1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn chính trị học quyền lực chính trị của nhân dân ở việt nam hiện nay

28 156 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong lịch sử loài người, dân chủ vừa là chế độ xã hội, một vấn đề chính trị mang bản chất giai cấp; vừa là một trong những giá trị xã hội mang tính phổ biến, tính nhân loại to lớn. Chính nội hàm đa nghĩa, đa chiều này đã làm dân chủ trở thành vấn đề thời sự thu hút mối quan tâm to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quá trình phát triển của lịch sử chính trị nhân loại theo xu hướng tiến bộ cũng chính là quá trình phát triển của các nền dân chủ. Xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về dân chủ và quyền con người càng trở thành đòi hỏi bức xúc. Nhìn từ phương diện đó, việc mở rộng và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay vừa là mục tiêu, nhưng cũng là động lực, là tiền đề, điều kiện quan trọng, góp phần giải quyết hàng loạt những vấn đề chính trị xã hội của đất nước. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Vấn đề Quyền lực chính trị của ở Việt Nam hiện nay”. Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, các cơ chế và chính sách mới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, mọi người dân được phép tự do kinh doanh theo pháp luật. Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do thảo luận nhiều vấn đề và tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước. Đề tài gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở Pháp Lý Chương II: Thực trạng Chương III:Giải pháp Chương I: Cơ sở lý luận: Dân chủ, trước hết được xem xét với tư cách là một hình thức tổ chức nhà nước, là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư với nhà nước, theo đó cộng đồng là chủ thể gốc và có quyền năng áp đặt ý chí lên nhà nước. Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội. Các cuộc đấu tranh giành dân chủ đều dẫn đến khả năng giải phóng con người, nâng cao vị trí con người trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lực làm chủ xã hội. Dân chủ với ý nghĩa đó được xác định như một lý tưởng nhân đạo, một giá trị nhân văn. Dân chủ còn được xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị. Ðó là sự hình thành thái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham gia vào các quá trình chính trị thực tiễn. Ðó là tinh thần trách nhiệm của cá nhân công dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ những gì phản dân chủ đang tồn tại trong đời sống cộng đồng. Do vậy, dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị mà còn là phạm trù đạo đức. Khẳng định dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội như thế cũng đồng thời đã khẳng định tính tất yếu của công cuộc xây dựng CNXH, vì mục tiêu của CNXH không gì khác hơn là giành dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Tiến lên CNXH là tiến tới một xã hội nhân đạo hoàn bị, một xã hội không còn tha hóa, áp bức, bóc lột, một cộng đồng người lao động tự do và sáng tạo. Do đó, việc phải trình bày và nhấn mạnh những nhiệm vụ dân chủ chung trước toàn thể nhân dân và không lúc nào giấu giếm những niềm tin xã hội chủ nghĩa...; phải là người trước tiên đề cập, nêu bật và giải quyết mọi vấn đề dân chủ chung được V.I.Lênin coi là một dấu hiệu quan trọng xem xét người ấy có phải là người cộng sản hay không. Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ chỉ có CNXH mới đem lại quyền làm chủ cho nhân dân lao động, đem lại sự giải phóng thực sự và hoàn toàn cho nhân dân, mới bảo đảm cho dân tộc thật sự có độc lập, tự do và con người hạnh phúc: Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử loài người, dân chủ vừa là chế độ xã hội, một vấn đềchính trị mang bản chất giai cấp; vừa là một trong những giá trị xã hội mangtính phổ biến, tính nhân loại to lớn Chính nội hàm đa nghĩa, đa chiều này đãlàm dân chủ trở thành vấn đề thời sự thu hút mối quan tâm to lớn cả vềphương diện lý luận và thực tiễn Quá trình phát triển của lịch sử chính trịnhân loại theo xu hướng tiến bộ cũng chính là quá trình phát triển của các nềndân chủ Xã hội càng phát triển thì các nhu cầu về dân chủ và quyền conngười càng trở thành đòi hỏi bức xúc Nhìn từ phương diện đó, việc mở rộng

và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay vừa là mục tiêu, nhưng cũng là độnglực, là tiền đề, điều kiện quan trọng, góp phần giải quyết hàng loạt những vấn

đề chính trị - xã hội của đất nước Vì vậy tôi chọn đề tài: “Vấn đề Quyền lực chính trị của ở Việt Nam hiện nay”.

Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, các cơ chế và chính sáchmới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm năng củacác thành phần kinh tế, mọi người dân được phép tự do kinh doanh theo phápluật Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do thảo luận nhiều vấn đề

và tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước

Đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở Pháp Lý

Chương II: Thực trạng

Chương III:Giải pháp

Chương I: Cơ sở lý luận:

Dân chủ, trước hết được xem xét với tư cách là một hình thức tổ chứcnhà nước, là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa cộng đồngdân cư với nhà nước, theo đó cộng đồng là chủ thể gốc và có quyền năng ápđặt ý chí lên nhà nước Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơbản: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp

Trang 2

Dân chủ còn được hiểu là một giá trị xã hội Các cuộc đấu tranh giànhdân chủ đều dẫn đến khả năng giải phóng con người, nâng cao vị trí conngười trong lịch sử, hình thành và phát triển ở con người ý thức và năng lựclàm chủ xã hội Dân chủ với ý nghĩa đó được xác định như một lý tưởng nhânđạo, một giá trị nhân văn.

Dân chủ còn được xét với ý nghĩa là điều kiện để hình thành và pháttriển một nhân cách toàn diện của các chủ thể chính trị Ðó là sự hình thànhthái độ, tính tích cực chính trị, sự chủ động, nhu cầu và sự tự giác tham giavào các quá trình chính trị thực tiễn Ðó là tinh thần trách nhiệm của cá nhâncông dân trong cuộc đấu tranh nhằm loại bỏ những gì phản dân chủ đang tồntại trong đời sống cộng đồng Do vậy, dân chủ không chỉ là phạm trù chính trị

mà còn là phạm trù đạo đức

Khẳng định dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội như thếcũng đồng thời đã khẳng định tính tất yếu của công cuộc xây dựng CNXH, vìmục tiêu của CNXH không gì khác hơn là giành dân chủ cho giai cấp côngnhân và nhân dân lao động, khẳng định quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.Tiến lên CNXH là tiến tới một xã hội "nhân đạo hoàn bị", một xã hội khôngcòn tha hóa, áp bức, bóc lột, một cộng đồng người lao động tự do và sáng tạo

Do đó, việc "phải trình bày và nhấn mạnh những nhiệm vụ dân chủ chungtrước toàn thể nhân dân và không lúc nào giấu giếm những niềm tin xã hộichủ nghĩa ; phải là người trước tiên đề cập, nêu bật và giải quyết mọi vấn đềdân chủ chung" được V.I.Lê-nin coi là một dấu hiệu quan trọng xem xétngười ấy có phải là người cộng sản hay không

Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ chỉ có CNXH mới đem lạiquyền làm chủ cho nhân dân lao động, đem lại sự giải phóng thực sự và hoàntoàn cho nhân dân, mới bảo đảm cho dân tộc thật sự có độc lập, tự do và conngười hạnh phúc: "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giảnđơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, trước hết là nhân dân lao động"

Trang 3

Ghi nhận quyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp để thể hiệnđược quyền con người phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội của quốc gia là vấn đề không đơn giản Tuy nhiên, từ quy định vềquyền và nghĩa vụ trong hiến pháp đến thực hiện trong thực tế mới là điềukhó khăn nhất Vì vậy, đồng thời với việc quy định quyền và nghĩa vụ củacông dân trong hiến pháp, nhất thiết phải tính đến các bảo đảm thực hiện thực

tế các quyền và nghĩa vụ đó, trong đó bảo đảm pháp lý có vai trò quan trọng

Đưa ra quan điểm rõ nét nhất của nhà nước ta:

Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định vấn đề xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân là một quan điểm chỉ đạo thống nhất vàxuyên suốt Đảng ta Điều này cũng đã được Hiến pháp năm 1992 (bổ sung)

nhận tại Điều 2 : “Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp”.

Nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân ta xây dựng là nhà nướcpháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Điều này được quy đinhkhách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị XHCN

” Nhân dân đã và đang làm chủ vừa bằng hình thức trực tiếp, vừabằng hình thức gián tiếp thông qua những đại diện do mình bầu ra

Về hình thức làm chủ trực tiếp của nhân dân, Điều 53, Hiến pháp 1992

ghi rõ: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”

Tuy nhiên, khi xác định quyền lực nhà nước thuộc nhân dân, điều đókhông có nghĩa là mỗi người dân đều tự hành xử theo ý chí riêng của mình

mà quyền lực đó phải được tổ chức để nhân dân thông qua tổ chức mà sử

Trang 4

dụng quyền lực nhà nước Tổ chức quyền lực nhà nước đó là cơ quan đạibiểu nhân dân

Cơ quan đại biểu nhân dân được hình thành từ sự tập họp các đại biểunhân dân do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân,được nhân dân ủy nhiệm quyền lực nhà nước của mình và chịu trách nhiệmtrước nhân dân Đến lượt mình các cơ quan đại biểu nhân dân, thay mặt nhândân và vì lợi ích của nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước Nói cách khác,

cơ quan nhà nước các cấp chỉ là người chấp hành mệnh lệnh của quốc dân,chấp hành ý chí của nhân dân Cán bộ công chức phải là công bộc của dân,chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân

Con đường, biện pháp mà nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước được

ghi nhận ở điều 6 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) : “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” Đồng thời chính nhân dân thực hiện quyền

giám sát tối cao đối với các cơ quan nhà nước trong việc sử dụng quyền lực

mà nhân dân ủy nhiệm Quyền giám sát đó được thực hiện bằng cơ chế hợp lý

và công cụ pháp lý có hiệu quả nhất

Từ những phân tích trên cho thấy, ở nhà nước ta quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội

và Hội đồng nhân dân Quyền lực nhà nước của nhân dân thống nhất và tậptrung Bằng con đường đó, nhân dân mới thật sự quyết định công việc của đấtnước mình vì lợi ích của chính mình

Ðối với xã hội, một mặt, pháp luật ghi nhận và thể chế hóa quyền conngười, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó đượcthực hiện; mặt khác, pháp luật trở thành phương tiện để các thành viên của xãhội có điều kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình

Việc thực hiện dân chủ điều quan trọng là phải hoàn thiện các chế địnhdân chủ để buộc các chủ thể cầm quyền dù muốn hay không cũng phải tuân

Trang 5

theo Nếu không có thể chế để qua đó nhân dân kiểm soát được quyền lực thìtất yếu sẽ dẫn đến xu hướng lạm quyền Về dân chủ trực tiếp việc ban hànhQuy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở theo Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18-2-

1998 của Bộ Chính trị và Nghị định số 29/1998/NÐ-CP ngày 11-5-1998 củaChính phủ vừa qua là một hướng đi đúng đắn và đã đạt được những thành tựunhất định Về dân chủ đại diện thì phải thông qua các chủ thể quyền lực trong

hệ thống chính trị, thông qua cấp ủy đảng, đại biểu Quốc hội và hội đồngnhân dân các cấp, thông qua những người lãnh đạo các đoàn thể nhân dân,thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Các quan hệ dân chủ ấy cầnđược định chế bằng luật pháp và chuẩn mực xã hội Pháp luật không thể quyđịnh trách nhiệm chung chung và người dân thì không biết đại diện của mình

là ai Phải xây dựng các thể chế để bảo đảm năng lực của sự đại diện, hiệuquả của sự đại diện, từ khâu tổ chức hoạt động của các cơ quan đại diện đến

vị trí, vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của những người đại diện Phải làmcho chế định bầu cử thật sự tự do, công khai, dân lựa chọn, dân biết đầy đủquá trình bầu cử, dân kiểm tra kết quả bỏ phiếu Và như vậy việc thực hiệndân chủ còn có quan hệ trực tiếp với việc đổi mới về tổ chức và phương thựchoạt động của hệ thống chính trị, vì nó được thực hiện bằng hệ thống chínhtrị

Trang 6

phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sauđây gọi chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan vàcủa nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

Nhiều địa phương đã triển khai Pháp lệnh và có đánh giá là đã mang lạinhững kết quả đáng ghi nhận, góp phần phát huy nội lực động viên sự đónggóp của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốcphòng và đã hạn chế được những thắc mắc, khiếu kiện và điều quan trọng hơn

cả là đã tạo nền tảng, động lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗiđịa phương, đơn vị có nơi đánh giá rằng việc thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đã phát huy tinh thần dânchủ của cán bộ và nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng hệ thốngchính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh

Một số khác đã đánh giá nội dung công khai vừa là nội dung quan trọngvừa là biện pháp hàng đầu trong quá trình thực hiện dân chủ Giải mã tốt vấn

đề công khai minh bạch thì mọi yêu cầu thực hiện dân chủ ở xã, phường, thịtrấn sẽ được thực hiện trôi chảy, có hiệu quả

Chương II: Thực trạng:

Nhân dân Việt Nam chỉ thật sự làm chủ và phát huy quyền làm chủ củamình khi được tổ chức, tập hợp dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản ViệtNam, người đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của toàn dân tộc Ðược Ðảng lãnh đạo, được toàn thể nhân dân xâydựng và ủng hộ, Nhà nước ta đã không ngừng lớn mạnh và đang gánh vác sứmệnh của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện rõ rệtbản chất tốt đẹp và tiến bộ của chế độ xã hội mới Ðó thật sự là một nhà nướcdân chủ, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, bảo vệ và phục vụ lợi ích của nhândân

Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay các cơ chế và chính sáchmới đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế, phát huy tiềm năng củacác thành phần kinh tế, mọi người dân được phép tự do kinh doanh theo pháp

Trang 7

luật Trong sinh hoạt tư tưởng, người dân được tự do thảo luận nhiều vấn đề;

sự thảo luận và đối thoại trong Quốc hội thẳng thắn, công khai; nhân dânđược tham gia trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước Nhiều chủtrương, chính sách, pháp luật quan trọng đã được nhân dân tham gia góp ýkiến trước khi quyết định Nhiều văn bản pháp quy được ban hành nhằm từngbước thực hiện dân chủ hóa kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa góp phần pháthuy tính tích cực, chủ động của nhân dân trên cơ sở môi trường - tâm lý xãhội ngày càng dân chủ Nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chứctrong hệ thống chính trị được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ nội bộ vàquyền làm chủ của nhân dân, tăng cường trách nhiệm và quyền hạn của các

cơ quan dân cử, nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp.Kinh nghiệm cũng được rút ra là, trong quá trình mở rộng dân chủ phải luônluôn đề phòng và chủ động ngăn chặn dân chủ hình thức, cũng như dân chủcực đoan, xác định rõ dân chủ phải đi liền với tập trung, với kỷ luật, phápluật, với ý thức trách nhiệm công dân Một mặt phát huy dân chủ, mặt kháccần có sự lãnh đạo đúng đắn, lãnh đạo để ổn định chính trị - xã hội và pháthuy dân chủ tốt hơn

Hiện nay, các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội trong và ngoài nướcđang lợi dụng vấn đề dân chủ như một diễn đàn trọng yếu trong chiến lượcthay đổi chế độ chính trị ở nước ta, nhằm đưa đất nước đi theo con đường tưbản chủ nghĩa Các thế lực đó đem đối lập Ðảng Cộng sản với dân chủ nhằmbài bác vai trò lãnh đạo của Ðảng, nhân tố quyết định việc thực hiện quá trìnhdân chủ hóa Có thể khẳng định rằng, đó là điều đi ngược lại quy luật vậnđộng của lịch sử và nguyện vọng chính đáng của đông đảo quần chúng nhândân lao động về quyền làm chủ của mình Không phải cứ đa nguyên thì dânchủ, còn một đảng thì mất dân chủ Vấn đề là ở chỗ đảng cầm quyền có thực

sự cách mạng, có thực sự vì quyền lợi của nhân dân hay không

………

NN CHXHCN VN là NN dân chủ thực sự và rộng rãi

Trang 8

Thể hiện:

+Những thiết chế đầu tiên của NN kiểu mới ở VNam ra đời trên nềntảng DC: Quốc dân đại hội Tân trào

+Dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống:

+Trong Lvực kinh tế: quyền tự do k/doanh, tự do liên doanh, hợp tác,liên kết; tự chủ trong k/doanh…

+Trong Lvực c/trị: quyền tự do trong sinh hoạt ch/trị, tự do biểu tình, tự

do bày tỏ chính kiến, đóng góp ý kiến vào dự thảo cương lĩnh, Đlối của Đảng,Pluật của NN…

+Trong Lvực tư tưởng, văn hóa: quyền tự do ngôn luận, báo chí, hộihọp, tự do tín ngưỡng, bí mật về thư tín…

………

Bảo đảm pháp lý là một bộ phận cấu thành của các bảo đảm thực hiệnquyền và nghĩa vụ công dân, trong đó có các quyền và nghĩa vụ cơ bản Khoahọc pháp lý chia các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dânthành hai loại: Một là, các bảo đảm chung, bao gồm các bảo đảm chính trị (hệthống chính trị), các bảo đảm kinh tế (tính chất của các quan hệ kinh tế, khảnăng kinh tế ), các bảo đảm xã hội (đặc điểm, tính chất của các quan hệ giữacác giai cấp, tầng lớp xã hội, bầu không khí xã hội, vai trò của xã hội dânsự ), các bảo đảm tư tưởng (quan điểm, quan niệm chính trị, pháp lý xungquanh vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân) Các bảo đảmnày tạo ra nền tảng chung cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.Các bảo đảm này về bản chất không có tính chất pháp lý, không trực tiếp gắnvới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, nó thể hiện mối liên quan

có tính trừu tượng đến khả năng thực hiện tổng thể các quyền và nghĩa vụ củacông dân Hai là, các bảo đảm riêng còn được gọi là các bảo đảm pháp lý nhưcác quy định về thủ tục pháp lý, chế tài pháp lý Các bảo đảm này có bảnchất pháp lý, trực tiếp gắn liền với việc công dân thực hiện các quyền và

Trang 9

nghĩa vụ pháp luật cụ thể Chúng tôi chỉ bàn về các bảo đảm pháp lý thực hiệnquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (hay là quyền và nghĩa vụ hiến pháp).

Bảo đảm pháp lý - như đã trình bày - có thể được hiểu là các quy địnhcủa pháp luật trực tiếp liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụthể của công dân Khi nghiên cứu các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân, cần chú ý rằng, các quyền và nghĩa vụ nàyđược quy định trong hiến pháp hầu như đều phải được cụ thể hóa trong cácquy định của các luật, ngành luật trong hệ thống pháp luật thì mới thực hiệnđược trong thực tế Chẳng hạn, ở nước ta, quyền bầu cử, ứng cử của công dânphải được cụ thể hóa trong các luật bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân,quyền tự do ngôn luận được cụ thể hóa trong luật báo chí, luật về tiếp cậnthông tin , quyền tự do kinh doanh phải được quy định trong các luật vềdoanh nghiệp, hợp tác xã, luật thương mại , quyền tự do cá nhân của côngdân được quy định trong các luật hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân

sự, hành chính , nghĩa vụ đóng thuế được quy định trong các luật thuế ,nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trong luật về nghĩa vụ quân sự, dânquân tự vệ Bởi vậy, các bảo đảm pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa công dân trong các luật, ngành luật cụ thể hóa quy định hiến pháp vềquyền và nghĩa vụ cũng hàm nghĩa bảo đảm thực hiện các chế định quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp Từ quan niệm như vậy, cầnxem xét các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân trong hiến pháp không giới hạn chỉ trong phạm vi hiến pháp cũng nhưngành luật hiến pháp, mà cần mở rộng ra trong hệ thống pháp luật Xuất phát

từ quan niệm như vậy, có thể xác định các bảo đảm pháp lý thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp bao gồm các dạng thức cơbản sau:

(i) Quy định thẩm quyền liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ củacông dân Thẩm quyền này được quy định trong hiến pháp và các luật, có thểchia thành hai loại lớn Một là, thẩm quyền cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ trên

Trang 10

cơ sở quyết định của hiến pháp Đối với các nhà nước hiện đại, các quy định

cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của công dân đều phải được quy định bởi cơquan lập pháp (nghị viện, quốc hội ) Về nguyên tắc, chính phủ là cơ quanchỉ được quy định ở mức độ hạn chế quyền, nghĩa vụ của công dân theo sự ủyquyền của cơ quan lập pháp Các trường hợp hết sức đặc biệt, khi chưa có quyđịnh cụ thể hóa quy định của hiến pháp về quyền hay nghĩa vụ công dân của

cơ quan lập pháp mà có đòi hỏi bức bách của đời sống xã hội thì chính phủmới có thể được ban hành, đương nhiên, phải được luật quy định Hai là, thẩmquyền trong việc thực hiện các hoạt động liên quan đến việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ của công dân nhằm bảo đảm xét xử đúng đắn Ví dụ, quy định vềthẩm quyền xét xử của tòa án các cấp, quy định về xử phạt hành chính của các

cơ quan hành chính

(ii) Xác định cụ thể ranh giới thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân.Quy định về ranh giới này khá đa dạng Có các quy định về giới hạn chungcủa quyền và tự do về phía công dân như Tuyên ngôn Nhân quyền và dânquyền 1789 của Pháp viết: “Tự do bao gồm sự tự do để làm tất cả mọi thứ màkhông làm tổn hại đến bất cứ người nào khác, vì vậy việc thực hiện các quyền

tự nhiên của mỗi con người là không giới hạn, trừ những người mà phải bảođảm cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó” (Điều 4);

“Mỗi người đều có quyền phát triển tự do nhân cách của mình tới mức không

vi phạm các quyền của người khác hoặc vi phạm chống lại trật tự hiến pháphoặc chuẩn mực đạo đức” (Điều 2, Hiến pháp Đức 1949) Có các quy định

về quyền và tự do như là điểm bắt đầu và điểm giới hạn đối với công dân nhưHiến pháp Canada 1982: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do Anninh của con người và các quyền khác là không thể tước đoạt ngoại trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác” (Điều 7) Có cách chỉ ra giới hạn của quyền

và tự do trong quan hệ giữa nhà nước và công dân qua công cụ pháp luật nhưTuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền 1789 của Pháp: “Pháp luật chỉ có thểngăn cấm các hành vi có hại cho xã hội Không gì có thể bị ngăn chặn nếu

Trang 11

không bị cấm bởi pháp luật, và không ai có thể bị buộc phải làm bất cứ điều

gì mà không theo quy định của pháp luật” (Điều 5), hoặc Hiến pháp Braxin:

“Không ai có nghĩa vụ làm hoặc không làm điều gì đó trừ khi pháp luật cóquy định về điều đó” (Điều 5) Có các quy định về giới hạn của quyền và tự

do của công dân bằng cách quy định giới hạn thẩm quyền về phía nhà nước,chẳng hạn, Hiến pháp Mỹ: “Không một đạo luật nào tổn hại đến quyền tự docủa công dân và không một đạo luật hồi tố nào có thể được thông qua” (Điều

1, khoản 9 [Giới hạn quyền lập pháp]), “Không bang nào được phép thôngqua hay thực hiện những đạo luật xâm phạm hoặc hạn chế đặc quyền côngdân và quyền bất khả xâm phạm của công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.Không bang nào được quyền tước đoạt mạng sống, tự do, tài sản của công dân

mà không thông qua một tiến trình tố tụng đúng luật Cũng không bang nàođược phép từ chối bảo vệ những quyền hợp pháp của công dân trong lãnh thổthuộc quyền tài phán của mình” (Tu chính 14, ngày 9/7/1968) Hiến pháp Ngaquy định một giới hạn thông thường có trong hiến pháp, pháp luật của mọiquốc gia: “Sự hạn chế nào đối với quyền và tự do cơ bản của con người, củacông dân cũng đều bị cấm ngoại trừ trường hợp vì an ninh quốc phòng, tìnhtrạng khẩn cấp” (Điều 55) Xem xét hệ thống pháp luật các nước sẽ còn thấynhiều hình thức xác định ranh giới của các quyền và nghĩa vụ của công dân.Đối với các quyền hay nghĩa vụ cụ thể thì ranh giới đó sẽ còn rất phong phú

(iii) Quy định trách nhiệm của nhà nước, cán bộ công chức trong việcbảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân Quy định này dễ dàngtìm thấy trong hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật ở các nước, có thể làquy định chung hoặc quy định cho các trường hợp cụ thể Chẳng hạn, Hiếnpháp Nhật Bản 1946 tại Điều 13 diễn đạt như sau: “Quyền sinh sống, tự do,mưu cầu hạnh phúc, nếu không trái với quyền lợi chung là mối quan tâm tốicao của các nhà lập pháp và các nhà chức trách khác” Điều 5 Hiến phápBraxin 1988 quy định: “Nhà nước phải cung cấp đầy đủ và miễn phí sự trợgiúp pháp lý cho tất cả những người mà chứng minh họ không đủ nguồn lực

Trang 12

kinh tế”, Hiến pháp Nga 1993 tại Điều 24: “Các cơ quan nhà nước và các cơquan địa phương và các quan chức có nhiệm vụ cung cấp cho công dân tàiliệu liên quan trực tiếp đến quyền và tự do của công dân”, Hiến phápVenezuela quy định về trách nhiệm của nhà nước qua suốt 117 điều về quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân

(iv) Quy định thủ tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân Thủtục thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong hệ thống pháp luật bao gồmrất nhiều các thủ tục khác nhau như thủ tục bầu cử, thủ tục tư pháp áp dụngtrong tòa án xét xử các vụ việc hành chính, hình sự, dân sự Trong khoa họcpháp lý, quy phạm thủ tục được xác định là bảo đảm cho việc thực hiện cácquy phạm nội dung Tất nhiên, không phải khi nào thủ tục cũng là tốt Ví dụ,trong cải cách hành chính hiện nay ở nước ta, thủ tục hành chính không cầnthiết thì phải được loại bỏ để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mìnhđược dễ dàng, thuận lợi Nhưng, khi có sự hiện diện cần thiết của thủ tục thìkhi đó, thủ tục cần phải được quy định theo các yêu cầu chặt chẽ để bảo đảmcho các quy định pháp luật (nội dung) được thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất.Trong hiến pháp các nước đều có quy định ít hoặc nhiều thủ tục pháp lý chohoạt động của các cơ quan nhà nước có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp đếnviệc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân Trong hệ thống pháp luật, cácthủ tục hành chính, tư pháp đều có vai trò rất lớn trong việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ đó

(v) Quy định chế tài bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ Chế tài baogồm các chế tài hành chính, hình sự, dân sự, kỷ luật hành chính và cả chế tàihiến pháp áp dụng đối với người thực hiện quyền hay nghĩa vụ và đối với cán

bộ, công chức liên quan Chế tài với tính cách là công cụ cưỡng chế nhà nước

áp dụng nhằm tạo ra hậu quả bất lợi đối với người vi phạm pháp luật và thểhiện sự lên án của nhà nước và xã hội Qua chức năng trừng trị, giáo dục,phòng ngừa và khôi phục quan hệ xã hội bị vi phạm, chế tài bảo đảm cho

Trang 13

quyền hay nghĩa vụ của công dân được thực hiện Chế tài có thể được áp dụngbởi tòa án hay cơ quan hành chính nhà nước.

(vi) Quy định về giải quyết tranh chấp pháp luật về quyền và nghĩa vụ.Các tranh chấp pháp luật này có thể là tranh chấp pháp luật giữa các cá nhân,

tổ chức, cơ quan và giữa nhà nước với các chủ thể này liên quan đến việc thựchiện quyền hay nghĩa vụ của công dân Các tranh chấp được giải quyết dướinhiều hình thức khác nhau theo các thủ tục nhất định do các cơ quan, tổ chức(tòa án, trọng tài phi chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chứchòa giải ) thực hiện Các nước đặc biệt quan tâm đến tranh chấp pháp luậtgiữa cá nhân, tổ chức với nhà nước về quyền Bởi vậy, trong hiến pháp nhiềunước thường quy định việc giải quyết tranh chấp này dưới các hình thức khácnhau Ví dụ, Hiến pháp Nga quy định: “Các quyết định hành động (hoặckhông hành động) của các cơ quan nhà nước, cơ quan địa phương, các hiệphội công cộng và các quan chức đều có thể bị khởi kiện tại toà án” (Điều 46),Hiến pháp Đức: “Bất kỳ người nào bị xâm phạm quyền cơ bản có quyền tintưởng vào toà án sẽ được mở cho anh ta Nếu không có toà án chuyên ngànhthì các toà án thông thường sẽ giải quyết việc khởi kiện của anh ta” (Điều 19),Hiến pháp Braxin: “Luật pháp không được loại trừ sự xem xét lại của toà ánđối với bất kỳ sự vi phạm hay đe doạ đến quyền nào đó” (Điều 5) Trongluật dân sự các nước đều có quy định về quá trình giải quyết tranh chấp dân

sự giữa các cá nhân, tổ chức

(vii) Giải thích chính thức quy định về quyền và nghĩa vụ trong hiếnpháp Giải thích quy định đó có thể được thực hiện bởi cơ quan tài phán trongquá trình xét xử các tranh chấp hay vi phạm quyền và nghĩa vụ hiến pháp.Nhưng giải thích pháp luật có thể được thực hiện do các nhu cầu về xem xéttính hợp hiến của việc ban hành một đạo luật hay văn bản pháp luật khác hoặc

để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật hợp hiến trong trường hợp liên quanđến quyền của công dân, cá nhân Việc giải thích này có thể do tòa án, cơquan thường trực của nghị viện thực hiện

Trang 14

Như vậy, liên quan đến quyền công dân, giải thích hiến pháp thực hiệnchức năng là tạo ra cơ sở để đánh giá về tính hợp hiến đối với các sự kiện đãxảy ra (một đạo luật đã được thông qua, quyết định, hành vi của cơ quan nhànước đã ban hành hay thực hiện đối với công dân) hoặc sự kiện sẽ xảy ratrong tương lai (đạo luật sẽ được thông qua, khả năng ban hành quyết địnhhay thực hiện hành vi pháp luật nào đó với công dân).

(viii) Giám sát, kiểm tra việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân Vềbản chất, đây là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá thực trạng thực hiệnquyền và nghĩa vụ của công dân Hoạt động giám sát, kiểm tra do nhiều chủthể khác nhau thực hiện, có thể chia thành các hoạt động giám sát, kiểm tracủa nhà nước (nghị viện, cơ quan hành chính cấp trên ) và giám sát do xã hội(các tổ chức xã hội, hội đoàn, công dân) thực hiện Giám sát, kiểm tra là hoạtđộng đặc biệt quan trọng trong việc thu thập và đánh giá thông tin về thựchiện quyền và nghĩa vụ của công dân, từ đó, có các phương án xử lý để bảođảm thực hiện thực tế các quyền và nghĩa vụ đó

Trong Hiến pháp, pháp luật các nước, các bảo đảm trên đây đều đượcghi nhận và được thực hiện trên thực tế, nhưng ở các mức độ khác nhau hoặcrất khác nhau Đối với nước ta, Hiến pháp và pháp luật hiện hành cũng đã ghinhận các dạng thức bảo đảm đó Khoản 2 Điều 11 Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật hiện hành quy định, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyđịnh quyền và nghĩa vụ của công dân Chúng ta cũng đã có các văn bản phápluật quy định về thẩm quyền của các cấp cơ quan, những người có chức vụtrong việc giải quyết, xử lý các công việc liên quan đến quyền, nghĩa vụ củacông dân trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: hình sự, dân sự, kinh tế, hànhchính Giới hạn của việc thực hiện quyền hay nghĩa vụ được quy địnhtrongnhiều văn bản trên các khía cạnh chung cũng như cụ thể, ví dụ: “Không aiđược xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo

để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70 Hiến pháp1992);“Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự,

Ngày đăng: 30/09/2020, 16:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w