1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG

30 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngân Hàng Thương Mại Và Các Nghiệp Vụ Chủ Yếu Của Ngân Hàng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng và các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng
Thể loại Tài liệu tham khảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 46,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được chức năng này, các NHTM phải hoạt động thành một hệ thống cómối liên hệ chặt chẽ với nhau và với khách hàng trong hoạt động tín dụng và trong thanh toánqua ngân hàng 1.

Trang 1

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN

1.2 Chức năng

1.2.1 Trung gian tín dụng

Đây là chức năng quan trọng nhất, phản ánh nét rõ nhất bản chất của NHTM kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ NHTM một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế.Mặt khác, nó dùng chính số tiền đã huy động được cho vay đối với các thành phần kinh tếtrong xã hội hay nói cách khác, ngân hàng là một tổ chức đóng vai trò cầu nối giữa các đôn vịthừa vốn với các đơn vị thiếu vốn chi tiêu Thông qua sự điều chuyển này NHTM có vai tròthúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, tăng trưởng việc làm, cải thiện mức sống của dân cư, ổnđịnh thu chi của Chính phủ Đồng thời, chức năng này còn góp phần quan trọng trong việcđiều hoà nền kinh tế, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát Từ đó cho thấy rằngđây chính là chức năng cơ bản nhất của NHTM

Trang 2

1.2.2 Trung gian thanh toán

Hệ thống NHTM ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản công tác thanh toánkhông chỉ trong phạm vi một nước mà là cả trên phạm vi toàn thế giới, nó đã tạo ra một hệthống thanh toán không dùng tiền mặt khá hoàn hảo

Trong khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã thu hút được hầu hết cácdoanh nghiệp, các cá nhân mở tài khoản tại hệ thống ngân hàng Ngân hàng đã trở thành thủquỹ cho vô số khách hàng, thực hiện thu chi theo lệnh của chủ tài khoản Ngày nay, ở cácnước có hệ thống ngân hàng phát triển, hầu hết giao dịch thanh toán được thực hiện thông quangân hàng băng cách trích tiền của người mua trên taì khoản của họ tại ngân hàng và nhậpvào tài khoản của ngưới bán Đó là cơ sở và nội dung của chức năng thanh toán

Cùng với chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán làm cho hệthống NHTM có khả năng tạo tiền

1.2.3 Chức năng tạo tiền

Chức năng này là hệ quả của hai chức năng trên Quá trình tạo tiền thực chất là quá trìnhkết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt củacác hệ thống NHTM Nhờ có sự kết hợp đó, từ một khoản tiền gửi ban đầu, hệ thống NHTM

có thể tạo ra một lượng bút tệ lớn hơn rất nhiều, mặc dù mỗi ngân hàng chỉ cho vay trongphạm vi tiền gửi mà mình có

Để thực hiện được chức năng này, các NHTM phải hoạt động thành một hệ thống cómối liên hệ chặt chẽ với nhau và với khách hàng trong hoạt động tín dụng và trong thanh toánqua ngân hàng

1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM

Dịch vụ ngân hàng đã tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Nhu cầu thị trường laịthường xuyên thay đổi theo hướng ngày càng cao về chất lượng, đa dạng phong phú vềchủng loại Đáp ứng sự thay đổi đó, các nghiệp vụ ngân hàng cũng được cải tiến và tăng lên

Trang 3

tương ứng về số lượng và chất lượng Về cơ bản các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM baogồm: nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian.

1.3.1 Nghiệp vụ tài sản nợ

Đây là nhóm các nghiệp vụ nhằm tạo lập nguồn vốn cho nhân hàng Là một đơn vịkinh doanh tiền tệ, nguồn vốn của ngân hàng là yếu tố quyết định tới quy mô hoạt động, uytín và sức cạch tranh của ngân hàng trên thị trường

+ Trước hết, để có thể thành lập và đi vào hoạt động, chủ ngân hàng phải tạo lập vốn

tự có Cách thức tạo lập nguồn vốn này tuỳ thuộc đó là loại hình ngân hàng nào

- Đối với ngân hàng quốc doanh, vốn ban đầu do Nhà nước cấp, quy mô các ngân hàngnày thường khá lớn

- Các ngân hàng cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp bằng việc mua cổphiếu

- Các ngân hàng liên doanh tạo lập vốn bằng việc góp vốn của các bên liên doanh

- Đối với các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, vốn điều lệ là do ngân hàng mẹ cungcấp

Trong quá trình hoạt động, NHTM thường xuyên sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đểbảo toàn vốn và không ngừng nâng cao quy mô, chất lượng vốn tự có bằng cách trích lập quỹnhư: quỹ dự trữ, quỹ bảo toàn vốn… từ lợi nhuận thu được Một số ngân hàng còn nâng mứcvốn tự có bằng các nghiệp vụ như: phát hành thêm cổ phiếu, huy động vốn liên doanh… cóvậy, ngân hàng mới mở rộng được quy mô hoạt động của mình và nâng cao uy tín, khả năngcạnh tranh của mình trên thị trường

+ Nghiệp vụ huy động vốn: NHTM được coi là tổ chức kinh doanh tiền gửi, điều đócho thấy nghiệp vụ huy động tiền gửi quan trọng tới mức nào trong hoạt động kinh doanh củangân hàng Trong nền kinh tế thị trường, có một số lượng vốn rất lớn của khách hàng gửi tiềnvào ngân hàng với các mục đích cơ bản như: lưu giữ tiền tệ an toàn, kiếm lãi từ khoản tiềnnhàn rỗi…

Trang 4

Thông qua hoạt động nghiệp vụ, ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của các khách hàngbằng cách đưa ra nhiều loại hình tiền gửi: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không

kỳ hạn… nguồn vốn huy động dưới hình thức tiền gửi thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổngnguồn vốn mà ngân hàng dùng vào kinh doanh ( thường chiếm từ 70 - 80% ) Ngân hàngcũng huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… nhằm mở rộngnguồn vốn, đáp ứng các nhu cầu tín dụng ngày càng đa dạng hoá các khách hàng

+ Nguồn vốn vay: Khi tạm thời thiếu vốn, NHTM có thể đi vay từ ngân hàng Nhànước, hoặc từ các tổ chức tín dụng, các NHTM khác Trên thực tế, trong quá trình hoạt động,quan hệ vay mượn giữa các ngân hàng thường xuyên xảy ra với thời hạn ngắn do nguồn vốn

và sử dụng vốn của mỗi ngân hàng biến động liên tục, lúc thừa lúc thiếu

Trên cơ sở nguồn vốn tạo lập được, sau khi đã trích dự trữ theo quy định, ngân hàng sửdụng nguồn này để cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ khác Các hoạt động này đượcthể hiện ở nhóm tài sản có của ngân hàng

1.3.2 Nghiệp vụ tài sản có

+ Nghiệp vụ ngân quỹ: là các hoạt động tạo lập, quản lý, sử dụng các khoản tiền dự trữ

để đáp ứng các yêu cầu quản lý kinh doanh của ngân hàng

Để đáp ứng nhu cầu rút tiền, nhu cầu thanh toán của khách hàng và cũng là chính bảnthân ngân hàng, mỗi ngân hàng điều phải giữ một khoản tiền mặt nhất định tại quỹ, tại tàikhoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác Khoản dự trữ nàykhông trực tiếp nhưng sinh lời cho ngân hàng nó rất cần thiết Nó đảm bảo đáp ứng kịp thời,đẩy đủ nhu cầu thanh toán chi trả cho khách hàng, điều có liên quan trực tiếp tới uy tín củamỗi ngân hàng

+ Nghiệp vụ tín dụng: là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ sử dụngtrong một khoản tiền nhất định, khi hết hạn khách hàng sẽ phải trả tiền cho ngân hàng mộtkhoản tiền lớn hơn khoản vay ban đầu bao gồm cả gốc và lãi

Trang 5

+ Nghiệp vụ đầu tư: ngân hàng thực hiện đầu tư vào chứng khoán Nhà nước, chứngkhoán công ty hoặc có thể đầu tư trực tiếp Nhìn chung hoạt động đầu tư luôn có khả năngsinh lời cao và chứa đựng nhiều rủi ro Do đó, để đảm bảo an toàn của hệ thống ngân hànghầu hết các nước đều quy định: NHTM chỉ được sử dụng vốn tự có dể hùn vốn và tổng cáckhoản đầu tư không được vượt quá tỷ lệ quy định.

1.3.3 Nhóm nghiệp vụ trung gian

Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản nói trên, trong quá trình hoàn hiện chức năng và vai trò củamình, các NHTM còn được thực hiện một số các nghiệp vụ khác của một trung gian tài chínhnhư:

- Nghiệp vụ bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng trong trườnghợp khách hàng không có khả năng thanh toán

- Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt: thu hộ, chi hộ, chuyển tiền, thanh toántheo L/C…

- Thanh toán ngoại hối, vàng bạc đá quý

- Nhận uỷ thác, ký gửi, tư vấn tài chính…

II HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM.

1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN.

1.1 Sự cần thiết của công tác huy động vốn ở ngân hàng

Đối với ngân hàng : Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của ngânhàng Về sau khi NHTM đã hình thành ổn định, các nghiệp vụ của nó được xen kẽ lẫn nhautrong suốt quá trình hoạt động

Huy động các nguồn vốn khác nhau ( tài sản nợ ) trong xã hội để hoạt động là hoạtđộng quan trọng nhất của các NHTM Ở các nước công nghiệp, với sự phát triển nhanh củacác thị trường tài chính, đã có rất nhiều loại tài sản có lợi tức ổn định và thanh toán cao, tài sản

nợ rất đa dạng làm cho việc tìm kiếm vốn hoạt động của NHTM trở thành sự cạnh tranh khốcliệt, trước mắt các ngân hàng ở các nước phát triển luôn luôn xuất hiện vấn đề làm thế nào để

Trang 6

có đủ vốn cho vốn đầu tư giữa môi trường cạnh tranh gay gắt NHTM phải cạnh tranh vớinhững ngân hàng khác, với các tổ chức tài chính khác, với các nghiệp vụ thị trường trực tiếp

và với bất cứ tổ chức nào khác muốn thu hút một khối lượng vốn nào đó

Ngoài ra nếu có một cơ cấu nguồn vốn phù hợp sẽ giúp cho ngân hàng giảm được rủi

ro, tăng khả năng kinh doanh , hoạt động có hiệu quả Hơn nữa , một ngân hàng có tỷ lệ antoàn vốn cao sẽ làm tăng uy tín của mình , có khả năng cạnh tranh lớn

Còn đối với khách hàng, huy động vốn của ngân hàng giúp cho khách hàng thực hiệntiết kiệm , sử dụng được vốn nhàn rỗi, vừa an toàn vừa sinh lời Đối với xã hội , huy động vốngiúp cho nền kinh tế tập trung được một lượng vốn lớn để thực hiện đầu tư lớn vào nhữnglĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, góp phần vào việc phát triển cơ sở hạ tầng

1.2 Các nguồn vốn của ngân hàng

Nguồn vốn của một NHTM bao gồm vốn tự có của chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vayngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, ở các nước đang phát triển còn có nguồn vốn

uỷ thác đầu tư Vốn tự có là nguồn vốn khởi tạo để cho ra đời một NHTM, tuy chiếm tỷ trọngnhỏ nhưng có vai trò quyết định quy mô, tầm vóc và uy tín của ngân hàng NHTM thực hiệnviệc đi vay để cho vay bằng việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân, đi vay ngân hàngkhác ( ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng ) hoặc nhận vốn uỷ thác đầu tư từ Chínhphủ, các tổ chức ở nước ngoài

a/ Vốn tự có NHTM: là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, được tạo ra bằng cách

bán cổ phần hoặc từ lợi nhuận giữ lại Nó cũng có thể bao gồm loại vốn mà ngân hàng đượcphép sử dụng lâu dài theo pháp luật riêng của từng nước Đối với các NHTM thuộc sở hữuNhà nước thì chỉ có một cổ đông duy nhất Đó chính là Nhà nước

* Cơ cấu vốn tự có: vốn tự có ngân hàng gồm hai phần : vốn tự có cơ bản và vốn tự bổxung

Vốn tự có cơ bản: Gồm cổ phần thường, thặng dư vốn, lợi tức không chia, cổ phần ưuđãi vĩnh viễn, khoản dự trữ thiệt hại cho vay

Trang 7

Bất kể ngân hàng nào khi thành lập đều phải có một mức vốn tự có cơ bản ít nhất làngang bằng vốn pháp định Theo luật công ty ở các nước cũng như ở Việt nam đều có điềukhoản quy định một mức vốn tối thiểu cho mỗi loại hình cho công ty mới thanh lập theo từngngành nghề riêng biệt gọi là vốn pháp định Mặt khác luật công ty cũng quy định về điều lệhoạt động của các công ty do các cổ đông sáng lập, trong đó chấp hành vốn điều lệ của công

ty do cổ đông sáng lập ấn định, với điều kiện mức vốn này ít nhất bằng vốn pháp định quyđịnh cho mỗi loại hình công ty

Như vậy chung ta thấy vốn cổ phần của một ngân hàng khi mới thành lập có thể bằngvốn điều lệ ngân hàng ( trường hợp bán được hết cổ phần ) Nhưng phải ít nhất bằng vốnpháp định thì ngân hàng đó mới được cấp giấy phép hoạt động

Thặng dư vốn là chênh lệnh do xác định giá trị tài sản cố định của ngân hàng so vớimua sắm ban đầu

Lợi nhuận không chia: là phần lợi tức hàng năm theo quyết định của đại hội cổ đông

giữ lại bổ xung thêm vốn tự có ngân hàng

Cổ phần ưu đãi vĩnh viễn: là loại chứng khoán, có lãi suất cố định cho người sở hữu,

người giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền biểu quyết hoạt động ngân hàng Ngân hàng pháthành cổ phần ưu đãi phải trả lợi tức cho cổ phiếu từ lợi nhuận của ngân hàng, không phải từchi phí mà còn từ lợi nhuận sau thuế, Trường hợp ngân hàng không có lợi nhuận để trả lãicho cổ phiếu ưu đãi, người giữ cổ phiếu ưu đãi không có quyền buộc ngân hàng phá sản Tuynhiên, sau một năm nếu không buộc trả lãi cổ đông ưu đãi có quyền chuyển đổi cổ phiếu ưuđãi sang cổ phiếu thường

Khi có yêu cầu tăng vốn tự có, ngân hàng thường phát hành cổ phiếu ưu đãi, tuy phảichi phí vốn cao ( lợi tức sau thuế ) nhưng không làm giảm sút quyền lợi của cổ đông Ngườimua cổ phiếu ưu đãi có thu nhập ổn định theo lãi suất cố định, không như cổ phần thườngphụ thuộc vào lợi nhuận hàng năm của ngân hàng

Trang 8

Khoản dự trữ thiệt hại cho vay: Xuất phát từ cho vay bao giờ cũng xảy ra rủi ro và mất

mát, do vậy các ngân hàng đều duy trì dự trữ cho các khoản tổn thất Các NHTM được phéptrích lập quỹ dự trữ đặc biệt này từ các khoản thu nhập trước thuế Cũng có quốc gia quy địnhtrích lập quỹ này từ lợi nhuận sau thuế theo một tỷ lệ nhất định

- Vốn tự có bổ xung: Bao gồm cổ phần ưu đãi thời hạn, giấy nợ và tín phiếu vốn

Cổ phiếu ưu đãi có thời hạn là loại chứng khoán như đã trình bày trên, nhưng có thờihạn ít nhất 7 năm

Tín phiếu vốn và giấy nợ cũng là những công cụ gọi vốn có lãi suất cố định, nhưng cóthời hạn đáo hạn trên 7 năm Chúng được ngân hàng lập kế hoạch trả nợ theo thứ tự từng loạihoặc được trả góp hàng năm là phải bằng nhau Do các công cụ này có thời hạn đáo hạn nênđến kỳ hạn đáo hạn người giữ nó sẽ hoàn trả lại cho ngân hàng làm lượng vốn tự có của ngânhàng giảm xuống

b/ Nguồn vốn huy động

Có nhiều cách phân loại kết cấu vốn huy động, ở đây chỉ đưa ra 2 cách phân loại kết cấuvốn huy động

 Kết cấu vốn huy động phân theo hình thức huy động:

Tiền gửi ( hay còn gọi là tiền ký thác ) của khách hàng thông thường được xem là sốtiền gửi vào tài khoản của họ ở ngân hàng Thông thường ở các nước thì khách hàng xin mởtài khoản là nhằm hưởng các tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp cho họ Khách hàngcũng thường gửi tiền để lấy lãi, như gửi tiền vào sổ tiết kiệm, tài khoản có kỳ hạn trường hợpnày khách hàng không được quyền sử dụng các dịch vụ của ngân hàng chẳng hạn như séc đểthanh toán… Do đó người gửi tiền cảm thấy việc ngân hàng tuỳ nghi sử dụng số dư của tiềngửi là chính đáng

- Tiền gửi không kỳ hạn: đây là loại tiền do khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm mụcđích giao dịch với nhau Trên thực tế người gửi tiền chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ khác thuậntiện hơn cho họ, người gửi có thể sử dụng tiền vào bất cứ lúc nào khi họ muốn, tiền gửi không

Trang 9

kỳ hạn thường không được trả lãi và khách hàng co thể được hưởng các dịch vụ miễn phí.Khách hàng phát hành séc hoặc các chứng từ thanh toán khác do ngân hàng quy định Loạitài khoản này thường tạo cho ngân hàng nhiều việc phải làm, do đó lý do tại sao ngân hàng ítkhi trả lãi cho loại tiền gửi này.

- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền có ấn định cụ thể thời gian đáo hạn, khách hàng gửivào NHTM với mục đích vừa thu lãi để dành chi dùng, mua sắm tài sản về sau, hoặc cho nhucầu chi tiêu dự định trong tương lai Ngươì gửi tiền được hưởng lãi suất nhất định khi tới hạnrút tiền.Để quản lý các loại tiền gửi có kỳ hạn, các NHTM sử dụng tài khoản tiền gửi có kýhạn Thực ra các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn không phải là những ký thác theo nghĩa củapháp lý mà nó có dạng như là một khoản tiền vay của ngân hàng nhưng lại không thể hiệnbằng một phiếu khoán Về nguyên tác khoản tiền gửi, ngân hàng có thể cho vay bằng cáchcho người gửi tiền vay trong thời hạn số tiền đã ký thác với lãi suất không lớn hơn lãi suấtngân hàng trả cho tài khoản tiền gửi có kỳ hạn Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn nhìn chungkhông được phát hành séc

- Tiền gửi có kỳ hạn báo trước ( ký thác có báo trước ): là loại ký thác có quy địnhngày đáo hạn nhưng có thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng khi cần rút tiền phải báotrước ( từ 8 – 15 ngày )

 Xét về mặt kinh tế việc thông báo nhằm mục đích giúp ngân hàng chuẩn bị số tiền đủthanh toán, thì nó là một tài khoản tiền gửi ( ký thác )

Xét về mặt pháp lý, ký thác có báo trước cho phép khách hàng phát hành séc, do đó

nó giống như một tài khoản tiền vay của ngân hàng Ký thác có báo trước được trả lãi nhưngthấp hơn lãi trả cho tiền gửi có kỳ hạn

 Nhiều ngân hàng đã kết hợp hai loại tiền gửi có kỳ hạn và ký thác có báo trước đểthành tiền gửi có kỳ hạn nhưng khi cần có thể rút tiền trước, miễn là phải báo trước cho ngânhàng một thời gian theo qui định, tuỳ số tiền lớn hay nhỏ

Trang 10

- Tiền gửi tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm thường là tiền gửi của dân cư do chưa co nhucầu sử dụng ngay gửi vào ngân hàng Ngân hàng thường trả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao hơnlãi suất tiền gửi, người gửi tiền được ngân hàng cấp một sổ tiết kiệm phục vụ cho việc ghichép gửi và rút tiền Tiền gửi tiết kiệm không được phát hành séc Việc điều hành các tàikhoản tiền gửi tiết kiệm tại phần lớn các nước được quy định:

Sổ tiết kiệm chỉ được mở cho các thể nhân, chỉ mở cho mỗi người một sổ Khi gửingười gửi phải cam đoạn chưa mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng khác

Số dư tối đa của sổ tiết kiệm được quy định cho từng thời kỳ

Chỉ có chủ tài khoản mới được rút tiền, không được sử dụng séc

Ở Việt nam tiết kiệm gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn :tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có xác định thời gian đáo hạn Khi đáo hạn, người gửikhông đến rút ngân hàng có thể tự động được chuyển sang một kỳ hạn mới, lãi được tính khiđáo hạn Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể có lãi suất thấp hơn tiền gửi tiếtkiệm có kỳ hạn, được rút tiền theo ý muốn , lãi được tính hàng tháng nhưng chỉ được nhập lãivào gốc theo quý

- Chứng chỉ tiền gửi ( Certificates of deposits – CDs ) do ngân hàng phát hành ghi rõ thờigian đáo hạn và số lượng tiền gửi, lãi luất ( cố định hoặc giao động ) tuỳ sự lựa chọn củakhách hàng Chứng chỉ tiền gửi nếu ghi tên người gửi gọi là tiền gửi vô danh là loại có thểchuyển nhượng được và được bán trên thị trường thứ cấp trước ngày đáo hạn

 Kết cấu vốn huy động phân theo thời gian

Kết cấu huy động vốn phân theo thời gian chia vốn huy động thành vốn huy độngngắn hạn và vốn huy trung - dài hạn Mục đích của sự phần chia này nhằm kế hoạch hoá chocông tắc đầu tư, cho vay, đồng thời cũng giúp ngân hàng tính toán thời gian người gửi rút tiền

để chuẩn bị khả năng thanh toán một chác chủ động

- Vốn huy động ngắn hạn : bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn và các khoảntiền gửi có kỳ hạn dưới 1 năm NHTM dùng các khoản vốn huy động ngắn hạn chủ yếu cho

Trang 11

vay ngắn hạn Nếu có sử dụng vốn ngắn hạn vào đầu tư trung, dài hạn cũng chỉ sử dụng tỷ lệnhỏ trong tổng số vốn ngắn hạn bởi việc dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn rất nguyhiểm khi có những dòng tiền rút ra Nếu ngân hàng không có đủ khả năng chi trả sẽ bị vỡ nợ;

để cố gắng lo đủ khả năng chi trả, NHTM cũng sẽ gặp rủi ro lớn do phải bán các chứngkhoản nợ chắc chắn sẽ gây thiệt hại về tài chính và uy tín của ngân hàng

- Vốn huy động trung, dài hạn là những khoản tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên.ngân hàng thường phải trả lãi cho người gửi tiền trung, dài hạn cao hơn so với tiền gửi vốnngắn hạn nhưng với tính chất tương đối ổn định hơn, thời gian đáo hạn dài hơn và kế hoạchtrả nợ xác định hơn, giúp doanh nghiệp có vốn mở rộng cho kinh doanh, cải tiến kỹ thuật đầu

tư mới…

 Tính chất của nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động là nguồn vốn có tính chất giao động và luôn biến đổi Nó phụthuộc vào mức thu nhập của dân chúng, tâm lý muốn giữ tiền hay tài sản hiện vật của côngchúng, phụ thuộc và lãi suất thị trường đặc biệt là lãi suất do các NHTM đưa ra trong việccạnh tranh nguồn tiền gửi Loại tiền gửi không kỳ hạn thường biến động nhiều nhất, do vậykhó có thể kế hoạch và sử dụng được nguồn này để cho vay dài hạn, NHTM thường chỉ sửdụng vào việc lập các dự trữ sơ cấp để bổ sung cho dự trữ ngân quỹ hoặc cho vay ngắn hạn.Loại tiền gửi có kỳ hạn là loại nguồn vốn ngân hàng có thể kế hoạch việc sử dụng, thôngthường ngân hàng sử dụng vào việc cho vay ngắn hạn Loại nguồn vốn huy động có kỳ hạndài một năm trở lên có thể được ngân hàng sử dụng để cho vay trung và dài hạn

c/ Nguồn vốn đi vay.

 Vay từ ngân hàng Nhà nước dưới hình thức chiết khấu.

Trong những điều kiện nhất điịnh, để đáp ứng được nhu cầu thanh khoản cần bổ sungvốn dự trữ ngân quỹ, khi các khoản tín dụng chưa tới kỳ đáo hạn và việc giữ các tài sản cócủa ngân hàng là có lợi hơn nếu đem bán lại cho NHTM Vay vốn từ ngân hàng Nhà nướcdưới các hình thức chiết khấu để bù đáp sự thiếu hụt tạm thời Thường các NHTM vay chiết

Trang 12

khấu từ ngân hàng Nhà nước phải sử dụng các công cụ vay mượn là: Thương phiếu, chứngkhoản của Chính phủ… Những chứng khoán được ngân hàng Nhà nước chấp nhận thế chấptiền vay là lọai có chất lượng cao; thời gian đáo hạn ngắn; được giao dịch ở Sở chứng khoán.Mức lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào chính sách quản lý vĩ mô về cung ứng tiền tệ của ngânhàng Nhà nước Trong những giai đoạn thắt chặt tiền tệ thì việc vay chiết khấu từ ngân hàngNhà nước là cực kỳ khó khăn, lãi suất chiết khấu cao, thậm chí có thể bị từ chối không đượcvay.

 Vay từ các nguồn khác

Khi điều kiện khó khăn tài chính nhất thời, các NHTM cũng có thể đi vay từ cácNHTM khác dưới hình thức thế chấp, hoặc tín chấp thời hạn ngắn ( một ngày, một vàituần…) với lãi suất thoả thuận giữa hai NHTM với nhau Những món vay này thông thường

là bổ sung dự trữ bắt buộc hoặc thiếu hụt thanh toán

Tính chất của các khoản vốn vay này là có kỳ hạn nhất định, thông thường là thời gianngắn, nó được coi như là các biện pháp bổ sung thiếu hụt tài chính tạm thời cho NHTM cótính thời điểm Song cũng có NHTM coi việc bổ sung bằng vốn vay thay cho việc phát hành

cổ phiếu tăng vốn tự có, nó là biện pháp thay đổi lại cấu trúc tài sản Nợ của ngân hàng vớimục đích tăng lợi nhuận cho cổ đông, bởi lý do chi phí trả tiền vay là chi phí trước thuế

d/ Nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư

Nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư thông thường suất hiện ở các nước đang phát triển, docác tổ chức tài chính nước ngoài cung cấp, thông qua các hiệp định Nhà nước ký với các tổchức tài chính nước ngoài NHTM nhận vốn này thực chi các dự án để được hưởng hoahồng, cũng có những trường hợp NHTM được chính phủ uỷ qyuền quan hệ trực tiếp với tổchức tài chính nước ngoài vay vốn để tài trợ cho những dự án phát triển kinh tế trong nước.Trường hợp này khi nước ngoài chuyển vốn vào, Chính phủ ghi thu ngân sách, sau đó vốnđược cho các NHTM vay lại để cho các đối tượng thoả thuận trong dự án vay NHTM trả lãicho Bộ tài chính hoặc ngân hàng Nhà nước

Trang 13

Về tính chất: nguồn tài trợ uỷ thác đầu tư là nguồn vốn có thời hạn dài, trợ giúp cho cácnguồn vốn trong nước trong một thời kỳ nào đó thường gắn với các đối tượng cho vay nhấtđịnh nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Suy cho cùng trừ nguồn vốn uỷ thác đầu tư, ngânhàng làm dịch vụ để hưởng hoa hồng ( chiếm tỷ lệ nhỏ ), phần còn lại của vốn uỷ thác đầu tưchính là vốn vay từ các tổ chức tài chính – tín dụng nước ngoài.

Tóm lại: NHTM có 4 nguồn cơ bản : vón tự có, vốn huy động, vốn vay, vốn tài trợ uỷ

thác đầu tư Mỗi nguồn vốn có tính chất riêng biệt, do vậy từng loại vốn nó có vai trò nhấtđịnh khác nhau trong cấu trúc tài sản nợ của NHTM

Vốn của NHTM là yếu tố đầu tiên phải có để tiến hành kinh doanh tiền tệ – tín dụng.Vốn của ngân hàng quyết định quy mô kinh doanh, khả năng cạnh tranh, khả năng chống đỡrủi ro và uy tín của ngân hàng đó; đồng thời cũng quyết định lợi nhuận của ngân hàng Vớimột tỷ lệ vốn tự có cao trong tổng vốn kinh doanh sẽ tạo cho NHTM an toàn, chắc chắn trongkinh doanh, giữ được lòng tin của khách hàng, chống đỡ rủi ro trong đầu tư và cho vay cũngnhư mỗi khi co biến động về tài chính tiền tệ nhưng lại có nhược điểm làm doanh lợi trên vốn

tự có thấp hơn so với tăng tỷ lệ vốn huy động, vốn vay và vốn uỷ thác đầu tư, Mục tiêu tạo ranguồn vốn ổn định tăng trưởng lãi suất bình quân đầu vào thấp luôn là chiến lược của cácNHTM

- Nguồn vốn huy động: được hình thành từ tiền gửi của khách hàng nhằm hưởng cácdịch vụ của NHTM hoặc là các khoản tiền để dành, tích luỹ chưa sử dụng gửi vào ngân hàng

để tăng trưởng thu nhập từ lãi suất, Tuy có biến động nhưng là nguồn vốn có tỷ trọng caotrong tài sản nợ của ngân hàng

- Nguồn vốn vay: Chỉ có tính chất bù đáp thiếu hụt tài chính tạm thời, hoặc cần phảithay đổi cấu trúc tài sản nợ nhằm đạt lợi nhuận tối đa cho ngân hàng

- Nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư: Là nguồn vốn hỗ trợ đắc lực từ bên ngoài cho

NHTM nhằm bồ sung các nguồn vốn trong nước đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh

Trang 14

tế Vốn này cũng góp phần làm thay đổi cấu trúc tài sản nợ giúp ngân hàng có lợi nhuận tốiđa.

- Tuỳ trường hợp NHTM sẽ chọn mô hình kinh tế với tỷ lệ mà họ cho là thích hợp

giữa các nguồn vốn tự có, huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hay bổ sung ngân quỹ dự trữvới mục đích là đảm bảo sự vững chắc tài chính hay mục đích của ngân hàng trong từng thời

kỳ

1.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả công tác huy đông vốn

Nhằm đánh giá hiệu quả huy động vốn cho đầu tư phát triển ( chủ yếu là vốn trung vàdài hạn ) tại Ngân hàng thì cần có các chỉ tiêu Sau đây là các chỉ tiêu chính phản ánh hiệu quảcông tác này:

Chỉ tiêu 1 Khối lượng vốn lớn, tăng trưởng ổn định:

-Vốn huy động có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng Nguồn vốn tăng đều quacác năm ( vốn năm sau lớn hơn vốn năm trước ), sẽ thoả mãn nhu cầu tín dụng, đầu tư củangân hàng

-Tuy nhiên, nguồn vốn này phải ổn định về mặt thời gian ( đảm bảo tránh rủi ro về mặtthời gian ) Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn cho đầu tư nhưng không ổnđịnh thường xuyên, khi đó ngân hàng phải thường xuyên đối đầu với vấn đề thanh toán, ảnhhưởng đến hoạt động của ngân hàng Do đó, hiệu quả huy động vốn sẽ không cao

Chỉ tiêu 2 Chi phí huy động:

Chi phí huy động được đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãi suất huyđộng từng nguồn, chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra, đồng thời cũng thông qua chi phí pháthành Nếu ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi suất huy động thì việc huy độngvốn sẽ rất khó khăn Do vậy khó có thể thực hiện Ngược lại nếu lãi suất huy động càng caothì lãi suất cho vay càng cao gây khó khăn cho người vay tiền và có thể gây ứ đọng vốn choNgân hàng, khi đó ngân hàng cần phải trả lãi cho người gửi tiền trong khi khoản vốn ứ đọngkhông sinh lãi

Trang 15

Vì vậy ngoài việc tăng giảm lãi suất để có lợi cho người gửi tiền và người vay tiền cóthể giảm chi phí khác như : Chi phí in ấn phát hành, chi phí quảng cáo, tiếp thị, trả lương cán

bộ huy động, thuê địa điểm huy động

Chỉ tiêu 3 : Khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu cầu vay vốnđầu tư và các nhu cầu khác Từ đó xác định nguồn vốn có thể huy động được là bao nhiêu vànguồn vốn cần phải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu đó

Để đạt đựơc mục tiêu này, Ngân hàng phải đặt ra cơ cấu huy động vốn ngắn trung vàdài hạn một cách hợp lý ( kỳ phiếu bao nhiêu ? trái phiếu lấy bao nhiêu? )

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đồng thời cũng đảm bảo cho ngân hàng huy độngđược nguồn vốn này với chi phí thấp nhất có thể

Chỉ tiêu 4: Khả năng an toàn của nguồn vốn : ngân hàng Nhà nước thường sử dụng 2

chỉ tiêu sau đây để tiến hành đánh giá vốn tự có , cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng

Ngày đăng: 21/10/2013, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w