1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận cao học, TLCNXH h sự phát triển quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong quá trình đổi mới và thực tiễn

32 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn ra hơn 25 năm, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh. Thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo nên thế và lực mới để Đảng ta, nhân dân ta thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong suốt quá trình đổi mới đã cung cấp những cơ sở thực tiễn quý báu giúp Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đánh giá những thành tựu to lớn của hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng đã chỉ rõ: “Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã hình thành những nét cơ bản” Tuy nhiên, cũng từ việc tổng kết hơn 25 năm qua đang đặt ra nhiều vấn đề về thực tiễn, về xây dựng CNXH ở nước ta mà lý luận chưa giải quyết một cách thoả đáng, cần phải tiếp tục được nghiên cứu thấu đáo hơn. Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, nhưng mới hình thành những nét cơ bản như Đảng ta nhận định. Việc đi sâu nghiên cứu về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đang là vấn đề mang tính cấp thiết, được nhiều người quan tâm. Xuất phát từ những lý do trên em chọn nghiên cứu vấn đề “Sự phát triển quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong quá trình đổi mới và thực tiễn” làm tiểu luận môn Hệ thống quan điểm đổi mới của Đảng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đãdiễn ra hơn 25 năm, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trêntất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh.Thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo nên thế và lực mới để Đảng

ta, nhân dân ta thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dânchủ, công bằng, văn minh Trong suốt quá trình đổi mới đã cung cấp những

cơ sở thực tiễn quý báu giúp Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn trong việc vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về CNXH và con đường đi lên CNXH

ở Việt Nam Đánh giá những thành tựu to lớn của hơn 25 năm tiến hành côngcuộc đổi mới, Đảng đã chỉ rõ: “Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổimới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam Nhậnthức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thốngquan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về CNXH và con đường đi lênCNXH ở Việt Nam đã hình thành những nét cơ bản”

Tuy nhiên, cũng từ việc tổng kết hơn 25 năm qua đang đặt ra nhiều vấn

đề về thực tiễn, về xây dựng CNXH ở nước ta mà lý luận chưa giải quyết mộtcách thoả đáng, cần phải tiếp tục được nghiên cứu thấu đáo hơn Đến nay, đã

có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về CNXH và con đường đi lênCNXH ở Việt Nam, nhưng mới hình thành những nét cơ bản như Đảng tanhận định Việc đi sâu nghiên cứu về CNXH và con đường đi lên CNXH ởViệt Nam đang là vấn đề mang tính cấp thiết, được nhiều người quan tâm

Xuất phát từ những lý do trên em chọn nghiên cứu vấn đề “Sự phát triển quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong quá trình đổi mới và thực tiễn” làm tiểu luận môn Hệ thống quan điểm đổi mới

của Đảng

Trang 2

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ được những nội dung chính củaviệc nhận thức mới của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước tatrong quá trình đổi mới; Thành tựu đã đạt được và những biện pháp khắc phụctồn tại, khó khăn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của tiểu luận là nêu lên những quan điểm của Mác-Ănghen vàcủa Đảng ta về XHCN và con đường đi lên XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

4 Cơ sở lý luận

Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,phương pháp lôgíc kết hợp với các phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp

6 Ý nghĩa của tiểu luận

Tiểu luận phân tích làm rõ việc nhận thức những quan điểm, tư tưởngcủa Mác – Ănghen, Lê nin, Hồ Chí Minh và của Đảng ta về CNXH và conđường đi lên CNXH trong thời kỳ đổi mới cũng như việc vận dụng quanđiểm, tư tưởng đó vào thực tiễn Việt Nam Đồng thời, qua quá trình viết tiểuluận này, nhằm trang bị cho bản thân những kiến thức hết sức cần thiết đểphục vụ cho quá trình học tập và công tác tại địa phương sau này

7 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung tiểu luận gồm 02 chương

Trang 3

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ Lí LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LấN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRèNH ĐỔI MỚI

1.1 Quan điểm của Mỏc – Ănghen về quỏ độ đi lờn CNXH

Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâusắc, triệt để và toàn diện từ xã hội cũ sang xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa

Nó diễn ra trong toàn bộ các lĩnh vực đời sống của xã hội, tạo ra các tiền đềvật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một xã hội mà trong đó nhữngnguyên tắc căn bản của xã hội xã hội chủ nghĩa từng bớc đợc thực hiện Phõn tớch cỏc quy luật phỏt triển của xó hội trong tỏc phẩm “Phờ phỏncương lĩnh Gụ ta” C.Mỏc cựng với Angghen đó rỳt ra kết luận về sự diệt vongtất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự thay thế nú bằngphương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa Hai ụng; trước hết, chỉ rừ sự tiến

bộ lịch sử của chế độ tư bản, vai trũ cực kỳ to lớn của nú trong việc phỏt triểnsức sản xuất và xó hội hoỏ lao động; mặt khỏc, cũng chỉ ra giới hạn, tạm thời

về mặt lịch sử của chế độ đú C.Mỏc-Angghen đó dự bỏo rằng: “ Sự tập trung

tư liệu sản xuất, và xó hội hoỏ lao động đạt đến cỏi điểm mà chỳng ta khụngcũn thớch hợp vỏ tư bản chủ nghĩa của chỳng nữa Cỏi vỏ đú vỡ tung ra Giờtận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đó điểm Nhưng kẻ đi tước đoạt bịtước đoạt” Nhưng cỏi vỏ đú khụng tự nú vỡ tung ra mà phải thụng qua cuộccỏch mạng bắt đầu băng việc giai cấp vụ sản dẫn đầu quần chỳng lao động nộidậy giành lấy chớnh quyền C.Mỏc viết: “Cỏch mạng núi chung-lật đổ chớnhquyền hiện cú và phỏ huỷ những quan hệ cũ là một hành vi chớnh trị NhưngCNXH khụng thể được thực hiện mà khụng cú cỏch mạng Chủ nghĩa xó hộicần đến hành vi chớnh trị này bởi lẽ nú cần tiờu diệt và phỏ huỷ cỏi cũ”.C.Mỏc chỉ ra rằng: “Giai cấp cụng nhõn biết rằng nú phải trải qua nhiều giaiđoạn khỏc nhau của cuộc đấu tranh giai cấp Nú biết rằng việc thay thế nhữngđiều kiện của lao động tự do và liờn hợp, chỉ cú thể là một sự nghiệp tiến triểntrong thời gian (đú việc cải tạo kinh tế)… sau một quỏ trỡnh phỏt triển lõudài…” Thớch ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quỏ độ chớnh trị, và nhà nước

của thời kỳ ấy khụng thể là cỏi gỡ khỏc hơn là nền chuyờn chớnh cỏch mạng của giai cấp vụ sản” Trong tỏc phẩm này, C.Mỏc chỉ rừ thời kỳ quỏ độ cú

một số điểm đỏng lưu ý sau: xó hội thời kỳ quỏ độ là xó hội vừa thoỏt thai từ

Trang 4

xó hội tư bản chủ nghĩa, do đú, mọi mặt của nú đều mang dấu ấn sõu sắc của

xó hội TBCN; thời kỳ quỏ độ là thời kỳ cải biến cỏch mạng một cỏch sõu sắc

từ xó hội TBCN sang xó hội XHCN; Cụng cụ để thực hiện sự cải biến đú lànhà nước, đú là nhà nước chuyờn chớnh cỏch mạng của giai cấp vụ sản; thời

kỳ quỏ độ là thời kỳ “sinh đẻ lõu dài và đau đớn”

C.Mác và Ph.Ăngghen là những ngời đầu tiên đã nêu lên khả năng những

n-ớc còn đang ở trong giai đoạn phát triển tiền t bản chủ nghĩa có thể chuyển thẳnglên hình thái chế độ cộng sản chủ nghĩa và khả năng phát triển rút ngắn của cácnớc này bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa Còn về nội dung thời kỳ quá độ đó nh thếnào và nó có nhiệm vụ cụ thể gì thì hai ông cha đề cập tới

1.2 Quan điểm của Lờ nin về quỏ độ đi lờn CNXH

Kế thừa và phỏt triển những tư tưởng của C.Mỏc – Ănghen, V.I.Lờ-ninkhẳng định: “Quỏ độ lờn CNXH là một tất yếu lịch sử” thời kỳ quỏ độ lờnCNXH là tất yếu đối với mọi nước đi lờn CNXH Bộ phận quan trọng tronghọc thuyết của V.I.Lờnin về xõy dựng chủ nghĩa xó hội là lý luận về thời kỳquỏ độ lờn CNXH Theo V.I.Lờnin, sự cần thiết khỏch quan phải cú thời kỳquỏ độ lờn CNXH do đặc điểm ra đời, phỏt triển của phương thức sản xuẩtcộng sản chủ nghĩa và cỏch mạng vụ sản quy định

Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất TBCN đều dựa trờn cơ

sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Do vậy, quan hệ sản xuất TBCN cú thể

ra đời từ trong lũng xó hội phong kiến Sự phỏt triển của phương thức TBCNđến một trỡnh độ nhất định, sẽ làm sõu sắc thờm mõu thuẫn của xó hội phongkiến, cỏch mạng tư sản sẽ nổ ra Nhiệm vụ của cỏch mạng tư sản chủ yếu chỉ

là giải quyết về mặt chớnh quyền nhà nước, làm cho kiến trỳc thượng tầngthớch ứng với cơ sở hạ tầng thớch ứng của nú

Từ sự phõn tớch trờn, V.I Lờ-nin đó chỉ ra bốn đặc điểm cơ bản của thời

kỳ quỏ độ là:

Thứ nhất, đú là thời kỳ, xột về mọi mặt của đời sống xó hội, đều do

nhiều thành phần khụng thuần nhất tạo nờn Đú là thời kỳ cú sự đan xen, thõmnhập lẫn nhau giữa CNTB và CNXH

Thứ hai, đú là thời kỳ, sự phỏt triển của cỏi cũ, của những trật tự cũ đụi

khi lấn ỏt những mầm mống của cỏi mới, những trật tự mới

Thứ ba, đú là thời kỳ, xột về mọi phương diện, đều cú sự phỏt triển của

tớnh tự phỏt tiểu tư sản, là thời kỳ chứa đựng mõu thuẫn khụng thể dung hũa giữa tớnh kỷ luật nghiờm ngặt của giai cấp vụ sản và tớnh vụ chớnh phủ, vụ kỷ

Trang 5

luật của các tầng lớp tiểu tư sản Theo V.I Lê-nin, đây là một trong những đặc điểm nổi bật của giai đoạn quá độ

Thứ tư, đó là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn, phức tạp, phải trải

qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những hướng đi đúng đắn; tuy nhiên, trong quá trình thử nghiệm ấy có thể phải trả giá cho những sai lầm nghiêm trọng

Đồng thời, khi phân chia quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩacộng sản thành 3 giai đoạn: giai đoạn “những cơn đau đẻ kéo dài”; giai đoạn đầucủa xã hội cộng sản chủ nghĩa; và giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa,V.I.Lê-nin chỉ rõ: “Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa” chính là xã hộiXHCN còn thời kỳ “những cơn đau đẻ kéo dài” chính là thời kỳ quá độ từ

CNTB lên CNXH (Trong tác phẩm Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản được viết vào năm 1916, lần đầu tiên V.I Lê-nin dùng khái niệm: thời kỳ

quá độ từ xã hội tư sản sang xã hội xã hội chủ nghĩa) Như vậy, thời kỳ quá độ làmột giai đoạn độc lập, có vị trí riêng biệt nằm giữa CNTB và CNXH Điều nàycũng có nghĩa thời kỳ quá độ chưa phải là CNXH và cũng không nằm ở giaiđoạn đầu của CNCS Xác định đúng và làm rõ vị trí của thời kỳ quá độ sẽ có ýnghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng bởi nó giúp ta xác định được đặc điểm, nộidung và nhiệm vụ cũng như mục đích của thời kỳ này

Độ dài của thời kỳ quá độ thường được quy định bởi xuất phát điểm vớinhững tiền đề về kinh tế, văn hóa, xã hội khi bước vào thời kỳ quá độ của mỗiquốc gia cụ thể V.I Lê-nin cho rằng, cần phải có một thời kỳ quá độ khá lâudài từ CNTB lên CNXH Ông khẳng định: “… tất yếu phải có một thời kỳ quá

độ lâu dài và phức tạp từ xã hội tư bản chủ nghĩa (xã hội đó càng ít phát triển,thì thời kỳ đó càng dài)… tiến lên xã hội cộng sản chủ nghĩa”(8) Như vậy,theo V.I Lê-nin, bản thân những nước có điểm xuất phát khi bước vào thời kỳquá độ là từ CNTB đã cần phải có thời kỳ quá độ là khá lâu dài thì đối vớinhững nước có điểm xuất phát thấp hơn CNTB - tiền TBCN, thì chắc chắncàng cần phải có một thời kỳ quá độ còn lâu dài hơn gấp nhiều lần Bởi lẽ, vềmặt khách quan một cách tự nhiên, một mặt, CNXH ra đời trên cơ sở của sựphát triển đến đỉnh cao của CNTB; mặt khác, CNXH cũng ra đời từ xuất phátđiểm thấp hơn CNTB khi những tiền đề trên và thời cơ chín muồi Đó chính

là những khả năng, những con đường hiện thực ra đời một cách tất yếu của xãhội mới - xã hội XHCN

Trang 6

Chưa trải qua giai đoạn phát triển TBCN cũng có nghĩa là chưa có đầy

đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở xã hội và con người để tiến lên CNXH mộtcách nhanh chóng và vững chắc Tuy nhiên, đối với những nước chưa trải quaquá trình phát triển CNTB thì, muốn xây dựng thành công CNXH, nhất thiếtphải thực hiện thời kỳ quá độ một cách lâu dài với những bước đi thích hợp

và với một khối lượng công việc to lớn bao gồm trong đó không chỉ nhữngnội dụng cơ bản của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, mà hơn thế, cònphải đồng thời đạt được cả những thành tựu căn bản mà CNTB đã phải mấthàng trăm năm mới có được Như vậy, đối với các nước như thế, chắc chắnthời kỳ quá độ không chỉ vô cùng khó khăn, phức tạp mà còn là một giai đoạnphát triển rất lâu dài

Trong di sản của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng vềthời kỳ quá độ có rất nhiều nội dung phong phú và đa dạng, trong đó, cũng cónhững nội dung mà các ông đề xuất khi đó, đến nay không còn phù hợp,nhưng nhìn chung, về cơ bản, tư tưởng của các ông về thời kỳ quá độ cũngnhư đặc điểm, nội dung và nhiệm vụ của nó hầu như vẫn giữ nguyên giá trị vàvẫn phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại Có thể nêu một số nội dungchủ yếu sau:

Một là, về xã hội Trong thời kỳ quá độ, mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội là sự đan xen lẫn nhau giữa các nhân tố TBCN và XHCN, giữa cái mới vàcái cũ, trong khi cái cũ vẫn còn rất mạnh mẽ thì cái mới còn ở dạng mầmmống, yếu ớt, phát triển chậm chạp

Hai là, về chính trị Đây là thời kỳ đầy khó khăn, phức tạp, trải qua

nhiều bước trung gian, nhiều cuộc thể nghiệm, và đặc biệt là luôn vấp phải sựphản kháng nhằm phá hoại, lật đổ chế độ mới, phục hồi, giành lại chính quyềncủa giai cấp tư sản, vì vậy, nếu không tỉnh táo, sáng suốt và quyết liệt thì giaicấp công nhân có thể bị thất bại và mất chính quyền công nông

Ba là, về tâm lý - ý thức Đó là tâm lý phục thù, khôi phục lại chính quyền

cũ của giai cấp tư sản; tâm lý vô chính phủ, tập quán tản mạn, tự do, hoangmang, dao động của một số tầng lớp của xã hội cũ; lối sống thiếu văn hóa,không tuân thủ pháp luật, tệ tham ô, hối lộ, quan liêu; thói kiêu ngạo cộng sản,tâm lý thỏa mãn, hưởng thụ, lười biếng của một bộ phận trong xã hội Thựctrạng này thường tạo nên một xã hội hỗn tạp và rối loạn về tâm lý và ý thức

Trang 7

Bốn là, về kinh tế Đó là sự cùng tồn tại đan xen, hợp tác và cạnh tranh

quyết liệt với nhau của các thành phần, yếu tố kinh tế, quan hệ kinh tế cả tưbản, tiền tư bản và XHCN Đặc biệt, việc xóa bỏ quan hệ sản xuất TBCN,thiết lập quan hệ sản xuất XHCN nhất thiết phải trải qua quá trình lâu dài, dầndần, có lộ trình với những bước đi thích hợp và thường xuyên được điềuchỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của từng giai đoạn phát triển

Năm là, về chế độ chính trị Phải xây dựng và thực hiện chế độ tập trung

dân chủ Đổi mới XHCN đó là sự thống nhất giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sởnhằm phù hợp và đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ cấp thiết và quan trọngcủa thời kỳ quá độ

Sáu là, về văn hóa, khoa học, kỹ thuật Đối với việc xây dựng nền văn

hóa và khoa học, kỹ thuật mới XHCN trong thời kỳ quá độ cần phải trên cơ

sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa và khoa học, kỹ thuật với tư cách

là những thành tựu mà nhân loại đã sáng tạo và tích lũy được qua hàng nghìnnăm, nhất là những thành tựu của thời kỳ phát triển TBCN

1.3 Quan điểm của Đảng ta về quá độ lên CNXH

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và những thành tựu về lýluận cũng như thực tiễn có được trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH ởnước ta mấy chục năm qua, nhất là trong 25 năm đổi mới, tại Đại hội XI,Đảng ta đã chỉ rõ đi lên CNXH ở nước ta “… là một quá trình cách mạng sâusắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi

về chất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải quamột thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chứckinh tế, xã hội đan xen” Như thế, thời kỳ quá độ ở nước ta là một quá trìnhcách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới Có thểhiểu cái cũ ở đây không chỉ là những tàn dư của xã hội tiền tư bản mà xã hội

ta mới thoát ra, những di hại của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp mà xãhội ta đã trải qua mấy chục năm qua, mà hơn thế, cái cũ ở đây còn là nhữngyếu tố TBCN đang và sẽ hiện diện trong đời sống kinh tế - xã hội Nhữngnhân tố này có thể là mới so với thực trạng xã hội ta (chẳng hạn như sở hữu tưnhân, kinh tế thị trường ) nhưng lại là cũ so với những nhân tố XHCN màchúng ta đang xây dựng Đặc biệt cần hiểu, sự biến đổi về chất mà Đảng ta đềcập ở đây là sự biến đổi mang tính bản chất, căn bản, toàn diện khác với sự

Trang 8

biến đổi về lượng, biến đổi của từng bộ phận, mang tính cục bộ Điều này cónghĩa là trong thời kỳ quá độ, ở nước ta sẽ diễn ra sự biến đổi mang tính bảnchất, căn bản và toàn diện ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; và, quátrình đó phải diễn ra lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chứckinh tế, xã hội đan xen Đó là do xuất phát điểm của nước ta thấp và xã hội tacũng chưa trải qua giai đoạn phát triển TBCN, vì vậy, thời kỳ quá độ phảidiễn ra lâu dài là một tất yếu lịch sử.

Có thể khẳng định, khi bước vào thời kỳ quá độ, chúng ta gặp rất nhiềukhó khăn Đó là do, đất nước ta mới trải qua hai cuộc chiến tranh nên mọi lĩnhvực của đời sống xã hội đều bị tàn phá, chưa kinh qua thời kỳ phát triểnTBCN nên hầu như chưa có những tiền đề thực tiễn cơ bản cho sự ra đời củaCNXH, hệ thống CNXH thế giới tan rã và phong trào cộng sản và công nhânquốc tế đang tạm thời thoái trào Bên cạnh đó, “các thế lực thù địch tiếp tụcchống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội” Trong bối cảnh đó, Đảng tavẫn khẳng định “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắncủa Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rènluyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dântộc ta là một dân tộc anh hùng, nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cótruyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ vàtin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng đượcnhững cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quátrình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”

Trong bối cảnh những thuận lợi và khó khăn hiện nay, Đảng ta chỉ rõ,mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là, chúng ta xây dựngđược về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng vềchính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nướcXHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Cụ thể hơn, Đảng ta chỉ rõ, đến giữathế kỷ XXI, nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướngXHCN Đây quả là những nhiệm vụ nặng nề bởi,

trước hết, “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã

hội” nghĩa là nền kinh tế của chúng ta phải liên tục phát triển để đến khi kếtthúc TKQĐ chúng ta đạt được nền kinh tế phát triển cao đủ cơ sở hiện thực đểđưa xã hội ta bước vào thời kỳ phát triển xã hội XHCN;

Trang 9

thứ hai, phải xây dựng được kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư

tưởng, văn hóa phù hợp với hạ tầng cơ sở phát triển cao như thế Đây quả làvấn đề không đơn giản như các nhà kinh điển đã chỉ ra Bởi vì, thời kỳ quá độ

là thời kỳ diễn ra những cuộc biến đổi hết sức sâu sắc và căn bản, nó diễn racuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, giữa các yếu tố TBCN vàXHCN Nghĩa là, ở đó chúng ta vừa phải đấu tranh quyết liệt để giữ chínhquyền, bảo vệ chế độ, vừa phải xây dựng những “cơ sở để nước ta trở thànhmột nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”

Nhận thức đúng những thời cơ và thách thức đang đặt ra để thực hiệnđược mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ, Đảng ta chỉ rõ chúng taphải quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng, nhiệm vụ cơ bản: Đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tếtri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; Phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Xâydựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị,hợp tác và phát triển; Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nềndân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộngmặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.Đặc biệt, tại Đại hội XI, vấn đề mô hình phát triển xã hội - mô hình xãhội XHCN Việt Nam đã được Đảng ta trình bày một cách vừa cụ thể, vừa hết

sức sâu sắc, toàn diện Đó là, “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do

nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuấthiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điềukiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnhđạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” Đây là môhình CNXH đặc thù Việt Nam mang tính định hướng trong suốt thời kỳ quá

độ Mang tính định hướng là do, thời kỳ quá độ là một giai đoạn phát triển có

Trang 10

tính độc lập và là giai đoạn chuyển đổi từ CNTB lên CNXH Vì vậy, xã hộitrong thời kỳ quá độ chưa phải là xã hội XHCN hoàn bị, nó đòi hỏi tiếp tụcđược bổ sung và phát triển.

Khác với những nước tư bản phát triển, khi tiến lên CNXH, họ trực tiếpthực hiện bước quá độ từ CNTB, Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ chưatrải qua sự phát triển của CNTB, dĩ nhiên, chúng ta có đủ cơ sở thực tiễnkhách quan và chủ quan như Đảng ta đã chỉ rõ để thực hiện thành công bướcquá độ lên CNXH

Những đặc trưng của mô hình xã hội XHCN Việt Nam vừa mang tínhchất định hướng lâu dài, vừa mang tính chất những nhiệm vụ cụ thể cần đạttới trong từng bước đi, từng giai đoạn, từng thời kỳ của cả thời kỳ quá độ.Điều này mang ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng không chỉ đối vớithực tiễn mà cả lý luận Về mặt thực tiễn, mô hình xã hội XHCN không phải

là một hệ chuẩn cố định, cứng nhắc, bất biến mà là một hệ thống giá trị phổquát, sinh động, luôn vận động và biến đổi cùng với sự vận động và biến đổicủa thực tiễn lịch sử Về mặt lý luận, nhận thức là một quá trình Nhận thức

về CNXH với tư cách là nhận thức về một thực thể đang hình thành, vận động

và phát triển càng là một quá trình phức tạp với nhiều bất ngờ, mới mẻ Do

đó, nhận thức về mô hình xã hội XHCN càng phải tuân thủ các phương phápnhận thức biện chứng duy vật Quan điểm của Đảng ta về mô hình xã hộiXHCN Việt Nam chính là thành tựu to lớn về tư duy lý luận của Đảng ta quamấy chục năm lãnh đạo nhân dân ta xây dựng CNXH, nhất là 25 năm đổimới Nhưng có thể khẳng định rằng, đó là mô hình tổng quát, trong thời kỳquá độ, nhiều đặc trưng mới, cụ thể và phù hợp với thực tiễn chắc chắn sẽđược Đảng ta tiếp tục bổ sung và hoàn thiện./

Chương 2

Trang 11

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN

1 Bối cảnh quốc tế và trong nước thời kỳ đổi mới tác động tới nhận thức mới về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam

Bối cảnh quốc tế.

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, trên thế giới đã diễn ranhững biến đổi to lớn, sâu sắc Những biến đổi ấy đã trực tiếp hoặc gián tiếptác động đến nhận thức của Đảng ta về CNXH và con đường đi lên CNXH ởViệt Nam

Một là, Kinh tế tri thức và toàn cầu hoá Trong thời kỳ này, cuộc cáchmạng khoa học – công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, tác động rất lớnđến đời sống xã hội thế giới, tạo ra nền kinh tế tri thức – một bước tiến mớitrong lịch sử nhân loại Kinh tế tri thức đã tác động rất lớn đến nhận thức vềCNXH và xây dựng CNXH ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam

Toàn cầu hoá được bắt đầu từ cách mạng công nghiệp, nhưng thể hiệnđầy đủ các đặc trưng của nó từ cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại.Toàn cầu hoá cũng là hệ quả tất yếu của sự phát triển chủ nghĩa tư bản Nhìnchung, nó đem lại những lợi ích cho tất cả các nước trên thế giới nói chung vàcác nước XHCN nói riêng, đó là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; tạođiều kiện thuận lợi để các nước tiếp cận với các nguồn vốn quốc tế, công nghệtiên tiến hiện đại Tuy nhiên, mặt trái của toàn cầu hoá cũng không ít Chẳnghạn, nó tạo ra sự bất bình đẳng trong phân chia có lợi ích mà toàn cầu hoámang lại; nó có thể làm xói mòn các giá trị dân tộc, thách thức với chủ quyềncác quốc gia, thúc đẩy chủ nghĩa thực đân phát triển nhanh hơn dưới hìnhthức mới Đặc biệt là, toàn cầu hoá tác động đến CNXH trên cả hai phươngdiện: tích cực và tiêu cực Tức là bên cạnh những thành quả, những lợi ích màtoàn cầu hoá mạng lại, thì cũng đang tạo ra những khó khăn thách thức mớicho các nước XHCN, đó là nguy cơ mất độc lập tự chủ về kinh tế; tụt hậutrong cuộc cạnh tranh quốc tế; nguy cơ về chủ quyền lãnh thổ quốc gia…Trước bối cảnh của toàn cầu hoá, các nước XHCN phải đối phó với những tácđộng tiêu cực của toàn cầu hoá với độc lập dân tộc và CNXH

Trang 12

Hai là, diễn biến hoà bình Các thế lực thù địch ở phương tây đã và đangtiếp tục âm mưu chống phá các nước XHCN bằng chiến lược “diễn biến hoàbình” Chủ nghĩa đế quốc đã hậu thuẫn cho các thế lực bên trong hòng từngbước làm cho các nước XHCN xa rời quỹ đạo CNXH Các thế lực thù địchkhông từ một thủ đoạn nào để can thiệp vào nội bộ của các nước XHCN, trong

đó có Việt Nam nhằm chuyển hoá chế độ, dẫn đến xoá bỏ CNXH ở nước ta

Ba là, CNXH hiện thực trên thế giới: Hệ thống XHCN thế giới ra đờisau chiến tranh thế giới thứ II đã có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên toàncầu Nhưng đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, CNXH ở Đông Âu vàLiên Xô đã sụp đổ và tan rã Điều đó đã có tác động mạnh mẽ đến nhận thứccủa Đảng ta về mô hình CNXH, về con đường, biện pháp xây dựng CNXH ởnước ta Đông đảo cán bộ và nhân dân lo lắng, thậm chí có người hoangmang, dao động về tiền đồ của CNXH

Song, trên thực tế, cũng cần thấy rằng, Trung Quốc thực hiện cải cách

mở cửa, đổi mới nhận thức về CNXH đã đạt được những thành tựu to lớn trêntất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Cùng với Trung Quốc, Cu Ba, mặc dù

bị chủ nghĩa đế quốc bao vây, cấm vận, nhưng Cu Ba vẫn giữ vững chế độXHCN – là một hình mẫu về sự phát triển xã hội, phát triển con người ở khuvực Mỳ la tinh Thực tiễn phong trào cách mạng thế giới đã làm nảy sinhnhiều mô hình, loại hình, nhiều lý luận, nhận thức khác nhau về CNXH vàxây dựng CNXH Tất cả những nhân tố này tác động không nhỏ đến nhậnthức mới của Đảng Cộng sản Việt Nma về CNXH và con đường đi lênCNXH ở nước ta hiện nay

Bối cảnh trong nước.

Cách mạng nước ta đã bước sang một thời kỳ mới đòi hỏi phải có nhữngnhận thức mới về XHCN và xây dựng XHCN Sau năm 1975, đất nước tathống nhất toàn vẹn lãnh thổ - đó là tiền đề quan trọng để nước ta bước vàothời kỳ quá độ đi lên CNXH Thực hiện cuộc sống của nhân dân, yêu cầu pháttriển đất nước đã đưa đến những nhận thức mới, đổi mới từng phần trước năm

1986, là nền tảng để Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện về sau

Xây dựng CNXH trong điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam là một côngviệc mới mẻ, phức tạp, khó khăn, lâu dài, phải làm từng bước, phải có quyết

Trang 13

tâm cao trong ý chí và hành động của Đảng Trước hết Đảng phải đổi mới tưduy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Những khuyết điểm, sai lầm trong chỉ đạo thực hiện đường lối, trongviệc đề ra và thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước dẫn tớikhủng hoảng kinh tế xã hội đòi hỏi phải khắc phục kịp thời

Trước đổi mới do thực hiện cơ chế kế hoạch hoá, quan liêu, bao cấptrong lãnh đạo phát triển kinh tế nên đã dẫn đến nền kinh tế đất nước chậmphát triển và rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng vào giai đoạn 1980– 1985 với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta công khai thừa nhận: 10năm (từ 1975 – 1985), Đảng ta phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu,bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế

do chưa nhận thức đầy đủ về thời kỳ quá độ, tư tưởng chủ quan, nóng vộimuốn bỏ qua những bước cần thiết… lại chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

đã lỗi thời Những sai lầm, khuyết điểm ấy bắt nguồn từ trong tư tưởng, tổchức, công tác cán bộ Đảng Trước tình hình đó, đòi hỏi Đảng phải có nhậnthức mới về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam cho phù hợp

Những thành tựu bước đầu rất quan trọng về kinh tế xã hội, an ninh –quốc phòng trong những năm đầu thực tiễn quan trọng trong tư duy lý luận củaĐảng về CNXH Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã từng bước phá thế bao vâycấm vận, áp dụng nhiều biện pháp bước đi phù hợp với tinh thần xác lập quan hệhữu nghị với nhiều quốc gia trên thế giới Do vậy, chúng ta không những củng

cố được mối quan hệ ngoại giao truyền thống với các nước XHCN mà còn mởrộng quan hệ quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Thành côngcủa công cuộc đổi mới toàn diện đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinhthần cho nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, làm thay đổi diện mạo Việt Namtrên trường quốc tế Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thayđổi toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá – hiệnđại hoá được đẩy mạnh; hệ thống chính trị được củng cố và tăng cường; nềnquốc phòng – an ninh được giữ vững

Cùng với những thành tựu kể trên, chúng ta cũng thẳng thắn nhận thấycòn tồn tại nhiều khuyết điểm, hạn chế Chẳng hạn, vấn đề quan hệ giữa tăngtrưởng nhanh và bền vững; giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng

Trang 14

xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá; giữa tăng trưởng kinh

tế với bảo vệ môi trường; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị;giữa độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế vv… Ngay bản thân kinh tế có sựphát triển vượt bậc nhưng cũng chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu;sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu; nhiều vấn đề văn hoá xã hội bức xúcchưa được giải quyết kịp thời, triệt để Nạn quan liêu tham nhũng, suy đồi vềđạo đức, tư tưởng chính trị của một số bộ phận đảng viên, nhất là nhữngngười có chức có quyền vẫn nghiêm trọng Tất cả những thành tựu cũng nhưthách thức đó đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của Đảng ta cần phải đổimới tư duy lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

2 Thực trạng việc nhận thức mới của Đảng ta về CNXH

2.1 Bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội.

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nềntảng tư tưởng Việc bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là một bộ phậnkhông thể tách rời với chủ nghĩa Mác – Lê nin đã tạo nên nền tảng tư tưởngvững chắc cho CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt nam Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) khẳng định “ĐảngCộng sản Việt Nam lấy lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minhlàm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động” các Đại hộiVIII, IX, X, XI tiếp tục khẳng định nội dung đó

Sự đổi mới trước hết biểu hiện ở chỗ: Từ khi Đảng ra đời (1930) chođến khi nêu cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH,Đảng ta trước sau như một, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin làm nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, thì từ đây có thêm nhân tố mới(thành phần mới) là tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là một phát hiện lớn trongnhận thức của Đảng và nhân dân ta về CNXH và con đường đi lên CNXH.Điều đó cần được xem như một trong những nét đặc sắc trong nhận thức mới

về CNXH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Trong quá trình tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta luônkhẳng định phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin, tưtưởng Hồ Chí Minh Tại Đại hội VIII (1996), Đảng khẳng định:’chủ nghĩa

Trang 15

Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chohành động là bước phát triển trong nhận thức và tư duy của Đảng ta Ở nhữngbước ngoặt của cách mạng, những diễn biến phức tạp của tình hình, Đảng kịpthời có những định hướng tư tưởng đúng đắn, uốn nắn những lệch lạc, chốngnhững luận điệu thù địch, tạo cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng trong toànĐảng và trong nhân dân Đây là bước phát triển mới trong nhận thức về nềntảng tư tưởng, bởi lẽ, trước đây Đảng ta chỉ yêu cầu vận dụng và phát triểnchủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam,đồng thời qua quá triònh đổi mới, Đảng ta đã bổ sung một loạt vấn đề cụ thểcủa chủ nghĩa Mác – Lê nin Chẳng hạn, mục tiêu cua CNXH đã xác định rõnét hơn cùng với những đặc trưng mà nhân dân ta đã thực hiện Những vấn đề

về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; Xây dựng nền văn hoá tiên tiếnđậm đã bản sắc dân tộc; vấn đề phát triển kinh tế thị trường đinh hướngXHCN; vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế; vấn đề đa dạng hoá các loại hình sởhữu là những vấn đề mới về lý luận mà Đảng ta đã bổ sung và phát triển.Bên cạnh đó, Đảng ta cũng khắc phục một số nhận thức chưa đầy đủ, chưathực sự khoa học như: Tuyệt đối hoá chế độ công hữu; coi sở hữu tư nhân làđối lập với CNXH; tuyệt đối hoá quan hệ sản xuất trong mối quan hệ với lựclượng sản xuất; tuyệt đối hoá chế độ phân phối bình quan; đối lập loại trừgiữa CNXH với CNTB; đối lập giữa kinh tế kế hoạch với kinh tế hàng hoá;đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước TBCN

2.2 Nhận thức đầy đủ hơn về cách thức bỏ qua CNTB trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định: “nước ta quá độ lên CNXH, bỏqua chế độ Tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượngsản xuất thấp Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lạicòn nặng nề Những tàn dư của thực dân, phong kiến còn nhiều Các thế lựcthù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập củanhân dân ta”

Như vậy, chúng ta mới xác định quá độ lên CNXH bỏ qua chế độTBCN, nhưng chưa rõ thế nào là bỏ qua chế độ TBCN Do vậy đã xuất hiệnnhiều cách lý giải khác nhau về bỏ qua chế độ TBCN Nhìn chung các cách lý

Trang 16

giải đều khẳng định bỏ qua chế độ TBCN là bỏ qua chế độ chính trị TBCN,còn kế thừa những thành tựu khinh tế, kỹ thuật, cơ sở vật chất của CNTB đểphục vụ cho CNXH.

Trải qua 15 năm thực hiện đổi mới, tổng kết quá trình xây dựngCNXH, tại Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ: “con đường đi lên của đất nước ta là sựphát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập

vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưngtiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độTBCN, đặc biệt về khoa học, công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sảnxuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”

Như vậy, theo quan điểm của Đảng ta, nói bỏ qua chế ddooj TBCN là

bỏ qua chế độ áp bức bất công, bóc lột TBCN; bỏ qua những thói hư tật xấu,những thiết chế, thể chế không phù hợp với chế độ XHCN mà ta đang xâydựng, chứ không phải là bỏ qua tất cả những thành tựu, những giá trị vănminh mà CNTB đã đạt được Tất nhiên trong quá trình tiếp thu có chọn lọctrên cơ sở quan điểm phát triển

2.3 Nhận thức rõ hơn về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp của thời kỳ quá độ lên CNXH, xác định rõ mục tiêu tổng quát và mục tiêu chặng đường đầu của thời kỳ quá độ.

Cương lĩnh năm 1991 xác định quá độ lên CNXH ở nước ta là quá trìnhlâu dài, trải qua nhiều chặng đường trông gai Điều này cho thấy nhận thứcmới, đúng đắn hơn của Đảng ta về thời kỳ quá độ Trên cơ sở đó, Cương lĩnhxác định: “Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xâydựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiến trúc thượngtầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành mộtnước XHCN phồn vinh”

Trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, căn cứ vào thực tiễn nước ta,Đảng đã đặt ra mục tiêu của từng thời kỳ Đại hội VII (1991) đẫ đề ra mụctiêu tổng quát 5 năm (1991-1996) là “vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực vàbất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay”.Thực hiện được mục tiêu này là trực tiếp thực hiện mục tiêu của chặng đường

Ngày đăng: 30/09/2020, 17:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w