MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới toàn diện đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, tạo tiền đề quan trọng cho các cải biến đời sống kinh tế xã hội, từng bước xóa bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế đã làm cho nền kinh tế xã hội thay đổi cơ bản, điều này đòi hỏi hệ thống chính trị của nước ta phải đổi mới phù hợp với bối cảnh của đất nước và của thời đại. Trong hơn 20 năm đổi mới Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp từng bước đổi mới cơ chế hoạt động của Đảng, Nhà nước, của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội khác, tích cực khắc phục những thương tích giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị .Tuy nhiên trong giai đoạn đổi mới của đất nước hệ thống chính trị đang tỏ ra không ít bất cập.Vấn đề đặt ra là cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về cơ cấu hoạt động của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.Trên cơ sở đó xây dựng giải pháp để đổi mới hoàn thiện hệ thống chính trị. Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài tiểu luận: “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị XHCN trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới toàn diện
đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước
ta, tạo tiền đề quan trọng cho các cải biến đời sống kinh tế- xã hội, từng bướcxóa bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sangnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhànước Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế đã làm cho nền kinh tế - xã hộithay đổi cơ bản, điều này đòi hỏi hệ thống chính trị của nước ta phải đổi mớiphù hợp với bối cảnh của đất nước và của thời đại
Trong hơn 20 năm đổi mới Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháptừng bước đổi mới cơ chế hoạt động của Đảng, Nhà nước, của Mặt trận Tổquốc và các tổ chức chính trị xã hội khác, tích cực khắc phục những thươngtích giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị Tuy nhiên trong giaiđoạn đổi mới của đất nước hệ thống chính trị đang tỏ ra không ít bất cập.Vấn
đề đặt ra là cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về
cơ cấu hoạt động của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.Trên cơ sở đó xâydựng giải pháp để đổi mới hoàn thiện hệ thống chính trị
Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài tiểu luận: “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị XHCN trong thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam”.
2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
Hệ thống chính trị Việt Nam mang tính chất XHCN và hoạt động dựatrên nguyên tắc tập trung dân chủ
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống chính trị của Việt Nam trong quátrình đi lên CNXH.Đặc biệt là từ sau Đai hội VI của Đảng cộng sản Việt Namđến nay
Trang 22.PGS.TS Lê Minh Thông , “ Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia.Tác giả đã làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong điều kiệnxây dựng CNXH ở Việt Nam
Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo và tạp chí phân tích về cơ chế hoạtđộng của hệ thống chính trị XHCN ở nước ta trong thời kì quá độ lênCNXH.Đó cũng chính là thành tựu để tác giả kế thừa trong quá trình nghiêncứu
4 Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
về cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị XHCN trong thời kì quá độ lênCNXH ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu trên cần phải tiến hành những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh về hệ thống chính trị XHCN
- Làm rõ thực tiễn về cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị XHCN ởnước ta hiện nay
- Đề ra được phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống chính trịnước ta trong thời kì quá độ lên CNXH
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa vào việc xem xét và làm rõ đề tài
- Phương pháp chung: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,
lôgic lịch sủ…
- Một số phương pháp cụ thể: Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các
phương pháp cụ thể như: phương pháp thu thập tài liệu,so sánh, trao đổi…
Trang 4NỘI DUNGCHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ KINH ĐIỂN VỀ HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ XHCN 1.1 Các khái niệm cơ bản:
*Hệ thống chính trị :Là một tổ hợp có tính chỉnh thể bao gồm các thể
chế chính trị được xây dựng trên cơ sở các quyền và các chuẩn mực xã hội(điều kiện kinh tế – xã hội) Kết cấu theo những quan hệ chức năng nhất định.Vận hành theo những cơ chế và nguyên tắc cụ thể nhằm thực thi quyền lựcchính trị
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội,bao gồm: các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợppháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vàocác quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độđương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền Hay chúng tacòn có thể hiểu, hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chếchính trị (các cơ quan quyền lực Nhà nước, các Đảng chính trị, các tổ chức vàphong trào xã hội…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội,phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyêntắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị
Trang 5vẫn còn đấu tranh giai cấp giữa một bên là giai cấp Vô sản và một bên là giaicấp Tư sản, giữa con đường phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội hay lênchủ nghĩa Tư bản Song đây là cuộc đấu tranh diễn ra trong điều kiện mới(giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền) với nôị dung mới (màtrung tâm là xây dựng toàn diện xã hội mới, trong đó, xây dựng nền kinh tế xãhội chủ nghĩa là nhiệm vụ cơ bản nhất) và hình thức mới (cơ bản là hoà bình
và tổ chức xây dựng) Cùng với những bước tiến trong quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội, các thành phần, nhân tố mang tính chất xã hội chủ nghĩa sẽ ngàycàng phát triển và vươn lên vị trí chi phối trên mọi lĩnh vực của đời sống xãhội; con đường xã hội chủ nghĩa sẽ ngày càng giữ vai trò chủ đạo Như vậy,xét trên mọi phương diện, có thể nói, thời kỳ quá độ là còn tồn tại nhiều yếu
tố khác nhau, thậm trí trái ngược nhau cùng tồn tại đan xen, thâm nhập vàonhau và ảnh hưởng lẫn nhau Trong quá trình đó, sự phát triển tiến bộ có thểđan xen với những sự thoái lui tạm thời; những tìm tòi thử nghiệm đôi khiphải làm đi làm lại nhiều lần mới thành công Khi đề cập đến khía cạnh này,
Lênin đã viết: “còn chúng ta thì biết rằng việc chuyển từ chủ nghĩa Tư bản
lên chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn Nhưng chúng
ta sẵn sàng chịu đựng hàng nghìn khó khăn, thực hiện hàng nghìn lần thử, và khi chúng ta đã thực hiện được một nghìn lần thử rồi, thì chúng ta sẽ thực hiện cái lần thử thứ một nghìn lẻ một” [6; 505]
Như vậy, xét về bản chất, mục tiêu nhất quán của các chế độ từ khi cóĐảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộinằm trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hệ thống chính trị:
Trong qua trình hoạt động của mình các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác- Lênin không dùng thuật ngữ “ hệ thống chính trị” theo cách hiểu hiệnnay của chúng ta, mà Mác, Ăngghen thường dùng những thuật ngữ sau: hìnhthức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế xã hội và chính trị, cơ cấu chính trị,
cơ cấu chính quyền, thể chế nhà nước,…Lênin dùng nhiều khái niệm “ hệ
Trang 6thống chuyên chính vô sản” là khí niệm có nhiều nội dung liên quan đến kháiniệm hệ thống chính trị của chúng ta hiện nay.
Qua di sản lý luận của Lênin, khi nói đến chuyên chính vô sản, Lêninchưa vạch ra đầy đủ nội dung của khái niệm này.Nhưng qua những lần đề cậpđến hệ thống chuyên chính vô sản có thể hiểu rằng Lênin muốn nói đến hệthống ấy của nước Nga khi bắt đầu bước vào thời kì quá độ về cơ bản chỉ mớixác định ba tổ chức cấu thành nên tổ chức ấy là đảng cộng sản, chính quyềnnhà nước, công đoàn…
Tư tưởng của Lênin được coi là nền tảng chính trị trong sự nghiệp cáchmạng XHCN nói chung, trong thời kỳ quá độ nói riêng Những tư tưởng củaLênin nhằm củng cố hệ thống chính trị vô sản rất nhiều.Song những bài học
mà chúng ta rút ra được từ trong tác phẩm cuả Người là làm sao khắc phụcđược những gì đã làm cho hệ thống ấy không sử dụng được đầy đủ tiềm lựccủa nó.Phải gạt bỏ lớp hoen rỉ quan liêu chủ nghĩa, chủ quan chủ nghĩa và tựmãn đang bám vào hệ thống ấy
Lênin đã đề cập đến hệ thống ấy với tính cách là một cơ cấu chínhtrị.Do thực tiễn đặt ra Lênin có đề cập đến ba tổ chức nằm trong hệ thống đó:đảng, nhà nước, công đoàn.Lênin đã vạch ra những mối quan hệ giữa các tổchức này.Thực hiện đúng những mối quan hệ ấy sé tạo ra sự vận hành thôngsuốt của toàn bộ hệ thống
Qua những tác phẩm cuối cùng của mình , Lênin muốn bổ sung và thayđổi nhiều quan đỉêm trước đây.Những tác phẩm này đã thể hiện những suynghĩ của Lênin nhằm củng cố hệ thống chuyên chính vô sản dựa trên tìnhhình mới
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà hoạt động cáh mạng thực tiễn, đồng thời
là nhà tư tưởng, nhà lý luận xuất sắc của cách mạng Việt Nam.Tư tưởng HồChí Minh về hệ thống chính trị là toàn bộ những quan điểm lý luận mang bản
Trang 7chất cách mạng khoa học về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức hoạt động củacác tổ chức trong hệ thống chính trị.
Khi chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “ Đảng ta là đảng cầm quyền” có nghĩa
là Người khẳng định bước ngoặt vĩ đại đánh dấu sự chuyển biến về chất trong
vị thế của Đảng từ chưa có chính quyền trở thành có chính quyền, đồng thời
là bước ngoặt trong đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo , xác định
nhiệm vụ của Đảng trước dân tộc và Tổ quốc: Đảng vừa là người lãnh đạo
vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Cùng với Tuyên ngôn độc lập, sự ra đời Hiến pháp năm 1946 trực tiếpthể chế hoá chương trình Việt Minh (10 điểm) hợp thành chỉnh thể pháp lý ởtầm chiến dịch thể hiện một Nhà nước độc lập, tự chủ, cộng hoà, một nhànước thực sự của dân, do dân, vì dân
Hồ Chí Minh thường nói: “ Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất
là nhân dân, vì dân là chủ” [3,515] Khi dân là chủ và dân làm chủ, địa vị cao
nhất trong xã hội là dân, quyền lực nhà nước thuộc về dân, thì mọi nhân viênnhà nước phải là công bộc của dân.Là người làm chủ nhà nước nhân dân cóquyền thông qua cơ chế dân chủ thực thi quyền lực, nhưng đồng thời nhândân phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ nhà nước, làm cho nhà nước ngàycàng trong sạch , vững mạnh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị là những bài học quý giá
về sự lãnh đạo của Đảng, về Nhà nước pháp quyền và Mặt trận đại đoàn kếtdân tộc, về dân chủ Tư tưởng đó là định hướng lý luận cho Đảng ta trongviệc nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị của nước ta hiện nay,
vì thế chúng ta cần học tập nghiên cứu và vận dụng những tư tưởng củaNgười cho phù hợp với tình hình mới
Trang 8CHƯƠNG 2- THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ XHCN Ở NƯỚC TA 2.1 Đặc điểm hệ thống chính trị ở Viêt Nam:
* Các bộ phận cấu thành nên hệ thống chính trị XHCN ở Việt Nam:
ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang làchủ thể chân chính của quyền lực Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạocủa Đảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động Hệthống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai tròkhác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác độngvào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực củanhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam:
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đạibiểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dântộc Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnhđạo của toàn bộ hệ thống chính trị Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trênnhững nội dung chủ yếu sau:
Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quanđiểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo
và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thểquần chúng Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếpnhận, thể chế hoá cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kếhoạch, chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựngNhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thựchiện các Nghị quyết của Đảng
Đảng lãnh đạo xã hội thông qua hệ thống tổ chức Đảng các cấp và độingũ cán bộ, đảng viên của Đảng Đảng lãnh đạo công tác cán bộ bằng việcxác định đường lối, chính sách cán bộ, lựa chọn, bố trí, giới thiệu cán bộ có
Trang 9đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các đoàn thể quầnchúng và các tổ chức chính trị - xã hội.
Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục vànêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chếdân chủ
Nhà nước:
Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chứcthực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu tráchnhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đóchính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mặt khác, Nhànước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trịcủa Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làmchủ của nhân dân
Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là
bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hộicủa nhân dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phốihợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lựcNhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội
do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập raHiến pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp) Quốc hội quyết định nhữngchính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội,những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, vềquan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động củaNhà nước
Trang 10Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp Chính phủ là
cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước.Chính phủ là cơ quan chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báocáo công tác với Quốc hội Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quanhành pháp
Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra.Đây là những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lýnhững tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luậtmột cách nghiêm minh, chính xác
Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ýchí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuântheo pháp luật Toà án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự,không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội củatoà án đã có hiệu lực pháp luật
Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét
xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống,tập trung thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơquan khác của Nhà nước Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạtđộng điều tra, truy tố Với ý nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sátđược gọi là cơ quan tư pháp
Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọnggiáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Vì vậy, cần tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội.
Đây là những tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp được tổ chức đểtập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự
Trang 11quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị,tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợidân chủ của nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quantrọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đấtnước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của các hội viên,đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặtmối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là cơ sở chính trịcủa chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khảnăng tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận độngnhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiệngiám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫntrong nội bộ nhân dân
Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chínhtrị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhândân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng
và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước vànhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xãhội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trungương đến cơ sở Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường,thị trấn Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, Hội đồngNhân dân xã, phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã,phường và các tổ chức chính trị-xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thịtrấn… Tất cả các tổ chức trên đều có vị trí, vai trò và nhiệm vụ được quy địnhtrong Luật Tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta