài; Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và Lệ phí; Nghị định số 60/2002/ND-CP ngày 06/6/2002 của Chính phu quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiôp định chung về Thuế quan và Thương mại; Nghị định
số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan;
Trong các văn bản quy phạm pháp luật trên, Luật Hải quan là đạo luật có
vị trí rất quan trọng Luật Hải quan khổng chỉ quy định về chính sách của nhà nước Việt Nam về Hải quan, về tổ chức và nhiệm vụ của ngành Hải quan trong
Bộ máy nhà nước Việt Nam mà còn đó các quy định điều chỉnh về Thủ tục Hải quan và các chế độ kiểm tra, giám sát Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (Chương III); về phòng chống buôn lậu, vân chuyển hàng hoá trái phép qua biên giới (Chương IV )," Đặc biệt, trong Luật Hải quan cũng đã đề cập nội dung mới được quy định về trách nhiệm của cơ quan Hải quan Irong viôc lạm dừng thủ tục hải quan đối với hàng hoá khi có yêu cầu về bảo vộ quyền
sở hữu trf tuộ (Đây là mộl nội dung được H Đ TM V N -H K quy định rất chạt chõ) Hiệu lực của dạo luật này và các văn bàn pháp luật vồ Hải quan khác của nhà nước Việt Nam cũng được xác định tại Điều 5 trong trường hợp có các xung đột với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia (Như vậy là với việc ký kết H Đ TM V N -H K , pháp luật Hải quan Việt Nam sẽ có nhiều sự điều chỉnh cho phù hợp Nội dung của các xung đột có liên quan tới phạm vi nghiên cứu của luận văn được nghiên cứu cụ thể trong các phần sau)
12: Xem thêm: 7'fis.Chu Vân Nhân, "Dặc thù của công tác hài quan ởnưởc ta hiện n a y ' Tạp chí Nghiên cứu Hải quan sổ 2/2002, trang 5 -7
Trang 19Do các yêu cầu của xu thế hội nhập và giao lưu thương mại quốc tế, cho nổn các quốc gia đòi hỏi các chủ thể tham gia hoạt động thương mại quốc tế phải tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định pháp luật về thương mại quốc tế nói chung và pháp luật Hải quan nói riêng Muốn vậy, thì hệ thống pháp luật điều chỉnh vổ các vấn đổ này cung cần phải được xây dựng hoàn Ihiện Iheo xu hướng tiến dần tới các chuẩn mực chung của quốc tế Quá trình này có thể diễn ra nhanh hay chậm tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh của mỏi quốc gia nhưng không có quốc gia nào nằm ngoài xu thế có tính tất yếu đó Với Việt Nam, các văn bản pháp luật cơ bản nêu trên chắc chắn là chưa đầy đủ và chưa phản ánh được hết toàn bộ khung pháp lý của Việt Nam điều chỉnh về các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong thương mại quốc tế Hiển nhiên là cũng chưa đẩy đủ và hoàn thiên để có thể đáp ứng được các đòi hỏi của tiến trình hội nhập
Do nội dung của H Đ TM V N -H K có nhiều quy định tương đồng với quy định của WTO, cho nôn việc hoàn thiên, sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới cho phù hựp với H Đ TM V N -H K và thực thi Hiệp định có hiệu quả vừa là thực hiện cam kết của Việt Nam, vừa là bước tạp dượt để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1.2.2.2 M ột số quy định pháp luật của H oa K ỳ về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Hoa Kỳ là một quốc gia có nền kinh tế thị trường tự do và phát triển được xếp vào hàng đầu trên thế giới Lịch sử phát triển của các quan hê kinh tế thị trường đã lạo ra một hô thống các Ịuâl lệ thương mại (trong đó đóng vai trò quan trọng là các luật lộ về xuất nhập khẩu) Các nhà cầm quyền của Hoa Kỳ luôn dành sự quan tâm đăc biệt tới việc ban hành và cố gắng hoàn thiện pháp luật điểu chính hoạt động xuất nhập khẩu Mặc dù là một nước thuộc hộ thống Thông Luâl (Common Law) nhưng Hoa K ỳ cũng chú trọng đặc biệt tới việc ban hành những quy định thành văn, dưới dạng các đạo luât
Để kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu, Hoa K ỳ ban hành các đạo luật thành vãn với nhiều mục tiêu, trong đó có cả những mục tiẽu mang màu sắc chính Lrị Các văn bản quan trọng nhất của Hoa K ỳ liên quan đến hoạt động thương mại về xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Hoa K ỳ và Việt Nam có thể kổ đến:
• Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa K ỳ nam 1974 (ƯCC 1974)
• LuẠt vẻ Quy chế Tối huô quốc: Được hình ihAnli Irong I.uẠí llỉiiố quan năm 1930 của Hoa Kỳ, sau đó trử thành một nguyôn tắc cơ bản của GATT
• Luật về Nguồn gốc xuất xứ hàng hoá: Được quy định chạt chê trong Luật Thuế quan năm 1984 và trong Luật Thương mại và Cạnh tranh 1988
• Luâl thuế đối kháng: Được quy định rõ trong Phần A chương V II của Luật thuế quan 1930,sau đó được bổ sung bằng Luật Hiệp định thương mại năm 1979 và Luật Thuế quan và thương mại năm 1984 Các quy định của Luật này nhằm mục đích vô hiệu hoá ưu thế cạnh tranh không bình đẳng của
Trang 20các nhà sản xuất, các nhà xuất khẩu nước ngoài đối với các nhà sản xuất, xuất khẩu của Hoa Kỳ do có sự trợ cấp của Chính phủ nước họ.
• Luật chống bán phá giá: Các quy định của luât này nằm rải rác trong
ba đạo luật: Luật Chống bán phá giá năm 1916; phần V II của Luật Thuế quan năm 1930; phần 1317 của Luật Thương mại và Cạnh tranh năm 1988
• Luật Quản lý xuấi khẩu năm 1979: Đạo luậl này đã hết hiệu lực vào iháng 9 năm 1990 nhưng chính quyền dưới thời Tổng thống Bush (cha) và Tổng thống Clinton vẫn duy trì hê thống kiểm soát xuất khẩu theo một đạo luật trong trường hợp khẩn cấp là Đạo luật thẩm quyền kinh tế khẩn cấp quốc tế
• Danh bạ thuế quan thống nhất - HTS (được thay đổi hàng năm)
• Luật Hải quan và Thương mại năm 1990: Quy định chi tiết về việc thu phí làm ihủ tục hải quan của Hải quan Hoa Kỳ
• Luật hạn chế nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia: Luật này được quy định trong phần 232 của Luật Khuyếch trương thương mại năm 1962 và các phần sửa đổi, bổ sung cho phép Tổng thống áp đặt hạn chế nhập khẩu loại hàng hoá ảnh hưởng hoặc đe doạ làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia
• Luật hạn chế nhập khẩu vì cân bằng cán cân thanh toán: Được quy định trong phần 122 của ƯCC năm 1974 Luật này dành cho Tổng thống quyền tăng hoặc giảm các hạn chế nhập khẩu để đối phó với vấn đề cán cân thanh toán,
Khi xem xét về hệ thống các quy định pháp luật của Hoa Kỳ nói chung
và các quy định về xuất nhập khẩu hàng hoá nói riêng, các học giả đều thừa nhận một điểm chung rằng đây là một hệ thống các quy định hết sức phức tạp Nguyên nhân sâu xa là do Hoa K ỳ là một nhà nước liên bang, ngoài các quy định pháp luật của Liên bang còn có luật của từng bang Do các đặc thù về văn hoá, truyền thống, dân lộc” " mà mỗi hệ thống pháp luật của từng bang lại có sắc lliái riông, khồng giống các bang khác Tliam quyền của Liên bang và iliẩm quyền của từng hang không đồng nhất với nhau, thẩm quyền giữa các bang cũng có thể trái ngược nhau Điều này đã khiến cho hệ thống pháp luật của Hoa
K ỳ trở nên hết sức phức tạp M ỗi bang có các quy định khác nhau về xuất khẩu, nhập khẩu và các quy định pháp luật của liên bang phải hình thành dựa trên nguyên tắc pháp luật của các bang Pháp luật của liên bang phải thể hiện được pháp luât của các tiểu hang Chính vì vây, một số văn bản pháp luật quan trọng
đã nêu ở trôn kliỏiig phAi và cfing khAng Ihd phản null được' to“ ii hẠ CỈÍC (|iiy định pháp luật của Hoa K ỳ về xuất nhâp khẩu hàng hoá Đo vậy, muốn đi sâu vào lĩnh vực này cần phải có nhiều chuyên gia, nhiều cơ quan với sự tập trung chuyên sâu hơn nữa
Trang 21Chương 2:
PHÁP LU ẬT H Ả I QUAN V IỆ T NAM
VỂ H À N G H O Á X U Ấ T N H Ậ P K H Ẩ U t r o n g t i ế n t r ì n h T H ự C t h i
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG M Ạ I V IỆ T NAM - HOA KỲ
2.1 PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHAU
2.1.1 Quy định của pháp luật hải quan Việt Nam về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Khái niệm về hàng hoá xuất nhập khẩu: Theo định nghĩa của Mác về
hàng hoá: “ Hàng hoá là một vật phẩm nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của
con người thông qua việc trao đổi mua bán”
Từ định nghĩa Irên có thể đưa ra khái niệm về hàng hoá xuất nhập khẩu
như sau: Hàng hoá xuất nhập khẩu là một vật phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người thông qua việc trao đổi, buôn bán giữa các tổ chức, cá nhân
trong nước với nước ngoài(13) Xuất phát từ định nghĩa này, để bảo đảm cho việc
giao lưu, buôn bán giữa các quốc gia với nhau, và bảo đảm sự quản lý nhà nước
về các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, như phần 1.2.2.2.1 của luận văn đã
phân tích, trong lĩnh vực quản lý nhà nước về lĩnh vực này, liên quan tới rất
nhiều cơ quan quản lý nhà nước, quản lý chuyên ngành về xuất nhập khẩu hàng
hoá Các văn bản quản lý chuyên ngành về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá có
thổ kể đến là Luậl Thương mại năm 1997,Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1991 (đã được sửa (ìổi bổ sung năm 1983 và năm 1998),Luật Hải quan năm
2001, và các văn bản pháp luật khác của các Bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thổn, Bộ Khoa học, Công nghệ và M ôi trường (nay là Bộ Khoa
học và cổng nghệ), Bộ Kế hoach và đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Y
tế, đều có các quy định riêng về quản lý chuyên ngành về hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu Ngoài ra, còn có các văn bản hướng dẫn khác như Nghị định
57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật
Thương mại vổ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia cổng Vf、dại lý mua hán
hàng hoá với nước ngoài; Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của
Thủ tướng Chính phủ về quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2005
V í dụ trong quy chế điều hàng xuất nhập khẩu của Thủ tướng Chính phủ quy
định về danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, hàng hoá cấm nhập khẩu, Danh
mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại và
Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành
13 : Tài liệu phục vụ cho các lớp nghiệp vụ hải quan Do giảng viên Nguyên Tuấii Phiên biên soạn.
Trang 22Hướng dãn thi hành Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg này là các Thông tư của
Bộ Thương mại hướng dẫn hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của
Bộ Thương mại; các Thông tư của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về viôc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc xuất nhập khẩu theo giấy phép đối với động vật hoang dã và quý hiếm , Ngành Hải quan là cơ quan thực hiện các văn bản của các cơ quan chức năng đối với hàng hoá xuất nhập khẩu Nôn trong, quá trình thực hiện các quy định này, ngành Hải quan găp rất nhiều khó khăn, vì khi các Bộ, ngành ban hành các văn bản quản lý chuyên ngành quy định vổ xuất nhập khẩu hàng hoá còn nhiều vấn đề bất cập, chồng chéo nhau nên khi đưa vào tổ chức Ihực hiện đều bị vướng mắc, đáp ứng được yêu cầu của ngành này lại không thoả mãn với yêu cầu của ngành kia, Tuy cùng là cơ quan thực thi pháp luật, nhưng ngành Hải quan có đặc thù riêng của mình, là phải thực hiện các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước khác vổ iình vực quản lý nhà nước về hải quan Như đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam trong bài phát biểu với Hội nghị ngành Hải quan ngày 19/7/1998 đã so sánh về vấn đề này như sau: " một cái khoá có nhiều chìa
M ột loại chìa về một thủ tục hành chính (luật thủ tục), một loại chìa về mặt nội • • • • 、 • • • dung (luật nội dung) Mà nội dung không phải ngành Hải quan làm ra mà do ngành khác làm ra, nhưng ngành Hải quan phải hiểu và thực hiện ,,
Luật Hải quan năm 2001 quy định quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài” " Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/200i quy định về các trình tự, thủ tục hải quan đối với các loại hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hơá và chế độ kiểm tra giám sát hải quan Sau đó, Tổng cục Hải quan đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Luật Hải quan và Nghị định này Theo quy định của luật Hải quan thì hàng hoá xuất khẩu, hàng hoá nhập khẩu(14) chịu sự kiổm tra giám sát hải quan mà còn bao gồm cả hằng quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trên phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan (điều 4 khoản 1 )
Tại điều 4 khoản 2 quy định về Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh bao gồm tất cả động sản có mã số và tên gọi theo quy định của pháp luật được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan
14 : Do hạn chế về phạm vi Iighiẽn cứu nén dẻ tài luận văn này, tác giả chi lập trung di sâu nghiên cứu vẻ Pháp luẠỉ Hải quan Việt Nam vể hhng hoá xuất klìẩu, nhập khẩu Irong {lin ĩrìiìli ihực (hi IỈĐ TM VN -H K
Trang 23Luật Thương mại quy định chủ thể của mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc một bên là thương nhân.
Thương nhân: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng iực hành vi dân sự đẩy đủ, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân (điều 17 Luật Thương mại)
Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định: Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá là hoạt động mua, bán hàng hoá của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động tạm nhập, tái xuất và chuyển khẩu hàng hoá (điều 2)
Theo các quy định trên thì chủ thể tham gia xuất khẩu, nhập khẩu gồm: Doanh nghiệp được thành lập theo đúng pháp luật (Doanh nghiệp Nhà nước; Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, cam kết hoạt động theo đúng pháp luật và hoạt động theo đúng ngành hàng đã đăng ký trong giấy phép đãng ký kinh doanh
Ngoài các quy định về chủ thể được tham gia xuất khẩu, nhập khẩu trên khi tham gia xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, đòi hỏi các chủ thể phải có hợp đồng mua bán ngoại thương, và một số điều kiện khác như tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, và phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam
Địa bàn hoạt động của hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường
bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, càng hàng không dân đụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau Ihông quan và các địa bằn hoạt động hải quan khác trong địa bàn hoại động hải quan cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm (ra, giám sát, kiổm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải; mọi hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu,
và phương tiện vận tải khi đưa ra hay vào khu vực này để thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu đều phải làm thủ tục hải quan (được trình bày ở mục 2.3.1 của luận văn này)
Trang 242.1.2 Thực trạng hoạt động của hải quan Vỉệt Nam.
2.1.2.1 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức ngành hải quan.2.ỉ 2.1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của ngành Ị lả i quan
Ngành Hải quan Việt Nam được thành iâp ngày 10/9/1945 đến nay được
58 năm Ngày 20/10/1984, Tồng cục Hải quan được quyết định trở thành cơ quan trực thuộc H ội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Sau khi Hiến pháp
1992 ra đời, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/CP ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan Năm 2001, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Hải quan Trong
đó quy định: “ Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc Chính phủ,’(15); “ Hái quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu,,(16)
Trên cơ sở Nghị quyết số 51/2001/QH-IX của Quốc Hội về sửa đổi một
số điều của Hiến pháp 1992,trong đó có các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 113/2002/QĐ-TTg ngày 04/9/2002 chuyển Tổng cục Hải quan vào Bộ Tài chính Do vậy, cơ cấu tổ chức cùa ngành Hải quan hiện tại có thể được biểu diễn theo sơ đồ sau:
15: Điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Hải quan 2001
lô: Điẻu 11 Luật Hải quan 2001.
Trang 25Sơ đồ 1 : Cơ cấu tổ chức của ngành Hải quan hiện nay.
Trang 26Hiện nay, tổng số cán bộ còng chức của toàn ngành Hải quan trên 7.500 ngưòi Trong đỏ, số lượng cán bộ công chức có trình độ đại học và trên đại học chiôlrn klìoảng 66%, khoảng 25% có trình độ cao đẳng và trung học(17).vể thực trạng của đội ngũ cán bộ cồng chức hải quan hiện nay so với yêu cầu nhiệm vụ thì đội ngũ cán bộ quản lý các cấp còn hạn chế về năng lực điều hành, công chức thừa hành hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp nên khả năng đáp ứng được với yêu cổu nhiệm vụ còn chưa cao vì có nhiều trường hợp do chuyên môn nghiệp
vụ, ngành nghề đào tạo hoặc do bố trí, sắp xếp không phù hợp với công viêc được giao M ột bộ phận ít đi sâu nghiên cứu, chưa nắm vững chế độ chính sách
và các thủ tục xuất nhập khẩu, giải quyết công việc chậm, thậm chí gây phiền
hà, sách nhiễu để vụ lợi, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Ngành
Để thực thi Luật Hải quan và đáp ứng vứi yêu cầu nhiệm vụ của ngành Hải quan trong giai đoạn mới, với đội ngũ cán bộ như hiện tại, khi thực thi
H Đ T M V N -H K , ngành Hải quan sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện, trang thiết bị làm việc, trình độ của cán bộ, nên ngành Hải quan đã tổ chức, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, rà soát và sửa đổi lại chức năng nhiệm vụ của tất cả các Cục, Vụ và các đơn vị íhuộc cơ quan Tổng cục và Cục Hải quan tỉnh, ihành phố Đồng thời tiến hành cải cách thủ tục hải quan về cơ bản để đáp ứng được với các yêu cổu nhiệm vụ chính trị của ngành với mục tiêu: “ Tiếp tục đẩy nhanh hiện đại hoá và cải cách thủ thủ tục hải quan nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc (ế và lao điều kiên thuận lợi cho hoat động thương mai đầu tư trong nước và quốc tế, góp phần hảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế phát triển(18>…
2.1.2.2 Đ iều kiện hoạt động và các trang thiết b ị cho hoạt động H ải quan Việt Nam
Với các chức năng, nhiệm vụ hết sức quan trọng được quy định tại Điều
11 Luật Hải quan năm 2001 và với khối lưựng, tính chất công việc của ngành Hải quan ngày càng nhiều và phức tạp trong điều kiện Việt Nam hội nhệp sflu vào nén kinh lố Ihế giới thì viôc xấc định đúng vị trí và đầu lư một cách tư<mg xứng cho công tác Hải quan đang trở thành một yêu cầu cấp thiết hiện nay
2.1.2.1.2 Dội ngũ cán bộ CỞH}Ị chức nỊỊành Hải quan.
n: Thain kỉiảo thôm: Báo cáo số 5597/TCI.ỈQ-T(X’B ngày 12/12/2001 của Tổng cục Hài quan về Thực (rạng đội ngũ công chức hải quan và phương lurớiig củng cố, xAy dựng (lội ngũ cồng chức ngành hải quan giai (loạn 2001
-2005.
18 Xem thêm báo cáo lổng kết công lác năm 2002, phương hướng công tác nam 2003 của Ngành Hải quan
Trang 27Điều 7 Luật Hải quan năm 2001 quy định: “ Hải quan Viôt Nam được xây dựng thành một lực lượng trong sạch, vững mạnh, có trình độ chuyên môn sâu, được trang bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả”
“ Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên liến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại; khuyến khích tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tham gia xây dựng, nối mạng, khai thác hệ ihống thông tin máy tính của hải quan” (Khoản 1 Điều 8 Luật Hải quan năm 2001)
Do đặc Ihù cồng việc của ngành Hải quan luôn phải bố trí lực lượng tại những địa điểm, vị lií trọng yếu ở các cửa khẩu đường bộ, đường sông, đường biển; các ga liên vận, các cảng hàng không quốc tế; các khu cồng nghiệp, khu chế xuất, các kho bảo thuế, kho ngoại quan, của đất nước Nhiều khu vực hết sức hẻo lánh, điều kiện sinh hoạt khó khăn, gian khổ, xa gia đình,
Bên cạnh đó, một số bộ phận hải quan lại thường phải làm việc trong điều kiện nguy hiểm do sự hoạt động gia tăng và ngày càng liều lĩnh của các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại Nhiệm vụ của ngành Hải quan lại ngày càng trở nên phức tạp do số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu gia lãng, do lính chất phức tạp, đa dạng của các loại mạt hàng, nhóm hàng, Hơn nữa, một số nghiệp vụ hải quan đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có một kiến thức hiểu biết tổng hợp về nhiều lình vực như pháp luật, kỹ thuật, tài chính, thuế, y tế, và cá biệt
có những trường hợp đòi hỏi phải có những kỹ năng đặc thù, những hiểu biết thành thạo đặc biệt về một lĩnh vực như hoá chất, thép, tơ sợi(19), đồ cổ, để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Nhằm mục đích nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của lực lượng cán bộ công chức Hải quan, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của cồng tác quản lý nhà nước về hải quan, thực hiện chức năng kiểm soát chống buôn lậu; mua bán, vân chuyển trái phép chất ma tuý qua biên giới, Lực lượng Hải quan cần phải
sử dụng một số trang thiết bị, phương tiện hiện đại, đăc thù như: máy nghiệp vụ soi kiổm tra hàng hoá, hành lý, chó nghiộp vụ, máy phái hiện ma luý, mổy phAn tích, phân loại, phương tiện phát hiện tiền giả, ngoài ra Lực lượng Hải quan cũng cẩn phải sử dụng các loại phương tiện đặc chủng như các tầu cao tốc đổ thường xuyên kiểm soát chống buôn lậu trôn biển, cần được trang bị vũ klií, khí tài như máy bộ dàm, và các công cụ hỗ trợ khác
l9: Tổng cục Mải qunn (lã có nhiều (lẻ ỉài nghiôn cứu sílii và có tính thực tiẻn vẻ các lĩnh vực này Xein thêm Itìn tin Nghiên cứu Hải quan các sổ Iiãin 2002, Mục “ Giới thiệu Công ỉ rình khoa học”
Trang 28Khối lượng công việc mà lực lưựng hải quan giải quyết trong thời gian gổn đây là rất lớn Thể hiôn qua các Bảng sau:
Bảng 2: Thống kê K im ngạch Xuất nhập khẩu từ năm 1997 - 2002
Đơn vị tính: Tỷ USDNăm K im ngạch X K K im ngạch N K Tổng kim ngạch
Thuế VAT
áp dụng từ 01/01/1999
SỐ thu tính đến
Nguồn:B ộ Tài chỉnh - Tổng cục H ải quan V iệt Nam : Tài liệu "Hội
nghị tổng kết công tăc năm 2002, triển khai nhiệm vụ công tác
năm 2003 của ngành Hải quan,,, Hà nội ngày 24/12/2002, các Phụ lục 1, 2
Tuy nhiên, hiện nay, trang thiết bị và các phương tiện được đầu tư cho lực lượng Hải quan còn rất nhiéu hạn chế Trong năm 2001, tổng kinh phí đầu tư cho toàn ngành Hải quan là 332,907 tỷ đồng (có tăng 17% so với năm 2000) nhưng giá trị đầu tư còn rất hạn chế so với các yôu cầu, trong các hoạt động của ngành
Do các đòi hỏi bức thiết của tình hình thực tế hoạt động của ngành Hải quan mà trong năm 2001, ngoài số kinh phí kể trên, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã gấp rút trình Chính phủ cấp bổ sung cho ngành Hải quan 58
tỷ đồng vốn xây dựng cơ bàn và mua sắm trang Ihiêì bị Những nguồn vốn đầu
tư này đã góp phẩn phát huy tác dụng tăng cường hiệu quả trong hoạt động của ngành Hải quan trong thời gian qua, đến năm 2002 tổng kinh phí đầu tư cho ngành hải quan khoảng 350 tỷ đồng Dựa trên tình hình íhực lế của quá trình
Trang 29hội nhập nền kinh tế, Tổng cục Hải quan đã dự trù kinh phí để trang bị cho ngành Hải quan (theo chương trình hiện đại hoá hải quan) nhằm xây dựng lực lượng hải quan ngang tầm với hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3B: Bảng dự kiến kinh phí hàng năm của Ngành Hải quan
Đơn vị tính: Tỷ đồng
SỐ
NẢM2003
NẪM2004
NẢM2005
quart Việt Nam'', tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết ngành Hải quan năm
2002 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2003 của ngành Hải quan Hà nội ngày 24/12/2002
Nhiệm vụ trong thời gian tới của ngành Hải quan sẽ càng ngày càng năng
nề hơn, khối lượng công việc phải đảm trách sẽ tiếp tục 丨ớn hơn rất nhiều lần hiện nay Nhất là khi H Đ T M V N -H K đã có hiệu lực và Việt Nam đang trong lộ trình thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường và mỏ cửa nền kinh tế của mình cho các nhà sản xuất và đầu tư của Hoa Kỳ Như đã phân tích, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia vừa có tiềm iực sản xuất lớn nhất, vừa là một thị trường tiêu thụ cũng vào bậc nhất trôn thế giới nên việc thực hiện giao dịch thương mại với Hoa K ỳ đồng nghĩa với việc sẽ tăng khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu hai chiều Công việc của ngành Hải quan sẽ vượt xa so với mức hiện nay (mặc đù hiện tại khối lượng công việc của mỗi cán bộ công chức Hải quan
phải đảm nhiệm đã ở vào mức “ khó tưởng tượng nổi” với sức chịu đựng của con người(21)), ví dụ năm 1998 mỗi cồng chức Hải quan kiểm tra hàng hoá phải kiểm tra 33.992,6 tấn hàng hoá các loại, trung bình 130,74 tấn
:l: Theo số liệu của Ban chỉ dạo cài cách Thù tục Hải quan • Tổng cục Hải quan (tham khảo số liệu của Cục Hàng hảiu Bộ Giao thông vận tải), Xein thèm: ThS_ Chu Vftn Nhân, “ Dặc thù củơ công tác H ải quan ỏ nước
: a hiện n a ỷ \ Bản ỉin nghiên cứu Hải quan số 2/2002, trang 6.
Trang 30hàng/người/ngày; năm 1999: 38.778 tấn hàng/người/năm, trung hình 149 tấn/người/ngày; năm 2001 khoảng 40.000 tấn/người/năm; cá biệt ờ Cục Hải quan Đồng Nai, một cồng chức Hải quan có trách nhiệm kiểm tra trung bình
600 tấn hàng /ngày Hiện nay, phần lớn các khối lượng công việc đều vẫn được tiến híinh mội cách Ihủ công và dựa IrCn kinh nghiệm của cán bộ Hải quan là chủ yếu Bôn cạnh đó, Hải quan Hoa K ỳ được đầu tư rất lớn V í dụ, năm 2001, phần đóng góp của Hải quan cho ngân sách Hoa K ỳ là 21,1 tỷ USD, tính trung bình cứ thu về 11 USD thì Hải quan lại được đầu tư 1 USD, tức là được dầu tư vào khoảng 2 tỷ ƯSD(21),tương đương với 9% số thu của Hải quan Hoa Kỳ Trong khi đó thì lượng đầu tư cho ngành Hải quan của Việt Nam là 0,4% tổng mức thu từ các nguồn thu thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng<22); tức là cứ thu về được 250 đồng thì mới được đầu tư 01 đồng, (năm 2001,theo quy định trên, lượng đầu tư cho ngành Hải quan Việt Nam là
Do được đầu tư đúng mức và có hiệu quả, Hải quan Hoa K ỳ đã sử dụng rộng rãi các phương tiện kỹ thuật, ứng đụng nhiểu tiến bộ khoa học công nghệ vào các hoạt động nghiệp vụ Các thủ tục hành chính được tiến hành nhanh chóng, hạn chế đưực các chi phí hành chính nhờ đưa vào ứng dụng một hộ thống quản lý tự động hoá (Đây là kết quả của việc đưa vào thực hiện Chương trình tự động hoá Hải quan quốc gia - National Customs Automation Program)
Hệ thống này giúp cho các nhân viên Hải quan thực hiện các thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, phát hiện các lô hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng mà không cẩn phải sử dụng đến giấy tờ Các trang thiết bị của ngành Hải quan Hoa K ỳ được xếp vào loại hiện đại nhất trong các cơ quan Hải quan của các quốc gia trên thế giới bao gồm việc sử dụng các loại máy bay, xe ô tỏ, xe đặc cliủng, xc chuyên dụng hiôn đại đến việc sử dụng các loại máy rnỏc tinh vi như máy chiếu X - quang, các dụng cụ soi chiếu cơ động và cầm tay, Hải quan Hoa K ỳ c:òn được sự hỗ trợ rất tích cực của một hệ thống các cơ sở thí nghiÇm, phan lích hiÇn đại nhằm đảrrt bảo luân thủ các quy định về y lế, an toàn thực phẩm, sức khoẻ người tiêu dùng và sở hữu trí tuệ
Để nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả hoạt động của ngành Hải quan trong thời gian tới, đặc biệt là giai đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn chuẩn bị tiến Irình thực liiôn các cam kỏl của Viût Nam trong H Đ T M V N -IIK , ngành Hải quan Việt Nam đã xây đựng và trình Chính phủ Dự án phát triổn ngành 2001-
thi Dự án Tin học hoá quy trìrih nghiệp vụ Hải quan giai đoạn 2001 - 2005 nhằm thực hiện tin học hoá tổng thể các hoạt động nghiệp vụ của Hải quan Việt
21 : Xcin tliổm: giả ĩlảỉ Viì, “ G iới thiệu vài nét v ề ỉĩn i quan Hợp chủng quấc Hoa K ỵ \ Bản tin Nghiổn cứ» ỉỉái quan sổ 1/2002, trang 45 - 47.
Thông tư số 87/2000/rC-BĨC của Bô Tài chính ngày 17/8/2000 hướng dân sử (lụng nguồn kinh phí 0,4% heo Quyeí định C)65/QĐ-Tíg ngày 14/7/2000 cua l*hủ cướng Chính phủ.
!3: Riêng năm 2001, ngành Hải quan được Chính phủ giao chỉ liêu 25.200 tỷ dồng, dến 31/12/2001 số thu của Igiinh Hải quan (lạt 29.380 tỷ (lồng hằng 116,6% kế hoạch năm, tăng 20,3% so với còng kỳ năm í rước (Xeiĩì hôm: Tổng cuc Ilả i quan - Cục Kiểm tra thu th u ế xu ớ i nhập khẩu: cáo Tổnp kết cồng tác thu thuếnãm
w o r ngồy 10/3/2002)
Trang 31Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý, đơn giản hoá thủ tục và hài hoà thủ tục Hải quan Việt Nam với khu vực và quốc tế Đây là một trong những chương trình quan trọng với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 75,3
tỷ đồng Việt Nam và 29 triệu đô la M ỹ(24)
2.1.2.3 K ết quả thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vổ các khoản thu khác; m ột số hạn chế của H ả i quan Việt Nam trong việc thu thuê xuất khẩu,
th u ế nhập khẩu
2.1.2.3.Ị Kết quả thu ihuếxuất khẩu, nhập khẩu và các khoản thu khác
Trong các năm vừa qua, bằng các kết quả hoạt động thực tiỗn đã củng cố
vị thế của ngành Hải quan và tiếp tục phát triển trong điều kiện mới của nền kinh tế - xã hội của đất nước Toàn ngành đã chủ động đẩy mạnh cải cách quản
lý Hải quan đồng thời tiếp tục nâng cao và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật trong hoạt động Hải quan Tổ chức soạn thảo và trình Quốc hội thông qua Luật Hải quan năm 2001 và tích cực chuẩn bị các vãn bản hướng dẫn cụ ihể
để dưa Luật Hải quan vào thực hiện từ ngày 01/01/2002 Để đảm bảo tính đồng
bộ của Luật Hải quan, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng, chỉnh lý các Nghị định hướng dẫn thi hành Nghị định số 101/2001/NĐ-
CP vổ thủ tục Hải quan, chế độ kiểm Ira, giám sát Hải quan; Nghị định số 102/2001 /NĐ-CP về kiểm tra sau thông quan; Nghị định số 60/2002/NĐ-CP về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại); Nghị định số 66/2002/NĐ-CP về tiêu chuẩn, định mức hành lý miễn thuế và định mức quà tặng, biếu miễn thuế
Trong các năm vừa qua, toàn ngành Hải quan đều hoàn thành và hoàn thành vượl mức các nhiệm vụ chủ yếu mà nhà nước giao cho Điều đáng chú ý
là năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước Nếu như số thu thuế xuất nhập khẩu năm 1997 là 13.800 tỷ đồng thì sang năm 1998,con số này đã là 16.600 tỷ đồng, vượt kế hoạch thu cả năm 1.600 tỷ đồng và tăng 2.800 tỷ đồng (21%) so với năm 1997(25) Sang năm 2001, ngành Hải quan được Chính phủ giao thu 25.200 tỷ đồng, tăng 9,7% so với kế hoạch năm 2000 và tăng 3,2% so với thực thu năm 2000 Đến ngày 31/12/2001, tổng số thu của ngành đạt 29.381 tỷ đồng, vượt 16,60% so với kế hoạch được giao, tăng 20,3% so với số thu thuế năm
2000 Trong quá trình triển khai thực hiện Luật Hải quan, ngành Hài quan đã áp dụng nhiều biện pháp để chống gian lân trốn thuế, thanh khoản hựp đổng, truy thu nợ đọng thuế, phối hợp cùng với các ngành tháo gỡ khó khăn trong kinh doanh, tăng cường chống buôn lậu, Kết quả là đến nãm 2002 số thu của ngành Hải quan, tính đến ngày 18/12/2002, ngành Hải quan đã thu được 34.376
tỷ, đạt 103,23% so với kế hoạch được giao là 33.300 tỷ; lính đến ngày
M: Xem (hôm: Công văn sổ 805/CP-KG của Chính phủ ngày 15/7/2002 về việc phô duyôt ĨÌÁO cáo nghiôn cứu
tiển khả thi Dự án Tin học hoá quy trình nghiệp vụ Hải quan giai đoạn 2001 • 2005.
ỉ5: Nguổn: Tổng cục ỉlả ỉ quan, Tài liệu H ộ i nghị Tổng kết công tác năm Ị 998 và bàn biện pháp triển khai nhiệm vụ nâm ì 999, Hà nội ngày 24-26/01/1999, Biểu II.
Trang 32.31/12/2001, tổng số thu của ngành đạt 35,5 tỷ đồng, vưựl 16,60% so với kế hoạch được giao, tăng 20,3% so với số thu thuế năm 2001.
Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại cũng đã thu được nhiều kết quả mặc dù tình hình buôn lậu, gian lận thương mại vẫn diễn ra phổ biến và ngày càng phức tạp, liều lĩnh năm 2002 lực lượng Hải quan đã phát hiện, bắt giữ 7.319 vụ buôn lâu, gian lận thương mại và vi phạm pháp luật về Hải quan, trị giá hàng hoá ước tính khoảng 130 tỷ đồng thu nộp ngân sách 53,3 tỷ đồng, chuyển xử lý hình sự 30 vụ So với năm 2001 giảm 16,5% về số vụ vi phạm và 33,6% về trị giá hàng vi phạm
Bảng 4: Bảng thống kê số vụ buôn ỉậu,gian lận thương mại
và vi phạm pháp luật hải quan bị phát hiện, bắt giữ từ năm 1997 • 2002
Nguồn:Tổng cục H ải quan Việt Nam: Tài liệu "Hội nghị tổng kết công
tác năm 2002, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2003 của ngành Hải quan", Hà nội ngày 24/12/2002, Phụ lục 3
2.1.2.3.2 Một s ố hạn c h ế còn tồn tại.
Những thành tích và kết quả đáng kích lệ như trên là do sự tập trung chỉ đạo của Bộ Tài chính và sự phối kết hợp tốt giữa các Bộ, Ngành Nhưng cũng không Iránh khỏi những hạn chế về các mặt do những nguyên nhân nhất định về trình độ nhân thức của cán bộ, do thiếu trang trang thiết bị làm việc
Trước hết, đó là khả năng kiểm soát của Hải quan trước yêu cầu phái triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế, thể hiện trên 3 mặt: hộ thống pháp luật thiếu minh bạch; năng lực quản lý công chức còn nhiều mãt yếu; cơ sở vật chất và các trang thiết bị cho hoạt động của Hải quan còn thiếu thốn và lạc hậu, biộn pháp quản lý, kiểm soát chủ yếu bằng thủ công
Công tác thanh tra, kiểm tra đã được tăng cường nhưng hiệu quả chưa đáp ứng được những mục tiôu đề ra Hiện tượng tiêu cực trong hoạt động của một số bộ phận cán bộ công chức của ngành vẫn còn đang diễn ra dưới nhiều hình thức ngày càng lỉnh vi hơn, khó phát hiện và xử lý hơn Bên cạnh đó, lực lượng cán bô của ngành vẫn cồn iình trạng vừa thừa lại vừa tliiốu; lliừa là Ihừa những cán bộ đang dần bộc lộ những hạn chế về năng lực, không đáp ứng dược các đòi hỏi của các yêu cầu mới; Ihiếu là Ihiếu những ch uy ôn gia giỏi cấp ngành
và đang có nguy cơ bị hụt hẫng về đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp
Hiện tượng buôn lậu và gian lận thương mại vẫn còn phổ biến, chưa có cách thức giải quyết có hiệu quả
Trang 332.2 PHÁP LUẬT HẢI QUAN VỀ THUẾ Đ ối VỚI HÀNG HOÁ XUÂT KHẨU, NHẬP KHẨU VÀ PHÂN LOẠI HÀNG HOÁ XưẤT KHAU, nhập
KHẨU
Ngoài những văn bản chủ yếu đã được nêu trong mục 1.2.2.1 của luân
văn này, hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến xuất nhập khẩu hàng
hoá hiện nay của V iệt Nam còn có rất nhiều văn bản khác của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyổn ban hành Do sự phát triển và biến động của tình hình kinh
tế - xã hội Uong và ngoài nước, hiện có khỏng ít văn bản không còn phù hợp với
thực liỗn Bên cạnh đó, do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý
nhà nước trong lĩnh vực này đã dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không
đồng bộ giữa các văn bản của các Bộ, ngành Đây chính là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng vướng mắc không được giải quyết kịp
thời, giảm hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu lực của
hoạt động quản 丨ý nhà nước
2.2.1 Về biểu thuế xuất nhập khẩu
Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng và sửa
đổi liên tục cho phù hợp với tình hình thực tế Các văn bản pháp luật diều chỉnh
về lình vực này có thể kể đến:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991; Luật sửa đổi, hổ sung
một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1993 và năm 1998
Nghị định số 54/CP ngày 28-8-1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Ihuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Nghị định số 94/1998/NĐ-CP ngày
17-11-1998 của Chính phủ quy định chi tiết Ihi hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điồu của Luật ihuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thòng tư số 172/1998/TT-BTC ngày 22-12-1998 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành các Nghị định 54/CP ngày 28/8/1993 và Nghị định 94/1998/NĐ-
CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế xuâ(
khẩu, thuế nhập khẩu và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thông tư 37/1999HT-BTC ngày 07/4/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn
cách phân loại hàng hoá theo Danh mục hàng hoá theo Biểu thuế xuất khẩu,
Biểu (huế nhập khẩu;
Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay được sắp
xếp Iheo một trình tự Iheo các nhóm hàng, mặt hàng tuân theo 06 nguyên tắc cơ
bản của Hệ thống HS về phân loại hàng hoá Kể từ khi ra đời và đưa vào áp
dụng từ 01/01/1999, biểu thuế hiện hành của Việt Nam trong 18 tháng đã phải
sửa đổi 20 lần, bình quân mỗi tháng sửa đổi hơn một lần
Nguyên nhân này xuất phát từ những thay đổi liên lục của đời sống kinh
tế Ihương mại làm phát sinh nhiều loại sản phẩm hàng hóa mới mà Việt Nam lại
khổng có sự cập nhật kịp thời với các thông tin của Ihế giói Đồng llùíi, Biểu
Trang 342.2 PHÁP LUẬT HẢI QUAN v ê THUẾ Đ ố i VỚI HÀNG HOÁ XUẤT
KHẨU, NHẬP KHẨU VÀ PHÂN LOẠI HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NIIẬP
KHẨU
Ngoài những văn bản chủ yếu đã được nêu trong mục 1.2.2.1 của luân
văn này, hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến xuất nhập khẩu hàng
hoá hiện nay của Việt Nam còn có rất nhiều văn bản khác của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành Do sự phát triển và biến động của lình hình kinh
lế - xã hội Irong và ngoài nước, hiện có không ít văn bản kỉiông còn phù hợp với
thực liễn Bôn cạnh đó, do thiếu sự phối hợp chạt chẽ giữa các cơ quan quản lý
nhà nưóc trong lĩnh vực này đã dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, không
đồng bộ giữa các văn bản của các Bộ, ngành Đây chính là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng vướng mắc không được giải quyết kịp
ihời, giảm hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu lực của
hoạt động quản lý nhà nước
2.2.1 Về biểu thuế xuất nhập khẩu
Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng và sửa
đổi liên tục cho phù hợp với tinh hình thực tế Các văn bản pháp luật điều chỉnh
về lĩnh vực này có thể kể đến:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1993 và năm 1998
Nghị định số 54/CP ngày 28-8-1993 của Chính phủ quy định chi tiếl thi
hành Luật Ihuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Nghị định số 94/1998/NĐ-CP ngày
17-11-1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
rHiỏng tư số 172/1998/TT-BTC ngày 22-12-1998 của Bộ Tài chính hướng
dẫn thi hành các Nghị định 54/CP ngày 28/8/1993 và Nghị định 94/1998/NĐ-
CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ quy định chi liết thi hành Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế
xuấl khẩu, Ihuế nhập khẩu
Tliông tư 37/1999/TT-BTC ngày 07/4/1999 của Bộ Tài chính hưởng dẫn
cách phân loại hàng hoá theo Danh mục hàng hoá theo Biểu thuế xuất khẩu,
Biểu ihuế nhập khẩu:
Bidu thuế xuấl khẩu, thuế nhập khẩu của Việt Nam hiện nay dưực sáp
xếp theo một trình tự theo các nhóm hàng, mặt hàng tuân theo 06 nguyên tắc cơ
bản của Hệ thống HS về phân loại hàng hoá Kể từ khi ra đời và đưa vào áp
dụng từ 01/01/1999, biểu thuế hiện hành của Việt Nam trong 18 tháng đã phải
sửa đổi 20 lần, bình quân mồi tháng sửa đổi hơn một lần
Nguyên nhân này xuất phát từ những thay đổi liên tục của đời sống kinh
tế ihương mại làm phát sinh nhiều loại sản phẩm hàng hóa mới mà Việt Nam lại
không có sự cập nhật kịp thời với các thông tin của thế giới Đổng tlùíi, Biểu
Trang 35nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng nhập các loại xe thể thao, xe địa hình (là xe đạp thuộc loại khác, tuy được tạo dáng hơi đặc biệt) để hưởng chênh lệch thuế suất.
Thứ ba: Biểu thuế nhập khẩu còn thiếu sự chi tiết Điều này là một trong những điểm gây khó khãn rất nhiều cho các cơ quan Hải quan, nhất là trong điều kiên hiện nay đã phát sinh rất nhiều loại hàng mới có nhiều công dụng dan xen hỗn hợp V í dụ như đối với mặt hàng dầu gội đầu trị gầu Mặt hàng này có thể quan niêm là dược liệu (có thuế suất 0%) vì có khả năng trị được một số bệnh: nấm, gầu; cung cấp các loại Vitamin, hoặc có thể quan niệm là nước gội đầu (có thuế suất 50%) Do quan niệm khác nhau nôn dẫn tới tình trạng cùng một mặt hàng mà có doanh nghiệp được tính thuế 0% trong khi đó doanh nghiệp khác lại phải chịu thuế suất 50% Điều này khiến các doanh nghiệp đều lìm cách “ chạy” các cơ quan chức năng để được tính ở mức thuế suất 0%, khi không “ chạy” được thì lại khiếu nại, tố cáo lẫn nhau Vụ việc này đến nay tuy
đã được giải quyết nhưng để lại dư luân và hậu quả không tốl mà nguyôn nhân
cơ bản là do Biểu thuế thiếu chi tiết
Trong khi đó, việc thu thuế của Hải quan Hoa K ỳ được căn cứ theo Biểu thuế nhập khẩu có tên gọi là Harmonized Tarrif Schedule (HTS) Biểu thuế này liệt kê tất cả các loại thuế suất của tất cả các loại hàng hoá đánh vào lất cả các nước
Khi xác định trị giá tính thuế cho hàng nhập khẩu được ấn định theo 3cách
- ad valorem rate (dạng phổ biến): là một tỷ lê phần trăm của trị giá hàng,
ví dụ 5% trị giá hoá đơn
- specific race: trị giá cụ thể trên đơn vị số lượng hoặc trọng lượng, ví dụ 5,9 cents trên 1 tá
- compound rate: kết hợp cả 2 loại ad valorem và specific rales, ví dụ 07cents/lkg + 10% ad valorem •
Biểu thuế HTS của Hoa Kỳ được chia làm 2 cột:
Cốt 1: có 2 loại thuế suất là tối huệ quốc và ưu đãi phổ cập
Thuế tối huê quốc dành cho các nước nhóm T gồm các nước thành viên của WTO và các nước có nền kinh tế Ihị trường,
Thuế ưu đãi phổ cập dành cho các nước có Ihoả Ihuận với Hoa Kỳ như:NAFTA, nhóm Carihô, Ixracn và ihuốGSP dành d io các nirớc đang |)hếít triổỉi iheo tiôu chuẩn của ƯNCTAD
Cốt 2: Thuế không tối huê quốc, loai thuế này cao hơn nhiều lần so với
Ối huệ quốc, dành cho các nước không có thoả thuận về tối huệ quốc với Hoa
<ỳ như: Cu Ba, Bắc Triều Tiên, Siri’ " và các nước chưa có tối huệ quốc của -ỉoa K ỳ như Lào Mức thuế suất tối huệ quốc trung bình các đòng thuế khoảng
\%\ mức thuế không tối huệ quốc trung bình khoảng 50% và mức thuế GSP )ằng 0 cho lất cả các hàng hoá được hưởng GSP của Hoa Kỳ
Trang 36- Hệ thống ưu đãi phổ cập Genralised System o f Préféra ces viết tắt là: (GSP) là một chương trình miỗn ihuế nhập khẩu cho mộl số mặt hàng nhất định
lừ các nước đang phát triển, bao gồm các nước độc lập và các nước và lãnh thổ
lộ thuộc, nhằm giúp các nước này phát triển kinh lế qua xuất khẩu Chương trình này được khởi đầu từ Luật Thương mại năm 1974,sửa đổi của Hoa Kỳ co hiệu lực từ 01/01/1976,đã được ra hạn nhiều lần, việc ra hạn sẽ được Tổng thống ký và công bố sau khi được Quốc hội Hoa K ỳ thông qua Chương trình GSP do cơ quan đại diện thương mại Hoa K ỳ (USTR) điều hành, Hải quan Hoa
Kỳ ihực hiôn mặt hàng được hưởng GSP, một số quốc gia có đủ điéu kiện được hưởng quy chế này, nhưng một số mãt hàng khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng không được hưởng GSP với lý do mộl số mặl hàng đó vượt quá 50% số hàng cùng loại đã nhập khẩu vào Hoa Kỳ, hoăc vượt quá một trị giá nhất định nào đó trong một năm Việc các nước xuất khẩu hàng vào Hoa Kỳ có tiếp tục được hưởng GSP hay không còn tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định, hoặc luỳ thuộc vào lệnh của Tổng thống và đại diện văn phòng thương mại Hoa Kỳ duyệt lại danh sách hàng năm
Trách nhiệm đóng thuế do người nhận hàng chịu Nếu hàng được giao đi nơi khác để tiêu thụ thì cá nhân hay tổ chức có tên trong tờ khai hải quan chịu trách nhiệm thanh loán Nếu hàng được lưu trong kho thì trácli nhiệm đóng Ihuế thuộc người mua hàng và lấy hàng ra khỏi kho Thuế có Ihể được trả theo từng
kỳ sau khi nhập hàng Hải quan Hoa K ỳ có thời hạn 5 năm để đòi thuế
Tuy hệ thống pháp luật quy định về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Hoa K ỳ là một hệ thống các quy định hết sức phức tạp đã được phân tích ở phần1.2.2.2 Nhưng đo các quy định chặt chẽ về các quy trình thu thuế của Hải quan Hoa Kỳ, vì đối với từng khu vực, từng quốc gia, Hoa K ỳ đều có các quy định riêng trong các đạo luật riêng hoặc các sắc thuế, luật thuế quan (Tariffs Act) sủa Hoa K ỳ tuân thủ Iheo Hệ thống HTS, áp dụng chi tiết đến lừng nhóm hàng,
mã hàng, nên khó có sự gian lận được về thuế của các nhà nhập khẩu
2.2.2 Về xác định trị giá tính thuế đốỉ với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trước thời điểm H Đ T M V N -H K có hiệu lực và trước khi Chính phủ ban lành Nghị định số 60/2002/NĐ-CP ngày 06/6/2002 thì các quy định của pháp uật Việt Nam về xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập :hẩu rất phức tạp và mang tính áp đặt Các văn bản pháp luât quy định về vấn
lổ này có thổ kổ đôn:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991; Luật sửa đổi của Luật huế xuất khẩu, nhập khẩu năm 1998 và năm 1993
Nghị định 54/CP ngày 28/3/1993 của Chính phủ hướng đẫn giá tính thuế
:ối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Nghị định số 94/1998/NĐ-CP ngày 7/1/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luât sửa đổi, bổ sung một
Ố điều của Luật Ihuế xuâì khẩu, thuế nhập khẩu
Thông tư số 82/1997AT-BTC ngày 11/11/1997 của Bộ Tài chính hướng
ẫn thực hiện áp dụng giá tính thuế nhập khẩu theo hợp đồng ngoại thương
Trang 37Thông tư số 172/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 của Bộ Tài chính hướng dăn thi hành Nghị định 54/CP ngày 28/3/1993 và Nghị định 94/1998/NĐ CP ngày 17/1/1998 của Chính phủ.
Thông tư số 08/2002/IT-BTC ngày 23/1/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiên áp dụng giá tính thuế nhập khẩu theo hợp đồng mua bán ngoại thương;
Nếu đối chiếu với nội dung của một số vãn bản quy phạm pháp luật khác
ờ trong nước như Luật Doanh nghiệp 1999,với Luât Hải quan 2001, thì đã bộc
lộ nhiều điểm bất cập như không phù hợp với tinh thần của Luật Hải quan, và trái với các quy định về quyền tự do kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp, Hơn nữa, chúng còn không đáp ứng được các yêu cầu của các tổ chức kinh tế Ihế giới (WTO, IM F, WB,T ) và khu vực (ASEAN, APEC, ) mà Việt Nam đã
là Lhành viên hoặc đang thực hiện các thủ tục để tham gia Các đòi hỏi này cộng với quy định khắt khe về lộ trình thực hiện hộ thống định giá, giá trị hài quan dựa trên giá trị giao dịch được quy định trong H Đ T M V N -H K (27)đã buộc Chính phủ Việt Nam nhanh chóng nghiên cứu và đưa vào áp dụng hệ thống định giá giá trị hải quan mới Hệ thống mới này được quy định chi tiết trong Nghị định
số 60/2002/NĐ-CP ngày 06-6-2002 của Chính phủ Quy định về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định thực hiện Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Nghị định này đã quy định về: Thời điểm xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là ngày người khai hải quan đăng ký tờ khai hải quan hàng hóa nhập khẩu Trị giá tính thuế được xác định bằng cách áp dụng theo thứ tự một trong sáu (06) phương pháp:
1 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch đối vớihàng hóa nhập khẩu
2 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch của hànghóa nhập khẩu giống hệt
3 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch của hànghóa nhập khẩu tương tự
4 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ
5 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá lính toán
6 Phương pháp suy luận
Nếu người khai hải quan đổ nghị thì trinh tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính Ihuế theo trị giá khấu trừ và phương pháp xác định trị giá tính toán có thể thay đổi cho nhau Khi áp dụng hệ thống tính giá trị hải quan theo GATT, người khai được đề nghị cơ quan Hải quan giữ bí mật vể các thông tin liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế đã cung cấp; được quyền đề nghị cơ quan hải quan hướng đẫn, thông báo việc xác định Irị giá tính thuế theo quy định này; được quyền chứng minh tính chính xác, trung thực của trị giá tính27: Khoản 4,Điéu 3, Chương I của Hiệp dịnh Thương mại Việt Nam • Hoa Kỳ.
Trang 38ihuế dã khai báo và khiếu nại các quyết định lính thuế của cơ quan Hải quan
Người khai hải quan có nghĩa vụ tự kê khai đầy đủ, chính xác các nội dung theo mẫu tờ khai trị giá tính thuế hàng nhập khẩu; tự xác định trị giá tính thuế và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, tính trung thực của các nội dung kê khai và kết quả xác định trị giá tính thuế; nộp và xuấl trình các tài liổu làm căn cứ kiểm tra, xác định trị giá tính thuế theo yêu cầu của cơ quan hải quan; chịu sự kiểm tra của cơ quan hải quan về trị giá tính thuế theo các quy định của pháp luật
Nghị định cũng quy định rõ trách nhiêm của Tổng cục Hải quan trong việc phát hành lờ khai trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu, trong đó quy định
cụ thổ nội dung kê khai phù hợp với từng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo quy định của Nghị định(28) Khoản 1 Điều 16 còn quy định Tổng cục Hải quan là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan để thu thập, xây dựng dữ liệu phục vụ việc xác định trị giá tính thuế theo quy định của Nghị định và các biện pháp chống gian lân thương mại qua giá
2.2.3 Về phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Nhiêm vụ của cơ quan Hải quan Việt Nam đã được quy định trong Luật Hải quan: “ Thực hiện kiểm Ira, giám sát hàng hóa, phương tiên vận tải; phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật vể thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biên pháp quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khấu, nhập khẩu,,(29) Trong Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng khẳng 3ịnh: “ Tổng cục Hải quan là cơ quan có trách nhiệm lổ chức Ihu thuế xuất íhẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” (w>
Để thực hiện được tốt nhiêm vụ này thì công tác phân tích, phân loại xác lịnh mã số hàng hoá xuất nhập khẩu(31) có một vị trí rất quan trọng Nếu làm tốt
;ông tác này, sẽ giúp cho các cán bộ và cơ quan Hải quan xác định đúng số huế phải nộp đối với từng loại hàng hóa; không để xảy ra các trường hựp nộp
;ai, thu sai hoặc để sót thuế, lọt thuế đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu,
「uy nhiên, công tác này không phải là một công việc đơn giản vì số lượng các năt hàng rất 丨ớn và đa dạng Tính đến năm 2000, theo thống kê của Tổ chức
•ỉải quan thế giới thì có khoảng 350.000 mặt hàng đang tồn lại và luỏn luôn lưực đổi mới vổ hình thức, chấl lưựng, tính chấl lý, hóa, tính năng iác lụng(32),… Do đó, viộc xác định được các thuộc tính đặc trưng cho từng mặt
: Iliện nay, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 1257/2001 /Q Đ -T('IỈQ ngày 4/12/2001 vé viÇc ban hành íờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, giấy thông háo thuế và quyết định điổu linh thuế.
: Luật I lải quan 2001, Điéu 11
: Luậi Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1991, Điều 15
Tổng cục Trưởng Tổng cục ỉỉải quan ban hành Quyết định số 7 10/rCHQ/QĐ-IrrPL ngày 03/6/2003 vể ban mil Quy chế về phân tích phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
: Xem ihôm: Để lài “ Phán loại, áp mã thuốc và biệt dược theo biểu Î huế xuất nhập khẩu” ,Mã số ()2-N2(X)l
lủ nhiệm dẻ tài: Vũ Văn Doanh, Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu H ải quan, nghiệm ỉhu năm 2001.
Trang 39hàng để làm cơ sở cho việc phân loại, áp mã hàng hóa được chính xác và ngày càng phức tạp Đặc biệt, có nhiều loại hàng hóa mới xuất hiện hoặc có nhiều tính năng kết hựp như hiện tượng “ xe tải mui kín” và các dạng biến tướng của loại xc gắn máy 150cc mang thương hiệu @ như “ Xe DyLan” trong thời gian vừa qua trôn thị trường Việt Nam Cùng với loại xe @ 15ÜCC và xe Dylan cùng hiệu Honda Italia Nhưng đối với xe Honda @ 150cc có tên gọi cụ Ihể trong bảng giá thì áp giá tính thuế là 2.500 USD/bộ; còn đối với loại xe Dylan không được quy định trong bảng giá tối thiểu thì rơi vào mục "xe khác chưa được quy định" và được áp giá 1.230 USD/bộ Đây là sự bất hợp lý 2 loại xe tương tự, cùng nhà sản xuất lại được áp vào hai loại giá khác nhau do chỉ có thay đổi
“ một cái nhãn, mác như Honda @ sang Honda Dylan", điều này đã được các doanh nghiệp khai thác sơ hở này Cơ quan Hải quan cũng thấy được sự bất hợp
lý này nhưng vãn phải cho thông quan
Đã từng có một thời gian đài, công tác này găp rất nhiều khó khăn do những vướng mắc trong các quy định của các cơ quan có liên quan, về cơ bản,
hệ thống biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam đã tương đối phù hợp với các quy định về các nguyên tắc phân loại hàng hóa của Hệ thống hài hòa về
Mã và Mô tả hàng hóa như đã nêu ở trên, nhưng do sự thay đổi liên lục và sự xuất hiện của nhiồu loại hàng hóa mới nên hệ thống này không thể đáp ứng kịp ihời Trong khi đó, trong Pháp lệnh Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không có quy định cho cơ quan Hải quan có thẩm quyền về phân tích hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Nhưng cũng chưa có văn bản nào quy định thẩm quyền này cho bất kỳ cơ quan nào Trong hai Nghị định 86/CP ngày 08-12-
1995 về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa và Nghị định 20/1999/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa và các Công vãn của Văn phòng Chính phủ số 4386/KGVX ngày 3 tháng 9 năm 1997
về việc thực hiện Nghị định 86/CP về quản lý chất lượng hàng hoá; công văn số 2962/KGVX ngày 20/6/1996 về việc Iriển khai N g h ĩ định 86/CP cung đều không quy định thẩm quyền xác định mã số hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho các cơ quan giám định Nhưng các cơ quan Hải quan địa phương trong quá trình hoạt động vẫn thường sử dụng các kết quả của các cơ quan giám định để làm căn cứ phân loại hàng hóa, xác định mã số hàng hóa Để giải quyết tình trạng này, Bộ Khoa học, Công nghệ và M ôi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghê) đã ban hành Công văn số 109/TĐC-THPC ngày 12-02-2001 về việc áp dụng mã số cho hàng hóa đã xác định rằng thẩm quyổn xác định mã số thuế không Ihuộc các cơ quan giám định chất lượng hàng hóa và chỉ đạo các Trung :âm đo lường chất lượng khi giám định hàng hóa không được kết luận về mã số
HS của hàng hóa, kể cả các đề xuất mang tính tham lchảo
Từ khi khi Luậl Hải quan có hiệu lực Tại các Điều 27 và 72 của luật đã juy định rất rõ ràng về vấn đề phân tích, phân loại hàng hoá, theo đó, khi làm
hủ tục hải quan, công chức Hải quan có quyền lấy mẫu hàng hóa trước sự có ĩiặt của người khai hải quan để cơ quan Hải quan phân lích hoặc trưng cầu ịiám định phục vụ kiểm tra hàng hóa; sử dụng kết quả phân tích, kết quả giám lịnh để xác định đúng mã số và chất lượng hàng hóa Cán bộ Hải quan cũng có
Trang 40quyền yôu cầu người khai hải quan cung cấp thông tin, chứng từ liên quan đến hàng hóa phương tiện vân tải để xác định đúng mã số, trị giá của hàng hóa phục
vụ việc thu thuế và các khoản Ihu khác theo quy định của pháp luâl ViỌc kiểm Ira thực lố hàng hóa do công chức Hải quan kiổm tra ti-ực tiếp hoặc kiểm tra bằng máy móc,Ihiếl bị, các biôn pháp nghiỌp vụ khác
Trong trường hợp không chấp nhân kết quả phân loại của người khai hải quan, cư quan Hải quan có quyồn yôu cđu người đỏ cung cấp các lài liỌu liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; lấy mẫu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với sự chứng kiến của người khai hải quan để phân tích, phan loại và xác định lại thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đó; nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả phân tích của cơ quan Hải quan thì có quyền khiếu nại Việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật
Để đưa các quy định nêu trên của Luật Hải quan vào áp dụng thực tiễn, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2003/NĐ-CP ngày 22/01/20ỏ3rcủa Chính phủ quy định về việc phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đổ phục vụ cho các khâu nghiệp vụ của ngành Hải quan Nghị định này quy định về các hoại động phân tích hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như là đưa ra khái niệm phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: Là việc căn cứ vào tôn gọi, mô lả vé tính chất, thành phần, cấu tạo, công đụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác của hàng hoá để xác định, sắp xếp hàng hoá vào một mã số nhất định theo Hệ thống Hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá, danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 2); xác định đối tượng, mục đích phân tích, phạm vi điều chỉnh là: Các tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá; các cơ quan quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực hải quan, thuế, thống kê, thương mại và các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác
có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá (Đ iềul), Chương 2 quy định về danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đưa ra các tiêu chí về phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, phải bảo đảm tuân thủ theo Hệ thống HS, .(Chương 3); quy định quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Ngày 03/6/2003 Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành Quyếl định số 710/TCHQ/QĐ- PTPL ban hành kòm Quy chế vồ phân lích phân loai hàng hoá xuất khắu, nliâp khẩu(33), quy định vổ quy trình lấy mẫu phân lích, phân loại và các hước liến hành phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu,
33 Phân tích, phân loại là việc cơ quan hải quan kiểm tra thực tế m ỉu hàng hoá xuấi khẩu, nhập khẩu liến hành chủ yếu trong phòng thí nghiệm, bằng các biộn pháp nghiôp vụ kỹ thuật để xác (lịnh dúng tốn hàng vh mã số xuất khấu, nhập khẩu theo danh mục xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam theo Biểu thuế xuất khẩu» Biểu thuế nhập khẩu và theo Hệ thống hài hoà mô cả và mã hoá hàng hoá của Tổ chức hải quan Ihế giới (Hệ thống MS) Đối tượng phàn tích, phân loại là mầu hàng hoá xuấi khẩu, nhập khẩu chưa xác (lịnh dược hoặc có nghi ngờ vể lên hàng và mã số hàng hoá Đơn vị yêu cẩu phân tích, phân loại là các dơn vị hải quan Các í rung tâm phân lích, phân toại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trực thuộc TCHQ là dơn vị trực liếp thực hiện công (ác phân lích, phân loại xuất kháu, nhập khẩu Kết quả phân tích, phAn loại (lược cơ quan hải quan sử (lựng để tiến hành thù tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu và xử lý các vấn đề có liổn quan dến nhà nước vé liai quan.