Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày 12/12/1997 qui định : " Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của t
Trang 1NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHỮNG VẤN ĐỀ
CÓ TÍNH CHẤT LÝ LUẬN.
I - Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM
1 Sự ra đời và quá trình phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM
1 1 Sự ra đời
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ với
xu hướng toàn cầu hoá sâu sắc Điều này bắt nguồn từ nhu cầu ngày càng cao của xã hội
về các loại hàng hoá, dịch vụ nhằm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Hơn nữa, các quốc gia với mục tiêu phát huy những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của mình, đã và đang thực hiện chính sách kinh tế mở, thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển Song điều này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp do những biến động bất thường
về chính trị, kinh tế - xã hội trên toàn cầu đã tác động tiêu cực tới hoạt động kinh doanh Mặt khác, khi thương mại mở rộng không biên giới thì rủi ro về thông tin không cân xứng cho một doanh nghiệp là rất lớn, từ đó rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp đồng đã ký kết là khó tránh khỏi Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu được thông tin thì việc tranh thủ cơ hội kinh doanh và chi phí bỏ ra đã cản trở họ thực hiện, gây ảnh hưởng đến hoạt động thương mại và giảm hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Để khắc phục điều này, đòi hỏi phải có một sự đảm bảo cho các giao dịch diễn ra an toàn, tạo độ tin cậy giữa các đối tác kinh doanh
Như vậy, từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có một sự đảm bảo trong các giao dịch, dẫn tới một hình thức giao dịch đảm bảo ra đời với hình thức biểu hiện là sự đảm bảo của một bên thứ ba, có đủ tư cách và năng lực thực hiện nhằm điều hoà quan hệ, tạo
sự tín nhiệm cho đối tác Đó chính là hoạt động bảo lãnh
1 2 Quá trình phát triển của bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa những năm 60, trong thị trường nội địa nước Mỹ Sau đó vào đầu những năm 70, bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế Vào thời gian này, các quốc gia thịnh vượng mau chóng vì sản xuất dầu hoả ở Trung Đông liên tục kí kết những hợp đồng kinh tế lớn với các nước phương Tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, dự án canh tân công, nông nghiệp, quốc phòng Giá trị rất lớn của các hợp đồng
và thế mạnh về tài chính của các quốc gia Trung Đông đã cho phép họ phải có một sự bảo đảm chắc chắn về phía đối tác khi tham gia vào các thương vụ giao dịch Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng của các nước phương Tây phát hành đã thực sự đáp ứng được yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn cho các quốc gia nhập khẩu Kể từ đó đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch, vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc chắn Có thể nói rằng, hầu hết các giao dịch lớn trong phạm
vi quốc tế, cũng như trong nội địa đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng Doanh số của nghiệp vụ này đã gia tăng một cách đáng kinh ngạc ở hầu hết các quốc gia trên thé giới Tại Việt Nam, vào đầu những năm 90, khi nền kinh tế nước nhà lột xác, chuyển đổi
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, bắt đầu hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực, các hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú, trong đó nghiệp vụ bảo lãnh được phát triển như một tất yếu khách quan cả về qui mô và số lượng Và cho đến nay, bảo lãnh ngân hàng đã phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực
Trang 22 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hàng có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau :
Xét theo khía cạnh học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức " Tín dụng chữ ký -Signature Credit " - là hoạt động không dùng đến vốn của ngân hàng
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương, nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh do sự vi phạm của bên đối tác liên quan
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam ( ngày 12/12/1997) qui định : " Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghiã vụ đã cam kết "
ở một cách tiếp cận cụ thể hơn, theo điều 2 trong qui chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng ( ban hành kèm theo quyết định 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000của
Thống đốc ngân hàng nhà nước ) qui định : " Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng ( bên bảo lãnh ) với bên có quyền ( bên nhận bảo lãnh ) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh ) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền mà ngân hàng đã trả thay "
3 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau Trong một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh
và người hưởng bảo lãnh, mà còn bao hàm những mối quan hệ khác Đó là :
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh Đây là quan hệ gốc, là cơ
sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh
Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh Đó là quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng
Cả ba mối quan hệ này cùng tồn tại song song và cùng chấm dứt
Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng không dùng vốn của ngân hàng, mà dùng đến uy tín của ngân hàng
Một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất ba thành phần sau :
Người bảo lãnh : là người phát hành bảo lãnh
Người được bảo lãnh : là người yêu cầu bảo lãnh
Người thụ hưởng bảo lãnh : là người nhận cam kết bảo lãnh
4 Chức năng chủ yếu của bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ bảo đảm
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh Bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người thụ hưởng Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết một cách suôn sẻ thuận lợi Đây cũng chính
là điểm khác biệt cơ bản giữa bảo lãnh ngân hàng và tín dụng thư thương mại ( tín dụng chứng từ ) Do việc thanh toán dựa trên biến cố vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của người được bảo lãnh ( chẳng hạn như : giao hàng không đúng kế hoạch, không đạt chất lượng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết, thanh toán tiền hàng không đúng hạn ) nên trong thực
Trang 3tế tỷ trọng các bảo lãnh được yêu cầu thanh toán không cao, thông thường chỉ khoảng dưới 5% ( chẳng hạn tại Mỹ chỉ có khoảng 1% trong số các bảo lãnh ngân hàng được yêu cầu thực hiện thanh toán )
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ tài trợ
Không chỉ là công cụ bảo đảm đối với người thụ hưởng, bảo lãnh còn là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được bảo lãnh Trong rất nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh khách hàng ( người được bảo lãnh ) không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, tiền nộp thuế Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh ngân hàng đã giúp cho khách hàng của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự
Bảo lãnh ngân hàng là công cụ thúc đẩy
Bảo lãnh ngân hàng cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đòng cam kết trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này Như vậy ngân hàng bảo lãnh luôn chịu một áp lực của việc thanh toán thay nếu như người được bảo lãnh không thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ của họ Do vậy, ngân hàng bảo lãnh luôn phải tìm mọi cách đốc thúc người được bảo lãnh hoàn tất hợp đã ký kết
II - Nội dung của nghiệp vụ bảo lãnh
1 Qui trình bảo lãnh ngân hàng
Như chúng ta đã biết, bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, do vậy muốn được ngân hàng chấp nhận phát hành bảo lãnh, khách hàng ( người được bảo lãnh ) phải đạt được các điều kiện cấp tín dụng và trải qua các thủ tục như trong các hình thức tín dụng khác Chính vì vậy, qui trình bảo lãnh được thực hiện qua các bước sau :
1
1
Lập hồ sơ và xét duyệt :
Hồ sơ bảo lãnh gồm các tài liệu sau :
Giấy đề nghị phát hành bảo lãnh Trong đó, khách hàng nêu các điều kiện và điều khoản cần thiết phải có trong văn bản bảo lãnh, phù hợp với hợp đồng giữa họ và người thụ hưởng bảo lãnh Đồng thời phải có cam kết hoàn trả lại cho ngân hàng phát hành sau khi ngân hàng đã thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng
Các tài liệu chứng minh khả năng tài chính của khách hàng, chẳng hạn như : bảng cân đối tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các tài liệu liên quan đến giao dịch được yêu cầu bảo lãnh, chẳng hạn như : phương án sản xuất kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp đồng thương mại, dịch
vụ
Các tài liệu liên quan đến bảo đảm cho việc bảo lãnh, chẳng hạn như : giấy tờ thế chấp, cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba
Xét duyệt :
Soạn thảo văn bản BL Lập hồ sơ
và xét duyệt văn bản BLPhát hành Giám sátvà xử lý Kết thúcBL
Trang 4Dựa vào các tài liệu trên kết hợp với những thông tin bổ sung từ các nguồn khác như : phỏng vấn trực tiếp khách hàng ; sách báo, tạp chí ; trung tâm thông tin tín - CIC , cán
bộ tín dụng sẽ tiến hành phân tích khách hàng Trong quá trình phân tích, tìm hiểu về khả năng tài chính, khả năng thực hiện hợp đồng và uy tín của khách hàng, cán bộ tín dụng chủ yếu nhằm định lượng rủi ro về phía khách hàng (người được bảo lãnh ) ; từ đó xem xét có chấp nhận bảo lãnh hay không Nếu mức độ rủi ro được đánh giá ở mức cho phép thì chấp nhận bảo lãnh còn nếu mức độ rủi ro được đánh giá ở mức không cho phép thì từ chối bảo lãnh
1 2 Soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Cơ sở soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Đây là một công việc đặc biệt quan trọng trong toàn bộ qui trình bảo lãnh Do yêu cầu bảo lãnh xuất phát từ hợp đồng, nên các yếu tố trong văn bản bảo lãnh không phải do ngân hàng tự sáng tạo hoặc đề xuất mà phải đưọc xây dựng từ nội dung hợp đồng giao dịch và giấy đề nghị của khách hàng Chính vì vậy, hợp đồng giữa người được bảo lãnh
và người hưởng bảo lãnh được xem như một hợp đồng cơ sở, hợp đồng gốc Và việc nghiên cứu hợp đồng gốc cần phải được thực hiện một cách cẩn thận
Ngoài ra, để soạn thảo văn bản bảo lãnh, ta cần xem xét bản chất của giao dịch, nghĩa
vụ của người được bảo lãnh và thời hạn hiệu lực của hợp đồng gốc
Ta cần xem xét bản chất của giao dịch bởi thông tường mỗi loại bảo lãnh nhằm đảm bảo cho một loại rủi ro riêng biệt Các loại rủi ro này biến đổi theo bản chất của giao dịch trong hợp đồng và do vậy sẽ quyết định loại bảo lãnh được phát hành
Khi ngân hàng phát hành bảo lãnh đồng nghĩa vụ thì nghĩa vụ của ngân hàng và của người được bảo lãnh là cùng phạm vi, nhưng nghĩa vụ của ngân hàng chỉ thực hiện sau khi có bằng cớ xác nhận khách hàng vi phạm nghĩa vụ của họ Bởi vậy ngân hàng cần phải tìm hiểu : nghĩa vụ mà khách hàng phải thực hiện trong hợp đồng có phù hợp với nhiệm vụ kinh doanh trong giấy phép của khách hàng không ? năng lực thực hiện nghĩa
vụ đó ra sao ? với nhứng tình huống như thế nào thì nghĩa vụ này được coi là bị vi phạm ? Tất cả những điều đó ảnh hưởng tới khả năng rủi ro của ngân hàng khi chấp nhận bảo lãnh nên việc xem xét không thể bị coi thường
Do bảo lãnh là sản phẩm của hợp đồng nên thời hạn hiệu lực của nó sẽ bị chi phối bởi thời hạn hiệu lực của hợp đồng gốc
Nội dung soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Văn bản bảo lãnh thường có hình thức như một thư bảo đảm, gửi trực tiếp cho người thụ hưởng ( hoặc thông qua một ngân hàng thông báo ) Nhìn chung không có một mẫu văn bản thống nhất cho tất cả các loại bảo lãnh cũng như cho tất cả các ngân hàng phát hành nhưng nội dung văn bản bảo lãnh phải chứa đựng các yếu tố cơ bản sau :
Chỉ định các bên tham gia
Tên của người được bảo lãnh, ngân hàng phát hành, ngân hàng chỉ thị, ngân hnàg thông báo ( nếu có ) và đặc biệt là tên người hưởng bảo lãnh cần phải được đề cập rõ ràng, bởi vì bất cứ một sự mơ hồ hoặc một ẩn ý nào cũng đều có thể dẫn đến hậu quả rủi
ro sau này
Mục đích của bảo lãnh
Trang 5Mỗi một loại bảo lãnh nhằm vào một mục đích khác nhau và do bản chất giao dịch trong hợp đồng gốc quyết định Thông thường tên gọi của văn bản bảo lãnh luôn thống nhất với mục đích của bảo lãnh Hơn nữa, do bảo lãnh được thiết lập trong khuôn khổ một hành vi hợp đồng cụ thể nên nội dung văn bản bảo lãnh phải có phần tham chiếu đến
số hiệu hợp đồng gốc
Số tiền bảo lãnh
Số tiền bảo lãnh giới hạn mức thanh toán của ngân hàng bảo lãnh đối với người thụ hưởng nên khi xảy ra biến cố vi phạm của người được bảo lãnh, người thụ hưởng không
có quyền đòi bồi thường nhiều hơn số tiền này cho dù giá trị thiệt hại thựctế lớn hơn Số tiền bảo lãnh thường được qui định theo mức tối đa và xác định dựa trên bản chất của giao dịch cũng như giá trị hợp đồng gốc Thông thường số tiền bảo lãnh được ghi chính xác theo giá trị tuyệt đối, tránh trường hợp ghi theo tỉ lệ phần trăm so với giá trị hợp đồng gốc ( để đề phòng hợp đồng gốc có thể thay đổi sau khi bảo lãnh đã được phát hành ) Một điểm khác cũng cần lưu ý là điều khoản giảm thiểu giá trị bảo lãnh ( nếu có ) cũng phải được đưa vào trong văn bản bảo lãnh để tránh sự lạm dụng từ phía người thụ hưởng Chẳng hạn trong bảo lãnh hoàn thanh toán, giá trị bảo lãnh tối đa bằng số tiền ứng trước của của người được bảo lãnh Nhưng giá trị bảo lãnh này sẽ giảm tương ứng theo nghĩa
vụ đã hoàn thành của người được bảo lãnh Khi người được bảo lãnh hoàn thành toàn bbọ nghĩa vụ của họ thì giá trị bảo lãnh chỉ còn bằng không
Các điều kiện thanh toán
Phần này qui định các chứng từ cần thiết phải xuất trình, làm cơ sở cho việc thực hiện cam kết thanh toán của ngân hàng bảo lãnh Khi các điều kiện này được thoả mãn thì ngân hàng bảo lãnh có nghĩa vụ phải chi trả và người thụ hưởng được quyền nhận bồi thường Việc qui định các loại chứng từ xuất trình để thanh toán tuỳ thuộc vào việc lựa chọn điều kiện thanh toán của bảo lãnh mà cơ sở của nó là sự thoả thuận giữa người thụ hưởng và người được bảo lãnh cũng như vị thế của từng bên trong hợp đồng chính, ngân hàng hoàn toàn không can thiệp vào Tuy nhiên, để ngân hàng có thể thực hiện tốt vai trò kiểm tra trước khi thanh toán của mình, các chứng từ thanh toán cần phải được qui định
cụ thể, chi tiết và rõ ràng
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh
Đây là khoảng thời gian mà ngân hàng phát hành với tư cách là người bảo đảm, chịu trách nhiệm thực hiện cam kết thanh toán bất cứ khi nào điều kiện thanh toán dược thoả mãn Quá thời hạn hiệu lực qui định, ngân hàng được giải phóng khỏi nghĩa vụ bảo lãnh
đã phát hành trước đó Thời hạn hiệu lực chịu ảnh hưởng từ ngày bắt đầu đến ngày hết hiệu lực được qui định cụ thể trong văn bản bảo lãnh
Tham chiếu luật áp dụng
Nội dung này sẽ cho biết các cơ sở để phát hành và giải quyết những tranh chấp trong quan hệ bảo lãnh Điều này rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên có liên quan
Hiện tại, những qui định pháp lý cao nhất chi phối bảo lãnh trong nước là :
+ Luật dân sự ( điều 366 đến điều 376 )
+ Luật các tổ chức tín dụng ( điều 58 đến điều 60 )
Trang 6+ Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 ngày 25/8/2000 về qui chế nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
+ Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm thực hiện hợp đồng
+ Nghị định số 178 của ngân hàng nhà nước về bảo đảm tiền vay
Điều kiện miễn trừ trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh
Đây là nội dung riêng biệt của văn bản bảo lãnh đồng nghĩa vụ, trong đó qui định những trường hợp ngân hàng được giải phóng khỏi trách nhiệm của mình do một số thay đỏi có liên quan đến nghĩa vụ của người được bảo lãnh trong hợp đồng gốc Để tránh tranh chấp về sau, nội dung này cần phải qui định một cách rõ ràng và cụ thể
1 3 Phát hành văn bản bảo lãnh
Sau khi văn bản bảo lãnh đã được soạn thảo xong, bản chính sẽ được chuyển trực tiếp cho người hưởng bảo lãnh hoặc thông qua một ngân hàng khác làm nhiệm vụ thông báo Về phía ngân hàng phát hành phải làm các công việc sau đây :
Thu phí phát hành bảo lãnh từ người được bảo lãnh Trường hợp bảo lãnh thường xuyên và kéo dài, phí sẽ được thu theo định kỳ thoả thuận với khách hàng
Quản lý tiền ký quĩ vào tài khoản riêng Mức ký quĩ thường tính tỷ lệ % trên số tiền bảo lãnh, nhằm bảo đảm khả năng bồi hoàn của khách hàng sau khi ngân hàng thực hiện cam kết thanh toán cho người hưởng Tuỳ theo uy tín của khách hàng, tỷ lệ ký quĩ có thể dao động từ 10% - 100% số tiền bảo lãnh
Tiến hành thủ tục nhận bảo đảm ( thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh )
Ghi giá trị bảo lãnh vào sổ theo dõi ( ngoại bảng )
1 4 Giám sát và xử lý :
Tuỳ từng loại bảo lãnh cụ thể khác nhau mà cán bộ thực hiện bảo lãnh có thể thực hiện một số công việc sau :
Theo dõi việc phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh
Theo dõi giải ngân, thực hiện nhận nợ
Hạch toán số dư bảo lãnh
Theo dõi thực hiện hợp đồng bảo lãnh :
+ Theo dõi tình tài chính và sản xuất kinh doanh của khách hàng
+ Thu phí bảo lãnh
+ Kiểm tra tài sản bảo đảm cho bảo lãnh
+ Đôn đốc thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh
+ Xử lý khi phải trả nợ thay
+ Xử lý các vướng mắc khác ( nếu có )
1 5 Kết thúc bảo lãnh
Tất toán bảo lãnh
Giải toả tài sản đảm bảo bảo lãnh
Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệp
Lưu trữ hồ sơ
2 Các hình thức bảo lãnh ngân hàng :
Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau thì có các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác nhau
Trang 7 Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh, gồm hai loại : bảo lãnh đồng nghĩa vụ và bảo lãnh độc lập
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ ( còn được gọi là bảo lãnh bổ sung ) là một loại bảo lãnh mang tính truyền thống xét theo nguồn goóc ra đời của nó Đặc trưng của loại bảo lãnh này là nghĩa vụ của ngân hàng phát hành bị chi phối bởi qui tắc đồng phạm vi, hay nói cách khác là ngân hàng và người được bảo lãnh được xem là cùng nghĩa vụ Tuy nhiên, nghĩa vụ của khách hàng là nghĩa vụ đầu tiên, còn nghĩa vụ của ngân hàng là nghĩa vụ bổ sung Nghĩa vụ bổ sung được thực hiện khi và chỉ khi có các bằng cớ xác nhận là nghĩa
vụ đầu tiên bị vi phạm
Bảo lãnhđồng nghĩa vụ đòi hỏi ngân hàng phát hành phải can thiệp khá sâu vào giao dịch hợp đồng giữa người được bảo và người được thụ hưởng, do vậy thường ít sử dụng trong quan hệ quốc tế, mà chủ yếu là trong phạm vi nội địa
Bảo lãnh độc lập được coi là một dạng bảo lãnh ngân hàng hiện đại, được sáng tạo từ yêu cầu đòi hỏi trong thực tiễn Cơ chế hoạt động của nó dựa rên hai qui tắc cơ bản là : độc lập và hoàn toàn phù hợp Theo đó nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh hoàn toàn tách rời với nghĩa vụ của người được bảo lãnh và thực hiện thanh toán chỉ căn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thoả mãn mà thôi Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính độc lập của loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuyệt đối mà phụ thuộc vào các điều kiện thanh toán đã được qui định trong văn bản bảo lãnh giữa ngân hàng và người thụ hưởng
Bảo lãnh độc lập đem lại sự thuận lợi lớn cho người thụ hưởng bảo lãnh và cả ngân hàng phát hành Do vậy nó được sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế Hiện nay hầu hết các qui định về bảo lãnh trong lĩnh vực quốc tế đều chỉ quan tâm đến loại bảo lãnh này
Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng gồm các loại chủ yếu sau :
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Loại bảo lãnh này nhằm chống đỡ rủi ro cho người thụ hưởng ( bên đặt hàng ) trong trường hợp người cung cấp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng, chẳng hạn như : giao hàng chậm trễ, không đúng chất lượng, số lượng Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được sử dụng thay thế cho yêu cầu ký quĩ mà người đặt hàng đề nghị đối với người cung ứng để bảo đảm bồi thường vi phạm hợp đồng Do vậy, giá trị tối đa của bảo lãnh tương đương với mức bồi thường Thông thường hiệu lực của loại bảo lãnh này chấm dứt khi người được bảo lãnh hoàn thành nghĩa vụ cung ứng hàng hoá của họ
Bảo lãnh hoàn thanh toán
Loại bảo lãnh này được sử dụng trong các hợp đồng thương mại, dịch vụ mà người mua hàng hay người hưởng dịch vụ đã ứng trước tiền hàng cho người bán hay người cung cấp dịch vụ Bằng việc cam kết sẽ trả lại số tiền đã ứng trước cho người mua ( khi người bán không thực hiện hợp đồng ), ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua hàng và đồng thời cũng giúp người cung ứng thoát khỏi những khó khăn tạm thời về ngân quĩ Giá trị của bảo lãnh hoàn thanh toán thường tương đương toàn bộ số tiền đã ứng trước ( kể cả tiền lãi và phạt nếu có ) Tuy nhiên, cần lưu ý để tránh sự lạm dụng của người thụ hưởng, văn bản bảo lãnh hoàn thanh toán phải qui định rằng bảo lãnh chỉ có hiệu lực khi điều kiện tiền đề ( có liên quan đến hành vi ứng trước
Trang 8tiền của người thụ hưởng ) đã được thoả mãn Bảo lãnh vay nợ là một dạng bảo lãnh hoàn thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong và ngoài nước
Bảo lãnh trả chậm
Loại bảo lãnh này được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị hàng hoá trả chậm và còn gọi là bảo lãnh thanh toán Quan hệ giữa người bán và người mua ở đây thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó người mua chấp nhận trả tiền hàng hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể Để bảo vệ mình trước rủi ro không thanh toán đầy đủ và đúng hạn của người mua, người bán có thể yêu cầu một bảo lãnh trả chậm của ngân hàng
Đây một trong những loại bảo lãnh rất phổ biến ở các nước đang phát triển
Bảo lãnh dự thầu
Mục đích của bảo lãnh ngân hàng loại này nhằm bù đắp những thiệt hại về thời gian
và chi phí cho người tổ chức đâú thầu do những vi phạm của bên đối tác liên quan ( người tham gia dự thầu ) chẳng hạn như : rút đơn dự thầu, không ký tiếp hợp đồng sau khi trúng thầu, bổ sung thêm các điều kiện khi ký hợp đồng so với bản dự thầu Bảo lãnh dự thầu thực chất là phương tiện thay thế cho việc ký quĩ của người tham gia dự thầu, nên giá trị của bảo lãnh này được qui định theo mức ký quĩ chuẩn do người tổ chức đáu thầu đưa ra Bảo lãnh dự thầu theo bản tính tự nhiên của nó sẽ tự động mất hiệu lực trong trường hợp người được bảo lãnh không được trúng thầu
Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng có thể phân biệt thành các loại sau :
Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh tực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh trực tiếp theo yêu cầu của người được bảo lãnh ( không qua trung gian ) Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân hàng có thể trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh
Bảo lãnh gián tiếp
Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng thứ nhất ( gọi là ngân hàng chỉ thị ) đề nghị ngân hàng thứ hai ( gọi là ngân hàng phát hành ) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụ hưởng Trong loại bảo lãnh này, người được bảo lãnh không trực tiếp bồi hoàn cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho ngân hàng phát hành, thông qua một cam kết gọi là bảo lãnh đối ứng do chính ngân hàng này đưa ra Bảo lãnh đối ứng cũng có nội dung và các điều khoản qui định như trong bảo lãnh chính Sau khi đã bồi hoàn cho ngân hàng phát hành bảo lãnh chính, đến lượt mình ngân hàng chỉ thị lại có thể truy đòi từ người được bảo lãnh
Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ hưởng là người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia của người thụ hưởng, do vậy quyền lợi của người thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn
Đồng bảo lãnh
Trong một dự án có giá trị lớn, để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh Trường hợp này, một ngân hàng đóng vai trò đầu mối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minh khác Nếu phải chi trả cho người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng chính có thể đòi bồi hoàn từ các ngân hàng đồng
Trang 9minh theo tỷ lệ tham gia của họ, dựa trên các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát hành Đến lượt mình, các ngân hàng này lại tiến hành truy đòi từ người được bảo lãnh
Căn cứ vào điều kiện thanh toán của bảo lãnh, bảo lãnh ngân hàng bao gồm :
Bảo lãnh theo yêu cầu
Bảo lãnh theo yêu cầu hay còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu đầu tiên là loại bảo lãnh
mà điều kiện thanh toán cuả nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình yêu cầu thanh toán cho ngân hàng phát hành Yêu cầu thanh toán có thể là một trong hai dạng sau :
+ Văn bản yêu cầu thanh toán
+ Văn bản yêu cầu thanh toán kèm với tờ trình về sự vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh
Các văn bản trên đều do người thụ hưởng đơn phương lập, không cần có sự xác nhận của người được bảo lãnh hoặc của bên thứ ba nào khác
Có thể nói bảo lãnh theo yêu cầu thể hiện tính độc lập rất cao, theo đó ngân hàng phát hành không có quyền viện dẫn bất cứ lý do nào liên quan đến hợp đồng gốc ddể trì hoãn việc thanh toán Loại bảo lãnh này tạo cho người hưởng thụ những thuận lợi rất lớn bởi khả năng bảo đảm chắc chắn và tính thanh khoản kịp thời Về phía ngân hàng phát hành, việc kiểm tra chứng từ trước khi thanh toán khá đơn giản, không đòi hỏi những thủ tục và thao nghiệp vụ phức tạp Tuy nhiên, do việc lập yêu cầu thanh toán hoàn toàn dựa trên nhận định chủ quan của người thụ hưởng nên có thể gây ra những bất lợi đối với người được bảo lãnh
Bảo lãnh kèm chứng từ
Đây là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác nhận của bên thứ ba ( thường
là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn để xác nhận ) Chứng từ có thể được xuất trình theo một trong hai cách sau đây :
+ Người thụ hưởng xuất trình các chứng từ xác nhận hành vi vi phạm nghĩa vụ từ phía người được bảo lãnh Những chứng từ này do bên thứ ba có tư cách độc lập phát hành + Người thụ hưởng xuất trình yêu cầu thanh toán, ngoài ra không cần phải xuất trình bất
kỳ loại chứng từ nào khác Tuy nhiên, quyền thanh toán của người này sẽ bị đình lại nếu người được bảo lãnh cung cấp các chứng từ của bên thứ ba độc lập xác nhận việc hoàn thành hợp đồng
Bảo lãnh kèm chứng từ bảo vệ quyền lợi của người được bảo lãnh tốt hơn so với bảo lãnh theo yêu cầu, nhưng như vậy có nghĩa là ưu quyền của người thụ hưởng sẽ bị giảm
đi Đứng về phía ngân hàng phát hành thì loại bảo lãnh này đòi hỏi trách nhiệm kiểm tra chứng từ trước khi thanh toán khá phức tạp, bởi vì chúng rất đa dạng và không theo một tiêu chuẩn thống nhất nào
Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc toà án
Điều kiện thanh toán ở đây là người thụ hưởng phải cung cấp một phán quyết của toà
án hoặc trọng tài khẳng định việc vi phạm nghĩa vụ của người được bảo lãnh và trách nhiệm bồi hoàn đối với người thụ hưởng
Các hình thức bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam :
Theo quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành qui chế bảo lãnh ngân hàng, có các hình thức bảo lãnh sau :
Trang 10+ Bảo lãnh vay vốn : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả
nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn
+ Bảo lãnh thanh toán : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến hạn
+ Bảo lãnh dự thầu : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên mời thầu để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm qui định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiênf phạt cho bên mời thầu thì TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết Trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
+ Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trong trường hợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết
+ Bảo lãnh hoàn thanh toán : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trong trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả số tiền đã ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì TCTD sẽ hoàn trả số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh
+ Bảo lãnh đối ứng : là một bảo lãnh ngân hàng do TCTD phát hành cho một TCTD khác
về việc đề nghị bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh Trường hợp, khách hàng vi phạm các cam kết với bêb nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh III - Những rủi ro trong nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM
1 Rủi ro đối với người thụ hưởng bảo lãnh
Trên lý thuyết, ngân hàng được chọn làm ngân hàng bảo lãnh phải là một ngân hàng mạnh về tài chính, có chính sách tài trợ mạnh mẽ, trình độ nghiệp vụ của cán bộ cao, năng lực quản lý điều hành của ban lãnh đạo tốt, có uy tín lớn trên thị trường Đáp ứng được điều này cũng có nghĩa là bên được bảo lãnh tìm được cho mình chỗ dựa vững chắc, đồng thời người thụ hưởng bảo lãnh sẽ có sự bảo đảm lớn về khả năng nhận được bồi hoàn nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã ký kết
Song trên thực tế không phải lúc nào bên được bảo lãnh cũng như người thụ hưởng bảo lãnh tìm được cho mình một ngân hàng bảo lãnh như ý Chính vì vậy mà người thụ hưởng bị chi phối bởi khả năng tài chính của ngân hàng bảo lãnh Chẳng hạn như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ sẽ kéo dài theo sự sụp đổ của ngân hàng bảo lãnh và hâụ